1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận tài chính công nghiên cứu các cuộc khủng hoảng ở một số nước trên thế giới và bài học cho việt nam

60 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 890 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hy Lạp chỉ làquốc gia nhỏ nhưng ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này khiến cho các nền kinh tế kháctrên thế giới phải xem xét lại cách quản lí tài chính của mình cũng như có những biệnpháp

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 6

1 Tính cấp thiết của đề tài 6

2 Tình hình nghiên cứu 7

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 8

1.2 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 8

1.2.1 NỢ CÔNG 8

1.2.2 KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG 13

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 20

2.1 Khủng hoảng nợ công Hy Lạp 20

2.1.1 Nền kinh tế Hy Lạp trước khủng hoảng nợ công: 20

2.1.2 Diễn biến khủng hoảng nợ công Hy Lạp 22

2.1.3 Nỗ lực giải cứu vỡ nợ và chính sách thắt lưng buộc bụng: 25

2.1.4 Tác động của khủng hoảng nợ công Hy Lạp 28

2.1.5 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ ở Hy Lạp 31

2.2 Khủng hoảng nợ công Châu Âu 33

2.2.1 Những mầm mống trước khủng hoảng nợ công Châu Âu 33

2.2.2 Diễn biến cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu 34

2.2.3 Những động thái của liên minh Châu Âu dưới nguy có khủng hoảng nợ 40

2.2.4 Tác động của khủng hoảng nợ công ở Châu Âu 40

2.2.5 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng : 42

2

Trang 2

2.3 Khủng hoảng nợ công khu vực Mỹ-Latinh 43

2.3.1 ầm mống và diễn biến của khủng hoảng 43

2.3.2 Biện pháp đối phó với tình trạng khủng hoảng và tác động của nó mang lại đối với nền kinh tế

2.3.3 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng 47

CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 49

3.1 Thực trạng nợ công ở Việt Nam 49

3.1.1 Quy Nợ công đang gia tăng 49

3.1.2 Gánh nặng nợ công bình quân trên đầu người cao 51

3.1.3 Đóng góp của nợ công trong tăng trưởng kinh tế 52

3.1.4 Tình hình sử dụng nợ chưa đạt hiệu quả cao 53

3.2 Nguyên nhân nợ công Việt Nam gia tăng thời gian qua 55

3.2.1 Áp lực huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội lớn 55

3.2.2 Bội chi NSNN gia tăng trong thời gian dài khiến vay nợ trở thành nguồn lực để bù đắp vào thâm hụt ngân sách 55

3.2.3 Đầu tư công cao, hiệu quả đầu tư còn thấp 56

3.2.4 Việc huy động, phân bổ sử dụng vốn vay của Việt Nam còn dàn trải 57

3.3 Một số bài học rút ra cho Việt Nam 59

3.3.1 Tổng quan về cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu 59

3.3.2 Bài học rút ra cho Việt Nam 59

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nợ công đang là một trong những vấn đề mà mọi quốc gia trên thế giới đều phải đốimặt trong thời điểm hiện tại Hy Lạp là quốc gia đầu tiên trên thế giới rơi vào tình trạngkhủng hoảng nợ công và kéo theo nhiều quốc gia rơi vào tình trạng này Hy Lạp chỉ làquốc gia nhỏ nhưng ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này khiến cho các nền kinh tế kháctrên thế giới phải xem xét lại cách quản lí tài chính của mình cũng như có những biệnpháp để mức nợ công không được vượt quá an toàn

Mức nợ công cao buộc các chính ohur phải điều chỉnh lại các chính sách tài khóa, tiền

tệ Các quốc gia buộc phải xây dựng lại lộ trình phát triển kinh tế, tính toán sử dụng cácnguồn vay hợp lí thậm chí là nhờ đến sự viện trợ từ các nước quốc tế Như vậy, dù là cónền kinh tế lớn nhất thế giới như Mỹ hay những nền kinh tế nhỏ như Việt Nam thì nợcông vẫn luôn là nguyên nhân khiến cho kinh tế chậm phát triển thậm chí làm cho đấtnước sụp đổ trong tương lai

Theo các chuyên gia kinh tế, cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu không chỉ có ảnhhưởng đến hoạt động kinh tế của các nước trong khu vực Eu mà còn ảnh hưởng nghiêmtrọng đến các nền kinh tế khác trên thế giới Để thoát khỏi cuộc khủng hoảng này, cácquốc gia đã phải yêu cầu nhận viện trợ từ các tổ chức tài chính quốc tế và cam kết thựchiện các chính sách” thắt lưng buộc bụng” để giảm thiểu thâm hụt ngân sách Tuy nhiênkhi thực hiện chính sách này có ảnh hưởng không nhỏ đến cư dân trong nước, nhiều cuộcbiểu tình nổ ra , nguy cơ mất khả năng tự chủ tài chính là rất cao

Việt Nam là một quốc gia đang phát trỉên nên cần một lượng vốn đầu tư để phát triểnkinh tế là rất lớn Và để đáp ứng được nguồn vốn lớn như vậy, Việt Nam phải tìm đến thịtrường tài chính thế giới, từ các tổ chức tài chính và các quốc gia khác Nợ công của ViệtNam hiện nay là vào khoảng 65% tức là vẫn đang nằm trong ngưỡng an toàn Nước ta chưa

có nhiều dấu hiệu của khủng hoảng nợ công nhưng trong tương lai chúng ta sẽ phải

Trang 4

đối mặt với vấn đề này nếu không có cách thức quản lí và sử dụng vốn vay hợp lí và sử dụngvốn vay để đầu tư các dự án công vẫn còn chưa thực sự hiệu quả như thời gian qua

Trước những diễn biến phức tạp của các cuộc khủng hoảng trên thế giới và tình hình nợcông của Việt Nam cũng như để trả lời Việt Nam cần làm gì để tránh khỏi “vết xe đổ”màcác quốc gia tiền nhiệm đã để lại, chúng em mạnh dạn lựa chọn đề tài “ Nghiên cứu cáccuộc khủng hoảng ở một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu

Tình hình nghiên cứu đề cập đến vấn đề nợ công ở các góc độ khác nhau ở các nướctrên thế giới và tìm hiểu, đi sâu vào vấn đề nợ công thế giới và nợ công Việt Namtrong giai đoạn vừa qua và trong tương lại

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Mục đích nghiên cứu:

Qua việc phân tích vấn đề nợ công ở một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới,

đề tài rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam để tránh rơi vào tình trạngkhung hoảng trong tương lai

- Nhiệm vụ nghiên cứu :

 Khái quát các vấn đề lí luận về nơ công, khủng hoảng nợ công

 Phân tích thực trạng ở một số nước trên thế giới.

