Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nộidung cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, triết học Mác-Lênin nói riêng.Nguyên tắc này bảo đảm sức sống cho lý luận và định hướng, tháo gỡ nhữngmâu thuẫn của thực tiễn Trong hoạt động thực tiễn nếu vi phạm nguyên tắc này
sẽ làm cho lý luận mất động lực trở thành giáo điều, thực tiễn sẽ mất phươnghướng Đây cũng là nguyên tắc không những được đề xuất trong nhận thức luận
mà còn là lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin cho quá trình hình thành tri thứckhoa học, tri thức lý luận và phương pháp luận cho hoạt động cải tạo hiện thựckhách quan vì mục đích tiến bộ xã hội
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn bắt nguồn từ mối quan hệ giữa conngười với thế giới khách quan Con người luôn luôn tác động tích cực vào thếgiới khách quan - tự nhiên và xã hội, cải biến thế giới khách quan thông qua hoạtđộng thực tiễn Trong quá trình đó, sự phát triển nhận thức của con người và sựbiến đổi thế giới khách quan là hai mặt thống nhất Điều đó quy định sự thốngnhất biện chứng giữa lý luận với thực tiễn là một nguyên tắc trong hoạt độngsinh tồn của cá nhân và cộng đồng
Nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo nguyên tắc thống nhất giữa lýluận và thực tiễn của triết học Mác-Lênin trong nhận thức khoa học và hoạt độngcách mạng, trong công cuộc đổi mới; tìm ra lời giải đáp, làm sáng tỏ những vấn đềmới đặt ra trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là vấn đề
rất quan trọng và cấp thiết Đây là lý do tác giả chọn đề tài: “Triết học Mác-Lênin
Trang 2về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay”.
2 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ được những vấn đề lý luận chung về nguyên tắc thống nhất giữa lýluận và thực tiễn
- Thấy được tính tất yếu của sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổimới đất nước hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Triết học Mác-Lênin về nguyên tắc thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn Sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước
- Phạm vi nghiên cứu: Với khuôn khổ và phạm vi nghiên cứu của tiểu luậntác giả tập trung đi sâu tìm hiểu Triết học Mác-Lênin về nguyên tắc thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn Sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của tiểu luận là phương pháp của phép biệnchứng với quan điểm: lịch sử, cụ thể, toàn diện và phát triển
Ngoài ra, tiểu luận còn sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp,diễn dịch và quy nạp, đối chiếu và so sánh…
5 Đóng góp của tiểu luận
Tiểu luận góp phần củng cố thêm những nguyên lý, lý luận của triết họcMác-Lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Giúp người viết bắt đầu làm quen với việc đọc và tìm hiểu tài liệu Rènluyện tư duy khoa học, nâng cao tính tích cực nhận thức khoa học về triết họcMác-Lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Trang 36 Kết cấu của tiểu luận
Tiểu luận gồm 3 phần chính: mở đầu, nội dung và kết luận
Phần 1: MỞ ĐẦU
Phần 2: NỘI DUNG
Trong phần nội dung gồm 2 chương cụ thể như sau :
Chương 1: Triết học Mác-Lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Chương 2: Sự vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của Đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay
Phần 3: KẾT LUẬN
Trang 4NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT
GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
L.phoiơbắc, nhà triết học duy vật Đức lớn nhất thời kỳ trước Mác đầu thế
kỷ XIX cũng đã đề cập đến thực tiễn nhưng không thấy được thực tiễn như làhoạt động vật chất “cảm tính”, có tính năng động của con người Do đó, ông đãcoi thường hoạt động thực tiễn, xem thực tiễn là cái gì đó có tính chất “con buônbẩn thỉu”, không thấy được vai trò, ý nghĩa của thực tiễn đối với việc nhận thức
và cải tạo thế giới Đối với ông chỉ có hoạt động lý luận mới là quan trọng, mới
là hoạt động đích thực của con người
Như vậy, các nhà duy vật trước Mác đã có công lao lớn trong việc phát triểnthế giới quan duy vật và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyết
Trang 5không thể biết Tuy nhiên, lý luận của họ còn nhiều khuyết điểm, mà trong đókhuyết điểm lớn nhất là không thấy được hoạt động có tính lịch sử - xã hội đốivới nhận thức, do đó chủ nghĩa duy vật của họ mang tính trực quan Chính vìvậy, C.Mác đã đánh giá: “Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từtrước đến nay – kể cả chủ nghĩa duy vật của L.Phoiơbắc – là sự vật, hiện thực,
cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn”.
