Nghiên cứu về chính sách giáo dục thực dân của Pháp và Nhật Bản tại Việt Nam và Triều Tiên cho chúng ta thấy sự biến đổi của nền giáo dục Việt Nam và Triều Tiên trong thời kỳ thuộc địa,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
JUNG RINA
GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM TRONG ĐẠI CHIẾN THẾ GIỚITHỨ HAI:
SO SÁNH VỚI TRƯỜNG HỢP TRIỀU TIÊN
Luận văn Thạc sĩ Lịch sửViệt Nam
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
JUNG RINA
GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM TRONG ĐẠI CHIẾN THẾ GIỚITHỨ HAI:
SO SÁNH VỚI TRƯỜNG HỢP TRIỀU TIÊN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13
Người hướng dẫn khoa học : GS.TS Nguyễn Văn Khánh
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Lịch sử và Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn,Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà N ội đã ta ̣o điều ki ện thuận lợi cho tôi trong quá trình ho ̣c tập ở Việt Nam
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Nguyễn Văn Khánh - người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài Mặc dù vì tôi là học viên nước ngoài nên việc hướng dẫn luận văn rất vất vả, mệt mỏi nhưng thầy Khánh luôn luôn nhiệt tình giúp đỡ và quan tâm đến tình hình của lưu học sinh
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô và khoá trên của trường đại học Ngoại ngữ Hankuk luôn cổ vũ và đ ộng viên tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn quỹ POSCO TJ Park Foundation tạo điều kiện để tôi học tập, nghiên cứu tại Hà Nội, Việt Nam Đây cũng là công trình nghiên cứu do học bổng từ quỹ POSCO TJ Park Foundation
Con xin gừi lời vô cùng cảm ơn và xin lỗi cho bố mẹ Bố mẹ luôn làtấm gương của con cả trong cuộc sống và việc nghiên cứu Vì con sống ở Việt Nam hơn
2 năm, bố mẹ chịu 10 mùa không có con Con không dám đoán nồi cô đơn của bố
mẹ nhưng bố mẹ luôn quan tâm đến con trước
Dù người viết đã có nhiều cố gắng nhưn g chắc chắn luận văn của tôi không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Nhưng tôi hy vọng rằng, nhận được sự chia
sẻ và ý kiến đóng góp quý bá u của quý thầy cô và lu ận văn này sẽ đóng góp vào nghiên cứu hai quốc gia Việt Nam và Hàn Quốc
Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 2017
Học viên cao học
Jung Ri Na
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Luận văn “ Giáo dục ở Việt Nam trong Đại chiến thế giới thứ hai:
So sánh với trường hợp Triều Tiên” là công trình nghiên cứu của riêng tôi ,
dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Văn Khánh - Khoa lịch sử, Trường
Đa ̣i ho ̣c KHXH &NV, ĐHQGHN Các tài li ệu sử du ̣ng tham khảo , trích dẫn trong Luận văn đều đảm bảo rõ nguồn , trung thực Các kết quả nghiên cứu được công bố trong Luận văn là hoàn toàn chính xác
Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 2017
Tác giả Jung Ri Na
Trang 51.1 Khái lược về tình hình Việt Nam dưới ách cai trị của Pháp - Nhật 10
1.1.1 Đại chiến thế giới thứ hai vàtình hình Việt Nam 11 1.1.2 Sự xâm lược của phát xít Nhật và chính sách cai trị của Pháp-Nhật tại Việt Nam 12 1.2 Khái lược về tình hình Triều Tiên dưới ách cai trị của Nhật Bản 18
1.2.1 Chính sách cai trị của Nhật Bản ở Triều Tiên 18
Trang 61.2.2 Chính sách bóc lột về kinh tế 18
1.2.3 Kinh tế-xã hội Triều Tiên trước Chiến tranh thế giới lần thứ II dưới
ách cai trị của Nhật Bản 21
1.3 Giáo dục thực dân của Pháp và Nhật Bản ở thuộc địa 22
CHƯƠNG 2 - CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC CỦA CHÍNH QUYỀN THỰC DÂN TẠI VIỆT NAM VÀ TRIỀU TIÊN 29
2.1 Chính sách giáo dục của chính quyền thực dân tại Việt Nam 29
2.1.1 Khái quát về tình hình giáo dục Việt Nam trước Chiến tranh thế giới lần thứ II 29
2.1.1.1 Chính sách giáo dục của thực dân Pháp 29
2.1.1.2 Tình hình giáo dục ở Việt Nam trước chiến tranh thế giơí lần thứ hai 31
2.2 Chính sách giáo dục của chính quyền thực dân Pháp-Nhật trong Chiến tranh thế giới lần thứ II 34
2.2.1 Tiếp tục củng cố giáo dục bậc sơ học và trung học Đông Dương 35
2.2.2 Củng cố giáo dục cao đẳng tiểu học Đông Dương 40
2.2.3 Tăng cường giáo dục bậc cao đẳng và đại học 46
2.2.4 Chính sách giáo dục của phát xít Nhật tại Việt Nam 49
2.2.4.1 Triển khai giảng dạy tiếng Nhật ở Việt Nam 49
2.2.4.2 Địa điểm và thời gian học 51
2.2.4.3 Giáo trình tiếng Nhật 53
2.2.4.4 Phương pháp giảng dạy tiếng Nhật 53
Trang 72.2.4.5 Hạn chế của giáo dục tiếng Nhật 55
2.3 Chính sách giáo dục của Nhật Bản tại Triều Tiên 2.3.1 Lệnh giáo dục Triều Tiên 56
2.3.2 Lệnh giáo dục Triều Tiên trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai 56
a Lệnh giáo dục Triều Tiên lần thứ nhất 56
b Lệnh giáo dục Triều Tiên lần thứ hai 57
2.3.3 Lệnh giáo dục Triều Tiên lần thứ ba 58
2.3.3.1 Thời gian tiến hành Lệnh giáo dục Triều Tiên lần thứba 58
2.3.3.2 Nội dung Lệnh giáo dục lần thứ ba 61
2.2.4 Lệnh giáo dục Triều Tiên lần thứ tư 65
2.2.4.1 Thời gian tiến hành Lệnh giáo dục Triều Tiên lần thứ tư 65
2.2.4.2 Mục tiêu Lệnh giáo dục lần thứ tư 66
2.2.4.3 Nội dung Lệnh giáo dục Triều Tiên lần thứ tư 67
CHƯƠNG 3 - MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM VÀ TRIỀU TIÊN 73
3.1 Điểm chung và điểm khác biệt giữa chính sách giáo dục của thực dân Pháp và Nhật Bản 73
3.1.1 Điểm chung giữa chính sách giáo dục tại Việt Nam và Triều Tiên 73
3.1.2 Điểm khác biệt giữa chính sách giáo dục tại Việt Nam và Triều Tiên.76
Trang 83.2 Mặt tích cực của chính sách giáo dục của chính quyền thực dân 79
3.3 Mặt tiêu cực của chính sách giáo dục của chính quyền thực dân 81
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU STT Tên phụ lục Trang
1 Bảng 2.1: Lược đồ hệ thống giáo dục ở Việt Nam từ sau cải
4 Bảng 2.4: Phân bổ chương trình học hằng tuần 36
5 Bảng 2.5: Chương trình giáo dục cao đẳng tiểu học Đông
Dương theo Nghị định ngày 03/02/1938
41
6 Bảng 2.6: Những điều chỉnh trong chính sách giáo dục của
Pháp tại các trường đại học và cao đẳng
47
7 Bảng 2.7: Số sinh viên từ năm 1939 đến 1944 48
8 Bảng 2.8: Chính sách giáo dục Triều Tiên từ 1911 - 1943 (qua
việc ban hành các lệnh giáo dục)
12 Bảng 2.12: Chương trình Trường Quốc dân (Ban tiểu học) 69
13 Bảng 2.13: Chương trình Trường Quốc dân (Ban trung học) 70
14 Bảng 2.14: Chương trình Trường Trung học 70
15 Bảng 3.1: Tình hình Đại học Đông Dương vào năm 1938 77
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọnđề tài
Là những nước châu Á, lạicùng chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến Trung Hoa, nên Việt Nam và Hàn Quốc là hai quốc gia có một số điểm tương đồng, trong đó, điểm chung lớn nhất có lẽ là đều chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho học Việt Nam và Hàn Quốc vốn là những quốc gia có tinh thần hiếu học Trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau, giáo dục vẫn chứng minh được vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhân tài và quản lý đất nước Ngành giáo dục quả thật đã
có những đóng góp to lớn tại cả hai nước Việt Nam và Hàn Quốc
Những quan niệm, tư tưởng như “trung”, “hiếu”, “tam cương, ngũ thường”
đã trở thành chuẩn mực mà người ta phải theo Giáo dục là một phương tiện đưa ra những khái niệm cho nhân dân và giai cấp thống trị, giúp xã hội ổn định Qua những bộ sách Nho học như “Tứ thư” , “Ngũ kinh”, những giá trị và tinh thần của Nho học được giảng dạy tại cả trường học và gia đình Nhưng mu ̣c tiêu của giáo dục Nho học và quan điểm hẹp hòi trong nội dung giáo du ̣c không ch ỉ làm trì trệ nền giáo du ̣c nước nhà mà còn là lực cản cho sự phát triển của đất nước Trong nhiều thế kỷ, Việt Nam và Hàn Quốc (Triều Tiên) đã đứng ngoài phong trào Tây hoá và gần như chỉ chịu ảnh hưởng của Trung Quốc như từ bao đời nay
Mội điểm chung quan trọng khác nữa giữa Việt Nam và Hàn Quốc (Triều Tiên) là sự bắt đầu của thời cận đại do hai thế lực xâm lược từ bên ngoài là Pháp và Nhật Bản Sau khi Pháp thôn tính xong Việt Nam vào năm 1884, Nhật Bản biến Triều Tiên thành thuộc địa vào năm 1910, hai nước Pháp và Nhật coi giáo dục là một phương tiện cai trị thuộc địa Lối dạy lạc hậu và quan niệm hẹp hòi của nền giáo dục Nho học không thể đáp ứng được nhu cầu khai thác thuộc địa, đào tạo đội ngũ tay sai có thể phục vụ cho công cuộc khai thác thuộcđịa của chính quốc Người Pháp và người Nhật Bản chủ trương loại bỏ hình thức giáo dục cũ để thay bằng một nền giáo dục mới phù hợp hơn, có thể tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau và hợp tác thực