 Phân tích thực trạng nợ công ở Việt Nam và rút ra kinh nghiệm và đảm bảo

nợ công an toàn trong thời gian tới

Trang 5

CHƯƠNG 1 .TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

Cuốn sách “ Chính sách công và phát triển bền vững” do các tác của Đại học kinh tế Đại học quốc gia Hà Nội làm chủ biên, NXB chính trị quốc gia – sự thật, 2012 đã đề cậpđến nợ công trong mối quan hệ với đầu tư công và phát triển bền vững của quốc gia,mối quan hệ giữa nợ công và chính sahcs tài khóa… nhằm đưa ra gơi ý và cách tiếp cậnvấn đề nợ công Việt Nam

-Luận văn thạc sĩ của trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh “Nợ nước ngoài và tăngtrưởng kinh tế của Việt Nam” của tác giả Phạm Văn Dũng đã đề cập đến vấn đề khái niệm

nơ nước ngoài, các tiêu chí đánh giá nợ nước ngoài và phân tích một số khuyến nghị choViệt Nam thông qua phân tích thực trạng nợ nước ngoài tại Việt Nam để đưa ra giải phápnhằm nâng cao hiệu quả quản lí nợ nước ngoài là một phần lớn của nợ công,

Ngoài ra còn một số trang báo như “ Luận bàn về nợ công ở Việt Nam “ củaNguyễn Quốc Nghị,

Trong công trình nghiên cứu External Debt Management in Low-Income Country các tácgiả Bangura Sheku, Damoni Kitabire Robert Powell đã chỉ ra nhu cầu vay mượn phảiđược xây dựng dựa trên khả năng trả nợ, các chủ thể quản lí nợ nước ngoài là một hệthống các cơ quan được sắp xếp từ thấp đến cao theo chức năng nhiệm vụ quản lí nợ

Trang 6

nước phải chịu trách nhiệm về khoản nợ đó Hầu hết những cách tiếp cận hiện nay đềucho rằng nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệmtrong việc chi trả khoản nợ đó Vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được sử dụng cùngnghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ Tuy nhiên, nợ công hoàntoàn khác với nợ quốc gia Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia,bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước và nợ của tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cánhân) Như vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia Để có được một cái nhìntổng thể về bức tranh nợ công, trước hết chúng ta cần có một khung lý thuyết cơ bản vàđầy đủ về nợ công cũng như các khái niệm liên quan.

- Theo luật quản lí nợ công của Việt Nam

Năm 2009, Quốc hội đã ban hành Luật quản lý nợ công, được xem là một bướctiến bộ lớn trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề này Theo Bộ Luậtnày, nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyềnđịa phương

Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoàđược

ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác

do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật Nợchính phủ không bao gồm các khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hànhnhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ

Nợ được chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tíndụng vay trong nước, nước ngoài được chính phủ bảo lãnh

Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành

- Theo WB (2002)

Nợ công là toàn bộ những khoản nợ của Chính phủ và những khoản nợ đượcChính phủ bảo lãnh Với định nghĩa trên, nếu hiểu nợ của Chính phủ bao gồm nợ củaChính phủ Trung ương và nợ của chính quyền địa phương thì có thể thấy định nghĩa của

WB giống với định nghĩa được đưa ra trong Luật quản lý nợ công của Việt Nam

Trang 7

- Theo IMF (2010)

Nợ công được hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công bao gồm khu vực Chínhphủ tại các cấp chính quyền, từ trung ương đến địa phương và khu vực các tổ chức cônggồm các tổ chức công tài chính và phi tài chính Các tổ chức công phi tài chính có thể làcác tập đoàn nhà nước không hoạt động trong lĩnh vực tài chính như điện lực, viễn thông,

… hoặc cũng có thể là các tổ chức như bệnh viện và các trường đại học công lập

Các tổ chức công tài chính là các tổ chức nhận hỗ trợ từ Chính phủ và hoạt động tronglĩnh vực tài chính, thực hiện các dịch vụ nhận tiền gửi và trả lãi thuộc khu vực công, cungcấp các dịch vụ tư vấn tài chính, bảo hiểm hay quỹ lương hưu

1.2.1.2 Phân loại nợ công:

Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhautrong việc quản lý và sử dụng nợ công

- Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay:

 Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức trong nước

 Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnh

thổ

Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nợ.Việc phân loại này sẽ giúp xác định chính xác hơn tình hình cán cân thanh toán quốc tế.Việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ, vì các khoản vay nướcngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tếkhác

- Theo phương thức huy động vốn:

 Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa thuậnvay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức chovay Phương thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc ởtầm quốc gia là các hiệp định, thỏa thuận giữa các nhà nước

10

Trang 8

 Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà nước cóthẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn Các công cụ nợ này có thờihạn ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyển nhượng trên thịtrường tài chính.

- Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công:

 Nợ công có ba loại: Nợ công từ vốn vay ODA, Nợ công từ vốn vay ưu đãi và

Nợ thương mại thông thường

- Theo trách nhiệm đối với chủ nợ:

 Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính quyền địa phương cónghĩa vụ trả nợ

 Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh cho ngườivay nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ

là nguồn thu ngân sách và được đưa vào cân đối, nên về bản chất nợ công củađịa phương được Chính phủ đảm bảo chi trả thông qua khả năng bổ sung từngân sách trung ương

Việc phân loại nợ công có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý và sử dụng nợcông Tương ứng với mỗi loại nợ sẽ có giải pháp quản lý bảo đảm quy mô nợ phù hợp,qua đó sẽ chủ động tăng hay giảm nợ để tạo nguồn thúc đẩy phát triển kinh tế –hội

1.2.1.3 Tác động của nợ công đến nền kinh tế

1.2.1.3.1 Tiêu cực

11

Trang 9

- Quan điểm Barro-Ricardo cho rằng biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợchính phủ không kích thích chi tiêu ngay cả trong ngắn hạn vì không làm tăng thu nhậpthường xuyên của các cá nhân mà nó chỉ làm dịch chuyển thuế từ hiện tại sang tương lai.Các cá nhân dự tính rằng, hiện giờ chính phủ giảm thuế và phát hành trái phiếu bù đắpthâm hụt, thì đến một thời điểm trong tương lai chính phủ sẽ lại tăng thuế để có tiền trả nợhoặc in tiền để trả nợ (mà hậu quả là lạm phát tăng tốc); do đó, người ta tiết kiệm hiện tại

để có tiền đóng thuế trong tương lai hoặc mua hàng hóa và dịch vụ sẽ lên giá

- Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạnmột khoản nợ chính phủ lớn (tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sự tăng trưởng củasản lượng tiềm năng chậm lại vì những lý do sau:

 Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng cường xuấtkhẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút

 Một khoản nợ công cộng lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân: thay vì sởhữu cổ phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ chính phủ (trái phiếu chínhphủ) Điều này làm cho cung về vốn cạn kiệt vì tiết kiệm của dân cư đã chuyểnthành nợ chính phủ dẫn đến lãi suất tăng và các doanh nghiệp hạn chế đầu tư

 Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế là mộttổng thể thì chính phủ chỉ nợ công dân của chính nước mình, tuy vậy nếu nợ trongnước lớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay Thuế làm méo mónền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội

- Ngoài ra, còn có một số quan điểm cho rằng việc chính phủ sử dụng công cụ nợ

để điều tiết kinh tế vĩ mô sẽ không có hiệu suất cao vì có hiện tượng crowding out (đầu

tư cho chi tiêu của chính phủ tăng lên)

- Chính phủ muốn tăng chi tiêu công cộng để kích cầu thì phát hành trái phiếu chínhphủ Phát hành thêm trái phiếu chính phủ thì giá trái phiếu chính phủ giảm, thể hiện quaviệc chính phủ phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới huy động được người mua Lãi suất tráiphiếu tăng thì lãi suất chung của nền kinh tế cũng tăng Điều này tác động tiêu cực

12

Trang 10

đến động cơ đầu tư của khu vực tư nhân, khiến họ giảm đầu tư Nó còn tác động tích cựcđến động cơ tiết kiệm của người tiêu dùng, dẫn tới giảm tiêu dùng Nó còn làm cho lãisuất trong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới luồng tiền từ nướcngoài đổ vào trong nước khiến cho tỷ giá hối đoái tăng làm giảm xuất khẩu ròng Tómlại, phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song mức tăng không lớn vì có nhữngtác động phụ làm giảm tổng cầu.

- Nếu coi việc nắm giữ trái phiếu chính phủ là một hình thức nắm giữ tài sản thì khichính phủ tăng phát hành trái phiếu sẽ đồng thời phải tăng lãi suất, người nắm giữ tài sảnthấy mình trở nên giàu có hơn và tiêu dùng nhiều hơn Tổng cầu nhận được tác động tíchcực từ việc tăng chi tiêu chính phủ (nhờ phát hành công trái) và tăng tiêu dùng nói trên.Tuy nhiên, tăng tiêu dùng dẫn tới tăng lượng cầu tiền Điều này gây ra áp lực lạm phát, vìthế tác động tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng thực (bằng tốc độ tăng trưởng danh nghĩa

trừ tỷ lệ lạm phát)

1.2.1.3.2 Tích cực

- Nợ công trong ngắn hạn làm tăng ngân sách cho nhà nước, giúp cho Chính phủ chitiêu cho các khoản về chi đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, chi thường xuyên: lương chocông nhân viên chức, Với một chính sách vay nợ cùng với chi hợp lí chính phủ hoàntoàn có thể kích thích nền kinh tế phát triển tốt hơn

- Nợ công góp phần vào việc Nhà Nước có thể huy động được nguồn vốn nhàn rồi

từ người dân trong nước thông qua việc Chính phủ phát hành trái phiếu, tín phiếu Chínhphủ,… Do đó đem lại hiệu quả kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư

- Nợ công sẽ tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế.Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế – ngoại giao quan trọng của các nướcphát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốn hợp tác kinh tếsong phương Nếu Việt Nam biết tận dụng tốt những cơ hội này, thì sẽ có thêm nhiều nguồnvốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trên cơ sở tôn trọng lợi ích nước bạn, đồngthời giữ vững độc lập, chủ quyền và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước

1.2.2 KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG

Trang 11

1.2.2.1 Khái niệm

Cũng giống như tình trạng đa khái niệm của nợ công, tùy thuộc vào từng góc độ nhìnnhận và đánh giá sự kiện, khủng hoảng nợ công được cắt nghĩa theo các cơ sở khác nhau.Hiểu một cách khái quát nhất, khủng hoảng nợ công là tình trạng nợ công tăng cao (vỡ nợ),làm chao đảo nên kinh tế do sự mất cân đối giữa thu và chi ngân sách quốc gia Nhu cầu chinhiều quá, trong khi thu không đap ứng được, chính phủ đi vay tiền thông qua nhiều hìnhthức như phát hành công trái, trái phiếu, hiệp định tín dụng, để chi, từ đó dẫn đến tình trạng

nợ Thâm hụt ngân sách kéo dài làm cho nợ công gia tăng Nợ không trả sớm, để lâu thànhlãi “mẹ đẻ lãi con” và ngày càng chồng chất thêm Trải qua thời gian dài vận động phát triểncủa nền kinh tế thế giới nói chung, khái niệm về vấn đề khủng hoảng nợ công cũng đượcthay đổi nhiều lần và riêng rẽ đối với từng tổ chức, khu vực độc lập

- Theo Detragiache và Spilimbergo (2001) xác định rằng cuộc khủng hoảng nợ sẽ xảy

ra nếu một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau đây xảy ra:

 Có những khoản nợ gốc hoặc lãi chưa hoàn trả hoặc đang trả dở dang songphải xin khất lại nghĩa vụ trả nợ đối với chủ nợ (ngân hàng, tổ chức sở hữu tráiphiếu) chiếm trên 5% tổng dư nợ

 Có một thỏa thuận gia hạn hoặc tái cơ cấu nợ với chủ nợ được liệt kê trong Báocáo Phát triển Tài chính Toàn cầu (GDF) của Ngân hàng Thế giới (WB)

-Theo Sy(2004) đưa ra lập luận: giống như việc mất khả năng thanh toán những khoản

nợ trong khu vực tài chính doanh nghiệp, khủng hoảng nợ công là biểu hiện “tiền phá sản”của trái phiếu chính phủ Theo định nghĩa đó, Sy đã chỉ ra từ năm 1994 đến năm 2002,trên thế giới xảy ra 140 sự kiện “tiền phá sản”, làm giảm uy tín và năng lực của thị trườngtrái phiếu Chính phủ

- Theo IMF và WB : trong thời điểm hiện nay, định nghĩa về nợ công của tổ chức Standard

and Poor’s, quỹ tiền tệ thế giới IMF và Ngân hàng thế giới WB là một số cách giải thíchđược ưa thích trích dẫn và sử dụng nhiều hơn cả

14

Trang 12

 Theo IMF một quốc gia được xác nhận lâm vào khủng hoảng nợ nếu nó được

tổ chức Standard & Poor’s liệt vào danh sách các nước không có khả năng hoàn trả nợ hoặcphải xin vay từ IMF một khoản lớn (vượt quá 100% hạn mức tín dụng đề ra) để tài trợ chokhoản nợ nói trên Ở đây, tiêu chuẩn được đưa ra để Standard and Poor’s xác định một quốcgia là không có khả năng hoàn trả nợ là việc chính phủ của quốc gia đó không thể thanh toán

