Dân chủ với tư cách một tổ chứcthiết chế chính trị, một hình thức hay hình thái nhà nước, nó là một phạm trù lịch sử, ra đời và phát triển gắn liền với nhà nước và mất đi khi nhà nước ti
Trang 1ĐẠI HỌC ĐẠI NAM Khoa lý luận chính trị
—^^^3^^—
BÀI TIỂU LUẬN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Đề tài 2: Dân chủ và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện
nay Sinh viên cần làm gì để thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay?
Giảng viên hướng dẫn: Trần Lan Hương
Họ và tên sinh viên: Hoàng Thu Hương
Mã sinh viên: 1451030091Lớp: QTDL-1402
Hà Nội - 2021
Trang 2Lời mở đâu
Nền dân chủ ở nước ta là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) Trong quátrình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng nền dân chủ XHCN,phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Dânchủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam XHCN Ngày nay xây dựng nhà nước pháp quyền là một xu hướng tấtyếu
trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia Nhiều công trình nghiên cứu dưới cácgóc độ khác nhau đều khẳng định nhà nước pháp quyền là “điều kiện cơ bản đểphát
triển nền dân chủ Em chọn đề tài 2 “Dân chủ và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Sinh viên cần làm gì để thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay?” để sinh viên nắm được bản chất nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa và khẳng định bản chất tiến bộ của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, cóthái độ phê phán những quan điểm sai trái phủ nhận tính chất tiến bộ của nền dânchủ xã hội chủ nghĩa Mỗi sinh viên sau khi năm được kiến thức thì phải biết vậndụng những kiến thức đó vào việc phân tích những vấn đề thực tiễn liên quan đếnxây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt nam vànhiệm vụ của cá nhân
Trang 3I Khái quát lý luận:
l.Khái niệm về dân chủ
*Quan niệm về dân chủ:
- Theo nghĩa gốc: Dân chủ xuất phát từ chữ Hy lạp “democratos”, có nghĩa là
quyên lực thuộc về nhân dân (hay nhân dân là chủ thể quyên lực)
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Leenin, dân chủ có các nội dung:+ Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ nhân của nhànước
+ Dân chủ là một hình thức hay hình thái nhà nước
+ Dân chủ là nguyên tắc trong quản lý xã hội - nguyên tắc dân chủ
Nội dung trên của khái niệm dân chủ về cơ bản vẫn được giữ nguyên chođến ngày nay Điểm khác biệt cơ bản giữa các cách hiểu về dân chủ đại mới hiệnđại là ở tính chất trực tiếp quan hệ sử hữu quyền lực công cộng và cái hiểu về nộihàm của khái niệm nhân dân
Từ nghiên cứu các chế độ dân chủ trong lịch sử và thực tiễn lãnh đạo cáchmạng xã hội chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng dân chủ làsản phẩm và thành quả của đấu tranh giai cấp cho những giá trị tiến bộ của nhânloại
Chủ nghĩa Mác-Lênin nhấn mạnh, dân chủ với tư cách nêu trên phải đượccoi là mục tiêu là tiền đề và cũng là phương tiện để vươn tới tự do giải phóng conngười giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội Dân chủ với tư cách một tổ chứcthiết chế chính trị, một hình thức hay hình thái nhà nước, nó là một phạm trù lịch
sử, ra đời và phát triển gắn liền với nhà nước và mất đi khi nhà nước tiêu vong.Xong, dân chủ với tư cách một giá trị xã hội là một phạm trù vĩnh viễn, tồn tại vàphát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của con người, của xã hội loài người.Chừng nào con người và xã hội loài người còn tồn tại, chừng nào mà nền văn minhnhân loại chưa bị diệt vong thì chừng đó dân chủ vẫn còn tồn tại với tư cách là mộtgiá trị nhân loại chung
Trang 4Tóm lại: Dân chủ là một giá trị xã hội phản ảnh những quyền cơ bản của cònngười; là một phạm trù chính trị gắn với các hình thức tổ chức nhà nước của giaiđoạn cầm quyền; là một phạm trù lịch sử gắn với quá trình ra đời, phát triển củalịch
sử xã hội nhân loại
*Sự ra đời, phát triển của dân chủ:
Nhu cầu của dân chủ xuất hiện từ rất sớm trong xã hội tự quản của cộngđồng thị tộc,bộ lạc Trong chế độ cộng sản nguyên thủy đã xuất hiện hình thứcmanh nha của dân chủ mà Ph.Ăngghen gọi là “dân chủ nguyên thủy” hay còn gọilà”dân chủ quân sự” Đặc trưng cơ bản của hình thức dân chủ này là nhân dân bày
ra thủ lĩnh quân sự thông quan “Đại hội nhân dân” Trong “Đại hội nhân dân”, mọingười đều có quyền phát biểu và tham gia quyết định bằng cách giơ tay hoặc hoàn
hộ, ở đó “Đại hội nhân dân” và nhân dân có quyền lực thực sự (nghĩa là có dânchủ) ,mặc dù trình độ sản xuất còn kém phát triển
Khi trình độ của lực lượng sản xuất phát triển dẫn tới sự ra đời của chế độ tưhữu và sau đó là giai cấp đã làm cho hình thức “dân chủ nguyên thủy” tan rã, nềndân chủ chủ nô ra đời Nền dân chủ chủ nô được được tổ chức thành nhà nước vớiđặc trưng là dân tham gia bầu ra Nhà nước Tuy nhiên, “Dân là ai”, theo quy địnhcủa giai cấp cầm quyền chỉ gồm giai cấp chủ nô và phần nào thuộc về các côngnhân tự do (tăng nữ, thương gia và một số trí thức) Đa số còn lại không phải là
“dân” mà là “nô lệ” Họ không được tham gia vào công việc nhà nước Như vậy,
về thực chất, dân chủ chủ nô cũng chỉ thực hiện dân chủ cho thiểu số, quyền lựccủa dân đã bó hẹp nhằm duy trì, bảo vệ, thực hiện lợi ích của “dân” mà thôi
Cùng với sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ, lịch sử loài người bước vàothời kì đen tối với sự thống trị của nhà nước chuyên chế phong kiến, chế độ dânchủ chủ nô đã bị xóa bỏ và thay vào đó là chế độ độc tài chuyên chế phong kiến
Sự thống trị của giai cấp thời kì này được khoác lên chiếc áo thần bí của thế lựcsiêu nhiên Họ xem việc tuân theo theo ý chí của giai cấp thống trị là bổn phận củamình trước sức mạnh của đấng tối cao Do đó, ý thức về dân chủ và đấu tranh đểthực diện quyền làm chủ của người da đã không có bước tiến đáng kể nào "
Trang 5Cuối thế kỉ XIX - đầu XV, giai cấp tư sản với những tư tưởng tiến bộ về tự
do, công bằng, dân chủ đã mở đường cho sự ra đời của nền dân chủ tư sản Trongchế độ dân chủ tư sản, dù chế độ này có nhiều thành tựu to lớn, dù chế độ đó cómang tên chế độ dân chủ, nhà nước dân chủ, n nhưng về thực chất vẫn không phải
là nhà nước thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân, mà chỉ là nhà nước của giaicấp tư sản
Khi cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thắng lợi (1917), một thờiđại mới mở ra - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, nhân dânlao động ở nhiều quốc gia giành được quyền làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội,thiết lập nhà nước công - nông (nhà nước xã hội chủ nghĩa), thiết lập nền dân chủ
vô sản (dân chủ xã hội chủ nghĩa) để thực hiện quyền lực của đại đa số nhân dân.Đặc trưng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực hiện quyền lực của nhân dần-tức là xây dựng nhà nước dân chủ thực sự, dân làm chủ nhà nước và xã hội, bảo vệquyền lợi cho đại đa số nhân dân
Như vậy, với tư cách là một hình thái nhà nước, một chế độ chính trị thìtrong lịch sử nhân loại, cho đến nay có ba nền (chế độ) dân chủ Nền dân chủ chủ
nô gắn với chế độ chiếm hữu nô lệ, nền dân chủ tư sản, gắn với chế độ tư bản chủnghĩa, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, gắn với chế độ xã hội chủ nghĩa
*Quá trình ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn quá trình hình thành và phát triển các nền dânchủ trong lịch sử và trực tiếp nhất là nền dân chủ tư sản, các nhà sáng lập chủnghĩa Mác- Lênin cho rằng, đấu tranh cho dân chủ là một quá trình lâu dài, phứctạp và giá trị của nền dân chủ tư sản chưa phải là hoàn thiện nhất, do đó, tất yếuxuất hiện một nền dân chủ mới, cao hơn nền dân chủ tư sản và đó chính là nền dânchủ vô sản hay còn gọi là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Theo chủ nghĩa Mác- Lênin: Giai cấp vô sản không thể hoàn thành cuộccách mạng xã hội chủ nghĩa, nếu học không được chuẩn bị để tiến tới cuộc cách
Trang 6mạng đó thông qua cuộc đấu tranh cho dân chủ Rằng, chủ nghĩa xã hội không thể
duy trì và thắng lợi, nếu không thực hiện đầy đủ dân chủ.