sự giữa chính quốc và thuộc địa Pháp và Nhật Bản đã mang đến những yếu tố mới cho nền giáo dục ở Việt Nam và Triều Tiên Đó chính là quá trình hình thành, phát
Trang 11triển và hoàn thành của nền giáo dục cận đại tại hai quốc gia Việt Nam và Triều Tiên
Nghiên cứu về chính sách giáo dục thực dân của Pháp và Nhật Bản tại Việt Nam và Triều Tiên cho chúng ta thấy sự biến đổi của nền giáo dục Việt Nam và Triều Tiên trong thời kỳ thuộc địa, những mục đích và chính sách mà Pháp và Nhật Bản đã áp dụng để phát huy hết hiệu quả của việc cai trị thực dân qua giáo dục Thông qua nghiên cứu này, chúng ta có thể thấy được những mặt khác nhau của hệ thống giáo dục thực dân của Pháp và Nhật Bản tại hai quốc gia Việt Nam và Triều Tiên Đặc biệt, thời kỳ đại chiến thế giới thứ hai là một thời kỳ mà các chính sách giáo dục của thực dân Pháp và phát xít Nhật tại Việt Nam và Triều Tiên được hoàn thiện Cũng là thời kỳ Nhật Bản xâm lược Đông Dương nên Việt Nam cũng chịu sự ảnh hưởng của Nhật Bản Từ các chính sách giáo dục của Pháp và Nhật Bản, chúng
ta có thể đánh giá được những tác động của các nước chính quốc đến nền văn hoá - giáo dục của các nước thuộc địa Việt Nam và Triều Tiên
Từ lý do trên, và với mong muốn được đi sâu tìm hiểu giáo dục cận đại của hai quốc gia Việt Nam và Triều Tiên (Hàn Quốc) trong thời kỳ đại chiến thế giới lần thứ hai, tác giả chọn vấn đề"Giáo dục ở Việt Nam trong đại chiến thế giới thứ hai; so sánh với trường hợp Triều Tiên" làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chính sách giáo dục trong thời kỳ cận đại tại Việt Nam và Triều Tiên là một trong những đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Đã có một số nghiên cứu về giáo dục cận đại Việt Nam đượccông bố trên tạp chí Nghiên cứu lịch sửcủa
Nguyễn Anh như: Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ khi Pháp xâm lược đến cuối
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất(1967), Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất đến Cách mạng Tháng Tám(1967), Giáo dục vùng dân tộc ít người, giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục tư thục ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc(1968) và Chính sách giáo dục của thực dân Pháp ở Việt Nam(1967) của
Nguyễn Trọng Hoàng Nhiều cuốn sách về giáo dục Việt Nam trước năm 1945 ra
đời như:Tìm hiểu giáo dục Việt Nam trước năm 1945(1985) của GS Vũ Ngọc
Trang 12Khánh, Tìm hiểu giáo dục Việt Nam trước năm 1945(2006), Giáo dục Việt Nam
Thời Cận đại(2015) của Phan Trọng Báu, Giáo dục Pháp - Việt ở Bắc kỳ (1884 - 1945) (2012) của Trần Thị Phương Hoa, Giáo dục Việt Nam thời Cận đại(1994) của
Nguyễn Quyết Thắng, Nhà trường Pháp ở Đông Dương (2012) của Trịnh Văn Thảo,
Ở Hàn Quốc cũng có một số nghiên cứu về giáo dục Cận đại của Triều Tiên
như 핚국근대교육사 1945 (Lịch sử Giáo đục Cận đại Hàn Quốc
1885-1945) (1984) của Son In-Su, 조선근대교육의사상과운동(Tư tưởng và phong trào của Giáo dục Cận đại Triều Tiên)(1987) của Yoon Keun-cha,
핚국근대교육의형성(sự hình thành Giáo dục Cận đại Hàn Quốc)(2009) của Kim
Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào so sánh giáo dục cận đại giữa hai quốc gia Việt Nam và Hàn Quốc (Triều Tiên) Tác giả hy vọng luận văn này sẽ đóng góp một phần nào đó vào việc giải quyết vấn đề nghiên cứu đang rất được quan tâm này
3 Nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Nhiệm vụ của luận văn
Luận văn hướng tới những mục tiêu như sau:
1) Làm rõ chính sáchgiáo dục của thực dân Pháp và Nhật Bản tại Việt Nam và Triều Tiên trong thời kỳ Đại chiến thế giới thứ hai
Trang 132) Phân tích những điểm tương đồng và những điểm khác biệt của giáo dục Việt Nam và Triều Tiên trong thời kỳ Đại chiến thế giới thứ hai
3)Phân tích tác động của chính sách giáo dục thực dân đối với xã hội Việt Nam và Triều Tiên
4) Làm rõ những mặt tích cực và những mặt tiêu cực trong chính sách giáo dục của thực dân Pháp và Nhật Bản tại Việt Nam và Triều Tiên
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, luận văn tập trung làm rõ sự hình thành và quá trình phát triển của giáo dục cận đại tại Việt Nam và Triều Tiên, bao gồm chính sách giáo dục của hai nước Pháp và Nhật Bản, vai trò ảnh hưởng và ý nghĩa của nó trong lịch sử cận đại của Việt Nam và Triều Tiên
Thời gian nghiên cứu được đề cập đến trong luận văn là thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai xảy ra từ năm 1939 đến năm 1945 (một giai đoạn lịch sử trong thời kỳ cận đại) Tuy nhiên, để có một cái nhìn toàn diện và liên tục, tác giả cũng phải xem xét giai đoạn trước chiến tranh thế giới thứ hai trong một chừng mực nhất định
Về không gian nghiên cứu, luận văn sẽ giới hạn nghiên cứu Giáo dục thực dân ở Việt Nam và Triều Tiên(bao gồm cả Hàn Quốc hiện nay)
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Tác giả chủ yếu thu thập và tham khảo những tài liệu bằng tiếng Việt, tiếng Hàn và một số tài liệu bằng tiếng Nhật và tiếng Pháp Nguồn tài liệu được khai thác
là những tài liệu tham khảo hiện đang được lưu trữ tại các thư viện như: Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Quốc gia Hàn Quốc, Thư viện Quốc hội Hàn Quốc, Thư viện của trường Đại học Ngoại ngữ Hankuk, Thư viện của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I tại Hà Nội Ngoài ra tác giả còn đã tiến hành phân tích một số nghị định và báo cáo giáo dục của các chính sách quyền thực dân Pháp và phát xít Nhật liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 144.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu được tiếp cận từ phương pháp luận sử học Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận văn này là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, kết hợp với những phương pháp khác như phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là hai phương pháp chính được
sử dụng để làm rõ quá trình hình thành giáo dục cận đại tại Việt Nam và Triều Tiên,chỉ ra những mặt tích cực và những mặt tiêu cực trong chính sách giáo dục của thực dân Pháp và Nhật Bản tại Việt Nam và Triều Tiên
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: các thông tin và tài liệu sẽ được phân tích, tổng hợp thành tư liệu để phục vụ luận văn Kết luận và những đánh giá của luận văn được xây dựng dựa trên phân tích nội dung của chính sách giáo dục thời thuộc địa của Việt Nam và Triều Tiên
- Phương pháp so sánh sẽ được sử dụng để so sánh các chính sách giáo dục của thực dân Pháp - Nhật ở Việt Nam và của Nhật Bản ở Triều Tiên Từ đó tìm ra
sự giống và khác nhau trong các chính sách giáo dục của thực dân Pháp và Nhật Bản cũng như làm rõ những nguyên nhân, kết quả, ảnh hưởng của chính sách giáo dục thực dân tại hai quốc gia này
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, luận vănbao gồm 3
chương:CHƯƠNG 1 – BỐI CẢNH LỊCH SỬ Ở VIỆT NAM VÀ TRIỀU TIÊN
TRONG CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ II
CHƯƠNG 2 – CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC CỦA CHÍNH QUYỀN THỰC DÂN TẠI VIỆT NAM VÀ TRIỀU TIÊN
CHƯƠNG 3 : MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ
Trang 15CHƯƠNG 1 - BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA VIỆT NAM VÀ TRIỀU TIÊN
TRONG CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ II 1.1 Khái lược về tình hình Việt Nam dưới ách cai trị của Pháp - Nhật
1.1.1 Đại chiến thế giới thứ hai và tình hình Việt Nam
Trong giai đoạn từ năm 1936-1939, dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, đã triển khai phong trào Dân chủ Đông Dương Hơn nữa chính quốc Pháp phải thi hành một số thay đổi về chính sách và đã có 3 quyết định rất quan trọng: Trả lại tự do cho tù nhân chính trị, thành lập Ủy ban điều tra tình hình các thuộc địa và thi hành một số cải cách xã hội Khi đó dân tộc Việt Nam mới chỉ giành được quyền tự do ở một số phương diện
NhưngChiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu với cuộc tấn công Ba Lan của Đức vào ngày 1/9/1939 Hai ngày sau, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức, chiến tranh lan ra cả Châu Âu và toàn thế giới một cách nhanh chóng Là một trong nhữngquốc gia đầu tiên bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh này, Pháp ra sức thi hành các chính sách bóc lột kinh tế để đối phó với chiến tranh,đồng thời tìm cách đàn áp lực lượng và phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa để bảo đảm sự ổn định và tập trung lực lượng tham gia chiến tranh
