Sức khoẻ là vốn quý của con người và toàn xã hội, trong đó sức khỏe tâm thần đươc coi là một bộ phận không thể tách rời trong định nghĩa sức khỏe của Tổ chức y tế thế giới. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới WHO, sức khỏe tâm thần là trạng thái sức khỏe trong đó môt cá nhân nhân thức được khả năng của chính mình, có thể đối phó với những stress bình thường của cuộc sống, có thể làm việc một cách năng suất và có thể đóng góp cho cộng đồng của mình. Stress là phản ứng của cơ thể trước bất cứ một yêu cầu, áp lực hay một yếu tố tác động nào đe dọa đến sự tồn tại lành mạnh của con người cả về thể chất lẫn tinh thần. Trong xã hội phát triển ngày nay, con người luôn phải đối mặt với nhiều nỗi lo toan, áp lực trong công việc, gia đình, xã hội,.. cùng với đó là sự biến đổi của khí hậu, ô nhiễm không khí, khói bụi, môi trường sống không lành mạnh,.. Đây chính là những nguyên nhân khiến tỷ lệ mắc stress ngày càng gia tăng, là một vấn đề quan trọng về sức khỏe nghề nghiệp mà nhiều nước trên thế giới đã tập trung nghiên cứu.Stress do nghề nghiệp được Viện nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp (NIOSH) định nghĩa là “những phản ứng về thể chất và cảm xúc tiêu cực xảy ra khi có những đòi hỏi của công việc nhưng chưa tương xứng với năng lực hoặc nhu cầu của người làm việc” 1. Theo khảo sát của NIOSH, có 40% người được hỏi cho rằng công việc gây stress và là nguyên nhân chính khiến người lao động phải đi bệnh viện. Stress nghề nghiệp là yếu tố gây tổn thương chủ yếu cho hệ thần kinh, góp phần làm gia tăng tỷ lệ các bệnh tim mạch, cơ xương khớp cũng như tăng tỷ lệ nghỉ hưu sớm do thường xuyên làm việc trong môi trường nhiều áp lực 2.Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các nhân viên y tế làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân có nguy cơ bị stress cao hơn nhiều lần so với các ngành nghề khác. Nhân viên y tế luôn làm việc trong môi trường nhiều áp lực như quá tải, áp lực từ phía người bệnh, người nhà, xã hội, nguy cơ lây nhiễm bệnh tật, nguy cơ tổn thương do các vật sắc nhọn, các hóa chất độc hại,.. từ đó nhân viên y tế dễ bị các vấn đề về sức khỏe tâm thần trong đó có stress. Một số nghiên cứu của các tác giả gần đây cho thấy tỷ lệ bị stress khá cao. Nghiên cứu của Sharifah Zainiyah tại một bệnh viện ở Kuala Lumpur đã đưa ra tỷ lệ điều dưỡng bị stress là 23,6% 3. Tác giả Zairah Muqaddas Ansari (2015), cho thấy tỷ lệ bị stress của các điều dưỡng là 41% 4. Ở Việt nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Minh Ngọc năm 2017 tại bệnh viện Trung Ương Huế với tỉ lệ điều dưỡng viên khối lâm sàng bị stress là 28,1% 5. Tác giả Bạch Nguyên Ngọc (2015), tại Đồng Nai cho thấy tỷ lệ bị stress của điều dưỡng khối lâm sàng là 25,2% 6
Trang 1ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG STRESS NGHỀ NGHIỆP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH
NĂM 2021
Chủ nhiệm đề tài: Vũ Hồng Sơn
Vinh, 2021
Trang 2SỞ Y TẾ NGHỆ AN
BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG STRESS NGHỀ NGHIỆP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH
NĂM 2021 Chủ nhiệm đề tài: Vũ Hồng Sơn
Trang 3BV: Bệnh viên BVĐK: Bênh viện đa khoa ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu NVYT: Nhân viên y tế
SKTT: Sức khỏe tâm thần WHO: Tổ chức y tế thế giới
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đại cương về stress 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Nguyên nhân của stress 4
1.1.3 Những dấu hiệu của stress 5
1.1.4 Hậu quả của stress 5
1.1.5 Ứng phó với stress 8
1.1.6 Stress nghề nghiệp 8
1.2 Giới thiệu về các thang đo sức khỏe tâm thần và bộ công cụ DASS 21 của Lovibond 10
1.3 Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở nhân viên y tế qua các nghiên cứu 12
1.3.1 Thực trạng stress ở nhân viên y tế 12
1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến stress của nhân viên Y tế 15
1.4 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu 17