Quá trình phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là từ thấp tới cao, từchưa hoàn thiện đến hoàn thiện, có sự kế thừa một cách chọn lọc giá trị của cácnền dân chủ trước đó, trước hết là nền dân chủ tư sản
Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng lưu ý đây là một quá trình lâu dài,khi xã hội đã đạt trình độ phát triển rất cao, xã hội không còn sự phân chia giai cấp,
đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa đạt tới mức độ hoàn thiện, khi đó dân chủ xã hộichủ nghĩa với sự tư cách là một chế độ nhà nước cũng tiêu vong, không còn nữa
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu dân chủ xã hội chủ nghĩa là nềndân chủ cao hơn về chất so với nền dân chủ tư sản, là nền dân chủ mà ở đó, mọiquyền lực thuộc về nhân dân, dân là chủ và dân làm chủ, dân chủ và pháp luật làmtrong sự thống nhất biện chứng, được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản
*Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Với tư cách là đỉnh cao trong toàn bộ lịch sử tiến hóa của nhân chủ, dân chủ
xã hội chủ nghĩa có bản chất sau:
Bản chất chính trị: Dưới sự lãnh đạo duy nhất của một đảng của giai cấpcông nhân (Đảng Mác - Lênin) mà trên mọi lĩnh vực xã hội đều thực hiện quyềnlực của dân dân, thể hiện qua các quyền dân chủ, làm chủ, quyền con người, thỏamãn ngày càng cao các nhu cầu và các lợi ích của nhân dân
Bản chất kinh tế: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu xãhội về những tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội đáp ứng sự phát triển ngàycàng cao của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học - công nghệ hiện đại
nhằm thỏa mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thểnhân dân lao động
Bản chất tư tưởng - văn hóa - xã hội: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy hệ tưtưởng Mác - Lênin - hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, làm chủ đạo đối với mọihình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới Đồng thời nó kế thừa, phát huy
Trang 7những tinh hoa văn hóa truyền thống dân tộc, tiếp thu những giá trị tư tưởng - văn
hóa, văn minh, tiến bộ xã hội mà nhân loại đã tạo ra ở tất cả các quốc gia, dân
nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
II Phân tích thực tiễn
• Thực Trạng:
Tình trạng vi phạm dân chủ, dân chủ hình thức, lợi dụng dân chủ, đanglàm cho nhiều vấn đề xã hội nhức nhối, làm chậm bước tiến của dân tộc làm cho sựnghiệp công nghệ hóa, hiện đại bị thách thức, nguy cơ chệch hướng XHCN trởthành nỗi lo lớn Chính vì vậy, xây dựng xã hội dân chủ XHCN phát huy quyềnlàm chủ của nhân dân là nhiệm vụ, nội dung quá trình của cách mạng nước ta tronggiai đoạn hiện nay Thực tiễn đã chỉ ra rằng chỉ có thể thực hiện một nền dân chủXHCN, phát huy được quyền làm chủ của nhân dân chúng ta mới phát huy sứcmạnh toàn dân tộc, đấu tranh có hiệu quả chống mọi hiện tượng tham nhũng, tiêucực, khơi dậy sức sáng tạo của mọi tầng lớp nhấn dân, mọi thành phần kinh tế đểxây dựng nước ta đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh” tiến lên CNXH
• Nguyên Nhân:
Những tồn tại mà Đảng ta chỉ ra là “tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn cònnghiêm trọng với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, gây bức xúc trong dư luận,ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước Ý thức của của mộtsố
bộ phận công dân chưa cao, trình độ hiểu biết và trách nhiệm xã hội còn thấp, chưatinh thần tự giác chấp hành pháp luật, tuy vẫn còn những tồn không tốt nhưng
Trang 8và Nhà nước cũng đã khắc phục kịp thời và đồng thời tạo ra những thành tựu tốt
Trang 9• Thành tựu:
Dựa vào kết quả quá trình thực hiện sự nghiệp đổi mới toàn diện của đấtnước từ năm 1986 đến nay Trong đó, chú trọng thực tiễn hoạt động lãnh đạo củaĐảng, sự quản lý của Nhà nước và sự vận động của thực tiễn dân chủ hóa đời sống
xã hội ở nước ta trong 30 năm qua Đồng thời, trong chừng mực nhất định, có liên
hệ với thực tiễn dân chủ hóa của các nước trên thế giới cũng như thực tiễn thực thidân chủ ở nước ta thời kỳ trước đổi mới
Những thành tựu và tồn tại trong việc xây dựng Dân chủ xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam hiện nay Những thành tựu có ý nghĩa lịch sử của đổi mới trong 30 nămqua là kết quả của việc thực hiện các chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng Sở
dĩ có các chủ trương, đường lối đúng đắn là do có dân chủ thảo luận và Đảng biếtlắng nghe ý kiến đóng góp của hàng triệu cán bộ, đảng viên, của các nhà khoa học
và của nhân dân
Đã từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Hiến pháp 1992 vànhiều Bộ luật, Luật, Pháp lệnh đã được ban hành, tạo khuôn khổ pháp lý để nhànước quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốcphòng Đã có nhiều quyết định cải cách có ý nghĩa quan trọng trên lĩnh vực xâydựng nhà nước và pháp luật, làm cơ sở cho đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới tổchức hoạt động của bộ máy nhà nước
về công tác tư tưởng.