Tại Việt Nam, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, Catrouxđang giữ chức Toàn quyền Đông Dương Trước sự thay đổi nhanh chóng của tình hình, Toàn quyền Đông Dương Catroux tăng cường thi hành các chính sách bóc lột Đông Dương để phục vụ cho cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai của Pháp Đồng thời từng bước bị thủ tiêu, các quyền tự do dân chủ mà nhân dân Việt Nam mới giành được trong phong trào Dân chủ Đông Dương
Đặc biệt, các chính sách đàn áp Việt Nam của thực dân Pháp trở nên trầm trọng hơntrong chiến tranh thế giới thứ hai, với sự xâm lược và đô hộ của Nhật Bản
Kế thừa Catroux, Toàn quyền Đông Dương Decoux cùng ra sứcđàn áp mọi hoạt động dân chủ Nguyên tắc tự do bị bác bỏ công khai, những hoạt động của tất cả các
bộ phận dân cử cũng bị đình chỉ Những chế độ ngu dân và đàn áp như chế độ ra báo phải xin phép trước và kiểm duyệt được tái lập Từ 1940-1943, 17 nhật báo và
Trang 16tạp chí biến mất; số báo còn lại phải tự giới hạn mình vào việc "triển khai các lược đồ" do sở I.P.P(Thông tin, Tuyên truyền và Báo chí) cung cấp Câu lưu hành chính
và cải tạo đặc biệt đối với các phần tử "nguy hiểm" [7; 553-554]
Dưới tác động của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và nhất là những chính sách cai trị của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam biến đổi toàn diện Về kinh tế, để phục vụ cho cu ộc chiến tranh lâu dài , đế quốc Pháp đã tăng cường đ ộng viên kinh tế trong nước cũng như thu ộc đi ̣a Ngay sau khi Chiến tranh thế giới vừa bùng nổ vào tháng 9 năm 1939, Catroux đã ra lệnh tổng động viên nhằm “cung cấp cho mẫu quốc tiềm lực tối đa của Đông Dương về quân đ ội, nhân lực, các sản phẩm
và nhiên liệu” [11; 304]
Pháp đã thi hành chính sách “kinh tế chỉ huy” , thành lập “Đa ̣i hội đồng kinh tế tối cao Đông Dương”, “Bộ tham mưu kinh tế Việt Nam”, tăng cường vơ vét vàng bạc, tăng thuế cũ , đặt thêm thuế mới , phát hành ba ̣c giấy , tổ chức quốc trái la ̣c quyên, sa thải bớt công chức , giảm tiền lương, tăng giờ làm , Từ khi đô hộ Việt Nam, để đảm bảo cho nền công nghi ệp ở chính quốc , thực dân Pháp chủ trương không lập các cơ sở công nghiệp nặng Nhưng khi chiến tranh thế giới vừa bùng nổ , thực dân Pháp đã cho mở những nhà máy lắp súng, chế thuốc súng, làm bom đa ̣n để phục vụ cho chiến tranh “Toàn quyền Catroux bắt bu ộc các nhà nông trồng những cây kỹ nghệ để phục vụ cho chiến tranh” [21; 539]
Về mặt chính tri ̣, “Đế quốc Pháp ra l ệnh giải tán Đảng c ộng sản, khủng bố thẳng tay, xét nhà, bắt người, giam cầm các chiến sĩ c ộng sản cùng các phần tử cấp tiến trong dân chúng, khoá miệng và điều khiển tất cả các cơ quan thông tin, giải tán những hội ái hữu tương tế, lập thêm những sở m ật thám chính tri ̣” [2; 35] Ngày 4/1/1940, Toàn quyền Đông Dương Catroux tuyên bố ta ̣i H ội đồng chính phủ Đông Dương: “Chúng ta đánh toàn diện và mau chóng vào các tổ chức c ộng sản; trong cuộc đấu tranh này , phải tiêu diệt cộng sản thì Đông Dương mới được yên ổn và trung thành với nước Pháp Chúng ta không có quyền không thắng Tình thế chiến tranh bắt buộc chúng ta hành động không chút thương tiếc” [11; 304]
Trang 17Với sự bóc lột về mặt kinh tế, những chính sách đàn áp về mặt chính trị của thực dân Pháp tạo ra một bầu không khí chính trị u uất Những phong trào và xu hướng để giành độc lập của dân tộc bị cản trở và đình chỉ Nhân dân Việt Nam phải chịu không chỉ nỗi đau thể xác mà còn cả nỗi đau về tinh thần
Lúc này,tình hình chiến tranh tại Châu Âu đang trở nên có lợi cho phát xít Đức Phát xít Đức thôn tính và đặt ách thống trị của nó lên hầu hết các nước châu
Âu Đức đánh vào Pháp và chính phủ tư sản Pháp đầu hàng và bọn tay sai (Collaborateur) đã bán đứng Pháp cho Đức vào tháng 6 năm 1940 Sau khi Pháp đầu hàng, Chính phủ bù nhìn thân phát xít là chính phủ Pêtanh - Visy được xây dựng tại Pháp Sự biến đổi tình hình của Pháp thực sự đã tác động mạnh mẽ đến Việt Nam
1.1.2 Sự xâm lƣợc của phát xít Nhật và chính sách cai trị của Pháp-Nhật tại Việt Nam
Việc Pháp đầu hàng phát xít Đức là một cơ hội thuận lợi cho phát xít Nhật Bản xâm lược Đông Dương Sớm nhận thấy tầm quan tro ̣ng của Đông Dương trong cuộc chiến tranh của Nh ật ở Châu Á , Nhật từng bước đẩy ma ̣nh vi ệc xâm chiếm Đông Dương Đặc biệt, từ tháng 10 năm 1938, quân Nh ật đã chiếm được Quảng Châu, áp sát biên giới Vi ệt - Trung Lúc đó, Nhật Bản gặp nhiều khó khăn do viện trợ bên ngoài cho chính phủ Tưởng Giới Thạch qua tuyến đường sắt Hải Phòng -
Hà Nội - Vân Nam Mặt khác , Đông Dương với những tài nguyên thi ên nhiên phong phú, đặc biệt là lúa ga ̣o chính là “cái da ̣ dày” cho quân Nh ật trong việc tiến hành chiến tranh Đây cũng chính là bàn đa ̣p chiến lược cho vi ệc tiến công xâm lược các nước khác ở khu vực Đông Nam Á “Đem quân sang Đông Dương , Nhật muốn nhân cơ h ội Pháp ba ̣i tr ận, lấy m ột bộ phận thuộc đi ̣a của Pháp , chiếm lấy những nguồn nguyên li ệu béo bở ở Đông Dương để cung cấp cho chiến tranh , lấy Đông Dương làm nơi căn cứ quân sự đánh Hoa Nam và triệt đường tiếp tế quân nhu khí giới cho Trung Quốc ở Miến - Điện hòng mau ra khỏi vùng bùn lầy Trung Quốc, dùng Đông Dương làm cái cầu tiến bước xuống miền Nam Dương , Á châu”
[2; 131]
Trang 18Sau khi Pháp đầu hàng phát xít Đức, Decoux được cử làm Toàn quyền Đông Dương thay thế Catroux vào tháng 7 năm 1940 và lúc đầu, Decoux vẫn duy trì chính sách cướp bóc như thời toàn quyền Catroux để tập trung lực lượng quân đội
và kinh tế chống đối quân Nhật Bản Nhật gửi tối hậu thư cho Toàn quyền Decoux yêu cầu Pháp phải đóng cửa biên giới Việt - Trung vào ngày 18/6/1940, tức 4 ngày
từ sau khi thủ đô Paris của Pháp rơi vào tay phát xít Đức Vào tháng 8 năm 1940, Chính phủ Vichy ở Pháp đã ký với Chính phủ Nh ật hiệp ước đồng ý cho Nh ật đưa 25.000 quân vào chiếm đóng Đông Dương Để tránh giao tranh với Nhật, Pháp nhượng bộ với hiệp ước ngày 22/9/1940 Hiệp ước này bổ sung quy đi ̣nh thể thứ c chiếm đóng Đông Dương của Nh ật đã được chính phủ thực dân Pháp chấp nh ận nhưng quân đội Nhật vẫn vượt biên giới phía Bắc, đánh chiếm Lạng Sơn, ném bom Hải Phòng và đổ bộ vào Đồ Sơn
Sau khi kéo vào Việt Nam, phát xít Nhật đã cùng với Pháp thiết lập lại một chế độ cai trị hết sức hà khắc tại Việt Nam Tác giả Phạm Hồng Tung cho rằng:
“Tính chất phát xít của t ập đoàn này, một mặt, là sự kế thừa những đ ặc điểm vi ̣ chủng, tàn ba ̣o và phản dân chủ trong chính sách cai tri ̣, áp bức của thực dân Pháp ở Đông Dương tr ước Chiến tranh Thế giới l ần thứ hai Mặt khác, đó là kết quả của quá trình tự nguyện phát xít hoá, liên minh với phe Tru ̣c của t ập đoàn Decoux” [15; 77-85] Tập đoàn phát xít này đã tiến hành cải cách bộ máy cai tri ̣, tăng cường lực lượng cảnh sát, mật thám để đàn áp phong trào cách mạng Đông Dương
Nhưng đồng thời, Pháp và Nhật Bản cạnh tranh với nhau để đảm bảo sự ảnh hưởng của mình ở Việt Nam, lôi kéo lực lượng Việt Nam Thực dân Pháp vẫn cầm quyền cai trị Đông Dương, nhưng Nhật Bản đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền ầm ĩ
về các cuộc thắng trận của Nhật Bản là sẽ mở giải phóng châu Á khỏi ách cai trị thực dân của phương Tây Sự thất ba ̣i của thực dân Pháp trước quân đ ội Nhật chính
là sự thất ba ̣i của người da trắng trước người da vàng Nó khiến cho nhân dân Vi ệt Nam tin tưởng hơn vào thắng lợi của cu ộc đấu tranh chống thực dân Pháp Ý tưởng của Nhật Bản về "Khối Thịnh vượng Đại Đông Á" chính là một yếu tố nguy hiểm đối với thực dân Pháp
Trang 19Để đối phó với cuộc tấn công của quân đội Nhật Bản, về mặt "trận tinh thần", Chính quyền Decoux đưa ra một khái niệm về một Liên hiệp(Liên bang) các quốc gia tự lập và liên đới, hiệp nhất trong một “ý thức chung” và hoạt động của nó sẽ do nước Pháp phối hợp và điều khiển
Decoux thành lập “Liên bang Đông Dương” nhằm lừa bi ̣p dư lu ận nhưng cũng chính Decoux đã nói rõ thực chất của Liên bang này là “Trong lòng của liên bang, mỗi nước có quyền có m ột chủ nghĩa yêu nước đi ̣a phương , nhưng với điều kiện là không bao giờ được quên rằng ở bên ca ̣nh và ngay cả ở bên trên tổ quốc nhỏ, là tư tưởng của mo ̣i người phải luôn luôn hướng về tổ quốc lớn là nước Pháp , người bảo vệ và đỡ đầu của Liên bang , người Đông Dương còn phải có trách nhi ệm hơn trung thành với nước Pháp” [11; 306] Như vậy,nguồn Việt Nam vừa bi ̣ thực dân Pháp đàn áp, khủng bố vừa bị quân phiệt Nhật đánh đập tàn nhẫn