Các nhà duy tâm tuy đã thấy được mặt năng động, sáng tạo trong hoạtđộng của con người nhưng lại phát triển lên một cách trừu tượng, thái quá Vìvậy, chủ nghĩa duy tâm cũng chỉ hiểu thực tiễn như hoạt động tinh thần chứkhông hiểu nó như hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của conngười Khi đề cập đến “ý niệm thực tiễn” Hêghen nhà triết học duy tâm lớn nhấttrước Mác đã có tư tưởng hợp lý sâu sắc về thực tiễn, ông cho rằng, bằng thựctiễn, chủ thể tự “nhân đôi” mình, đối tượng hóa bản thân mình trong quan hệ vớithế giới bên ngoài Song, do quan điểm duy tâm nên ông chỉ giới hạn thực tiễn ở
ý niệm, ở hoạt động tư tưởng Đối với Hêghen, thực tiễn là một “suy lý lôgic”.Mặc dù các nhà triết học trước Mác chưa đặt ra vai trò của thực tiễn đối vớinhận thức, nhưng vai trò thực nghiệm trong khoa học lại được đề cập đầu tiên vàthực sự là một trong những tiền đề đặt nền tảng cho quan niệm thực tiễn của triếthọc Mác Kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những thiếu sót trong quanđiểm của các nhà triết học trước mình về thực tiễn, C.Mác và Ph.Ăngghen đãđem lại một quan niệm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đối vớinhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Dựavào những thành tựu của khoa học nói chung và khoa học tự nhiên nói riêng.Dựa trên thực tiễn xã hội, cùng với hoạt động của các ông trong phong trào đấu
Trang 6tranh của quần chúng lao động, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có công lớn trong việcđưa thực tiễn vào nhận thức luận Không những thế, cả lý luận và thực tiễn đềuđược các ông nâng lên trình độ mới: thực tiễn cách mạng và lý luận cách mạng.Nhờ đó, làm cho lý luận gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, trở thành vũ khí nhậnthức và cải tạo thế giới Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận của mình,C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển cách mạng trong lý luậnnói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng Lênin nhận xét rằng: “quan điểm
về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận vềnhận thức"
Ở đây, cần khẳng định rằng, phạm trù thực tiễn không chỉ là phạm trù của
lý luận nhận thức mácxít, mà còn là phạm trù xuyên suốt của triết học mácxít,của toàn bộ lý luận chủ nghĩa Mác nói chung
Triết học Mác-Lênin cho rằng: thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội
và bản thân con người.