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tương nghiên cứu 19
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
2.3 Thiết kế nghiên cứu 19
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 19
2.5 Các biến số nghiên cứu 20
2.6 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin 27
2.6.1 Công cụ thu thập thông tin 27
2.6.2 Phương pháp thu thập thông tin 28
2.7 Xử lý và phân tích số liệu 29
2.8 Sai số và cách khắc phục 29
Trang 53.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 31
3.1.1 Một số thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu 31
3.2 Thực trạng stress nghề nghiệp ở nhân viên y tế tại bệnh viện ĐKTP Vinh năm 2021 40
3.3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress nghề nghiệp ở đối tượng nghiên cứu 41
3.3.1 Kết quả phân tích đơn biến: một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của nhân viên y tế tại Bệnh viện ĐKTP Vinh 41
Chương 4 BÀN LUẬN 49
4.1 Thực trạng stress của nhân viên y tế tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh năm 2021 49
4.2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của đối tượng nghiên cứu 52 4.2.1 Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân và gia đình với tình trạng stress 53
4.2.2 Một số yếu tố liên quan giữa nội dung công việc với tình trạng stress 54 4.2.3 Mối liên quan giữa một số yếu tố về môi trường làm việc với tình trạng stress 57
4.2.4 Mối liên quan giữa một số yếu tố về động viên khuyến khích và phát triển nghề nghiệp với tình trạng stress 59
KẾT LUẬN 61
KHUYẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 6Bảng 2.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu 21
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi với giới 31
Bảng 3.2 Tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu 31
Bảng 3.3 Trình độ học vấn, vị trí công tác, thâm niên công tác của ĐTNC 32
Bảng 3.4 Thói quen sinh hoạt của đối tượng nghiên cứu 33
Bảng 3.5 Đặc điểm tình trạng gia đình của đối tượng nghiên cứu 33
Bảng 3.6 Các yếu tố về nội dung công việc 34
Bảng 3.7 Sự phù hợp với chuyên môn, hứng thú, hài lòng với công việc 36
Bảng 3.8 Các yếu tố về môi trường làm việc 37
Bảng 3.9 Các yếu tố về mối quan hệ trong công việc 38
Bảng 3.10 Các yếu tố về động viên khuyến khích và phát triển nghề nghiệp39 Bảng 3.11 Thực trạng stress nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 40
Bảng 3.12 Phân bố tình trạng stress theo giới tính, lĩnh vực chuyên môn, tuổi, thâm niên công tác 40
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân đến tình trạng stress của nhân viên y tế 42
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa một số yếu tố về thói quen sinh hoạt đến tình trạng stress của nhân viên y tế 43
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa một số yếu tố gia đình với tình trạng stress của nhân viên y tế 44
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa một số yếu tố về nội dung công việc với tình trạng stress của nhân viên y tế 45
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa một số yếu tố về môi trường làm việc với tình trạng stress của nhân viên y tế 46
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa một số yếu tố về mối quan hệ trong công việc với tình trạng stress của điều dưỡng 47
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khoẻ là vốn quý của con người và toàn xã hội, trong đó sức khỏe tâm thần đươc coi là một bộ phận không thể tách rời trong định nghĩa sức khỏe của Tổ chức y tế thế giới Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới WHO, sức khỏe tâm thần là trạng thái sức khỏe trong đó môt cá nhân nhân thức được khả năng của chính mình, có thể đối phó với những stress bình thường của cuộc sống, có thể làm việc một cách năng suất và có thể đóng góp cho cộng đồng của mình Stress là phản ứng của cơ thể trước bất cứ một yêu cầu, áp lực hay một yếu tố tác động nào đe dọa đến sự tồn tại lành mạnh của con người cả về thể chất lẫn tinh thần Trong xã hội phát triển ngày nay, con người luôn phải đối mặt với nhiều nỗi lo toan, áp lực trong công việc, gia đình, xã hội, cùng với đó là sự biến đổi của khí hậu, ô nhiễm không khí, khói bụi, môi trường sống không lành mạnh, Đây chính là những nguyên nhân khiến tỷ lệ mắc stress ngày càng gia tăng, là một vấn đề quan trọng về sức khỏe nghề nghiệp mà nhiều nước trên thế giới đã tập trung nghiên cứu