đủ gốc hoặc tiền lãi cho các khoản nợ nước ngoài vào ngày đáo hạn hoặc trong thời gian ânhạn quy định (bao gồm các khoản phát sinh trong nghiệp vụ thanh toán nợ

bằng hối phiếu, nghiệp vụ SWAPs tài sản nợ, …) Như vậy, tình hình vay nợ bất thườngvới quy mô lớn tại Quỹ tiền tệ quốc tế IMF là một trong những dấu hiệu báo trước chonhững bất ổn trong tình trạng nợ công của một quốc gia, có thể dẫn đến nguy cơ khủnghoảng nhanh chóng

Dù các khái niệm nêu trên diễn đạt khủng hoảng nợ công theo các cách khácnhau, có thể thấy rõ rằng mọi định nghĩa đều bao chứa những nội dung cơ bản tươngđồng Đó là: Khủng hoảng nợ công xảy ra khi chính phủ một quốc gia không thể trả được

nợ và buộc phải tìm kiếm, cầu viện đến các sự trợ giúp khác

1.2.2.2 Các hình thức chủ yếu của khủng hoảng nợ công

Dựa trên rất nhiều nghiên cứu trước đây của IMF, Andrea Pescatory và AmadouN.R.Sy, hai nhà kinh tế kỳ cựu của IMF, đã tổng hợp ra 4 hình thức chủ yếu của khủnghoảng nợ Theo đó, khủng hoảng nợ là các cuộc khủng hoảng xảy ra khi: một quốc gia bị

vỡ nợ; có khoản nợ xấu lớn; có các khoản vay quy mô lớn từ IMF hoặc có điềm báo taihọa

- Thứ nhất, về khủng hoảng nợ xảy ra khi một quốc gia bị vỡ nợ định nghĩa nàyđược các tổ chức định mức tín dụng tập trung xây dựng dựa vào các khả năng không chitrả được nợ Tổ chức định mức tín dụng Moody’s năm 2003 đã định nghĩa một quốc gia bị

vỡ thường có các biểu hiện sau đây: Có sự chậm trễ trong thanh toán lãi và/hoặc gốc, ngay

cả khi việc thanh toán chậm được thực hiện trong thời gian ân hạn Việc hoán đổi nợ xảy ratrong đó Quốc gia phát hành trái phiếu đề nghị người nắm giữ trái phiếu một khoản nợ mới,hoặc một gói chứng khoán mới tương đương nghĩa vụ tài chính giảm bớt,

Trang 13

như là những công cụ nợ mới Việc hoán đổi nợ có mục đích rõ ràng là giúp quốc gia đivay tránh khả năng vỡ nợ Đối với trái phiếu, tín phiếu, hối phiếu được phát hành bằngnội tệ hoặc ngoại tệ, mỗi khoản nợ của bên phát hành được coi là không có khả năng chitrả (vỡ nợ) khi việc thanh toán nợ hàng năm theo lịch trình không được thực hiện vàongày đáo hạn, hoặc khi đề nghị hoán đổi khoản nợ mới bao hàm những điều kiện kémthuận lợi hơn so với việc phát hành ban đầu Ngoài ra, có nhiều khoản vay ngân hàngđược gia hạn cuối cùng bị chiết khấu một khoản so với giá trị ban đầu Hay những thỏathuận khác bao gồm đề nghị hoán đổi nợ, hoán đổi nợ/vốn chủ sở hữu liên quan tới cácchương trình tư nhân hóa của chính phủ, và/hoặc mua lại bằng tiền mặt S&P coi các giaodịch này là vỡ nợ vì chúng bao gồm những điều kiện kém thuận lợi hơn so với ban đầu.

- Thứ hai, khủng hoảng nợ xảy ra khi có khoản nợ xấu hơn, theo một số nghiên cứuđưa ra, một cuộc khủng hoảng nợ được xếp vào loại này nếu một hoặc cả hai điều kiện sauđây xảy ra - Có khoản nợ xấu về gốc hoặc lãi về nghĩa vụ bên ngoài đối với các chủ nợthương mại (ngân hàng hoặc người nắm giữ trái phiếu) lớn hơn 5% tổng dư nợ thương mại

- Có thoả thuận gia hạn hoặc cơ cấu lại nợ với các chủ nợ thương mại được liệt kê trong Báocáo Tài chính Phát triển của ngân hàng Thế giới Nếu xác định theo tiêu

chí này thì đã có khoảng 54 cuộc khủng hoảng nợ xảy ra Các cuộc khủng hoảng này có

xu hướng tập trung vào những năm 1980, khi hầu hết các nước Mỹ La tinh và một sốnước Châu phi và không thể thanh toán các khoản vay ngân hàng quá mức của họ trongnhững năm 1970

- Thứ ba, khủng hoảng nợ xảy ra khi có khoản vay quy mô lớn từ IMF, một quốcgia đang trải qua một cuộc khủng hoảng nợ nếu: - Nó được xếp vào trường hợp vỡ nợnhư trong định nghĩa ở bên trên của S&P, hoặc - Nó nhận được một khoản cho vay lớn(có điều kiện) vượt quá 100% hạn mức ấn định trước từ IMF Như đã đề cấp ở bên trên,S&P đánh giá một quốc gia phát hành bịvỡnợ nếu chính phủ không đáp ứng một khoảnthanh toán gốc hoặc lãi vào ngày đáo hạn (bao gồm cả đềnghị hoán đổi nợ, hoán đổinợ/vốn chủsởhữu liên quan tới các chương trình tư nhân hoá của chính phủ, và/hoặc mualại bằng tiền mặt) Đối với Manasse, Roubini và Schimmelpfennig, cuộc khủng hoảng nợkhông chỉ bao gồm các trường hợp nợ vỡ hoàn toàn hoặc bắt buộc tái cơ cấu, mà còn cả

Trang 14

trường hợp gần như vỡnợ nhưng tránh được nhờ gói hỗ trợ chính thức có quy mô lớncủa IMF Trong các quan niệm trên thì quan niệm thứ 3 được IMF và các tổ chức quốc tếkhác trên thếgiới sử dụng phổbiến nhất.