Đặc trưng cơ bản nhất của hoạt động thực tiễn có tính mácxít đó là hoạt động
cụ thể - cảm tính của con người, mang tính lịch sử - xã hội Bản chất của hoạtđộng thực tiễn là sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể, trong đó chủ thể
sử dụng phương tiện vật chất tác động vào đối tượng vật chất (khách thể) nhấtđịnh nhằm làm biến đổi khách thể theo nhu cầu của con người Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra: Con người làm ra lịch sử của mình bằng hoạt động thực tiễn, cảitạo thế giới hiện thực chứ không phải từ những quan hệ lý luận Mục đích của hoạtđộng thực tiễn là nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân
và xã hội Mỗi một hoạt động đều có mục đích khác nhau để giải quyết nhu cầu cụthể, không có hoạt động nào không có mục đích, mặc dù kết quả của hoạt độngthực tiễn không phải lúc nào cũng diễn ra phù hợp với mục đích của con người
Trang 7Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, là hoạt động đặctrưng cho con người Nếu động vật chỉ hoạt động theo bản năng, nhằm thíchnghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người nhờ vào thực tiễn– như là hoạt động có ý thức, có mục đích của mình mà cải tạo thế giới để thỏamãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới và
để làm chủ thế giới Con người không thể thỏa mãn với những gì tự nhiên cungcấp cho mình dưới dạng có sẵn, con người phải tiến hành lao động sản xuất racủa cải vật chất để nuôi sống mình Để lao động và lao động có hiệu quả, conngười phải biết chế tạo công cụ lao động và sử dụng công cụ lao động Bằnghoạt động thực tiễn, trước hết là lao động sản xuất, con người tạo nên nhữngvật phẩm vốn không có sẵn Không có hoạt động đó, con người và xã hội loàingười không thể tồn tại và phát triển được Vì vậy, có thể nói rằng, thực tiễn là
phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người với thế giới.
Hoạt động thực tiễn rất phong phú đa dạng, nhưng có thể khái quát lại dưới
ba hình thức cơ bản đó là: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xãhội, hoạt động thực nghiệm khoa học; trong đó hoạt động sản xuất vật chất là hoạtđộng cơ bản quan trọng nhất và nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hộiloài người và quyết định các dạng khác của hoạt động thực tiễn; nó tạo thành cơ
sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của con người, giúp conngười thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật
Tóm lại: C.Mác và Ph.Ăngghen đã có công lớn trong việc đưa thực tiễn vào
nhận thức luận Không những thế, cả lý luận và thực tiễn đều được các ông nânglên một trình độ mới: thực tiễn cách mạng và lý luận cách mạng Nhờ đó, lý luậngắn bó chặt chẽ với thực tiễn, trở thành vũ khí nhận thức và cải tạo thế giới Vớiviệc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực
Trang 8hiện một bước chuyển cách mạng trong lý luận nói chung và trong nhận thứcluận nói riêng Đây là điều mà chưa có một nhà triết học nào trước Mác làmđược.
1.2 Phạm trù lý luận
Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những quy luật của các sự vật, hiện tượng Sự phát
triển của nhận thức loài người tất yếu dẫn đến sự xuất hiện của lý luận Lý luận
là sản phẩm của sự phát triển cao của nhận thức, đồng thời thể hiện như là trình
độ cao của nhận thức Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinhnghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữlại trong quá trình lịch sử”
Cơ sở của lý luận là thực tiễn, không có thực tiễn thì không có lý luận haynói cách khác, không có hoạt động thực tiễn thì không có hoạt động nhận thức Vì
lý luận là sự phản ánh, mang tính trừu tượng cao nên lý luận không thể tách rời thựctiễn; lý luận được hình thành không phải ở bên ngoài thực tiễn mà trong mối liên hệvới thực tiễn; hoạt động lý luận là hoạt động trừu tượng, thông qua hoạt động thựctiễn mới khái quát thành lý luận (nghĩa là thông qua hoạt động vật chất “cảm tính”).Đây là điều khác căn bản phân biệt rõ nét nhất của lý luận và thực tiễn
Lý luận Mác-Lênin là sự khái quát thực tiễn cách mạng, lịch sử - xã hội, là
sự đúc kết những tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận trên các lĩnh vực cụ thể
để xây dựng để xây dựng nên hệ thống lý luận khoa học hoàn chỉnh Sức mạnhcủa nó là gắn bó chặt chẽ hữu cơ với thực tiễn xã hội, được kiểm nghiệm, bổsung và phát triển trong thực tiễn