Stress do nghề nghiệp được Viện nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp (NIOSH) định nghĩa là “những phản ứng về thể chất và cảm xúc tiêu cực xảy ra khi có những đòi hỏi của công việc nhưng chưa tương xứng với năng lực hoặc nhu cầu của người làm việc” [1] Theo khảo sát của NIOSH, có 40% người được hỏi cho rằng công việc gây stress và
là nguyên nhân chính khiến người lao động phải đi bệnh viện Stress nghề nghiệp là yếu tố gây tổn thương chủ yếu cho hệ thần kinh, góp phần làm gia tăng tỷ lệ các bệnh tim mạch, cơ xương khớp cũng như tăng tỷ lệ nghỉ hưu sớm do thường xuyên làm việc trong môi trường nhiều áp lực [2]
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các nhân viên y tế làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân có nguy cơ bị stress cao hơn nhiều lần so với các ngành nghề khác Nhân viên y tế luôn làm việc trong môi trường nhiều áp lực như quá tải, áp lực từ phía người bệnh, người nhà, xã hội, nguy
Trang 9cơ lây nhiễm bệnh tật, nguy cơ tổn thương do các vật sắc nhọn, các hóa chất độc hại, từ đó nhân viên y tế dễ bị các vấn đề về sức khỏe tâm thần trong đó
có stress Một số nghiên cứu của các tác giả gần đây cho thấy tỷ lệ bị stress khá cao Nghiên cứu của Sharifah Zainiyah tại một bệnh viện ở Kuala Lumpur đã đưa ra tỷ lệ điều dưỡng bị stress là 23,6% [3] Tác giả Zairah Muqaddas Ansari (2015), cho thấy tỷ lệ bị stress của các điều dưỡng là 41% [4] Ở Việt nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Minh Ngọc năm 2017 tại bệnh viện Trung Ương Huế với tỉ lệ điều dưỡng viên khối lâm sàng bị stress là 28,1% [5] Tác giả Bạch Nguyên Ngọc (2015), tại Đồng Nai cho thấy tỷ lệ bị stress của điều dưỡng khối lâm sàng là 25,2% [6]
Cùng với những áp lực chung của ngành y tế như quá tải, áp lực từ phía người bệnh, người nhà, xã hội, áp lực cho nhân viên y tế bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh cũng rất lớn Họ là người thường xuyên phải đối mặt với nhiều nguy cơ nghề nghiệp như phải làm ca, trực đêm, nguy cơ lây nhiễm bệnh tật, nguy cơ tổn thương do các vật sắc nhọn Với một môi trường làm việc với nhiều áp lực như vậy, nguy cơ mắc stress của nhân viên y tế là rất cao Tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh hiện nay chưa có đánh giá nào
về vấn đề stress nghề nghiệp ở nhân viên y tế để từ đó giúp cho người quản lý
có chiến lược cải thiện môi trường làm việc, nâng cao năng lực ứng phó với stress, thúc đẩy người lao động làm việc hiệu quả, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người bệnh Từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài
nghiên cứu “Khảo sát thực trạng Stress nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan ở nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh, năm 2021”
với hai mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng stress nghề nghiệp ở nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh, năm 2021
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress nghề nghiệp ở nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh, năm 2021
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về stress
1.1.1 Khái niệm
Stress là một trong những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong lĩnh vực tâm thần học Các rối loạn có liên quan đến stress rất đa dạng và thường gặp ở mọi lứa tuổi Stress có thể là nguyên nhân gây bệnh, nhưng đôi khi lại
là hậu quà của tác nhân công kích đối với cá thể chịu stress Các rối loạn có liên quan đến stress bao gồm các rối loạn tâm căn, các rối loạn dạng cơ thể và các rối loạn do stress trực tiếp gây ra như phản ứng stress cấp, rối loạn stress sau sang chấn và các rối loạn sự thích nghi, [7] Stress được chẩn đoán trong chương F4, một phần trong chương F5 và F9 của bảng phân loại quốc tế bệnh tật Việt - Anh lần thứ 10 (ICD - 10) [8]