Sau khi Nhật chiếm đóng Đông Dương, phương thức cai trị và chính sách của thực dân Pháp và Nhật có sự thay đổi về căn bản Pháp và Nhật đều cần tập trung vào chiến tranh thế giới thứ hai Chính phủ Pháp thực sự trở thành một chính phủ bù nhìn của phát xít Đức, không còn nhiều sức lực nhưng phải tập trung vào chiến trường Châu Âu và duy trì vị trí kiểm soát về thuộc địa Còn Nhật Bản cũng thiết lập mối quan hệ hợp tác với Pháp để tăng cường ảnh hưởng của mình tại Đông Nam Á Sở dĩ Nhật thi hành chính sách này là vì mục tiêu của Nhật là “bằng các thủ đoa ̣n ngoa ̣i giao hoà bình, hợp tác với chính phủ thuộc đi ̣a để duy trì trật tự hiện tồn, biến Đông Dương thành căn cứ h ậu cần và bàn đa ̣p chiến lược cho nỗ lực chiến tranh của Nhật ở Đông Nam Á” [16; 12] Vì vậy Nhật và Pháp đã ký các hi ệp ước,
trong đó quan tro ̣ng nhất là Hiệp đi ̣nh thương mại và kinh tế (6/5/1941), Hiệp đi ̣nh
Phòng thủ chung (29/7/1941) và Hiệp đi ̣nh quân sự (9/12/1941) Với mối quan h ệ
này, “quân Nh ật đã chiếm được Đông Dương mà không phải tốn kém thêm m ột người lính, một viên đa ̣n nào Mặt khác, họ còn có thể lợi dụng được b ộ máy đàn
áp, bóc lột mà thực dân Pháp đã dày công xây dựng gần m ột thế kỷ ở Vi ệt Nam để thông qua đó khai thác triệt để các nguồn lợi ở xứ thu ộc đi ̣a này phu ̣c vu ̣ cho nỗ lực chiến tranh của Nhật Bản, đồng thời còn tiết kiệm được các khoản chi phí cho quản
Trang 20lý và cai trị nếu họ lật đổ thực dân Pháp Cuối cùng, thông qua việc dung dưỡng cho sự tồn ta ̣i của chế đ ộ thực dân Pháp , Nhật Bản còn tránh được những đụng đ ộ, rắc rối về ngoa ̣i giao với nước Đức phát xít và Liên Xô” [16; 13]
Như vậy, thực dân Pháp và phát xít Nhật thiết lập một mối quan hệ cộng tác
- cộng trị để đạt được mục tiêu tiến hành chiến tranh một cách thuận lợi Toàn quyền Decoux phải nhượng bộ về nhiều mặt, trong đó phải thoả mãn những yêu cầu ngày càng tăng của quân Nhật về tài chính, lương thực và các vật dụng quân sự khác Để duy trì thuộc địa Đông Dương và đáp ứng yêu cầu của Nhật Bản, thực dân Pháp càng ngày càng tăng cường vơ vét, bóc lột Việt Nam
Trong tình hình chiến tranh thế giới thứ hai, dựa trên quan hệ cộng tác - cộng trị Pháp - Nhật, một trong những chính sách của thực dân Pháp là việc tăng thuế và các khoản quyên góp Nhiều loa ̣i thuế mới được đ ặt ra, bên ca ̣nh thuế quốc phòng còn có thuế cư trú , thuế 6 phần trăm theo lợi tức , thuế phụ thu ộc tăng từ 15% đến 25% Hơn nữa Pháp-Nhật còn đặt ra thuế chơ ̣, thuế quảng cáo , thuế đổ rác , thuế chó Có thể nói , thực dân Pháp đã không từ m ột thủ đoa ̣n nào để tăng cường bóc lột nhân dân Việt Nam Năm 1939 thực dân Pháp thu được 913.367$ từ thuế cưỡng bức đánh ba ̣c là xổ số Đông Dương thì đến năm 1944, đã lên tới 2.828.435$ [21; 547], tức là gấp hơn 3 lần Khi chiến tranh vừa bùng nổ, chính quyền thực dân Pháp
đã tổ chức h ội “Pháp Việt bác ái”, dùng danh nghĩa h ội này để tổ chức những cu ộc lạc quyên lấy tiền gửi sang Pháp Từ tháng 9 năm 1939 đến tháng 4 năm 1940, chính quyền thực dân còn bắt bu ộc các công chức phải trích m ột phần lương góp vào quỹ này Số tiền n ộp về quỹ của nước Pháp ngày càng tăng lên “Nguyên một năm 1939 đã phải nộp gần 5 triệu, năm 1942 gần 7 triệu, phần lớn chi tiêu về chiến tranh hay sắm vật liệu cho công sở Ngoài tiền nộp chính thức, nhân dân ta còn phải quyên tiền gửi sang Pháp “Tính đến tháng 3 năm 1943, tổng số tiền quyên đã tới 73.000.000 phờrăng” [21; 550]
Dù Pháp tăng thuế, thu nhiều tiền từ Việt Nam và Đông Dương nhưng số tiền Pháp phải nộp cho Nhật hàng năm cũng tăng lên nhanh chóng “Năm 1940 nộp
Trang 216 triệu đồng, năm 1941 nộp 58 triệu đồng, năm 1942 nộp 86 triệu đồng, năm 1943 nộp 117 triệu đồng, năm 1944 nộp 363 triệu, năm 1945 nộp 90 triệu” [3; 349]
Coi Đông Dương là m ột căn cứ h ậu cần nên trong thời gian đầu , từ tháng 9 năm 1940 đến tháng 3 năm 1945 thông qua bàn tay thực dân Pháp , Nhật đã tìm mo ̣i cách để vơ vét, bóc lột tối đa các nguồn tài nguyên ở Đông Dương “Nhật cũng yêu cầu chính quyền thực dân Pháp để 50% giá trị nh ập khẩu và 15% giá trị xuất khẩu của Đông Dương cho các công ty thương mại của Nh ật Hầu như toàn bộ hàng xuất khẩu chính của Đông Dương trong hai năm 1942 và 1943 như than, sắt, kẽm, cao
su, xi măng được xuất sang Nhật Trị giá hàng nhập từ Đông Dương sang Nhật lớn gấp nhiều lần hàng Nh ật xuất sang Đông Dương Năm 1944, Nhật xuất sang Đông Dương 25.000 tấn hàng và nh ập của Đông Dương 1.400.000 tấn qu ặng và thực phẩm” [35; 349] Như vậy, chỉ tính riêng khối lượng hàng hoá thì số hàng nh ập từ Đông Dương vào Nh ật đã gấp 56 lần hàng Nh ật xuất sang Đông Dương Do nhu cầu của chiến tranh, phát xít Nhật cũng bòn rút đến cực độ về ga ̣o, ngô, đay ở Việt Nam “Kể riêng ga ̣o, năm 1940 Nhật đã thu của ta 486.000 tấn; năm 1941: 585.000 tấn; năm 1942: 973.908 tấn, năm 1943: 1.023.471 tấn; năm 1944: 498.525 tấn, năm 1945: 44.817 tấn” [21; 553]
“Kết quả là , trong giai đoa ̣n này , thông qua nhiều thủ đoạn tàn bạo , từ thu mua giá rẻ đến cướp đoa ̣t trắng trợn , Nhật Bản đã khai thác được ở Đông Dương, trong đó chủ yếu là Vi ệt Nam, 2.675.000 tấn ga ̣o chở về Nh ật Bản và cung cấp cho quân đội Nhật trên các mặt trận khác Ngoài ra, quân Nhật còn buộc chính phủ thực dân Pháp tăng cường bóc l ột dân bản xứ để cun g cấp cho ho ̣ m ột khối lượng tiền mặt khổng lồ cũng như các nhu yếu phẩm khác” [16; 13]
Nhưng mối quan h ệ cộng tác - cộng tri ̣ này là sự hợp tác ta ̣m thời và có điều kiện, cả hai bên đều vì những mối lợi riêng của mình, đồng thời tìm mo ̣i cách l ật đổ nhau để đ ộc chiếm Đông Dương Đặc biệt, đối với Nhật Bản, việc tôn trọng chủ quyền của Pháp là một chiến lược để đảm bảo sự hợp tác của thực dân Pháp và duy trì trật tự và sự ổn định trong khu vực Đông Dương Về mặt chính tri ̣, phát xít Nhật không can thi ệp vào các công vi ệc và quá trình chính tri ̣ ở Vi ệt Nam Nhưng bên
Trang 22cạnh đó Nh ật ra sức tuyên truyền về thuyết Đa ̣i Đông Á , “khu vực thi ̣nh vượng chung”, tư tưởng “đồng văn, đồng chủng” nhằm che giấu bộ mặt thật của mình
Sang năm 1945, khi tình hình chiến tranh Thái Bình Dương thay đổi bất lợi, Nhật đổi chính sách và đảo chính Pháp, bắt giam các tướng lãnh và tước khí giới của quân đội Pháp ở Đông Dương Đại sứ Nhật ở Đông Dương là Matsumoto Shunichi giao cho đại diện Pháp là Toàn quyền Đông Dương Đô đốc Jean Decoux tối hậu thư đòi người Pháp phải chấp nhận vô điều kiện quyền chỉ huy của Nhật trên mọi phương diện Ở Huế, đại úy Kanebo Noburu vào báo với vua Bảo Đại quyền lực của Pháp đã bị loại[4; 75]
Cuộc đảo chính quân sự của Nh ật đêm ngày 9/3/1945 đã khiến Vi ệt Nam
“lâm vào m ột cuộc khủng hoảng chính tri ̣ sâu sắc” và Nh ật đã đ ộc chiếm toàn b ộ Việt Nam Sau khi Đế quốc Nhật Bản tuyên bố "trao trả độc lập cho Việt Nam", Hoàng đế Bảo Đại ra tuyên cáo độc lập và thành lập chính quyền mới thân phát-xít Nhật tại Việt Nam Bảo Đại được Nhật Bản công nhận là vua của Đế quốc Việt Nam và Trần Trọng Kim làm thủ tướng Sau đó, Nhật thi hành chính sách vừa mua chuộc lừa bi ̣p vừa khủng bố đàn áp tàn ba ̣o Về chính tri ̣, Nhật Bản lập ra chính phủ
bù nhìn Trần Trọng Kim cùng hàng loạt các tổ chức , đảng phái chính tri ̣ phản đ ộng như Đại Vi ệt quốc xã, Đa ̣i Việt quốc gia liên minh (ở Bắc Kỳ), Việt Nam quốc gia độc lập, Nhật- Việt phòng v ệ đoàn (Nam Kỳ) nhằm ta ̣o ra chỗ dựa về xã h ội và chính trị cho vi ệc thống tri ̣ của mình Chỉ riêng Bắc kì đã có hơn 30 tổ chức thân Nhật [23; 28] Ngoài ra, Nhật còn sử du ̣ng bộ máy thông tin tuyên truyền , xuất bản sách báo để lừa phỉnh tầng lớp thanh niên , gây tâm lý “bài Pháp , phục Nh ật, sơ ̣ Nhật”, đồng thời sử du ̣ng lực lượng quân sự tiến công, vây quét các chiến khu và cơ sở cách mạng của ta Về kinh tế, với chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” , quân Nhật đã cướp đoạt trắng trợn tài sản của nhân dân , chiếm các cơ sở kinh tế của Pháp, in nhiều giấy ba ̣c để tung ra thi ̣ trường vơ vé t nguyên li ệu hàng hoá , lương thực Nhật quy đi ̣nh, ngoài Nông phố Ngân hàng được quyền thu thóc cho quân đ ội Nhật, không ai được tích trữ quá hai tấn thóc và m ột tấn ga ̣o , không ai được buôn hay tải ga ̣o trên 50 kg Nhật cho in thêm hai tấn giấy ba ̣c để Nông phố Ngân hàng đi
Trang 23mua vét hết ga ̣o trong dân , giữ độc quyền về thóc ga ̣o và bằng mo ̣i cách cướp thóc của dân Chúng bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay phục vụ chiến tranh , tăng thuế, thu thóc, thu bông, đay nặng nề hơn trước Năm 1944 - 1945, miền Bắc mất mùa , đói kém, Chính phủ Trần Trọng Kim hứa lo việc tổ chức đưa thóc ga ̣o từ Nam Kỳ ra tiếp tế cho miền Bắc , nhưng cho tới ngày 1/7/1945 “dân đói miền Bắc vẫn không trông thấy m ột ha ̣t ga ̣o miền Nam ; có khác gì đứa trẻ mong mẹ về chợ khóc sướt mướt để đợi một hơi sữa, cứ bi ̣ người ta dối hoài” [12; 9]