Lý luận mang tính trừu tượng, có tính khái quát cao, có tính hệ thống, nóđem lại cho con người những hiểu biết sâu sắc về bản chất, quy luật của sự vậthiện tượng Lý luận có những cấp độ khác nhau tùy phạm vi phản ánh và vai trò
Trang 9phương pháp luận của nó Có thể phân chia lý luận thành lý luận ngành và lý
luận triết học Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và
phát triển của một ngành Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp
luận cho hoạt động của ngành đó, như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới và con người,
là thế giới quan và phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động của con người
Như vậy, lý luận phản ánh hiện thực khách quan để làm phương pháp luận
nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan bằng hoạt động thực tiễn; nó khái quátnhững kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn, được tổng hợp từ các tri thức về thếgiới và được phản ánh trong một hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật
1.3 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Lý luận và thực tiễn có mối liên hệ chặt chẽ, có sự thống nhất biện chứng.Nhận thức của con người chính là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào
bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo, biện chứng Thông qua hoạtđộng thực tiễn buộc con người phải nhận thức được thế giới, hiểu thế giới, tức làhiểu rõ sự vật, từ đó tác động vào sự vật hiện tượng để cải tạo sự vật, buộc chúngbộc lộ những thuộc tính, những quy luật để con người nhận thức sự vật Vì vậy,trong nhận thức và hành động phải tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc thống nhấtgiữa lý luận và thực tiễn
Lý luận, theo nghĩa chung nhất là sự khái quát những kinh nghiệm thực tế, là
sự tổng hợp của các tri thức về tự nhiên, xã hội đã được tích luỹ trong quá trình hoạtđộng lịch sử của con người Không phải mọi lý luận đều là khoa học Lý luận chỉtrở thành khoa học khi nó bắt nguồn từ thực tiễn, gắn bó với thực tiễn, được thựctiễn kiểm nghiệm và phục vụ thực tiễn có hiệu quả Giữa lý luận và thực tiễn có mốiquan hệ biện chứng không thể tách rời Trong mối quan hệ đó, thực tiễn giữ vai trò
Trang 10là cơ sở, động lực, mục đích của lý luận và là tiêu chuẩn của lý luận Song, lý luậnkhông phản ánh hiện thực một cách thụ động mà có vai trò to lớn tác động trở lạithực tiễn, lý luận là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn, nó vạch ra mục tiêu,phương hướng và chỉ rõ những phương pháp hành động có hiệu quả nhất để đạtmục đích của thực tiễn.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng chỉ rõ: thực tiễn là hoạt động vật chất, lý luận làhoạt động tinh thần, do đó thực tiễn đóng vai trò quyết định đối với lý luận Vai tròquyết định của hoạt động thực tiễn đối với lý luận được thể hiện ở chỗ thực tiễn là
cơ sở, mục đích và động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức nói chung trong đó
có lý luận và là tiêu chuẩn để kiểm tra lý luận Như vậy, thực tiễn cung cấp nhữngtài liệu cho nhận thức, cho lý luận Không có thực tiễn thì không có nhận thức,không có lý luận Mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp đối với người này hayngười kia, thế hệ này hay thế hệ khác, dù ở giai đoạn cảm tính hay lý tính, ở trình
độ kinh nghiệm hay lý luận xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn Do vậy lýluận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của thựctiễn
Thực tiễn là cơ sở, động lực và mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn đểkiểm tra lý luận Song, lý luận khi đã hình thành có tác động trở lại rất to lớn đối
với thực tiễn, nó là “kim chỉ nam” cho thực tiễn, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực
tiễn Lý luận có khả năng dự báo những xu hướng vận động phát triển của thựctiễn Lý luận cung cấp cho thực tiễn những định hướng, kế hoạch, phương pháphành động có hiệu quả để đạt mục đích của thực tiễn Nhờ có lý luận khoa họcmới làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động, tự giác, hạn chế tìnhtrạng mụ mẫm, tự phát Đánh giá vai trò và ý nghĩa lớn lao của lý luận, Lênin
Trang 11viết: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cáchmạng” Do vậy hoạt động thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận.