Từ “stress” trong tiếng Anh bắt nguồn từ chữ La tinh “stringi”, có nghĩa là “ bị kéo căng ra”, được dùng trong vật lý học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải chịu đựng Đến thế kỷ thứ 17 từ ý nghĩa sức ép trên vật liệu stress được chuyển sang dùng cho người với ý nghĩa một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra một phản ứng căng thẳng [9]
Hiện nay “stress” là một thuật ngữ được dùng rộng rãi, tuy nhiên mỗi tác giả sử dụng với những sắc thái khác nhau
Theo Claude Bernard nhắc đến stress là nói về môi trường nội môi của
cơ thể Trong khái niệm ông miêu tả về nguyên lý của sự cân bằng động trong
đó tính hằng định - một trạng thái bền vững của nội môi là yếu tố của sự sống còn Vì vậy những tác động hay những thay đổi ngoại cảnh làm đảo lộn sự cân bằng nội môi khiến cơ thể sinh ra những phản ứng [10]
Tiếp theo đó Walter Cannon đã đặt ra thuật ngữ “hằng tính nội môi” (homeostasis) để định nghĩa rõ nét hơn khái niệm cân bằng động của Bernard Ông cũng là người đầu tiên phát hiện ra các yếu tố gây ra stress không chỉ là
Trang 11tác động của lý tính mà còn từ những tác động của cảm xúc Qua các thí nghiệm của mình, ông đã chứng minh con người hay bất kỳ động vật nào khác đều có đáp ứng khi gặp nguy hiểm “chiến đấu hay tháo chạy” [11] Như vậy có thể xem stress như sự đáp ứng của con người trước một nhu cầu hoặc là sự tương tác trong mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh Trong điều kiện bình thường, stress là một đáp ứng thích nghi về mặt tâm lý, sinh học và tập tính Stress đặt con người vào quá trình sắp xếp thích ứng với môi trường xung quanh, tạo cho cơ thể một cân bằng mới sau khi chịu đựng những tác động của môi trường Nói theo cách khác, stress bình thường góp phần làm cho cơ thể thích nghi Nếu đáp ứng của cá nhân với stress không đầy đủ, không thích hợp và cơ thể không tạo ra được một cân bằng mới thì những chức năng của cơ thể ít nhiều bị rối loạn, dẫn đến những thay đổi về hành vi, tâm sinh lý tạo ra những stress bệnh lý cấp tính hoặc kéo dài [12]
1.1.2 Nguyên nhân của stress
Cho đến nay nguyên nhân chính xác gây ra stress, cũng như các chứng bệnh tâm thần khác vẫn chưa được khoa học tìm ra Các nhà khoa học cho rằng stress có tính chất tích tụ diễn tiến trong thời gian dài, hoặc xảy ra một cách đột ngột quá sức chịu đựng của cá nhân Nguyên nhân có thể xuất phát
từ môi trường bên ngoài, cũng có thể xuất phát từ chính bên trong con người Cùng một sự kiện tác động nhưng mỗi người sẽ có những nhận định riêng về
sự kiện đó mang tính đe dọa, có hại hay thách thức và có các biểu hiện mức
độ stress khác nhau Sự khác biệt đó là do ở mỗi người có quá trình nhận thức diễn ra không như nhau Như vậy nguyên nhân xuất phát từ chính bản thân mỗi người là nguyên nhân quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ stress của mỗi cá nhân [11]
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố liên quan gây ra stress như:
Môi trường tự nhiên
Trang 12 Môi trường xã hội
Yếu tố cá nhân
Yếu tố gia đình
Yếu tố công việc
Như vậy các yếu tố gây ra stress, có thể được chia theo các cấp độ cá
nhân, gia đình, tổ chức đơn vị và môi trường (tự nhiên và xã hội) Việc phân chia các yếu tố gây stress chỉ mang tính tương đối Trên thực tế, một cá nhân
bị stress có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau cùng tích hợp lại [2]
1.1.3 Những dấu hiệu của stress
Stress là phản ứng không thể thiếu ở con người, là biểu hiện đáp ứng của
cá nhân đối với những yếu tố tác nhân, hay tình huống trong cuộc sống con người phải đối mặt Stress tích cực giúp chúng ta thích nghi, hòa hợp để cùng sống chung với stress, biến nó thành động lực giúp con người phát triển Nhưng ở khía cạnh tiêu cực thì stress có thể phá vỡ cân bằng trong cuộc sống của con người làm nảy sinh nhiều vấn đề về sức khỏe như lo âu, trầm cảm, suy kiệt ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bản thân và xã hội [13] Những biểu hiện của stress thường được biết đến qua hai dạng đó là biểu hiện thông qua những phản ứng sinh lý của cơ thể và ảnh hưởng về mặt sinh