1.2 Khái lược về tình hình Triều Tiên dưới ách cai trị của Nhật Bản 1.2.1 Chính sách cai trị của Nhật Bản ở Triều Tiên
Vào những năm 1930, Nhật Bản tiến hành các cuộc xâm lược đại lục Khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu từ năm 1929 ảnh hưởng khá nhiều đến Nhật Để thảo
gỡ khó khăn này, Nhật Bản đã xúc tiến xâm lược đại lục Việc chiếm Mãn Châu và chiếm khu vực Đông Bắc là bước mở màn trong kế hoạch của Nhật Bản Sau đó, Nhật Bản châm ngòi cho chiến tranh Trung-Nhật vào năm 1937 và bắt đầu xâm lược đại lục thực sự Cuộc xâm lược của Nhật Bản được lan ra từ Trung Quốc sang Đông Nam Á rồi cuối cùng, lan rộng ra thế giới với các cuộc tấn công bất ngờ vào căn cứ hải quân Mỹ tại Trân Châu Cảng năm 1941, gây ra chiến tranh Thái Bình Dương
Sau khi gây ra chiến tranh xâm lược ở đại lục, sự cai trị của Nhật Bản tại Triều Tiên đều tập trung vào một mục tiêu là tiến hành chiến tranh Đối với chính quốc Nhật Bản, Triều Tiên như là căn cứ hậu cần Vai trò của Triều Tiên là cung cấp và viện trợnhân lực cũng như hàng hoá cho chiến tranh Theo nhiều nghiên cứu cho biết, bản chất sự cai trị của thực dân Nhật Bản là những chính sách để thực hiện mục tiêu đó
1.2.2 Chính sách bóc lột về kinh tế
Để chuẩn bị cho cuộc chiến xâm lược đại lục, Nhật Bản tái cơ cấu lại nền kinh tế của Triều Tiên sang kinh tế công nghiệp quân sự để phù hợp với yêu cầu chiến tranh Chính quốc đã xúc tiến thực hiện chính sách phát triển các ngành như công nghiệp nặng, kim khí, cơ khí để sản xuất vật dụng quân nhu Trong quá trình
Trang 24đó, ngành mỏ than, sắt và vàng được khai thác và phát triển nhanh chóng Tuy nhiên việc sản xuất nguyên liệu vật dụng quân nhu chỉ là trên danh nghĩa, còn bản chất vẫn là chiếm đoạt tài nguyên dưới lòng đất của thuộc địa với quy mô lớn Nhật Bản cưỡng đoạt kinh tế Triều Tiên để cung cấp vật tư cho chiến tranh, ép buộc người dân Triều Tiên đóng lương thực và hàng hoá cho quân đội Nhật Bản nhằm phục vụ cho cuộc chiến với đại lục Vấn đề bảo đảm lương thực trở nên khẩn cấp vì nguồn lương thực cạn kiệt Vì vậy, Nhật Bản tái thực hiện kế hoạch tăng lượng sản xuất gạo và tiến hành chế độ bao cấp lương thực cũng như yêu cầu người dân Triều Tiên phải nộp gạo cho Nhật Bản Nông dân bị ép buộc bán gạo mà mình sản xuất cho chính quốc và phải nhận bao cấp lương thực Hơn nữa, các bộ đồ ăn bằng đồng, nông cụ, thậm chí đến cái chuông của nhà thờ và chùa đều bị quân Nhật Bản tịch thu để sản xuất vũ khí phục vụ cho chiến tranh
Để điều phối hàng hoá và nguyên liệu, chế độ bao cấp điều hành cả về sản xuất, lưu thông và tiêu dùng Đây là một cơ chế do chính quốc Nhật Bản kiểm soát
để hướng việc sản xuất của toàn xã hội tập trung vào việc cung cấp vật dụng quân nhu trong hoàn cảnh thiếu vật tư vì chiến tranh Để sản xuất vật dụng quân nhu, Nhật Bản chi nhiều tiền ra nước ngoài nên thu chi giao dịch quốc tế của Nhật Bản dần dần giảm đi Nhằm tìm kiếm giải pháp giải quyết vấn đề này, Nhật Bản ban hành Luật biện pháp tạm thời về hàng nhập -xuất khẩu (輸出入品等臨時措置法)
để giới hạn nhập khẩu các hàng hoá, nguyên liệu không liên quan đến sản xuất quân nhu
Trong thời kỳ chiến tranh, việc thiếu vật tư dễ phát sinh tình trạng vật giá leo thang Để ngăn chặn trình trạng này, chính quốc Nhật Bản ban hành Quy chế kìm hãm giá bán hàng hoá Triều Tiên (朝鮮物品販賣價格取逮規則) vào tháng 10 năm
1938, phủ định cơ chế thị trường và ép buộc mua bán hàng hoá với giá cả được Uỷ ban Vật giá quyết định Đến tháng 10 năm 1939, Nhật Bản ban hành "Lệnh kiểm soát giá cả (價格等統制令)", quy định giá chính thức của các vật tư tài nguyên thiết
Trang 25buôn lậu, cũng như kiểm soát thị trường Do mở rộng chiến tranh, Nhật Bản khuyến khích sản xuất vật tư quân nhu và tiết chế sản xuất đồ dùng sinh hoạt và hàng hoá Nhật Bản ban hành "Lệnh tiết chế đồ dùng sinh hoạt (生活必需物資統制令)" vào tháng 4 năm 1941 và "Lệnh tiết chế hàng hoá (物資統制令)" vào tháng 12 năm
1941 Lệnh tiết chế hàng hoá được áp dụng toàn diện từ vật tư chiến tranh như sắt, điện, lương thực, gỗ, thuốc đến hàng hoá tiêu dùng như thịt, rau, hoa quả Hơn nữa, Lệnh tiết chế hàng hoá còn giao quyền giới hạn, ngăn cấm về sản xuất chế biến sửa chữa và việc buôn bán chuyển nhượng cho Toàn quyền Triều Tiên Để thực hiện
"Lệnh tiết chế hàng hoá (物資統制令)", chế độ bao cấp dưới thời Nhật Bản cai trị bao gồm cả đồ dùng sinh hoạt Lương thực bao gồm lúa gạo, chăn nuôi, lâm sản, thuỷ sản và các kim loại, đồ sắt được quy định đối tượng phân phối Theo hạn ngạch phân phối, các đơn vị phải nộp hết sản lượng quy định mặc dù có sản xuất
hay không nên gánh nặng đã đe doạ tới sự sinh tồn của nhân dân Triều Tiên
Để kiểm soát tiền vốn, Nhật Bản áp dụng "Luật điều khiển tiền vốn tạm thời" vào tháng 10 năm 1937 Theo luật này, các ngành sản xuất được phân thành 3 loại (giáp-ất-bính) và dựa vào tiêu chí như sự mở rộng khả năng sản xuất, cân đối thu chi quốc tế, năng suất để xác định dành quyền ưu tiên cung cấp tiền vốn Trong trường hợp các ngành phi quân sự, chính quyền Nhật Bản giới hạn và khống chế nguồn vốn Các cơ quan tiền tệ ngân hàng phải xin phép cho toàn quyền trước khi cho vay hoặc khi mua tập hợp chứng khoán có giá Chính quyềnNhật Bản mở rộng phạm vi đối tượng kiểm soát tiền vốn trong"Lệnh quản lý quỹ vốn ngân hàng (銀行等資金運用令)" vào tháng 12 năm 1940 đến tiền chu chuyển (working fund)
để tăng cường mức độ tập trung tiền vốn trong các ngành quân nhu và liên quan như sắt, than, dầu
Nhật Bản đưa ra nhiều chính sách thu hút tiền vốn từ người dân như tăng thuế, ép buộc tiết kiệm, phát hành trái phiếu Ngân hàng Triều Tiên tăng thêm, để đặt mục tiêu như trên Tiền vốn mà Nhật Bản huy động qua việc tăng thuế, đều
Trang 26được dùng với danh nghĩa như kinh phí chi cho chiến tranh trực tiếp đến những ngành liên quan
Chính sách ép buộc tiết kiệm là một phương thức bóc lột có hiệu quả vì làm giảm sự phản cảm về sự bóc lột đối với nhân dân qua chính sách tăng thuế, thậm chí đến chính quyền Nhật Bản cũng tự thừa nhận rằng „vượt mức‟[55; 104, 111] Doanh số tiết kiệm tăng nhanh chóng, từ hai trăm triệu Yên Nhật vào năm 1938 tăng đến ba tỷ ba trăm triệu vào năm 1944 và doanh số danh nghĩa còn cao hơn[52; 101] Sự ép buộc được tiến hành trôi chảy và theo ước tính, quy mô gấp 3 lần của tiền thuế Những tiến vốn được huy động bằng cách đó được sử dụng cho vay những ngành liên quan đến chiến tranh hoặc dùng mua trái phiếu của Nhật Bản để
hỗ trợ kinh tế Nhật và chiến tranh
1.2.3 Kinh tế-xã hội Triều Tiên trên trước chiến tranh thế giới lần thứ II dưới ách cai trị của Nhật Bản
Chính quyền Nhật Bản còn huy động nhân lực một cách cưỡng bức Sau khi gây ra chiến tranh Trung-Nhật, Nhật ban hành “Luật tổng huy động quốc gia(國家總動員法) vào tháng 4 năm 1938 Khi mặt trận dần dần được mở rộng hơn, Nhật Bản thi hành chế độ lính tình nguyện, chế độ trưng binh và chế độ lính xuất thân từ sinh viên nhằm huy động thanh niên Triều Tiên tham gia chiến tranh Thực dân Nhật cũng huy động nhân lực với danh nghĩa như „tuyển dụng‟, „môi giới‟,
„trưng dụng‟.Những người bị cưỡng chế đi trưng dụng ép buộc như vậy, đều phải làm việc quần quật suốt ngày ở mỏ, sân bay, nhà máy quân nhu, công trình xây dựng đường sắt Sau khi công trình hoàn thành, quân đội Nhật Bản giết những người lao động để giữ bí mật quân sự Thực dân Nhật cũng ban hành Lệnh phục vụ Đội đĩnh thân phụ nữ(女子挺身隊勤勞令), huy động cưỡng chế phụ nữ Triều Tiên Phụ nữ Triều Tiên làm lao động ở nhà máy quân sự, trong đó hầu hết phụ nữ trẻ đều
bị ép làm nô lệ tình dục quân sự cho Nhật Bản tại các mặt trận
Nhật Bản bắt đầu huy động cưỡng chế nhân lực lao động thật sự với sự ban hành của Luật tổng huy động quốc gia và áp dụng cho Triều Tiên từ tháng 5 năm
Trang 271938 Lệnh giới hạn dùng những người tốt nghiệp trường được ban hành vào tháng
9 năm 1938 quy định rằng các trường hợp tuyển những người đã học ở 12 khoa cơ khí, điện khí, khai mỏ, đóng tàu của 3 trường bao gồm trường Công nghiệp phổ thông Kinh Thanh(京城工業高等學校) học làm thợ lành nghề và kỹ sư được tập trung vào ngành công nghiệp quân sự Lệnh còn quy định tại trung tâm công nghiệp, trong trường hợp nhà máy(trung tâm công nghiệp) tuyển trên 200 công nhân thì phải đào tạo thợ lành nghề 6% trong tổng số công nhân và đây là quy định cưỡng chế
