Chuẩn bị mẫu đo và cấu trúc liên kết (Specimen Preparation and Topology). Phún xạ lớp phủ và tăng cường độ phản xạ. Phân tích vết nứt bề mặt và sai hỏng. Hình ảnh lập thể. Đo lường thị sai. Hiển vi thấu kính ion tập chung (Focused Ion Beam Microscopy) Nguyên tắc hoạt động và xây dựng kính hiển vi. Chùm ion – tương tắc mẫu. Gia công và lắng đọng. Chuẩn bị mẫu cho TEM.
Trang 1HIỂN VI ĐIỆN TỬ
QUÉT
Trang 2n lý
hoạt động của
SEM
Trang 34 Đo lường thị sai.
II Hiển vi thấu kính ion tập chung (Focused Ion Beam Microscopy)
1 Nguyên tắc hoạt động và xây dựng kính hiển vi.
2 Chùm ion – tương tắc mẫu.
3 Gia công và lắng đọng.
4 Chuẩn bị mẫu cho TEM.
Trang 4Yêu cầu mẫu đo trong SEM
Phải phá hủy hiện tượng tích điện đối với bề mặt mẫu
1
Xảy ra hiện tượng tích điện là do:
- Tính không bền của điện tử hóa trị => phát sinh ra điện tử thứ cấp
không ổn định, phá hỏng cả độ phân giải và ổn định hình ảnh.
Giải pháp:
- Điện áp chùm tia thấp (thế tăng tốc nhỏ).
- Bề mặt mẫu cần được phủ một lớp màng mảng dẫn điện.
Trang 5Mẫu đo phải phù hợp với buồng mẫu 2
- Giá mẫu có thể dịch chuyển được theo các
trục x,y,z, nghiêng hoặc quay quanh một hay
nhiều trục, thay đổi trạng thái giá mẫu phải
được thực hiện với mục đích nhất định.
Trang 6phải ổn định trong hệ thống hút chân không và dưới chùm điện tử, không có chất cặn hữu cơ
• Vì có thể gây ôi nhiễm cacbon trong mẫu đo, hệ thống
quang điện, phổ kế tán sắc và buồng lấy mẫu.
• Cần làm sạch bề mặt mẫu trước khi cho vào kính hiển vi.
• Sự nhiễm bẩn cacbon gây ra chùm điện tử và nó trở thành
nguồn chính của các điện tử thứ cấp.
Trang 7I Chuẩn bị mẫu đo và cấu trúc liên kết
4 Đo lường thị sai
3 Hình ảnh lập thể
2 Phân tích vết nứt bề mặt và sai hỏng
Trang 81 Phún xạ lớp phủ và tăng cường độ tương phản
(Sputter Coating and Contrast Enhancement)
Mục đích tạo lớp phủ cho mẫu để tăng cường độ tương phản và
cải thiện độ dẫn điện
- Lớp phủ được tạo bởi phương pháp phún xạ
2 loại
lớp phủ
Kim loại nặng
Màng cacbon
vô định hình
Hợp kim vàng-palladium, kích thước hạt 5 nm trên bề mặt mẫu
Ưu điểm: cải thiện độ tương phản nhưng cảm trở độ phân giải ở độ phóng đại cao
• - Kích thước hạt nhỏ hơn nhiều (~2nm)
• bắt buộc đối với các mẫu không dẫn điện dùng
để phân tích vi mô với điện thế tăng cao ~ 5keV
• Nhược điểm: không cải thiện độ tương phản
Trang 92 Phân tích vết nứt bề mặt và sai hỏng
(Fractography and Failure Analysis)
Phạm vi ứng dụng chính của kính hiển vi điện tử quét là phân tích vết nứt về mặt và sai hỏng, mẫu có thể là:
Kim loại kỹ thuật và hợp kim.
Nhựa và vật liệu tổng hợp (polymer, caramic or metal matrix).
Gốm kỹ thuật và linh kiện bán dẫn.