lý do stress gây ra và một dạng khác là biểu hiện stress về mặt tâm lý và những ảnh hưởng về mặt tâm lý xã hội do stress gây ra [14]
1.1.4 Hậu quả của stress
Stress không những tác động xấu cho cá nhân mà còn ảnh hưởng bất lợi cho gia đình và xã hội Stress được xem là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của nhiều căn bệnh như:
+ Ảnh hưởng đến não: stress thường xuyên khiến não trở nên kém linh hoạt, minh mẫn, thậm chí có nguy cơ bị tổn thương nghiêm trọng
+ Ảnh hưởng đến hệ hô hấp: stress kích thích tuyến thượng thận giải phóng hormone adrenaline Khi lượng hormone này tăng cao thì hơi thở
Trang 13thường trở nên gấp gáp, hổn hển, không sâu, phải rướn lên để thở
+ Ảnh hưởng đến tim: stress liên quan đến bệnh sơ vữa động mạch vành, rối loạn nhịp tim (tim đập nhanh, mạnh) Một số căng thẳng về tinh thần hoặc tình cảm, gây ra quá trình thiếu máu cục bộ cơ tim có thể diễn ra một cách lặng lẽ
+ Ảnh hưởng đến hệ bài tiết: khiến cơ thể hay bị đổ mồ hôi một cách khác thường (ví dụ, đẫm mồ hôi tay) ngay cả khi nhiệt độ không cao hoặc không có sự vận động cơ thể gắng sức
+ Ảnh hưởng đến cơ khớp: Ngoài tác hại làm hơi thở trở nên gấp gáp, hormone adrenaline còn khiến cơ bắp dễ căng cứng, mệt mỏi; lưng, cổ, hàm hay mặt dễ bị đơ hoặc đau nhức
+ Ảnh hưởng đến mắt, cơ quan cảm giác: Mất ngủ do stress lâu ngày làm mắt mệt mỏi, thâm quầng hoặc sưng đỏ thậm chí còn có thể làm giảm thị lực cũng như gây thêm nhiều căn bệnh nguy hiểm khác về mắt
+ Ảnh hưởng đến da: Theo các nhà khoa học tại Trường Đại học Freedom ở Berlin, một trong những tác hại chính của stress đối với da là kích thích các tuyến nhờn hoạt động mạnh, khiến da trở nên kém mịn màng, nhanh lão hóa và dễ nổi mụn, có khi còn làm xuất hiện các bệnh nguy hiểm khác như chàm bội nhiễm, vảy nến…
+ Ảnh hưởng đến tiêu hóa: Khi bị stress, những loại hormone có tác dụng tăng cường lưu lượng máu đến các cơ trên cơ thể sẽ thuyên giảm rõ rệt, hậu quả là sức vận động cũng như sự co bóp của chúng bị giới hạn hoặc yếu
đi, trong đó có dạ dày, dẫn đến tình trạng khó tiêu, đầy hơi, buồn nôn và chướng bụng, tiêu chảy hoặc táo bón
+ Ảnh hưởng đến răng miệng: Khi tinh thần suy sụp, căng thẳng, họat động của hệ miễn dịch trở nên kém hiệu quả, nguy cơ nổi mụn nhiệt (còn gọi
là đẹn) ở vòm miệng, nướu, lợi, lưỡi…sẽ rất cao
+ Ảnh hưởng đến đầu: Stress là một trong những nguyên nhân chính
Trang 14khiến đầu óc dễ choáng váng, mệt mỏi, kể cả chứng đau đầu kinh niên Nguy
cơ này sẽ cao hơn nếu lưng và cổ bị tổn thương trong khi stress hành hạ + Ảnh hưởng hệ sinh sản: Giảm nhu cầu tình dục, lãnh cảm, giao hợp đau, xuất tinh sớm v.v… Đối với nữ thì có sự rối loạn kinh nguyệt, đau hơn khi hành kinh
+ Ảnh hưởng đến giấc ngủ: làm rối loạn giấc ngủ như khó ngủ, ngủ chập chờn, hay thức giấc, hay có ác mộng và cảm giác khó thức dậy, khó hồi phục sức lực sau khi ngủ
+ Ảnh hưởng đến hệ thần kinh: gây ra các chứng nhức đầu (đau nửa đầu, chóng mặt, choáng, hoa mắt và nhiều trường hợp gây ra chứng suy nhược thần kinh [15]
Những rối loạn tâm lý biểu hiện về mặt hành vi như không thể duy trì được những hoạt động kéo dài và không quản lý được thời gian của mình Nhiều người tìm cách giảm stress tạm thời bằng cách lao vào ăn uống, hút thuốc, uống rượu hoặc mua săm vô độ nhưng sau đó bản thân rượu, thuốc lại
là chất gây lo âu, nên bắt buộc chủ thể cứ tăng dần liều sử dụng Hành vi cứ như vậy lặp đi lặp lại, đưa chủ thể vào vòng xoáy đáng sợ của sự nghiện rượu
và thuốc Những tập tính nghiện rượu nghiện thuốc này không thể không ảnh hưởng tai hại đến quan hệ xã hội của chủ thể Stress có thể biến người ít hút thuốc thành người hút thuốc lá liên tục, và biến một người chỉ uống rượu xã giao thành một người nghiện rượu thực sự Bản thân họ cũng không nhận ra