Hơn nữa, để giám sát „bố trí phù hợp‟ trực tiếp, Phủ Toàn quyền Triều Tiên ban hành Lệnh trung tâm giới thiệu việc làm Triều Tiên vào tháng 1năm 1940, quy định các công việc như giới thiệu việc làm,cung cấp sức lao động,tuyển người lao động Để thi hành và áp dụng lệnh này, Nhật Bản chuyển giao quyền quản lý trung tâm giới thiệu việc làm của các phủ(府) sang quốc doanh và xây dựng trung tâm giới thiệu việc làm thêm tại Dae-Jeon, Gwang-Ju, Cheon-Jin Vào năm 1941, chính quyền Nhật Bản ban hành Lệnh điều khiển lao động, giới hạn tuyển dụng công nhân trong ngành phi quân sự và cấm thay đổi nhân sự công nhân trong ngành quân sự Năm 1943, thực dân Nhật Bản kiểm soát người lao động như quân đội bằng các tổ chức tương tự như quân đội „Sĩ Phụng Đội‟ tại từng đơn vị trong nhà máy và hầm
mỏ Đến tháng 2 năm 1944 thực dân Nhật Bản bắt đầu thi hành Lệnh Tổng trưng dụng, quy định „trưng dụng‟ là nghĩa vụ của Thần dân Hoàng quốc, áp dụng nhân dân Triều Tiên bao gồm cả nữ giới, thực hành chính sách huy động cưỡng chế
Từ tháng 9 năm 1944, chính quốc xoá bỏ phương thức thông qua hình thức tuyển dụng, giới thiệu việc làm và thống nhất phương thức là trưng dụng do quyền của Phủ Toàn quyền Quy mô trưng dụng cưỡng chế chưa được làm rõ nhưng ở Triều Tiên là khoảng 420.000 người, Nhật Bản· Sakhalin ·Ủy trị Nam Dươngkhoảng 1.500.000 người, trong số đó có nhiều phụ nữ bị Nhật Bản cưỡng chế làm tình dục nô lệ
1.3 Chính sách giáo dục thực dân của Pháp và Nhật Bảnở thuộc địa
Trang 28Đối với các chính quốc bao gồm Pháp và Nhật Bản, giáo dục là một trong những lĩnh vực được chú trọng khi cai trị thuộc địa Với những đặc thù của Việt Nam và Triều Tiên, thực dân Pháp và Nhật Bảnđã từng bước thiết lập chính sách xây dựng hệ thống giáo dục dành cho người Việt và Triều Tiên để đào tạo đội ngũ nhân viên phục vụ nhu cầu bộ máy cai trị và khai thác thuộc địa
Trong <Phương châm thống trị Triều Tiên> vào năm 1926, Yanaihara Tadao(やないはらただお, 矢內原忠雄), đãchia chính sách thống trị thuộc địa làm 3 loại Chính sách phụ thuộc(lệ thuộc) là chính sách có tính chuyên chế và chỉ nghĩ cho lợi ích của mình như chính sách của Anh tại Ấn Độ từ thế kỷ 16-18 và Hà Lan tại Java (Indonesia) Chính sách Đồng hoá là một chính sách truyền bá pháp luật, phong tục, tập quán và ngôn ngữ của chính quốc và khuyến khích tạp hôn nhằm đồng hoá thuộc địa như chính quốc Những chính sách của Pháp tại Algérie là một ví dụ Còn chính sách Tự chủ cho phép thiết lập nghị viện thực dân như Canada,Úc để tìm hiệp lực với tư cách là thành viên đế quốc [61; 731-735]
Chính sách phụ thuộc mang tính nghiêm khắc, thống trị theo mô hình tập quyền trung ương, tìm kiếm lợi ích cho chính quốc Cả sự thống trị Pháp và Nhật Bản tại Việt Nam và Triều Tiên đều mang đặc tính này Trong trường hợp này, chính sách giáo dục thực dân được chính quốc thiết lập và thậm chí có trường hợp được thi hành cưỡng bách bằng vũ lực Giáo dục tại thuộc địa phản ánh mục tiêu của chính quốc và việc sửa đổi giáo dục đối với những người thuộc địa rất khó Mặc
dù cuối cùng cũng có sự thay đổi, nhưng đó là sự thay đổi vì chính quốc chứ không phải là vì người dân thuộc địa
Theo Yanaihara, một nhà nghiên cứu về chính sách thuộc địa, chính sách Nhật Bản tại Triều Tiên là chính sách phụ thuộc Trong tác phẩm
"朝鮮統治の方針", tác giả nói rằng: "Dù Nhật Bản không thi hành chính sách phụ thuộc rõ ràng từ ban đầu ",nhưngtrên mặt thực tế, chính sách của Nhật Bản là chính sách phụ thuộc Hơn nữa, sau phong trào ngày 1/3/1919, dù Nhật Bản thay đổi chính sách một cách ôn hoà “khi xem xét diện tích, dân số, lịch sử (chế độ tại
Trang 29Triều Tiên)nhưng chắc chắn vẫn là chế độ thống trị chuyên chế duy nhất trên thế giới trừ trường hợp thuộc địa quy mô nhỏ” [61; 736-737, 739]
Còn chính quốc Pháp tin rằng, qua giáo dục, người dân thuộc địa có thể được đồng hoá với Pháp Vì vậy, Pháp cũng cố gắng xây dựng giáo dục tại các thuộc địa Jules Ferry nhấn mạnh: “Giáo dục chính là công cụ của nền Cộng hoà nhằm tạo ra những công dân bình thường, là công cụ tạo ra những công dân phục vụ cho nền Cộng hoà.” [68; 24] Tuy đã chinh phục Việt Nam bằng quân sự, nhưng Pháp chưa đảm bảođược sự ổn định tại Việt Nam Chính vì vậy, Pháp phải làm suy thoái tinh thần phản kháng của Việt Nam và bắt người Việt Nam chấp nhận văn hoá và sự cai trị của Pháp Pháp lấy văn hoá Pháp để đồng hoá người dân thuộc địa Trong quá trình xâm lược Đông Dương, Pháp chủ trương xây dựng nền giáo dục theo mô hình hai yếu tố được kết hơp là mô hình chính quốc Pháp và bản xứ
Theo Funakoshi Yasuju (船越康寿, ふなこしやすじゅ), trong lịch sử thực dân Pháp có 3 chính sách cai trị thực dân là chính sách phụ thuộc, chính sách đồng hoá và chính sách hợp tác [62], Pháp áp dụng những chính sách đối với các xứ thuộc địa tuỳ thuộc từng khu vực và từng giai đoạn.Chính sách thực dân của Pháp tại Đông Dương có hai xu hướng là “đồng hoá” và “hợp tác” Theo Raymond Betts, đồng hoá là “thông qua việc cải tạo thiết chế ở các thuộc địa theo đúng mô hình ở nước Pháp chính quốc, đồng hoá sẽ dần dần xoá bỏ khoảng cách giữa các bộ phận khác nhau trên lãnh thổ Pháp và cuối cùng tạo thành một liên hiệp áp dụng một luật lệchung[32; 8]
Trong cuốn "The sociology of Colonies", René Maunier giải thích hợp tác là
“hợp tác nhưng không có bình đẳng, chỉ có sự thông cảm và khoan dung, Đó là sự cộng tác, nhưng là giữa đẳng cấp siêu việt với đẳng cấp thấp hèn.” Vào tháng 12 năm 1905, Bộ trưởng Thuộc địa Clément gửi thông tư cho Đông Dương và đối với Đông Dương ông tin rằng nếu người dân thuộc địa được tham gia vào bộ máy chính
Trang 30quyền thì sẽ hiểu mục tiêu của chính quốc Pháp không đi ngược lại với phong tục tập quán Việt Nam và bản thân họ có khả năng tự quản
Nhưng khái niệm "bảo hộ" và "hợp tác" không được giải thích rõ ràng nên hai khái niệm haybịnhầm lẫn Trên thực tế, chính sách hợp tác gần như là một cái
vỏ để giấu diếm các âm mưu đồng hoá và mục tiêu cuối cùng chỉ là cai trị thuộc địacủa cả Nhật Bản và Pháp
Việc tìm hiểu về chính sách chương trình giáo khoa rất quan trọng Triết lý nào liên quan đến giáo dục cũng phải mang mục tiêu của giáo dục và hơn nữa, ngược lại hình thành các phương châm để xây dựng chương trình giáo khoa Chương trình giáo khoa phản ảnh ý chí và chính sách của quốc gia Lịch sử phát triển chương trình giáo khoa có quan hệ mật thiết với tư tưởng thống trị và quyền lực Trong xã hội thực hiện sự khống chế chặt chẽ, chương trình giáo khoa bị kiểm soát nhiều hơn về mặt nội dung được giảng dạy Hơn nữa, chính phủ quy định các nội dung được giảng dạy tại các trường qua lệnh thống trị và những lệnh thống trị được quy định theo từng trọng điểm mà chính phủ muốn khẳng định như học sinh,
xã hội hoặc trí thức Nhưng trong thời kỳ thuộc địa, chính sách giáo dục và chương trình giáo khoa được chính quốc quyết định một cách đơn phương
Chính vì vậy, việc hiểu biết về nền giáo dục tại Việt Nam và Triều Tiên trong khoảng thời gian này, có thể là một đường lối làm rõ quan điểm củaPháp và Nhật Bảntới hai thuộc địa này Sau khi lấy Việt Nam và Triều Tiên làm thuộc địa, hai chính quốc Pháp và Nhật Bản đều chú trọng vào giáo dục
Thực dân Pháptiến hành hai lần cải cách giáo dục.Toàn quyền Đông Dương P.Beau ký Nghị định thành l ập Hội đồng nghiên cứu cải cách giáo du ̣c vào năm
1903 Vào tháng 11 năm 1905,Nghị định thành l ập Nha ho ̣c chín h Đông Dương được ban hành và m ột năm sau, cải cáchgiáo dục đã được hình thành qua các Nghi ̣
đi ̣nh thành l ập Hội đồng cải lươ ng ho ̣c chính bản xứ ngày 08/03/1906 Nhưng kế hoạch cải cách giáo dục do Toàn quyền P.Beau chỉ đạo được gọi là Chương trình cải cách giáo du ̣c lần thứ nhất Trong thời kỳ cải cách giáo dục này, hai nền giáo dục Nho học và Pháp Việt tồn tại song song với nhau
Trang 31Với cải cách giáo dục lần thứ nhất, người Pháp hy vọng trong một thời gian ngắn có thể đào tạo được một số viên chức giúp việc và công nhân kỹ thuật Đối với giáo dục Nho học, sẽ có được một tầng lớp quan lại tuy vẫn lấy cựu học làm chính, nhưng đã cóít nhiều tân học có thể làm cầu nối giữa nhân dân và "nhà nước bảo hộ"[18; 15] Hơn nữa, sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Pháp cần đầu tư và khai thác Việt Nam mạnh hơn để bù đắp cho thiệt hại ở chính quốc Vì vậy, Pháp cần củng cố bộ máy cai trị và muốn vậy, phải đẩy mạnh đào tạo tay sai để đáp ứng nhu cầu trên Trong bối cảnh đó, chương trình cải cách giáo dục thứ hai do Albert
Sarraut chỉ đạo được áp dụng ở Đông Dương với tên go ̣i “Quy đi ̣nh chung về giáo
dục của Đông Dương” , còn go ̣i là b ộ “Học chính tổng quy” (Règlementation
générale de l‟ Instruction publique), gồm 7 chương, 558 điều Trong cuộc cải cách này,quyết tâm của thực dân Pháp là xóa bỏ hệ thống giáo du ̣c truyền thống-Nho học