Sức mạnh của Chủ nghĩa Mác- Lênin là ở chỗ, trong khi khái quát thựctiễn cách mạng, lịch sử xã hội, nó vạch ra quy luật khách quan của sự phát triển,
dự kiến những khuynh hướng cơ bản của sự tiến hóa xã hội Điều đó làm chogiai cấp công nhân thông qua Đảng tiên phong của mình ở mỗi nước có thể vạch
ra đường lối, phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp và kế hoạch hoạt động thựctiễn phù hợp với đặc điểm, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mỗi nước một cáchsáng tạo
Xét về bản chất, lý luận là một hệ thống những tri thức được khái quát từthực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giớikhách quan Lý luận được hình thành không phải ở bên ngoài thực tiễn mà trongmối liên hệ với thực tiễn Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạothế giới mà nhận thức, lý luận của con người mới được hình thành và phát triển
Do vậy khi nhận thức, lý luận ra đời phải quay về phục vụ thực tiễn, hướng dẫn,chỉ đạo thực tiễn, phải biến thành hành động thực tiễn Lý luận, khoa học chỉ có
ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn phục vụmục tiêu phát triển nói chung
Như vậy khi phân tích phạm trù thực tiễn, phạm trù lý luận và mối quan hệgiữa chúng đã bộc lộ tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Tính thống nhấtnày thể hiện chính trong bản chất hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của conngười Thực tiễn - đó là quá trình biện chứng mà trong đó hoạt động vật chất vàhoạt động tinh thần được hòa quyện làm một, vật chất được phản ánh vào tinhthần, còn tinh thần được hiện thực hóa trong sự biến đổi của thế giới vật chất Và
lý luận càng thích ứng với thực tiễn bao nhiêu thì hoạt động cải tạo của con
Trang 12người càng có hiệu quả bấy nhiêu Chính vì vậy mà tính thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn trở thành nguyên tắc tối cao của hoạt động con người
Tuy nhiên, cần thấy rằng trong quan hệ giữa lý luận và thực tiễn thì thựctiễn luôn giữ vai trò quyết định, còn lý luận thể hiện tính độc lập tương đối củamình Điều này có nghĩa là sự hình thành và phát triển của lý luận một mặt bịquy định bởi thực tiễn xã hội- lịch sử, mặt khác còn phụ thuộc vào sự tác độngcủa những yếu tố bên trong chủ thể Chính vì vậy, sự thống nhất giữa lý luận vàthực tiễn không phải là cái bất biến tuyệt đối, mà là sự thống nhất của những mặtđối lập; và do đó, chúng luôn ẩn dấu những phức tạp và mâu thuẫn Sự phức tạp
và mâu thuẫn này được thể hiện ở:
Một là, trong xã hội thường có sự lạc hậu của lý luận Sự lạc hậu này, trước
hết bắt nguồn từ sự lạc hậu của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội Bên cạnh đócòn do hoạt động thực tiễn rất phong phú, đa dạng và thường xuyên biến đổi vìvậy lý luận không thể phản ánh được ngay, đầy đủ, chính xác sự phong phú đadạng của tất cả các mối liên hệ, các thuộc tính, quy luật, khả năng khuynh hướngcủa hiện thực đó
Hai là, trong đời sống hiện thự luôn tồn tại một khoảng cách nhất định giữa
lý luận mới và việc thể hiện chúng trong thực tiễn Hay nói cách khác, việc biến
lý luận thành hiện thực không phải con đường thẳng tắp và trực tiếp mà phảithông qua những khâu trung gian nhất định Cụ thể là muốn trở thành hiện thựcthì đòi hỏi lý luận không những phải phản ánh đúng quy luật khách quan của sựphát triển xã hội và lợi ích của quần chúng mà còn phải được thâm nhập vàoquần chúng, phải trở thành tư tưởng (mục đích, nội dung, chương trình, kếhoạch, phương pháp) và có sự tổ chức hành động thực tiễn của quần chúng đểthực hiện lý luận Như vậy tự mình lý luận không là hiện thực, để biến lý luận