Tựu chung lại, khủng hoảng nợ là tình trạng một quốc gia không thể chi trảđược các khoản nợ của mình, phải đề nghị thương thảo lại về các thỏa thuận vay nợ, hoàntrả gốc và/hoặc lãi, và phải nhận một khoản tài trợ chính thức có quy mô lớn từ IMF

1.2.2.3 Nguyên nhân tạo ra khủng hoảng nợ công

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này là khác nhau đối với từng quốc gia vì mỗiquốc gia có những tình hình kinh tế chính trị khác nhau, nhưng nó xuất phát từ nhữngnguyên nhân chính sau đây:

- Kiểm soát và quản lí nợ nhà nước kém

Sự kiểm soát chi tiêu và quản lí nợ công của nhà nước kém, không chặt chẽ, thậmchí buông lỏng, thất thoát lãng phí trong đầu tư là nguyên nhân lớn làm cho nợ công tăng Nhà nước quản lí nợ công thông qua hệ thống các ngân hàng Hệ thống ngân hàng yếukém về quản lí liên tục phát sinh các khoản nợ xấu Trong khi chính phủ không có sự canthiệp vào hoạt động kinh daonh của các ngân hàng , các tổ chức tài chính nhằm hướngtới hoạt động của ngân hàng vào hỗ trợ chính phủ cho chính sách phát triển kinh tế, dãntới quản lí tín dụng lỏng lẻo và mở rộng đầu tư quá mức khiến cho hiệu quả kinh tế thấp

- Sử dụng nguồn vốn vay không hiệu quả

Vốn vay trong nước hay ngoài nước đều phục vụ Nhà Nước trong các vấn đề về đầu

tư cơ sở vật chất, quản lí đất nước, với mục đích là phát triển nền kinh tế Nếu như nhànước sử dụng nguồn vốn để đầu tư tốt, hiệu quả cao thì sẽ đem lại nguồn thu quan trọngcho ngân sách nhà nước, giúp trả nợ dễ dàng hơn Tuy nhiên việc sử dụng vốn vay nàykhông phải lúc nào cũng hiệu quả như kế hoạch đã định ra Trong nhiều trường hợp, việc sửdụng vốn vay không hiệu quả thì chính phủ còn phải đứng ra trả nợ thay cho các đợn vị,doanh nghiệp mà mình bảo lãnh Dẫn đến chính phủ không thu hồi được nguồn

Trang 15

vốn đã vay Việc xin gia hạn thanh toán làm cho các khoản nợ ngày càng trở nêntrầm trọng.

- Mức thâm hụt ngân sách lớn

Nếu như thâm hụt ngân sách và nợ công kéo dài sẽ làm mất niềm tin của các nhàđầu tư Lượng vốn đầu tư vào bị hạn chế, hoặc họ sẽ bán tháo tài sản đang sở hữu Cácdoanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất, điều này làm cho nguồn thucủa Chính phủ từ thu thuế bị giảm xuống Chính phủ thực hiện gia tăng nguồn thu từthuế thông qua việc tăng thuế của người dân là điều không hề dễ dàng Việc mỗi ngườidân gánh trên vai một khoản thuế lớn hơn sẽ làm cho chính phủ gặp những rắc rối từ sựphản đối của người dân Tình trạng như vậy khiến cho nhiều nước quyết định in thêmtiền để trả nợ, tuy nhiên việc in thêm tiền cũng làm cho quốc gia của họ đối mặt với tỉ lệlạm phát ngày càng tăng cao Thực tế cho thấy một quốc gia có tỉ lệ nợ công cao, mứcthâm hụt ngân sách lớn nếu không xử lí tốt rất sẽ rơi vào khủng hoảng nợ công

1.2.2.4 Tác động của khủng hoảng nợ công đến nền kinh tế của các quốc gia

- Suy giảm tăng trưởng kinh tế

Khủng hoảng nợ công ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động kinh tế của các quốc gia,không chỉ đối với doanh nghiệp nhà nước mà cả các doanh nghiệp tư nhân Vốn tài chính

là nguồn vốn quan trọng mà chính phủ cần phải sử dụng cho các kế hoạch chi tiêu củamình Việc không tiếp cận được các nguồn vốn làm cho nhiều dự án bị đình trệ, trong đó

có đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho hoạt động sản xuất Để cứu vãn tình hình, chínhphủ huy động vốn trong nước với lãi suất cao, lãi suất trên thị trường trong nước cũngtăng theo lại làm cho khu vực kinh tế tư nhân không vay được vốn Các doanh nghiệpgặp nhiều khó khăn nên đã thu hẹp sản xuất Nguồn thu ngân sách nhà nước giảm, tiêudung của chính phủ giảm, tuw2f đó làm cho tổng cầu của nền kinh tế giảm

- Giảm khả năng huy động vốn của chính phủ

Trang 16

Khi một quốc gia lâm vào tình trạng vỡ nợ không thực hiện được nghĩa vụ trả nợthì quốc gia đó ngay lập tức bị hạ mức tín nhiệm Trái phiếu chính phủ do quốc gia đóphát hành bị sụt giảm giá một cách nhanh chóng Các nhà đầu tư không mua trái phiếuchính phủ đang sở hữu Việc chính phủ huy động vốn trên thị trường quốc tế gặp nhiềukhó khăn với lãi suất vay cao hơn

Khi tín nhiệm trái phiếu quốc tế của chính phủ bị sụt hạng, việc tiếp cận nguồn vốnnước ngoài gặp trở ngại thì chính phủ thiên về huy dộng nguồn vốn vay trong nước.Nguồn vốn vay trong nước từ các khoản tiết kiệm của dân cư, từ các ngân hàng thươngmại… cũng bị hạn chế do óc sự lo ngại về khả năng thanh toán nợ của chủ thể đi vayđang phải đối mặt với nhiều vẫn đề

- Gây ra những bất ổn tài chính

Khả năng trả nợ quốc gia là chỉ số quan trọng để đảm bảo niềm tin của cộng đồngquốc tế đối với nền kinh tế đó Nghiên cứu James Roaf ( 2007) và thực tế đã chỉ ra rằngkhủng hoảng nợ công thường kéo theo hoặc đi kèm khủng hoảng tiền tệ ngân hàng Niềmtin của dân chúng bị lung lay, các khoản tiền tiết kiệm bị rút ra khỏi ngân hàng Nếu như

hệ thống các ngân hàng bị đổ vỡ thì lại đòi hỏi có sự cứu trợ của chính phủ, nợ công lạigia tăng

Trang 17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

2.1 Khủng hoảng nợ công Hy Lạp

2.1.1 Nền kinh tế Hy Lạp trước khủng hoảng nợ công:

- Hy Lạp là quốc gia phía Đông- Nam của Châu Âu với dân số khoảng 10,7 triệungười ( năm 2007 ) chiếm khoảng 2,2% EU, đóng góp 2,8% GDP của Châu ÂU Thunhập bình quân đầu người của Hy Lạp là 15360 USD, một mức thu nhập khá so vớibình quân của các nước trong khu vực Tỷ lệ thất nghiệp ở mức vừa phải đó là 10,2%

- Hy Lạp có nền kinh tế công- nông nghiệp khá phát triển , là sự kết hợp giữa nềnkinh tế tư bản và nền kinh tế nhà nước Cơ cấu nền kinh tế của Hy Lạp năm 2009 nhưsau:

Các ngành Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ

-Thế mạnh của Hy Lạp là ngành du lịch chiếm 15% GDP, đó cũng là nguồn thungoại tệ lớn nhất của nước này.Bên cạnh đó những ngành như tài chính, ngân hàng, viễnthông, sản xuất các công nghệ thiết bị cao cũng rất phát triển

Hình 2.1 Biểu đồ tốc độ tăng trưởng GDP của Hy Lạp từ năm 2000-2008

Trang 18

- Năm 2009 cùng với sự tác động của khủng hoảng tài chính toán cầu, sự thắt chặtcủa điều kiện tín dụng kèm theo đó là thất bại của Athens để giải quyết thâm hụt ngânsách ngày càng nghiêm trọng gây ra do nguồn thu của nhà nước không kịp với nhu cầuchi tiêu của chính phủ đã làm cho nền kinh tế Hy Lạp đi xuống trầm trọng Nợ công, thấtnghiệp, tỷ lệ lạm phát ngày càng ra tăng, tăng trưởng kinh tế năm 2009 còn -2,5%.