Trang 10(a) Sự mỏi cơ học trong thép (b) Sự vỡ giòn trong TiCN xốp
Trang 11(a) giấy; (b) xương; (c) gỗ
Trang 12Một số nguyên tắc cơ bản để trích lấy thông tin tối đa từ
việc quét bề mặt nứt gãy
1 Mẫu phải mang một mỗi quan hệ về mặt hình học, không gian và định hướng xác định.
2 Quy trình chuẩn bị mẫu không được làm hư hỏng hoặc bị thay đổi theo bất cứ
Trang 13Một quy trình quét tốt cần được tiến hành như sau.
xác định vị trí các điểm đặc trưng quan tâm bằng cách quét
nhanh trên mẫu, thử nghiệm với các độ phóng đại khác nhau
chỉ sau đó mới bắt đầu ghi lại một loạt các độ phóng đại, xác định các điểm đặc trưng trong hình ảnh phóng to theo mối quan hệ hình học của chúng với các chi tiết có thể quan sát được mắt thường
Trang 143 Hình ảnh lập thể (Stereoscopic Imaging)
• kính hiển vi điện tử quét là thiết bị duy nhất có khả năng tập trung và phân giải chi tiết mẫu trên một độ sâu trường rộng, song song với trục quang của chùm tia tới.
• Thông tin này có thể được trích bằng cách ghi lại một cặp hình ảnh ở cùng
độ phóng đại và cùng một khu vực của mẫu, nhưng ở các góc nghiêng khác nhau của mẫu đối với trục quang của kính hiển vi.
• Nếu góc nghiêng được chọn tốt, thì hình học tương đương với hình ảnh lập thể, hình ảnh trực quan ba chiều được quan sát là sự chồng chất của dữ liệu võng mạc được truyền đến não bằng mắt trái và phải.
Trang 15Màn hình kính hiển vi thường được nhìn thấy ở khoảng cách 30cm (khoảng cách đọc thoải mái) và hai mắt được đặt cách nhau 5 hoặc 6 cm, có góc nghiêng mẫu cần thiết để tạo cảm giác về độ sâu giống với độ sâu nhận được bởi mắt người là ±120
Do đó, cần điều chỉnh độ sâu 'phóng đại' bằng độ phóng đại ngang trong hình ảnh.
Nếu góc nghiêng nhỏ hơn ±120 => làm giảm độ nhạy với độ sâu, ứng dụng cho các bề mặt rất thô.
Góc nghiêng lớn hơn ±120 => tăng cường cảm giác về độ sâu, ứng dụng việc ghi lại các điểm đặc trưng nông.
Trang 164 Đo lường thị sai (Parallax Measurements)
Thị sai là gì?
dùng để định nghĩa sự thay
đổi vị trí biểu kiến của một
điểm trên một nền quan sát,
khi nó được quan sát từ hai
vị trí khác nhau
Thị sai P, vị trí quan sát a,b; vị
trí biểu kiến A, B
Trang 17• Hình ảnh lập thể có thể trích thông tin định lượng về phân bố
dọc của các điểm đặc trưng dọc trục của chùm tia tới
• Điều này được thực hiện bằng cách đo chuyển dịch ngang,
vuông góc với trục nghiêng hình ảnh lập thể, đối với cùng đối
tượng được ghi vuông góc với trục nghiêng trong hai hình ảnh
của các cặp hình ảnh lập thể => sự dịch chuyển này được gọi
là thị sai.
Đo lường thị sai
Trang 18Giá trị của thị sai cho bởi công
thức:
𝐱𝐋 − 𝐱𝐑 = 𝟐𝐡 𝐜𝐨𝐬 𝛉
+ 𝑥𝐿 và 𝑥𝑅 khoảng cách dự kiến trong hai hình ảnh được đo từ bất kỳ vị trí cố định vuông góc với trục nghiêng y
+ h là chênh lệch 'chiều cao' giữa hai đối tượng đo dọc trục quang của chùm điện
tử tới
+ 𝜃: góc nghiêng (góc thị sai)
Trang 19• Các phép đo thị sai là hữu ích để :
• kiểm tra độ dày của màng bề mặt.
• đo chiều cao của các bước tăng trưởng (growth steps).
• xác định chuyển vị trượt dẻo ước tính độ nhám của bề mặt và gia công.
• xác định kích thước fractal của nết đứt gãy bề mặt
(fractal dimensions).
