Chủ đề 2: Vận dụng nguyên tắc “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Đảng ta trongquan hệ đối ngoại thời kỳ 1945 – 1946 và sự vận dụng nguyên tắc này trong công tác đối ngoại của Việt Nam hiện
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA SEN
KHOA NGOẠI NGỮ
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CÔNG SẢN VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN :
MSSV :2194020
Trang 2Chủ đề 2: Vận dụng nguyên tắc “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Đảng ta trong
quan hệ đối ngoại thời kỳ 1945 – 1946 và sự vận dụng nguyên tắc này trong
công tác đối ngoại của Việt Nam hiện nay
Phân tích được nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong quan hệ đối ngoại
thời kỳ 1945-1946
Sau cách mạng cách mạng tháng Tám 1945, trong tình thế” nước sôi, lửa
bỏng”, “vận nước lâm nguy”, Nhà nước Việt Nam đã nỗ lực hết sức mình để
đưa đất nước thoát khỏi cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”.Chuyến sang Pháp của Chủ
tịch Hồ Chí Minh tháng 5-1946 là một trong những cố gắng ấy Trước lúc rời
đất nước (31-5), Hồ Chí Minh dặn dò cụ Huỳnh Thúc Kháng: "Tôi vì nhiệm vụ
quốc dân giao phó mà phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ
cùng anh em giải quyết cho Mong Cụ "dĩ bất biến, ứng vạn biến"[1] "Dĩ bất
biến, ứng vạn biến" – là sự tổng hoà các phương pháp luận, trở thành chân giá
trị, thước đo khả năng quyền biến trở thành phương pháp cách mạng nói chung
Trang 3và phương pháp ngoại giao nói riêng, nhằm đảm bảo sự tồn vong của dân tộc
trong điều kiện "thù trong giặc ngoài"
"Dĩ bất biến, ứng vạn biến" – lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với
muôn sự thay đổi, lấy cái "vạn biến" để bảo vệ, giữ gìn, củng cố và phát triển cái
"bất biến"có nguồn gốc triết học phương Đông Xuất phát từ quan niệm vạn vật
trong vũ trụ đều bị chi phối bởi quy luật khách quan, triết học phương Đông
quan niệm muốn ứng phó được với mọi biến hoá của trời đất, tất yếu phải nắm
bắt quy luật, có nghĩa là lấy cái bất biến chế ngự cái vạn biến, lấy tĩnh chế động,
lấy nhu thắng cương Triết lý này mang tính nhân sinh sâu sắc, nó hướng con
người tới việc dung hòa, quân bình vạn vật Con người hay bậc thánh nhân đều
nên biết dùng cái bất biến ứng phó với cái vạn biến, nhận thức cái vĩnh hằng
trong cái tạm thời, cái tuyệt đối trong cái tương đối, để đạt tới sự ung dung, tự
tại
Trang 4Triết lý "dĩ bất biến, ứng vạn biến" được Hồ Chí Minh nhắn nhủ về cách
thúc ứng phó trong thời khắc cam go của lịch sử đất nước là triết lý hành động,
gắn chặt với hoạt động thực tiễn, với cái "bất biến“ là lợi ích của dân tộc, là độc
lập, tự do, đặt độc lập, tự do là lợi ích tối cao của dân tộc - “Không có gì quý
hơn độc lập, tự do” Đó cũng là vấn đề bản chất nhất, cội rễ nhất, cốt lõi nhất
-độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân Đó là những khát vọng thiết tha, cao
đẹp, là mục tiêu cốt tử mà dân tộc Việt Nam hướng tới, quyết tâm thực hiện
Độc lập, tự do là quy luật phát triển và tồn tại của dân tộc Việt Nam, chứa đựng
ba yếu tố: Giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người; có xuất
phát điểm vì con người, vì dân tộc, lấy con người, lấy dân tộc làm động lực, mục
tiêu
Triết lý ngoại giao "dĩ bất biến, ứng vạn biến" cũng chỉ ra rằng, muốn đạt
được cái "bất biến", cần hành động một cách hết sức linh hoạt, trên cơ sở giữ
vững nguyên tắc, kết hợp hài hoà giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa chiến lược
và sách lược, giữa cương và nhu, giữa chủ động và sáng tạo Bên cạnh đó, muốn
Trang 5“ứng vạn biến” thì phải đánh giá đúng về thế và lực của mình, của đối tác, về
chiều hướng chuyển biến so sánh lực lượng, về cái thuận và nghịch của tình
hình quốc tế trong từng giai đoạn và thời điểm cụ thể, từ đó xác định giới hạn
của nhân nhượng, xác định bước đi thích hợp, sẵn sàng khắc phục mọi thử
thách Một cách tổng quát, thực hiện triết lý “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong
hoạt động đối ngoại là nắm vững, kiên định mục tiêu, bản lĩnh vững vàng, quyết
đoán, khôn khéo, mau lẹ, kịp thời để ứng phó thích hợp với từng hoàn cảnh,
từng tình thế, từng đối tượng trong từng trường hợp, từng vấn đề cụ thể, nhằm
nhận biết, tạo dựng, nắm bắt cơ hội để bảo vệ và thực hiện tốt nhất lợi ích của
quốc gia, dân tộc
Sự vận dụng nguyên tắc này trong công tác dối ngoại của việt nam hiện nay