Hình 2.2:Biếu đồ tỷ lệ lạm phát của Hy Lạp từ năm 2000-2010

( nguồn tradingeconomics.com )

Trang 19

- Cả hai mức thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân vãng lai của Hy Lạp đềuvượt quá trần quy định cho phép của Liên minh Tiền tệ và Kinh tế châu Âu (EMU ) Để

bù đắp cho những khoản thâm hụt kép này, chính phủ Hy Lạp đã đi vay trên thị trườngquốc tế suốt một thập kỉ trước khi diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 Điềunày biến Hy Lạp trở thành con nợ lớn với tổng số nợ nước ngoài đạt 115% GDP vàonăm 2009

- Chính sự phụ thuộc quá lơn vào nguồn tài trợ nước ngoài đã khiến nền kinh tế

Hy Lạp trở nên dễ tổn thương hơn đối với sự thay đổi của thị trường cũng như niềm tincủa nhà đầu tư Và cũng từ đó bi kịch về khủng hoảng nợ công Hy Lạp bắt đầu

2.1.2 Diễn biến khủng hoảng nợ công Hy Lạp

Năm 2008 khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra, các ngành kinh tế chủ đạo của HyLạp đều bị ảnh hưởng nặng nề, các ngành vận tải biển, du lịch trước đây là thế mạnh của

Hy Lạp có mức sụt giảm doanh thu đến 15% Nguồn thu để tài trợ ngân sách bị hạn chế,Chính phủ lại buộc phải tăng chỉ tiêu công nhằm kích thích tằng trưởng

Trong nhiều năm vừa qua chính phủ Hy Lạp liên tục bán trái phiếu để thu về hàng trăm

tỷ USD và đầu tư dàn trải về cơ sở hạ tầng mà không có kế hoạch trả nợ

Trang 20

Hình 2.3:Biểu đồ so sánh thâm hụt ngân sách và nợ công của một số nướctrên Thế Giới năm 2009

- Trước những diễn biến xấu như vậy, thủ tướng nước này đã tuyên bố thẳng tayvới nạn tham nhũng, thắt chặt chi tiêu hơn, trong đó đánh thuế lên tới 90% các khoản

thưởng của giới “ cá mập ” ngân hàng cũng như cấm toàn bộ tiền thưởng cho các quanchức điều hành trong khu vực công

- Những động thái vào cuối năm 2009 của chính phủ Hy Lạp đã không hề đem đếnmột chút hiệu quả nào Đến tháng 1/2010 nợ công của Hy Lạp ước đạt 216 tỷ euro, nợlũy kế bằng 130% GDP Con số này còn tệ hợn rất nhiều so với những dự báo của chuyêngia trước đó

Trang 21

- Để có tiền trả nợ cho Ngân sách, chính phủ Hy Lạp liên tục bán trải phiếu trên thịtrường quốc tế Lãi suất trái phiếu có kì hạn 2 năm liên tục tăng cao từ 3.47% vào tháng1/2010 lên tới 9.73% vào tháng 7/2010 và nhảy vọt lên 26,65% vào tháng 7/2011.

Hình 2.4:Biểu đồ lãi suất trái phiếu có kì hạn 10 năm ở một số nước

từ tháng 1/2008 – 7/2011

( Nguồn ECB)

- Từ biểu đồ ta có thể thấy, lãi suất có kì hạn 10 năm của trái phiếu chính phủ HyLạp tăng rất mạnh từ tháng 1/2010 Và đến tháng 7/2011 đã đạt đỉnh ở mức trên 17%.Đây cũng là mức lại suất cao nhất của Hy Lạp kể từ khi ra nhập Eurozone Chủ tịchnhóm đồng tiền chung Châu Âu, ông Jean Claude Junker tuyên bố không loại trừ nguy

cơ nhà nước Hy Lạp bị phá sản, theo đánh giá của cơ quan thẩm định mức độ rủi ro

Trang 22

FITGH , khả năng thanh toán nợ của Athena đã xuống mức thấp nhất trong 10 năm trở lạiđây.

- Những ngày cuối tháng 12/2010 chính phủ Hy Lạp thông qua dự thảo ngân sáchvới dự báo thâm hụt 9,1% Định mức tín dụng của quốc gia này tiếp tục bị đánh tụt về mứcBBB- của Standard and Poor Một lần nữa quốc hội nước này điểu chỉnh mức thâm hụtngân sách về 8,7% và cắt giảm quỹ lương khoảng 4% Từ đây Hy Lạp rơi vào

tình trạng bất ổn về kinh tế và xã hội do sự phản đối của người dân

2.1.3 Nỗ lực giải cứu vỡ nợ và chính sách thắt lưng buộc bụng:

Nội lực không thể vực dậy nền kinh tế lớn thứ 27 Thế Giới, Hy Lạp trở thành mắt xíchyếu nhất Eurozone Châu Âu không thể nào để Hy Lạp vỡ nợ bởi những hệ lụy đỗ vỡ hệthông Ngân hàng,mất khu vực đồng tiền chung và kéo theo nhiều quốc gia khác rơi vàohiệu ứng domino.Vì vậy hàng loạt các gói cứu trợ từ ngân hàng trung ương Châu Âucũng như IMF được đưa ra kèm theo đó là những điều khoản thắt lưng buộc bụng màcác chủ nợ đặt ra cho Hy Lạp

- Khoản trợ cấp lần 1 từ ECB và IMF

 Tháng 4/2010 các lãnh đạo Châu Âu đã hứa cho Hy Lạp vay 30 tỷ USDcũng với khoản vay 15 tỷ USD từ IMF, với mức lãi suất thấp 5% ( Mức lãi suất thấphơn so với mức lãi suất mà hiện tại Hy Lạp vay là 7.5% )

 Tháng 5/2010 các nhà lãnh đạo Eurozone và Quỹ tiền tệ quốc tệ IMF đã

công bố gói cứu trợ đầu tiền có kì hạn 3 năm trị giá 110 tỷ EURO dành cho Hy Lạp Sau

đó vào tháng 10/2010 IMF cho Hy Lạp vay thêm 2,5 tỷ EURO nâng tổng số các khoảnvay khẩn cấp mà IMF để dành ngăn chặn khả năng vỡ nợ của Hy Lạp lên 10.58 tỷEURO Khoản dải ngân này đã giúp Hy Lạp trả được món nợ trị giá 8.5 tỷ EURO đáohạn vào ngày hôm sau

 Từ tháng 5/2010 đến tháng 6/2011 Ngân hàng trung ương châu Âu đã muakhoảng 45 tỷ EURO trái phiếu chính phủ Hy Lạp, ngoài ra các khoản hỗ trợ thanh khoản

25

Trang 23

mà ECB dành cho các ngân hàng Hy Lạp tăng từ 47 tỷ EURO vào tháng 1/2010 lên 98 tỷEURO vào tháng 5/2011.