Ứng dụng của việc đo lường thị
sai
Trang 20II Hiển vi thấu kính ion tập
chung FIB
Focused Ion Beam Microscopy
Trang 21Hệ FIB + SEM
Nguyên lý của kỹ thuật chùm iôn hội tụ 2 chùm tia: một chùm iôn để thao tác, một chùm điện tử hẹp để ghi lại ảnh quá trình thao tác
Trang 23Nguyên lý tạo ion kim loại lỏng
- Ga là chất dễ dàng bị bay hơi và iôn hóa từ Ga kim loại lỏng.(290𝐶)
-Bề mặt kim loại lỏng được đặt dưới một điện trường tập trung, nó sẽ làm biến dạng hình thái tự nhiên của bề mặt kim loại lỏng nhờ sức căng bề mặt (H.a)
-Khi nâng điện trường lên một mức nhất định, hình dạng của khối kim loại lỏng sẽ chuyển thành hình nón Taylor (Taylor cone) với một đầu kim rất nhọn
- 𝐸𝑡ạ𝑜 𝑛ó𝑛 𝑡𝑎𝑦𝑙𝑜𝑟 ~ 108 V/cm để kéo nguyên tử ra khỏi đầu kim + Ion hóa
Trang 24Hệ LMIS + kim tungsten nhô Ra bể Ga lỏng (H.b) Kim loại lỏng làm dính ướt đầu kim tungsten và khi cung cấp điện áp đủ lớn nón Taylor được hình thành xung quanh đầu kim tungsten.
Điểm mà ion Ga+ được bắn ra có đường kính <5nm
Trang 25Trên nguyên tắc, FIB có cấu trúc gần giống một kính hiển vi điện tử quét
Trang 26Chùm tia ion (FIB) xử lý lại bởi các thấu kính từ (hình 1 )
Khi được bứt phá ra khỏi LMIS, các ion có E (5-50keV)
Sau đó được tập trung thành các chùm tia song song bởi
một thấu kính condenser 𝑈𝑔𝑖𝑎 𝑡ố𝑐 𝑝ℎổ 𝑏𝑖ế𝑛(10 , 50 kV )
𝐷𝑐ℎù𝑚 𝑡𝑖𝑎 𝑠𝑜𝑛𝑔 𝑠𝑜𝑛𝑔 được giới hạn lại thông qua một lỗ hổng
(aperture) với kính thước xác định trên một tấm đĩa
Tấm đĩa có nhiều lỗ với kích thước khác nhau để có thể
điều chỉnh được.
Chùm tia ion tiếp tục di chuyển xuống phía dưới sau đó
được tập trung lại thành từng điểm (kích thước khoảng
~5nm ứng với cường độ dòng tia thấp và với lỗ mở nhỏ
nhất) trên bề mặt làm việc nhờ các thấu kính hội tụ.
Ngoài ra còn có các thấu kính (octupole) dùng để bẻ cong
chùm tia ion kết hợp với một tấm chắn (beam-blanking)
dùng để “đóng/mở” chùmtia chiếu đến bề mặt chi tiết.
Hình 1 : Sơ đồ cấu tạo FIB
Trang 27Khi chùm tia ion đập vào bề mặt mẫu, một loạt các hiện
tượng sẽ xảy ra như ở hình 2
Ion năng lượng cũng tương đương với các nguyên tử trên
bề mặt vật mẫu => nguyên tử bứt ra khỏi bề mặt
Chùm điện tử có tác dụng như chùm điện tử quét kính hiển
vi điện tử quét, quét trên bề mặt chi tiết để ghi lại ảnh thông
qua việc ghi lại tín hiệu từ điện tử thứ cấp.
Thiết bị FIB hoạt động dựa trên nguyên tắc một hệ phún
xạ Khi chùm iôn hẹp có năng lượng cao quét trên bề mặt,
động năng của các iôn sẽ làm cho các nguyên tử chất rắn
tại bề mặt bị bốc bay tức thời.
Độ sâu, rộng của phần chất rắn bị bốc bay phụ thuộc vào
thế gia tốc và cường độ chùm iôn 𝐼𝑖𝑜𝑛 thay đổi ( pA, nA)
Để tạo hình cho các chi tiết, chùm iôn được điều khiển quét
.
Để bảo vệ chi tiết chế tạo khỏi bị phá hủy bởi chùm iôn,
phủ một lớp platin (Pt) hoặc tungsten trộn thêm cácbon để
dễ bay bốc
Các lớp này có thể tạo thành hình các chi tiết nhờ sự điều
khiển của hệ thấu kính
Hình 2 : Các hiện tượng khi ion tới vật liệu
Trang 28• Xử lý bề mặt thông qua chùm ion.