Đảng ta đã thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng các hoạt động tuyêntruyền, thuyết phục và vận động quần chúng Trong thực tế, kết quả của công tác
tư tưởng thể hiện ở chỗ: Tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, người dân ngày càngđược biết nhiều hơn về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Cùngvới việc dân biết, dân cũng được bàn bạc và tham gia ý kiến về nhiều việc quantrọng Nhờ vậy, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhận được sựđồng tình, ủng hộ của quảng đại quần chúng nhân dân
Trang 10Dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy trên nhiều lĩnh vực.
Dân chủ về kinh tế ngày càng được mở rộng đã tác động tích cực đến việcgiải phóng sức sản xuất, là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao đời sốngnhân dân Dân chủ về chính trị có bước tiến quan trọng, thể hiện ở việc bầu các cơquan dân cử, ở chất lượng sinh hoạt của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, tạicác cuộc thảo luận của nhân dân tham gia ý kiến xây dựng các dự án uật, tronghoạt động của báo chí Nhà nước đã tạo những điều kiện thuận lợi để nhân dânnắm bắt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nắm được các thủ tụchành chính giải quyết các công việc liên quan với nhân dân, biết được quy hoạch,
kế hoạch của Nhà nước về sử dụng đất đai, về dự toán, quyết toán ngân sách,
Đồng thời, cùng với việc dân biết, dân còn được bàn bạc nhiều việc quantrọng, như những dự án, mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng ở địa phương, các
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch dẫn cư, điều chỉnh địa giới hànhchính, phương án đền bù giải phóng mặt bằng Nhà nước đều hỏi ý kiến nhân dân
Công tác tổ chức, cán bộ đã có nhiều chuyển biến tích cực:
Các cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể được sắp xếp lại, kiện toàntheo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu quả Nhiều chủ trương, quan điểm, giải pháp
về công tác cán bộ được thể chế hóa, cụ thể hóa thành các quy chế, quy định Đảng
đã triển khai tương đối đồng bộ các khâu đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo,bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ Công tác
tổ chức, cán bộ chuyển hướng theo hướng dẫn chủ hóa
Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, trước hết là của cơquan hành chính nhà nước, đã có một bước điều chỉnh theo yêu cầu của quá trìnhchuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang quản lý nền kinh
tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa
Nhân dân ta cảm nhận bầu không khí dân chủ hơn, cởi mở hơn trong
xã hội
Trang 11Ở cơ sở, người dân đã chủ động bàn bạc, tham gia ý kiến, thực hiện quyềnlàm chủ, bày tỏ chính kiến của mình; đồng thời, tích cực tham gia công tác xâydựng Đảng, chính quyền, thể hiện tốt vai trò giám sát đối với cán bộ, đảng viên,thẳng thắn góp ý kiến về hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương.
• Hạn chế:
Ngoài những thành tựu tốt thì vẫn còn những hạn chế như:
Bộ máy nhà nước ta chưa thật trong sạch, vững mạnh; tình trạng tham
nhũng, lãng phí, quan liêu còn nghiêm trọng, chưa được ngăn chặn; hiệu lực quản
lý, điều hành chưa cao; kỷ cương xã hội còn bị buông lỏng, làm giảm sút lòng tincủa nhân dân đối với Đảng, nhà nước ta
Quản lý nhà nước chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới; chưa pháthuy đầy đủ mặt tích cực và hạn chế được tính tự phát, tiêu cực của kinh tế thị
trường Đất đai, vốn và tài sản nhà nước chưa được quản lý chặt chẽ, sử dụng lãngphí và thất thoát nghiêm trọng
Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, thiếu sức thuyết phục, tính chiến đấucòn hạn chế, chưa sâu sát thực tế, chưa linh hoạt Tình trạng suy thoái của một bộphận không nhỏ cán bộ đảng viên về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống mộtphần là do công tác tư tưởng chưa làm tốt chức năng, nhiệm vụ giáo dục chính trị
và tư tưởng Các thông tin chưa được cung cấp thường xuyên để dân biết, dân bàn,dân làm, dân kiểm tra Chưa thật sự mở rộng dân chủ trong tự do ngôn luận, lắngnghe các ý kiến khác biệt Vẫn tồn tại tình trạng nói nhiều, làm ít hoặc nói nhưngkhông làm
Tổ chức bộ máy nhà nước còn nặng nề, sự phân công và phối hợp giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp còn
có những điểm chưa rõ về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ, phân cấp trung ương
- địa phương còn một số mặt chưa cụ thể (như về quản lý đầu tư, tài chính, tổ chức
bộ máy, kết hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ ), làm cho tình trạng tập trungquan liệu cũng như phân tán, cục bộ chậm được khắc phục