và thiết l ập một hệ thống giáo du ̣c của Pháp để “khai hóa văn minh ở Vi ệt Nam”.Mục tiêu của Pháp trong cải cách giáo dục lần thứ hai là thực hi ện Pháp hóa
và hiện đa ̣i hóa nền giáo du ̣cViệt Nam
Còn trước khi Nhật Bản chính thức lấy Triều Tiên làm thuộc địa - trong Thời
kỳ Thống Giám Phủ, Nhật Bản ra "Lệnh Trường học (學校令)" hai lần vào tháng 6 năm 1906 và tháng 9 năm 1909 Sau khi biến Triều Tiên thành thuộc địa chính thức, Nhật Bản dùng từ 'giáo dục' thay cho 'trường học' và ra 4 Lệnh Giáo dục (敎育令) vào năm 1911, 1922, 1938 và 1943.Qua những Lệnh giáo dục này, Nhật Bản tiến hành cải cách giáo dục Thời kỳ Lệnh Giáo dục Triều Tiên lần thứ nhất (11/1911 - 3/1922) là một thời kỳ xây dựng nền tảng giáo dục thực dân, còn Thời kỳ Lệnh Giáo dục Triều Tiên thứ hai (4/1922 - 3/1938) là kết quả do phong trào ngày 1/3 /19191 Nhật Bản thay đổi chính sách cai trị thực dân sang cai trị văn hoá Cải cách
1 Phong trào độc lập 1/3 là một cuộc khởi nghĩa dân sự được phát động vào ngày 1/3/1919 chống lại chính quyền thực dân Nhật Bản tại Triều Tiên Sau khi Triều Tiên trở thành thuộc địa của Nhật Bản, nhân dân Triều Tiên phẫn nộ với
Trang 32Lệnh Giáo dục Triều Tiên lần thứ ba (4/1938 - 3/1943) đặt mục tiêu xây dựng cơ sở thể chế huy động thời chiến qua tư tưởng Nội Tiên Nhất Thể (內鮮一體) với sự mở đầu chiến tranh Trung - Nhật Từ khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, chiến tranh Thái Bình Dương xảy ra, Nhật Bản sửa đổi chính sách giáo dục Triều Tiên qua Lệnh Giáo dục Triều Tiên lần thứ tư (4/1943) với mục đích quân sự Nhưng tình hình chiến sự diễn biến bất lợi cho quân Nhật, khiến Nhật từ bỏ giáo dục và huy động các cơ sở hạ tầng giáo dục và học sinh để phục vụ chiến tranh [40]
Khoảng trước sau Đại chiến thế giới thứ nhất, các nước đế quốc phương Tây tận dụng hệ thống giáo dục, học thuật một cách tích cực Trước đó, thuộc địa chỉ được coi là đối tượng bóc lột về kinh tế để lấy lợi ích cho chính quốc nhưng từ đầu thế kỷ 20, thuộc địa được coi là một đối tượng quan trọng trong cạnh tranh thế lực
Trong quá trình củng cố bộ máy cai trị, chính quốc đặc biệt quan tâm đến xác lập và sửa đổi thể chế giáo dục thuộc địa Đối với các chính quốc, giáo dục không chỉ là một phương tiện vững vàng minh chứng tính ưu việt của chính quốc cho người thuộc địa mà còn có thể tạo ra động cơ đào tạo đội ngũ người dân thuộc địa theo hình thức mới, được địa phương hoá các giá trị mang tính văn hoá của nước thực dân Thời kỳ từ những năm 1850 đến những năm 1920 trên những thuộc địa của phương Tây và Nhật Bản, tình hình xác lập giá trị giáo dục trọng điểm mẫu chính quyền đô hộ và đấu tranh để giành lại chủ quyền cho đất nước Cùng với ảnh hưởng từ "quyền tự quyết của dân tộc" của Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson, lực lượng quần chúng Triều Tiên ngày càng lớn đã tập hợp lực lượng 33 đại diện của Triều Tiên đã xác định rõ tinh thần của phong trào 1/3 Điều khoản đầu tiên nói rằng bởi việc tiến hành khởi nghĩa là một yêu cầu của người dân đối với công lý, lòng nhân đạo, sự tồn tại và thịnh vượng, chúng ta cần thể hiện duy nhất tinh thần tự
do và không bao giờ là xúc cảm bị loại bỏ Nhiều nhân dân Triều Tiên trên khắp nước chỉ với lá cờ tổ quốc và trái tim quả cảm đã đối mặt với đội quân Nhật Bản được trang bị vũ khí Đây là một sự phản kháng phi bạo lực hiếm thấy trong lịch sử thế giới
Trang 33quốc, sự xây dựng trường mới và sự thiết lập hệ thống giáo dục thuộc địa xuất hiện liên quan đến thay đổi chiến lược thống trị thuộc địa Thuộc địa, đặc biệt là ở các thuộc địa châu Á, giáo dục cấp cao cũng được áp dụng cũng trong thời kỳ này
Thông qua chính sách giáo dục thực dân tại Việt Nam và Triều Tiên, chúng
ta có thể thấy âm mưu của giáo dục thực dân là làm ngu dân hoá để dễ bề cai trị Nhưng âm mưu của thực dân Pháp và phát xít Nhật được ngụy trang dưới chiêu bài
"đồng hoá-Nhật hoá hoặc Pháp hoá " và “khai hoá văn minh và chấn hưng nền ho ̣c vấn” của người Việt Nam và Triều Tiên
Trong lĩnh vực giáo dục, chương trình giáo khoa và chính sách dạy và sử dụng ngôn ngữ của chính quốc thể hiện ý đồ của chính quốc Pháp và Nhật Bản là chính sách đồng hoá hoặc hợp tác Đặc biệt trong thời kỳ Đại chiến thế giới thứ 2,
sự cần thiết của thuộc địa dần dần tăng lên Bối cảnh lịch sửvà tình hình Đại chiến thế giới thứ hai ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính sách giáo dục của thực dân Pháp và phát xít Nhật ở Việt Nam và Triều Tiên
Tiểu kết chương 1
Như vậy, cho đến chiến tranh thế giới lần thứ hai, thực dân Pháp và phát xít Nhật Bản đã tiến hành xâm lược Việt Nam và Triều Tiên, biến hai nước trở thành thuộc địa của mình Và để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa đạt được hiệu quả một cách tốt nhất, Pháp và Nhật Bản tiến hành các biện pháp cai trị hà khắc trên mặt chính trị và kinh tế Hai thực dân cũng đã thi hành các chính sách giáo dục để đồng hoá lâu dài đối vớihai thuộc địa Việt Nam và Triều Tiên Với những hạn chế
và sự bất lực trong nền giáo dục Nho học đã trở thành những tiền đề để chính quyền thực dân Pháp và Nhật Bản áp đặt nên hai thuộc địa nền giáo dục phương Tây phục
vụ cho mục đích cai trị thuộc địa và tiến hành chiến tranh
Trang 34CHƯƠNG 2 - CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC CỦA CHÍNH QUYỀN THỰC
DÂN TẠI VIỆT NAMVÀ TRIỀU TIÊN 2.1 Chính sách giáo dục của chính quyền thực dânPháptại Việt Nam
2.1.1 Khái quátvề tình hình giáo dục Việt Nam trước Chiếntranh thế giới lần thứ II
2.1.1.1 Chính sách giáo dục của thực dân Pháp
Trong quá trình xâm lược và sau khi đặt ách thống trị lên lãnh thổ Việt Nam, thực dân Pháp đã thực hiện nhiều chính sách và thủ đoạn để khai thác thuộc địa, trong đó có chính sách về giáo dục – được gọi là “giáo dục Pháp cho người bản xứ” hay giáo dục Pháp-Việt
Sau khi lấy Việt Nam làm thuộc địa, thực dân Pháp tiến hành hai cuộc cải cách giáo dục vào năm 1906 và 1917 để tổ chức, xác lập nền giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu của chính quốc Pháp
Cải cái giáo dục lần thứ nhất được Toàn quyền Paul Beau chỉ đạo từ năm
1906 Trong giai đoạn này hệ thống trường Pháp-Việt được tổ chức thành 2 bậc là bậc Tiểu học và bậc Trung học Song song với hệ thống trường Pháp-Việt, hệ thống giáo dục Nho học được tồn tại và chia làm 3 bậc là ấu học, tiểu học và trung học Cuộc cải cách lần này dù có nhiều hạn chế và chưa triệt để nhưng đã đưanền giáo dục cảPháp dần dần xâm nhập vào nền giáo dục truyền thống và tạo điều kiện tiến tới xác lập một nền giáo dục mới của Pháp thay thế cho nền giáo dục truyền thống của Việt Nam
Nhằm đáp ứng nhu cầu của chính quốc Pháp và trong những điều kiện thuận lợi, thực dân Pháp tiến hành cải cách giáo dục lần thứ hai từ năm 1917 Hồi đó, chiến tranh thế giới lần thứ nhất sắp kết thúc và Pháp cần mở rộng cuộc khai thác thuộc địa để phục hồi kinh tế và xã hội Trong hình hình như vậy, đối với thực dân Pháp, việc đào tạo đội ngũ có thể phục vụ khai thác thuộc địa và việc xác lập lại một thể chế phù hợp với nhu cầu chính quốc chính là nhiệm vụ của thực dân Pháp tại Đông Dương Để thực hiện mục tiêu đó, cải cách giáo dục là một việc cần thiết của thời đại bấy giờ
Trang 35Trong chính sách cải cách giáo dục lần thứ hai do Toàn quyền Sarraut khởi xướng, thực dân Pháp chia hệ thống giáo dục ở Việt Nam thành giáo dục phổ thông
và thực nghiệp
Toàn bộ nền giáo dục của Việt Nam chia làm ba cấp như sau:
Bảng 2.1: Lƣợc đồ hệ thống giáo dục ở Việt Nam từ sau cải cách giáo dục lần 2 (1917)
Thực dân Pháp còn quy định việc dạy tiếng Pháp được bắt đầu từ lớp ba Còn môn chữ Hán trong các trường sơ đẳng tiểu học Pháp-Việt không phải là môn bắt buộc nhưng những quy định về việc dạy chữ Hán khá phức tạp
Sau cải cách giáo dục lần thứ hai, Toàn quyền Merlin quy định việc học tiếng Pháp bắt đầu từ lớp sơ đẳng, bắt buộc ở lớp nhì và lớp nhất từ năm 1923 Vào năm
1927, Merlin mở thêm lớp nhì đệ nhất(Cours moyen première année) làm lớp chuyển tiếp giữa lớp sơ đẳng và lớp nhì đệ nhị (moyen deuxième année) Theo Nghị định năm 1924, những học sinh học 2 năm ở bậc trung học có bằng tú tài "bản xứ" được nâng lên tú tài phần thứ nhất Sau đó, vào 23/12/1927, bậc trung học được thêm 1 năm nữa(là 3 năm) và học sinh được đi thi lấy bằng tú tài "bản xứ" phần thứ
Trang 36hai tương đương tú tài Pháp[18; 18-19]
Qua cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai, thực dân Pháp xoá bỏ nền giáo dục truyền thống là giáo dục Nho học, mở rộng nền giáo dục Pháp-Việt thành một hình thức phù hợp với tình hình thuộc địa