• chùm electron được sử dụng để khảo sát bề mặt mới lộ ra
• Vật liệu được xác định thông qua x-ray
• Lặp đi lặp lại với các bước
• Thu được hình 3D vật liệu
Trang 30Ứng dụng FIB
Như một kính hiển vi điện tử quét có độ phân giải cao: Việc ghi lại điện tử thứ cấp từ chùm điện
tử và chùm iôn cho phép FIB có được hình ảnh như một SEM Ảnh SEM trên FIB có thể đến từ 2 nguồn: từ nguồn do chùm điện tử quét và từ điện tử thứ cấp phát ra từ tương tác của chùm iôn Vì thế, FIB có thể ghi đồng thời 2 ảnh ở 2 góc độ khác nhau Cũng nhờ tính năng này, FIB có thể thực hiện phép ghi ảnh 3 chiều với độ phân giải và chất lượng cao.
Tạo lát cắt mỏng cho mẫu quan sát trong kính hiển vi điện tử truyền qua.
Chế tạo, sửa chữa, hàn gắn các chi tiết nano
Trang 31Một số hình ảnh nhờ FIB +SEM
Trang 32Nhược điểm của FIB
• Mặc dù FIB cho khả năng tạo các chi tiết với tốc độ rất cao, và có khả năng cho độ
phân giải chi tiết tương đương với kỹ thuật quang khắc chùm điện tử (kỹ thuật tạo chi tiết có độ phân giải tốt nhất hiện nay), nhưng FIB có những nhược điểm:
• Rìa của các chi tiết (nơi tiếp xúc trực tiếp với chùm tia iôn) dễ bị nhiễm bẩn do các
iôn kim loại Ga có năng lượng cao hấp thụ vào, và do đó tính chất của rìa dễ bị thay đổi (điều này rất quan trọng trong các linh kiện mà cấu trúc rìa có thể ảnh hưởng đến tính chất của linh kiện).
• Chất lượng của các chi tiết bị phụ thuộc quá lớn vào khả năng lấy nét chùm tia
(focus).
• FIB xử lý kém với các hình ảnh rời rạc.
• *Điện trở suất của các mạch kim loại hàn gắn bằng FIB thường bị thay đổi do ảnh
hưởng từ các chùm ion và cácbon trong hệ sputter.
Trang 33Yêu cầu mẫu cho SEM và TEM
- Mẫu SEM: không yêu cầu quá mỏng nhưng bề mặt phải được đánh bóng với kết quả
cuối cùng hoàn toàn không có vết xước và biến dạng Kích thước mẫu khoảng1cmx1cmx1/2cm Bề mặt nên có tính dẫn điện
- Mẫu TEM: Vì sử dụng chế độ điện tử đâm xuyên qua mẫu vật nên mẫu vật quan sáttrong TEM luôn phải đủ mỏng Xét trên nguyên tắc, TEM bắt đầu ghi nhận được ảnh vớicác mẫu có chiều dày dưới 500 nm, tuy nhiên, ảnh chỉ trở nên có chất lượng tốt khi mẫumỏng dưới 150 và cấu trúc mẫu không bị biến dạng Kích thước mẫu khoảng30mm đường kính
Việc xử lý (tạo mẫu mỏng) cho phép đo TEM là cực kỳ quan trọng
Trang 34Các bước chuẩn bị mẫu TEM
1.Lấy mẫu với độ dày vừa phải
2.Làm mỏng hay thủng mẫu bằng phương pháp chùm điện tử hoặc ăn mòn điện hóa
3.Làm sạch sấy khô và có thể cắt lại bằng máy
cắt siêu âm
Trang 35Các phương pháp làm mỏng mẫu
- Phương pháp truyền thống: phương pháp truyền thống là sử dụng hệ thống mài cắt cơ học.
Mẫu vật liệu được cắt ra thành các đĩa tròn (có kích thước đủ với giá mẫu) và ban đầu đượcmài mỏng đến độ dày dưới 10 μm Tiếp đó, việc mài đến độ dày thích hợp được thực hiện nhờthiết bị mài bằng chùm ion, sử dụng các ion khí hiếm (được gia tốc với năng lượng dưới 10 kV)bắn phá đến độ dày thích hợp Cách thức xử lý này tốn nhiều thời gian và đòi hỏi mức độ tỉ mỉrất cao
Ngày nay phương pháp này ít được sử dụng
Trang 36Các phương pháp làm mỏng mẫu
- Sử dụng kỹ thuật chùm ion hội tụ: kỹ thuật chùm iôn hội tụ là thực hiện việc xử lý mẫu trên thiết bị cùng tên.