 Để có được những gói cứu trợ đó từ chủ nợ Hy Lạp đã lập tức thắt chặt chitiêu công bao gồm tăng thuế, cắt giảm ngân sách cho y tế, quốc phòng, sa thải 30000công chức., Cắt giảm lương cho khu vực công và cắt giảm lương hưu Nhằm mục đíchcắt giảm 4% quỹ lương

- Khoản trợ cấp lần 2

 Sau khi nhận được gói cứu trợ đầu tiên, tình hình nợ công của Hy Lạp vẫnkhông tốt lên Các nhà đầu tư vẫn nghi ngại khả năng trả nợ của quốc gia này, đẩy lãisuất trái phiếu chính phủ lên cao khiến Hy Lạp phải cầu cứu đến gói cứu trợ lần 2,

Tháng 2/2012 Quốc hội Hy Lạp đã thông qua kế hoạch thắt chặt chi tiêu nhằm đổi lại

130 tỷ EURO từ EU và IMF để giải quyết khoản nợ đáo hạn vào tháng 3 tới

 Gói giải pháp này sẽ bao gôm việc cắt giảm tiếp 15000 việc làm từ khu vựccông,lới nỏng luật lao động, đồng thời giảm 20% lương tối thiểu từ 751 EURO xuống

600 EURO 1 tháng Đồng thời chính phủ Hy Lạp phải cam kết giảm nợ công đến năm

2020 là 121 % GDP

- Gói cứu trợ lần 3 trị giá 86 tỷ EURO

Sau 2 gói cứu trợ lần trước, chính quyền Athena vẫn không đáp ứng được thờihạn chót trả nợ cho IMF Chính vì vậy đến tháng 8/2015 NDĐT – Cơ chế bình ổn Châu

Âu ( ESM ) đã thông qua gói cứu trợ trị giá 86 tỷ Euro cho Hy Lạp Quyết định này đượcđưa tra trước ngày mà đất nước này phải trả khoản nợ 3,2 tỷ EURO cho Ngân hàng trungương Chấu Âu ( ECB)

Theo thỏa thuận này, đợt đầu tiên đợt đâu tiên của chương trình cứu trợ sẽ lên đến

26 tỷ Euro Trong gói giải ngân lần đầu ESM sẽ dảnh 10 tỷ Euro để tái cấu trúc hệ thốngNgân Hàng Hy Lạp Khoản tiền này sẽ không đổ trực tiếp vào Ngân hàng Hy Lạp mà do

1 tài khoản của ESM quản lý 16 tỷ Euro còn lại sẽ giúp Hy Lạp trang trải khoản nợ

26

Trang 24

Về phần mình Athens cũng sẽ hoàn thành 95 cam kết trong tháng 12 Trong đó

có các lĩnh vực nhạy cảm như cải các dịch vụ công và phúc lợi xã hội , cũng như cácbiện pháp nhằm tự do hóa thị trường năng lượng và thúc đấy tư nhân hóa

- Những thứ được và mất của các khoản cứu trợ và chính sách thắt lưng buộc bụng

 Những gói cứu trợ trị giá hàng trăm tỷ Euro đã giúp Hy Lạp trả đượcnhững khoản nợ gần đến ngày đáo hạn Điều đó làm giảm nguy cơ trước mắt về việc vỡ

nợ của chính phủ

 Nhưng kèm theo đó là chính sách thắt chặt chi tiêu, cắt giảm lao đông, tăngthuế, giảm phúc lợi xã hội đã vấp phải làn sóng phản đối dữ dội của người dân nươcnày Khu vực chi tiêu công giảm mạnh, các nhà đầu tư nước ngoài không mặn mà đếnnền kinh tế nước này đã làm mất động lực để phát triển kinh tế của Hy Lạp

Trang 25

2.1.4 Tác động của khủng hoảng nợ công Hy Lạp

- Tác động trực tiếp đối với nền kinh tế Hy Lạp

 Nền kinh tế Hy Lạp đã phải trải qua gần một thập kỉ suy thoái với nhữngkhoản nợ khổng lồ Việc thắt chặt chi tiêu công và việc giảm sức hút đối với các nhà đầu

tư nươc ngoài đã làm cho nền kinh tế nước này mất đi động lực phát triển

28

Trang 26

Hình 2.5:Biểu đồ tăng trưởng GDP của Hy Lạp từ năm 2010-nay ,

(đơn vị % Nguồn Tradingeconomics.com)

Tăng trưởng GDP của Hy Lạp luôn ở mức rất tệ cử từ khi khủng hoảng nợ côngbùng nổ,nó âm kể từ năm và có xu hướng càng tệ hơn từ năm 2010-2013 , Và đặc biệttrong năm 2011-2012 con số này đã xuống tới -10% Đây là mức tăng trưởng thấp nhấttrong các quốc gia Châu Âu Và từ năm 2013 trở đi nó có xu hướng tốt hơn nhưng tỷ lệtăng trưởng GDP vẫn âm Một mầu xám xịt bao phủ lên nền kinh tế của quốc gia này,Mãi đến năm 2015 tỷ lệ tăng trưởng mới dương, nhưng sự phục hổi của nền kinh tê vẫnrất chậm, động lực để phục hồi kinh tế hầu như không có do gánh nặng của nợ công vẫnđang đè nặng nên nền kinh tê của Hy Lạp

Trang 27

Hình 2.6:Biểu đồ tỷ lệ thất nghiệp của Hy Lạp từ năm 2010-2017

nguồn tradingeconomics

Cùng với việc cắt giảm lao động ở khu vực công cũng như sự ảm đạm của cácngành công nghiệp và dich vụ tỷ lệ thất nghiệp của Hy Lạp luôn vào khoảng từ 20-25% Đặc biệt năm 2016 số lao động thất nghiệp dưới độ tuổi 25 là 43,7% Tỷ lệ nàygấp đôi trung bình tại Eurozone

 Khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp kéo theo đó là việc các định chế tài chính mất ổnđịnh Trong năm 2015 một loạt ngân hàng Hy Lạp phải liên tục đông cửa do tình trạngrút tiền hàng loạt của người dân nước này do lo ngại nền kinh tế sụp đổ, hệ thống ngânhàng gặp nhiều khó khăn