Trang 13thành hiện thực đòi hỏi không chỉ thời gian, mà cả những phương tiện, lực lượng
và phương pháp tổ chức hành động thực tiễn
Thứ ba, tính phức tạp và mâu thuẫn của quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
còn được quy định bởi cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, cái tích cực và cáitiêu cực, cái tự giác và cái tự phát, cái đang nảy sinh và cái đang lụi tàn Bảnthân cả lý luận và thực tiễn đều có mâu thuẫn bên trong của mình như: sự không
ăn khớp giữa tri thức mới và tri thức trước đây; sự quyết tâm tự giác của conngười trong thực tiễn với những phẩm chất tiêu cực của họ như ích kỷ, chủquan
Tóm lại: Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản
của chủ nghĩa Mác- Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thànhthực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông
Vì vậy, trong nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng phải luôn quán triệtnguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Chính chủ nghĩa Mác- Lênin
là tiêu biểu cho sự gắn bó mật thiết giữa lý luận và thực tiễn trong quá trìnhhình thành và phát triển của nó Lý luận Mác- Lênin là sự khái quát thực tiễncách mạng, lịch sử xã hội, là sự đúc kết những tri thức kinh nghiệm và tri thức
lý luận trên các lĩnh vực cụ thể để xây dựng nên hệ thống lý luận khoa họchoàn chỉnh Sức mạnh của nó là ở chỗ gắn bó hữu cơ với thực tiễn xã hội
1.4 Ý nghĩa phương pháp luận
Nghiên cứu nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn chúng ta có thểrút ra một số vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận sau:
Thứ nhất, lý luận phải luôn bám sát thực tiễn, phản ánh được yêu cầu của thực tiễn, khái quát được những kinh nghiệm của thực tiễn.
Trang 14Thực tiễn là cái được phản ánh, lý luận là cái đi phản ánh Để hiểu đượcthực tiễn dưới dạng hình tượng lôgíc nhất thiết phải hình thành lý luận, bản thânthực tiễn luôn luôn vận động, phát triển và biến đổi Quá trình đó diễn ra có lúctuân theo quy luật, có lúc không, có lúc khá phức tạp Để hình thành lý luận,nhận thức phải bám sát quá trình đó Bám sát thực tiễn không chỉ đơn giản phảnánh phù hợp thực tiễn đương đại mà cũng phải so sánh, đối chiếu, phân tích đểchọn lọc những thực tiễn mang tính khách quan, mang tính quy luật làm cơ sởcho quá trình hình thành lý luận Nếu lý luận nào đó không phản ánh đúng nhucầu của thực tiễn, không phù hợp với thực tiễn thì sớm hay muộn lý luận đó sẽ bịbác bỏ.
Kinh nghiệm hoạt động của con người là cơ sở để hình thành thành lý luận
Đó là tri thức trực tiếp góp phần tích cực vào quá trình tồn tại của loài người Lýluận phải khái quát được kinh nghiệm của loài người thì mới có tính khoa học vàđáp ứng được yêu cầu của thực tiễn
Thứ hai, hoạt động thực tiễn phải lấy lý luận chỉ đạo, khi vận dụng lý luận phải phù hợp với điều kiện lịch sử - cụ thể.
Lý luận được hình thành không chỉ là sự tổng kết thực tiễn mà còn làmục đích cho hoạt động thực tiễn tiếp theo Sự phát triển của thực tiễn tronglịch sử luôn được lý luận khái quát Chính vì lý luận phản ánh thực tiễn dướidạng quy luật mà lý luận có khả năng trở thành phương pháp luận cho thựctiễn
Thực tiễn luôn vận động, biến đổi và phát triển với tính chất phong phú, đadạng, phức tạp Do vậy, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn phải quán triệt quanđiểm lịch sử- cụ thể và phải phù hợp với điều kiện thực tiễn
Thứ ba, phải tổ chức thực tiễn để biến lý luận thành hiện thực