Người ta dùng một chùm ion (của kim loại lỏng, thường là Ga), được gia tốc tới năng lượng cao (cỡ 30 - 50kV) được hội tụ thành một chùm rất nhỏ và được điều khiển nhờ hệ thấu kính điện từ để cắt ra các lát mỏng,hàn gắn trên giá mẫu và mài mỏng đến mức độ đủ mỏng Các công việc được tiến hành nhờ điều khiểnbằng máy tính và trong chân không cao Phép xử lý này tiến hành rất nhanh và có thể cho mẫu rất mỏng,nhưng đôi khi mẫu bị nhiễm bẩn từ các ion Ga
Phương pháp này được sử dụng phổ biến hiện nay
Trang 37Sử dụng kỹ thuật chùm ion hội tụ
Trang 38Sử dụng kỹ thuật chùm ion hội tụ
Phương pháp H-bar
1.Cắt và đánh bóng một mặt cắt ngang của vật
liệu mẫu
2.Phủ một lớp Pt lên vùng mẫu chọn
3 Chùm tia ion được chiếu trên hai vùng của
mẫu vật, cách nhau bởi một vùng dày 1mm ở
trung tâm ( thanh H)
4 Một chùm ion có năng lượng thấp (2kV) được
sử dụng để loại bỏ các lớp bề mặt đã bị hư hỏng
do các giai đoạn cắt trước và loại bỏ bất kỳ sai
hỏng bề mặt nào
Phần được chiếu mỏng đi cho đến khi
tạo được một miếng mỏng 1mm nằm ở
trung tâm của vùng được lựa chọn
Trang 39Sử dụng kỹ thuật chùm ion hội tụ
Phương pháp H-bar
Ảnh chụp của một mẫu TEMsau khi chiếu chum điện tử
Trang 40Sử dụng kỹ thuật chùm ion hội tụ
Phương pháp The Lift-out
- Phương pháp The Lift- out cho mẫu chính xác hơn
phương pháp H-bar, vì khu vực mẫu được chọn chính
xác từ một mẫu màng mỏng được chuẩn bị mà không
cần cắt mài mỏng mẫu Tuy nhiên, phương pháp này
đòi hỏi một chùm FIB kép và được trang bị một thiết
bị chống nano
- Đầu tiên sử dụng chùm FIB kép vào một vùng của mẫu
được lựa chọn để cắt Như trong H-bar, lớp phủ bảo vệ
được đặt trên bề mặt mẫu được chọn để cắt nhằm tránh
thiệt hại bề mặt bởi các ion năng lượng cao
Tạo ra hai hộp ‘FIB boxes’
Trang 41Sử dụng kỹ thuật chùm ion hội tụ
Phương pháp The Lift-out
- Các hộp không được cắt bằng với bề mặt mẫu,
nhưng có một góc nhỏ chạy từ bề mặt đến dưới
cùng của tấm lamella Phiến lamella sau đó được
cắt gần như hoàn toàn bề mặt bởi chùm ion, trong
hình dạng của một U
Trang 42Sử dụng kỹ thuật chùm ion hội tụ
Phương pháp The Lift-out
- Máy ghép nano này được lắp vào Nó bao gồm một
kim vonfram sắc bén gắn với động cơ truyền động áp
điện Các thao tác tiên tiến hơn được kiểm soát bởi
máy tính và chuyển động của chúng được hiệu chỉnh
theo hướng nhìn trên màn hình SEM, do đó kim
vonfram có thể được nhẹ nhàng tiếp xúc với tấm
- Một vòi phun khí được đưa vào sử dụng, Pt hoặc
vonfram được lắng đọng để tăng cường điểm tiếp xúc
của kim vonfram với lớp màng mỏng Các lamella sau
đó được tách hoàn toàn từ chất nền bằng chùm ion, và
chuyển sang một buồng chân không
Trang 43Sử dụng kỹ thuật chùm ion hội tụ
Phương pháp The Lift-out
- Các mẫu TEM được gắn kết thường có hình
dạng nửa vòng tròn có đường kính 3mm
Các lamella được di chuyển nhẹ nhàng bên
cạnh lưới
- Pt hoặc vonfram được tích tụ để nối Sau
đó, máy phay sẽ được sử dụng để cắt bớt
giữa mẫu và thiết bị nanomanipulator Dùng
chùm ion cắt để cuối cùng tấm mỏng dày
1mm để đạt được độ dày yêu cầu về mẫu