là mình đang lạm dụng quá mức Còn đối với những người ý thức được thì lại thường có hành vi tự hủy hoại bản thân, tách mình khỏi gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Dẫn đến việc bị đồng nghiệp, bạn bè, người thân xa lánh, hoặc gây ra các tổn thất, về tài chính, vật chất, thậm chí xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của bản thân và những người xung quanh [12]
Như vậy, stress không có biểu hiện đơn lẽ Do đó, để nhận biết stress là một việc tương đối phức tạp Điểm chung ở những người bị stress là sự hiện
Trang 15diện của một số các dấu hiệu có tính chất cảnh báo về mặt cơ thể, tâm lý và hành vi
1.1.5 Ứng phó với stress
Ứng phó là quá trình xử lý các đòi hỏi bên trong hoặc bên ngoài được cho
là tác nhân gây ra căng thẳng hoặc vượt quá khả năng sẵn có của cơ thể Ứng phó là những hành động thuộc về nhận thức và hành vi nhằm chế ngự những đòi hỏi của một sự kiện được nhận định là có tính gây stress Khi đối đầu với một sự kiện gây stress, đương sự sẽ cố gắng “hóa giải” sự nguy hại và phòng tránh sự đe dọa Vẫn còn có ít dữ liệu về việc làm thế nào mà đương sự ứng phó được với các tác nhân gây stress trong môi trường sống tự nhiên Sự biến hóa của các chiến lược ứng phó là vô hạn
Nhìn ở khía cạnh tích cực, tình trạng stress có thể giúp cho cá nhân chủ động ứng phó với các tình huống hay các yếu tố tác động từ môi trường sống của họ, từ đó giúp cho họ có thể vượt qua những khó khăn, thách thức Cách ứng phó là những phương thức giải quyết cụ thể hơn trước một tình huống, một hoàn cảnh nhất định, ứng phó được chia thành hai kiểu chính là tập trung vào vấn đề tìm nguyên nhân giải quyết và cách khác là tập trung vào cảm xúc, hiểu rõ cảm xúc để kiểm soát, điều chỉnh [16]
1.1.6 Stress nghề nghiệp
Stress của NVYT là trạng thái căng thẳng về tâm lý xuất hiện ở người NVYT trong quá trình hoạt động trong lĩnh vực y tế cũng như trong đời sống thường ngày Trong đó một phần là do sự tác động của những điều kiện khó khăn, phức tạp từ hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân hoặc
từ trong chính bản thân của mỗi người gây ra, một phần là do cách mà họ cảm nhận và giải thích những sự tác động đó, tùy thuộc vào khả năng “xử lý” của bản thân có thể ảnh ưởng đến NVYT trên các mặt sinh lý, tâm lý và xã hội.Một số điều kiện phổ biến liên quan đến đặc thù ngành góp phần gây ra stress cho NVYT:
Trang 16- Mức biên chế chưa đầy đủ
- Khối lượng công việc quá nhiều
- Thời gian làm việc kéo dài
- Mức độ ổn định của công việc
- Mức độ rõ ràng của công việc
- Mối quan hệ với người bệnh: thái độ của người bệnh và người nhà người bệnh, sự mong đợi của người bệnh
- Tiếp xúc với các chất lây nhiễm và độc hại
- Sự căng thẳng khác nhau giữa các ngành nghề chăm sóc sức khỏe, thậm chí trong cùng một ngành nghề lại tùy thuộc vào nhiệm vụ
Từ những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước cho thấy các yếu tố sau đây liên quan đến tình trạng stress nghề nghiệp của nhân viên y tế như:
- Nội dung công việc: khối lượng, nhịp độ, quá tải công việc, sự không phù hợp công việc với chuyên môn, tính chất ổn định của công việc…
- Môi trường làm việc: cơ sở vật chất thiếu thốn, diện tích chật hẹp, tiếng
ồn, nhiệt độ không phù hợp, nguy cơ lây nhiễm bệnh, nguy cơ tổn thương do các vật sắc nhọn
- Các mối quan hệ trong công việc: xung đột với đồng nghiệp, bác sĩ, thái độ không tốt của bệnh nhân (BN) và người nhà BN
- Sự động viên khuyến khích và phát triển nghề nghiệp: chế độ chính sách đối với cán bộ nhân viên, cơ hội đi học nâng cao trình độ, cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, công bằng trong đánh giá thành quả lao động
Từ những nghiên cứu mới nhất cho thấy, hậu quả của stress nghề nghiệp kéo dài làm ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe tâm thần, đồng thời ảnh hưởng
cả trạng thái thực thể của người lao động như gia tăng nguy cơ cao huyết áp, các bệnh lý tim mạch, các rối loạn giấc ngủ, rối loạn hành vi, Stress nghề nghiệp không chỉ ảnh hưởng ở mức độ cá nhân mà còn ảnh hưởng tới chất