Trang 6Một nội dung thể hiện sự vận dụng hiệu quả phương pháp ngoại giao “Dĩ bất
biến, ứng vạn biến” để ứng phó với tình hình phức tạp và đầy biến động trên thế
giới của Đảng, Nhà nước ta là thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan
hệ đối ngoại Cuối thập niêm 80 của thế kỷ XX tình hình thế giới có sự biến
động sâu sắc: Các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô bị thoái trào;
các thế lực thù địch, phản động tăng cường chống phá hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã
hội ở nước ta; chiến tranh lạnh kết thúc, các quốc gia đều có sự điều chỉnh chính
sách đối ngoại cho phù hợp Trong bối cảnh đó, Đảng ta đã đề ra đường lối: đa
phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế Đa phương hóa là sẵn sàng
quan hệ với nhiều đối tác; đa dạng hóa là sẵn sàng quan hệ ở nhiều lĩnh vực,
dưới nhiều hình thức, trên nhiều cấp độ Thực hiện chủ trương đó, đến nay, nước
ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 185/193 quốc gia thành viên Liên hợp
quốc Trong đó có quan hệ đối tác chiến lược với 15 nước, đối tác chiến lược
toàn diện với 12 nước, gồm tất cả 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp
quốc; quan hệ thương mại với gầm 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên
Trang 7tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế Bởi vậy, tiềm lực kinh tế, uy
tín, vị thế quốc tế của đất nước được nâng cao; nước ta đã ra khỏi tình trạng kém
phát triển; chính trị- xã hội ổn định; quốc phòng an ninh được giữ vững; độc lập,
chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ được bảo vệ vững chắc Phát huy kết
quả đó, trong thực hiện đường lối đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối
ngoại hiện nay, Đảng, Nhà nước ta, các cấp, các ngành, các tổ chức cần quán
triệt, thực hiện tốt đường lối đối ngoại mà Đại hội XII của Đảng đã xác định
Trong đó, cần chú trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với
các nước láng giềng; đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác chiến
lược, các nước lớn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển an ninh của đất
nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập đi vào thực chất Đồng thời, chủ động
tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và
Liên hợp quốc; mở rộng làm sâu sắc hơn và nâng cao hiệu quả quan hệ đối
ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước và đối ngoại nhân dân Một yêu cầu
đặt ra là, dù thực hiện phương pháp ngoại giao nào cũng phải bảo đảm sự lãnh
Trang 8đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với hoạt động
đối ngoại; phối hợp chặt chẽ giữa các hình thức, cấp độ, nhất là giữa đối ngoại
với quốc phòng, an ninh Có như vậy, hoạt động đối ngoại mới đạt được mục
tiêu, yêu cầu đề ra
Cùng với đó, chúng ta cần phát huy sức mạnh tổng hợp, kết hợp chặt chẽ
giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Đây là bài học lớn của cách mạng
Việt Nam nói chung, cũng như của công tác đối ngoại nói riêng đã được thực
tiễn chứng minh Ta đã tranh thủ được sự giúp đỡ, ủng hộ của bạn bè quốc tế và
các lực lượng hòa bình trên thế giới nên cách mạnh nước ta đã vượt qua vô vàn
khó khăn, thách thức và giành được thắng lợi to lớn Hiện nay, sau hơn 30 mươi
năm đổi mới, đất nước ta đã có thế và lực mới Song, việc kết hợp chặt chẽ giữa
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là yêu cầu khách quan, làm cho sức
mạnh của đất nước sẽ nhân lên gấp bội Nghĩa là thực lực của đất nước ta mạnh
lên, thì ngoại giao sẽ hiệu quả Đúng như Bác Hồ đã dạy, có thực lực mạnh, thì
Trang 9ngoại giao sẽ thắng lợi; trong đó đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại là những
người giữ vai trò quan trọng Vì vậy, Đảng, Nhà nước cần “chăm lo đào tạo đội
ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại; bồi dưỡng kiến thức đối ngoại cho cán bộ
chủ chốt các cấp” (Trích - ĐCSVN- Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XII, Nxb CTQG, H 2016, tr 156) đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Trên cơ sở đó,
góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ công tác đối ngoại trong tình
hình hiện nay
Trang 10Tài liệu tham khảo:
http://lamgiautrithuc.blogspot.com/2013/08/van-bien.html
http://doanhnghiepthuonghieu.vn/van-dung-phuong-phap-ngoai-giao-di-bat-
bien-ung-van-bien-cua-chu-tich-ho-chi-minh-vao-dieu-kien-viet-nam-hien-nay-p2112.html