 Ngành kinh tế chủ đạo trong nhiều năm qua của Hy Lạp là du lịch cũng bị tác

động không nhỏ Kinh tế bất ổn đã tác động không nhỏ đến tâm lý của khác du lịch, cácmáy rút tiền không hoạt đông, dòng tiền bị kiểm soát khiến một số cửa hàng không chấpnhận thanh toán bằng thẻ tín dụng, làm cho lượng khách du lịch đến Hy Lạp giảm rấtmạnh

30

Trang 28

- Tác động đến khu vực EU

 Khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp là một trong những nguyên nhân khiến cho

sự phục hồi kinh tế của khu vực đồng tiền chung Châu Âu chậm lại

 Khủng hoảng tại Hy Lạp gây ra tê liệt đối với hệ thống Ngân hàng ở Châu

âu : Một số đặc điểm nợ của khu vực Châu Âu là tình trạng các nước nợ lấn nhau : Đức

và Pháp hiện nay là 2 chủ nợ lớn nhất của Hy Lạp Theo ước tính của các chuyên gia kinh

tế, nếu như Hy Lạp vỡ nợ,các ngân hàng Pháp Đức sẽ thiệt hại lần lượt là 56,9 và 23,8 TỷEuro Theo Sandard and Poor cảnh bảo, những tổ chức, cá nhân nắm giữ trái phiếu chínhphủ Hy Lạp sẽ bị giảm mất khoảng 50% giá trị và có thể bị mất trắng nếu nước này vỡ

nợ Điều này gây ảnh hưởng xấu đến ngân sách của các nước chủ nợ trong bối cảnh cuộckhủng hoảng nợ Hy Lạp đang lan rộng các nước trong khu vực

Hình 2.7:Bảng số liệu các chủ nợ của Hy Lạp, đơn vị Euro ( Nguồn BBC) 2.1.5 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ ở Hy Lạp

Khủng hoảng nợ công Hy Lạp xuất phát từ nguyên nhân sâu xa đó là việc phụthuộc quá nhiều vào các khoản viện trợ nước ngoài, mặt khác chính phủ chi tiêu ngân

Trang 29

sách, lãng phí,thiếu hiệu quả, mà quản lý nợ công lại yếu kém, không minh bạch Dướiđây là một số nguyên nhân chi tiết:

- Thứ nhất : Tiết kiệm trong nước thấp dẫn đến phải vay nợ nước ngoài cho chi tiêu : Thập niên 90, tỷ lệ tiết kiệm trong nước bình quân của Hy Lạp chỉ ở mức 11% thấp

hơn nhiều so với các nước cùng khu vực Do vậy đầu tư trong nước phụ thuộc khá nhiềuvào dòng vốn từ nước ngoài, Lợi tức trái phiếu liên tục giảm nhờ vào việc gia nhập vàoLiên minh Châu Âu và làn sóng bán tháo trái phiếu từ người dân đã cho thấy Hy Lạp đểvuột khỏi tay một kênh huy đông vốn sẵn có buộc chính phủ Hy Lạp phải tăng cường vay

nợ tài trợ cho chi tiêu công

- Thứ hai : Chi tiêu công tăng cao dẫn đến thâm hụt Ngân sách : Trong giai đoạn từ

2001-2007 mức chi tiêu công tăng 87% trong khi mức tăng thu của chính phủ chỉ là 31%,khiến cho thâm hụt ngân sách vượt mức 3% GDP- mức chuẩn cho phép của EU

Theo đánh giá của các nhà kinh tế, bộ mấy chính quyền cồng kềnh thiếu hiệu quả là nhân

tố chính đằng sau sự thâm hụt quốc gia này

- Thứ ba : Nguồn thu giảm sút : Trốn thuế và các hoạt động kinh tế ngầm ở Hy Lạp

là nhân tố làm giảm nguồn thu ngân sách Theo đánh giá của ngân hàng thế giới ( WB)kinh tế không chính thức ở Hy Lạp chiếm 25-30 % GDP Hệ thống thuế với nhiều mứcthuế cao và bộ luật phức tạp cùng với sự điều tiết dư thừa thiếu hiệu quả của các cơ

quan quản lý dẫn tới tính trạng trốn thuế ra tăng và kinh doanh ngầm hoạt động mạnh

- Thứ tư: Sự tiếp cận dễ dãi với nguồn đầu tư nước ngoài và việc sử dụng chúng không hiệu quả: Việc ra nhập Eurozone năm 2001 là có hội để Hy Lạp có thể tiếp cận

với thị trường vốn quốc tế, việc gia nhập Eurozone giúp Hy Lạp dễ thu hút vốn nướcngoài với lãi suất thấp Trong một thập kỉ qua, chính phủ Hy Lạp liên tiếp bán trái phiếuvới giá hàng tram tỷ Euro, số tiền này đáng nhẽ sẽ giúp nền kinh tế nước này phát triểnrất nhanh nhưng chính phủ Hy Lạp đã chi tiêu quá tay cho phần cơ sở hạ tầng mà khôngquan tâm đến vấn đề trả nợ ( Tiều biểu là việc chi tiêu khủng cho Olympic Athens 2004 )

Trang 30

- Thứ năm: Thiếu tính minh bạch và niềm tin của các nhà đầu tư: Sự thiếu tính minh

bạch trong số liệu thống kê của Hy Lạp đã làm mất niềm tin của nhà đầu tư mà quốc gia

đã tạo dựng với tư cách là thành viên của Eurozone và nhanh chóng xuất hiện tìnhtrạng rút tiền hàng loạt tại các ngân hàng ở Hy Lạp

2.2 Khủng hoảng nợ công Châu Âu

2.2.1 Những mầm mống trước khủng hoảng nợ công Châu Âu

Ngày 1/1/1999 đồng tiền chung Châu Âu Euro ra đời, các nước Châu Âu có mộtchính sách tiền tệ chung do Ngân hàng Trung ương Châu Âu ( ECB) điều hành Điềunày đã làm cho việc tiếp cận nguồn vốn nước ngoài của các nước nhỏ như Hy Lạp dồidào hơn,với mức lãi vay ưu đãi hơn, nhưng đó cũng là nguyên nhân dẫn đến sự vay nợtràn nan ở một số nước làm cho tỷ lệ nợ công đạt ngưởng nguy hiểm

Hình 2.8:Biểu đồ thể hiện tình hình nợ công ở một số nước từ năm 1982-2011,

( Đơn vị %/GDP, Nguồn IMF)

Biểu đồ cho thấy trong những năm 2000-2009 tình trạng nợ công của Hy Lạp cũngnhư Italya luôn trên 90%/GDP,trong khi mức an toàn mà EU đặt ra là 60%/ GDP Cácnước như Bồ Đào Nha, Đức ,Pháp,Tỷ lệ nợ công cũng khoảng 60% và có xu hướng tăng

Ngày đăng: 28/08/2020, 09:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w