Trang 17lượng chăm sóc, khám bệnh, chữa bệnh của cả bệnh viện Vì vậy vấn đề quan trọng là phải nhận diện được các yếu tố nguy cơ gây stress nghề nghiệp, đánh giá và đo lường được mức độ ảnh hưởng của stress nghề nghiệp đến sức khỏe người lao động và đưa ra các giải pháp cũng như có chiến lược dự phòng phù hợp
1.2 Giới thiệu về các thang đo sức khỏe tâm thần và bộ công cụ DASS 21 của Lovibond
Hiện nay trên thế giới có nhiều bộ công cụ được sử dụng để đo lường các vấn đề về sức khỏe tâm thần Các tác giả có thể sử dụng những thang đo khác nhau tùy vào đối tượng và mục đích nghiên cứu của mình Có thể kể đến một số thang đo như:
Thang đánh giá trầm cảm Hamilton (HDRS): Thang đánh giá trầm
cảm của Hamilton, ra đời năm 1960, thường được viết tắt theo các chữ cái đầu từ của tiếng Anh là HDRS (Hamilton Depression Rating Scale) hoặc HAMD (Hamilton Depression) Mỗi đề mục của thang đánh giá được cho điểm từ 0 đến 2 hoặc từ 0 đến 4 Thang đánh giá trầm cảm của Hamilton không phải là một công cụ nhằm mục đích chẩn đoán
Thang đánh giá trầm cảm Montgomery - Asberg (MADRS): Thang
MADRS có độ nhạy đặc biệt với việc đo lường thay đổi trong các triệu chứng qua thời gian điều trị (Montgomery SA, Asberg M., 1979) Thang MADRS là thang đánh giá qua quan sát dựa trên phỏng vấn lâm sàng từ các câu hỏi chung đến các câu chi tiết hơn
Thang đánh giá lo âu của Zung (SAS): SAS là trắc nghiệm đánh
giá mức độ lo âu do cả người tiến hành trắc nghiệm và người được trắc nghiệm thực hiện
Thang đo ASSET (An Organisational Stress Screening Tool) do
Cartwright và Cooper phát triển năm 2002 đây là bộ công cụ được sử dụng để đánh giá nguy cơ stress nghề nghiệp Thang đo này đo lường nguy cơ gây
Trang 18stress của những yếu tố tại nơi làm việc và cũng cung cấp thông tin quan trọng về sức khỏe thể chất, tinh thần và sự cam kết của/ với tổ chức
Bộ công cụ NGJSQ (NIOSH Generic Job Stress Questionnaire): Được
phát triển bởi Viện sức khỏe và An toàn nghề nghiệp quốc gia Hoa Kỳ (NIOSH) Bộ công cụ này có nhiều thang đo để đánh giá các yếu tố liên quan với môi trường làm việc và sức khỏe của nhân viên bưu điện, điều dưỡng và một số nghề nghiệp khác
Thang đánh giá stress, lo âu, trầm cảm của Lovibond (DASS):
Năm 1995 Lovibond S.H và Lovibond P.H tại khoa tâm lý học, đại học New South Wales (Australia) thiết kế nên thang lo âu, trầm cảm, stress (DASS 42), đến năm 1997 cũng nhóm này xây dựng nên thang do rút gọn của DASS 42 là DASS 21[16] DASS 21 đã được đã được xác nhận về tính giá trị
và độ tin cậy; nhiều tác giả trên thế giới sử dụng để đánh giá mức độ trầm cảm, lo âu, stress của cộng đồng cũng như của bệnh nhân đang điều trị trong các bệnh viện Thang DASS đánh giá ba rối loạn tâm thần phổ biến là stress,
lo âu, trầm cảm
DASS 21 gồm có 21 tiểu mục chia thành 3 nhóm (D: trầm cảm, A: lo âu, S: Stress), mỗi nhóm gồm 7 tiểu mục miêu tả 1 vấn đề sức khỏe cụ thể, trong đó:
- Stress bao gồm các câu hỏi có số thứ tự 1, 6, 8, 11, 12, 14, 18
Thang điểm DASS 21 Mỗi câu hỏi mô tả về triệu chứng thực thể hoặc tinh thần Điểm cho mỗi câu hỏi là từ 0 - 3 điểm tùy thuộc vào mức độ và thời gian xuất hiện triệu chứng Điểm của từng nhóm được tính bằng cách cộng điểm ở các câu hỏi trong từng nhóm sau đó nhân với 2
Bảng 1.1: Điểm nguy cơ trầm cảm, lo âu và căng thẳng được tính như sau
Trang 19Chúng ta có thể thấy trên đây là một số thang đo dùng trong đánh giá các rối loạn tâm thần ở các đối tượng nghiên cứu khác nhau Xuất phát từ mục tiêu muốn đánh giá tình trạng mắc stress của đối tượng là các nhân viên y tế tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh, cũng như cân nhắc điểm mạnh và hạn chế của các thang đo nhằm đánh giá các rối loạn tâm thần (stress, lo âu, trầm cảm) chúng tôi chọn thang đo DASS 21 làm thang đo trong nghiên cứu này
1.3 Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở nhân viên y tế qua các nghiên cứu
1.3.1 Thực trạng stress ở nhân viên y tế