2.1.1.2 Tình hình giáo dục ở Việt Nam trước chiến tranh thế giơí lần thứ hai
Như Toàn quyền Đông Dương P.Doumer đã khẳng định: "Đông Dương là một thuộc địa lớn, có một nền tài chính rực rỡ, một nền thương mại quan trọng, một nền nông nghiệp phát triển nhanh chóng Có thể nói rằng thuộc địa Đông Dương của chúng ta đã làm rạng rỡ văn minh nước Pháp"[3; 112] Như vậy Đông Dương
đã có đủ điều kiện để thực dân Pháp xúc tiến khai thác thuộc địa để thu lợi nhuận
Để đạt mục tiêu thu lợi nhuận ở Việt Nam, với các biện pháp kinh tế và quân
sự, thực dân Pháp chú ý đến chính sách giáo dục Thực dân Pháp coi "giáo dục là một công cụ mạnh nhất và chắc chắn nhất ở trong tay kẻ đi chinh phục" [10; 13]
Vì vậy, chính quyền thu ộc đi ̣a đã chú ý tăng vốn đầu tư vào giáo dục để không chỉ hiện đại hoá mà còn Pháp hoá nền giáo dục Đặc biệt từ những năm 1920, Pháp đẩy mạnh đầu tư vào giáo dục Trước năm 1920, tức là từ năm 1914 đến 1918, ngân sách cấp xứ đến liên bang đầu tư cho các trường công chỉ từ 1,5-1,7 triệu đồng Đông Dương Nhưng từ năm 1919 đến 1930, số tiền ngân sách dùng cho ngành giáo dục tăng nhanh chóng Trong giai đoạn này, tổng số tiền ngân sách là 80.386.000 đồng Đông Dương và trung bình gần 6,7 triệu đồng mỗi năm, tức tănggấp hơn 4 lần
Bảng 2.2: Tình hình ngân sách đầu tư vào giáo dục công đã đăng ký
(Nghìn đồng Đông Dương($)) Năm Chi tiêu giáo dục công
Ngân sách liên bang
Ngân sách cấp
xứ
Ngân sách tỉnh, làng xã
Tổng cộng
Trang 37và hoàn chỉnh cho vấn đề giáo dục ở Việt Nam Chính quyền thực dân coi "chỉ cần dạy tiếng Pháp cho người Việt Nam, dạy cho học biết đọc, biết tính toán chút ít, biết nhiều hơn nữa cũng chỉ là thừa và vô ích" [5; 74] vì"Kinh nghiệm của các dân tộc châu Âu khác đã chỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản
xứ là hết sức dại dột"[10; 17]
Chính vì vậy, ảnh hưởng của giáo dục trong xã hội vẫn còn hạn chế Vào thập niên 1930, Jean Dorsenne, một nhà văn Pháp, đã nhận xét về tầng lớp nông dân Việt Nam như sau:
Dưới vẻ bình lặng và lớp mặt nạ thờ ơ, dân chúng Việt Nam là con mồi của bất cứ kẻ gây phiến động nào có thể kích động họ Người nông dân ngây ngô đến khó tin Không có gì nguy hiểm hơn thế đối với sự yên ổn của người Pháp Tất cả những con người khốn khổ này, những người vẫn hàng ngày cấy lúa, chăn trâu, và làm những công việc hàng ngày một cách vô tư, có thể ngày mai sẽ biến thành một đội quân điên cuồng tiến công chống lại chúng ta [người Pháp] mà không cần biết tại sao
Trang 38Thật vậy, những người nông dân nghèo khổ và bệnh tật này thường có xu hướng tin vào bất cứ lời hứa nào về một cuộc sống tốt đẹp hơn Sự “ngây thơ” của
họ càng trầm trọng hơn vì họ mù chữ, điều này khiến họ không thể hiểu được ý nghĩa thật sự của bất kì tư tưởng chính trị nào[35; 91]
Bên cạnh những tổ chức và phong trào cách mạng đó, cũng có một số nỗ lực nhỏ lẻ nhằm giáo dục cho người dân theo phương thức hiện đại phương Tây Trong
số đó phải kể đến Hội truyền bá chữ Quốc ngữ, được thành lập năm 1938 ở Bắc Kì bởi một nhóm nhỏ các học giả và giáo viên có tư tưởng công dân Đây là một tổ chức phi lợi nhuận có mục tiêu chống lại nạn mù chữ Mặc dù ảnh hưởng của tổ chức này không được sâu rộng do thiếu hỗ trợ từ chính phủ, nhưng nó đã có công tạo ra một phong trào giáo dục toàn dân mà sau này được nhiều chính phủ khác nhau của Việt Nam thời hậu chiến áp dụng Một số ít các tờ báo và tạp chí Việt Nam cũng tham gia vào việc chế giễu các loại hủ tục và giới thiệu một số tư tưởng và lối sống phương Tây đến số đông Hầu hết những tờ báo và tạp chí này đều tránh nhắc đến các vấn đề chính trị, điều này đã cho phép họ có thể tồn tại dưới chế độ kiểm duyệt gắt gao Sẽ khó có thể ước lượng được giá trị giáo dục của những ấn phẩm này, tuy nhiên chúng cũng đã tạo ra được một ảnh hưởng khó nhận biết đối với nhiều người Việt Nam biết chữ
Từ đầu thập niên 1930, Pháp đã buộc phải tiến hành một số cải cách ta ̣i triều đình Huế về quan trường, hành chính, luật pháp vì nhiều biến động nghiêm tro ̣ng về kinh tế, chính tri ̣, nhà cầm quyền Chính quyền thực dân Pháp thành lập bộ Quốc gia giáo du ̣c và Pha ̣m Quỳnh làm Thượng thư Bộ này chỉ quản lý b ậc tiểu ho ̣c ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ còn từ trung ho ̣c trở lên vẫn do Nha ho ̣c chính điều hành Ở các tỉnh, triều đình Huế cho đ ặt la ̣i chức đốc ho ̣c , kiểm ho ̣c, còn ở các phủ huy ện chức huấn đạo và giáo thụ cũng được phục hồi
Theo Học chính tổng qui, hệ thống trường lớp bậc tiểu học được quy định lại như sau
Bảng 2.3:Hệ thống trường lớp bậc tiểu học sau những năm 1930
Trang 39Trường Sơ đẳng yếu lược bản xứ - Có 3 lớp Đồng ấu, Dự bị, Sơ đẳng
(hoặc chỉ có 1-2 lớp về bậc sơ đẳng)
- Thường được đặt ở các làng và gọi trường hương học
- Do các làng đóng góp ngân sách Trường tiểu học - Có 3 lớp Nhì đệ nhất, Nhì đệ nhị và
Lớp nhất (hoặc 1-2 lớp trên bậc tiểu học)
- Thường được đ ặt ở các phủ huy ện hoặc tỉnh ly ̣
Nguồn : [18] Nhìn chung từ năm 1933, sau khi được giao la ̣i cho triều đình Huế , việc giảng dạy đã có những cải tiến nhất định Chữ quốc ngữ được dùng làm chuyển ngữ chính cho 3 lớp dưới cùng v ới tiếng Pháp ở 3 lớp trên Sách giáo khoa của hai thứ tiếng được bổ sung khá đầy đủ Kiến thức của b ậc tiểu ho ̣c nhờ đó được h ệ thống hơn so với giai đoạn trước, dù chỉ ho ̣c xong b ậc tiểu ho ̣c các em cũng đã có hiểu biết sơ bộ về tự nhiên và xã h ội có thể ứng dụng m ột phần cho cu ộc sống gia đình
và sản xuất ở đồng ruộng
2.2 Chính sách giáo dục của thực dân Pháp trong Chiến tranh thế giới lần thứ II
Trong giai đoạnĐại chiến thế giới thứ 2, chính sách giáo dục của chính quyền Pháp-Nhật cũng có một số sửa đổi Bậc tiểu học và trung học được thể chế hoá và chương trình học ở hai bậc này cũng được bổ sung Bên cạnh đó, bậc đại học được mở rộng hơn so với những năm 20 và 30
Nền giáo dục trong giai đoạn trước sau Đại chiến thế giới lần thứ hai đượctiếp tục hoàn chỉnh theo chủ đạo của Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié Trước đó, trong cuộc tổng tuyển cử vào tháng 5 năm 1936, Mặt trận Nhân dân Pháp giành được thắng lợi và chính phủ do Léon Blum được thành lập Thay thế Toàn quyền René Robin, J Brévié được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương vào năm
Trang 401936 Brévié sang Việt Nam qua sân bay Sài Gòn vào năm 1937 Việc Brévié nhậm chức Toàn quyền Đông Dương đã làm dấy lên nhiều hoạt động của quần chúng và các tổ chức xã hội nhằm biểu lộ thái độ đòi chính quyền Pháp ở Đông Dương phải tiến hành những cải cách cho phù hợp với việc Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp lên cầm quyền ở chính quốc Từ ngày 15-1-1937, ở Sài Gòn Hà Nội và nhiều nơi khác, hàng vạn quần chúng tham gia biểu tình, giương cao những khẩu hiệu: "Ủng
hộ Mặt trận Nhân dân Pháp", “Tự do ngôn luận", "Tự do nghiệp đoàn”, "Đại xá chính trị phạm", “Bỏ thuế thân” [69]
Toàn quyền Brévié là một người có suy nghĩ cởi mở, phóng khoáng và cố gắng xoa dịu tình hình chính trị cực đoan bằng cách nhượng bộ như ân xácho tù nhân chính trị, đảm bảo tự do báo chí và dỡ bỏ các hạn chế đối với các đảng chính trị dân tộc[31; 48] Brévié cũng rất quan tâm đến giáo dục Khi làm Toàn quyền Tây Phi thuộc Pháp(năm 1930-1936), ông đã gửi thư hỏi về "Những gì đã được thực hiện ở Đông Dương để hỗ trợ và giáo dục trẻ em lai(métis) bất kỳ thông tin nào ông(Toàn quyền Đông Dương) chia sẻ sẽ là nguồn cảm hứng của chúng tôi"[33; 37] Ông có thể thấy sự cần thiết hài hoà và sự giao lưu tiếp biến văn hóa(acculturation)giữa người Pháp và người bản xứ(Việt) Trong cuộc thăm viếng
và gặp gỡ những học sinh Pháp-Việt tại Lycée Yersin vào ngày 12 tháng 7 năm
1938, ông cho biết:
"Tại các địa điểm trên toàn cầu, nơi có sự tiếp xúc giữa các chủng tộc khác nhau, một sự sôi nổi không thể tin được đang phát triển Chúng ta phải ngăn ngừa điều thoái hóa, có thể trở thành rối loạn kinh niên này Chúng ta phải thiết lập lại sự hài hòa thiết yếu cho sự thịnh vượng của nhân loại và sự tiến bộ của xã hội trong mọi lĩnh vực Đây là vai trò của các bạn, bởi chính sự hiện diện của các bạn ở nơi biến đổi này đang xảy ra."[34; 100]
Dưới thời Toàn quyền Brévié, nền giáo dục của Pháp được củng cố và thể chế hoá hơn.Đó là sự củng cố giáo dục bậc sơ học và trung học ở Đông Dương
2.2.1 Tiếp tục củng cố giáo dục bậc sơ học và trung học Đông Dương
Ngày 18 tháng 1 năm 1938, Toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định về