1.3.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Vấn đề rối loạn tâm thần trong xã hội ngày nay đang có xu hướng gia tăng đặc biệt là các rối loạn tâm thần phổ biến như stress, lo âu, trầm cảm Do
đó có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này trên nhiều nhóm đối tượng khác nhau trong đó có nghiên cứu trên đối tượng là NVYT chiếm một tỷ lệ nhất định
Trang 20Các nghiên cứu cũng được các tác giả sử dụng các thang đo khác nhau như thang đo stress, lo âu, trầm cảm của Lovibond (DASS) hoặc thang đo stress nghề nghiệp (WSC) , hoặc là thang đo của chính đơn vị thực hiện xây dựng như nghiên cứu của Khaula Atif và cộng sự (2016) về lo âu và trầm cảm giữa các bác sĩ phục vụ trong bệnh viện Quân sự Hợp nhất, Lahore Tác giả
đã sử dụng thang đo trầm cảm lo âu của bênh viên đã được chuẩn hóa (HADS) [17] Kết quả cho thấy tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảm của các đối tượng ở mỗi nghiên cứu là khác nhau
Nghiên cứu của Refai Yassen Al Hussein và Ahmed Moshrif Al Mteiwty (2006) sử dụng thang đo DASS 21 để đánh giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm, của 250 điều dưỡng và 250 nhân viên khác của các khoa X-quang, Xét nghiệm, Dược và Vật lý trị liệu trong 7 bệnh viện của thành phố Mosul, I- rắc
đã chỉ ra tỷ lệ điều dưỡng bị stress, lo âu, trầm cảm lần lượt là 10%; 20,8%; 16%; trong khi nhóm còn lại có tỷ lệ là 6%; 7,6%; 7,6%
Nghiên cứu của Asad Zandi và các đồng nghiệp ở 272 ĐD làm việc trong môi trường quân đội tại Iran từ năm 2008 - 2009 cho kết quả stress là 23,8% Nghiên cứu của Sharifah Zainiyah (2011) sử dụng thang đo DASS 21
để đánh giá tình trạng stress và các yếu tố liên quan của 110 điều dưỡng tại một bệnh viện Kuala Lumpur, cho thấy tỷ lệ điều dưỡng bị stress là 23,6%, trong đó mức độ nhẹ là 13,6%, vừa là 5,5%, nặng là 0,9 % và rất nặng là 3,6% Một số NC khác cho thấy tỷ lệ stress của các điều dưỡng ở bệnh viện là tương đối cao có thể từ 35% - 41% [18]
1.3.1.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung của thế giới khi tỷ lệ bị các vấn đề về SKTT trong đó có các căng thẳng nghề nghiệp ngày càng gia tăng ở tất cả các đối tượng và độ tuổi nên các tác giả cũng đã bắt đầu tập trung NC đánh giá về tình trạng sức khỏe nghề nghiệp của các đối tượng khác nhau Các NC về các vấn đề sức khỏe nghề nghiệp của NVYT có thể kể đến:
Trang 21Nghiên cứu của các tác giả Lê Thành Tài, và cộng sự (2008) đánh giá tình trạng stress nghề nghiệp trên đối tượng là 378 nhân viên ĐD tại 3 bệnh viện đa khoa: Trung ương cần Thơ, thành phố cần Thơ và Châu Thành - Hậu Giang Ba bệnh viện này đại diện cho ba tuyến là tuyến Trung ương, tuyến Tỉnh- thành phố và tuyến Huyện Nghiên cứu sử dụng công cụ là bộ câu hỏi đánh giá stress nghề nghiệp của David Fontana (The Professional Life Stress Test) Kết quả cho thấy ĐTNC có tỷ lệ stress khá cao 45,2%, chủ yếu là mức
độ stress nhẹ và trung bình BVĐK trung ương cần Thơ có tỷ lệ stress cao nhất với 53,1%, tiếp đến là BVĐK thành phố cần Thơ với 33,9% và thấp nhất
là BVĐK Châu Thành - Hậu Giang với 32,5% Kết quả đã cho thấy có sự khác biệt về tỷ lệ stress giữa các điều dưỡng ở các bệnh viện thuộc ba tuyến với khuynh hướng tuyến trên tỷ lệ stress cao hơn tuyến dưới
Tác giả Trần Thị Thúy (2011) sử dụng bộ công cụ DASS 21 để đánh giá tình trạng stress của NVYT khối lâm sàng tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội cho thấy có tới 36,9% số cán bộ bị stress (có 4,5% là stress nặng và rất nặng) Một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê làm tăng trạng thái stress là: số buổi trực lớn hơn hoặc bằng 4 buổi; cảm nhận công việc ít hứng thú; thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại; cảm nhận thấy mối quan hệ của họ với
BN không tốt [15]
Nghiên cứu của Bạch Nguyên Ngọc (2015) về tình trạng stress của điều dưỡng khối lâm sàng tại BVĐK tỉnh Gia Lai cho thấy tỷ lệ bị stress là 25,2% trong đó stress ở mức độ nhẹ, vừa, nặng lần lượt là (10,4%; 8,8%; 6%) [6] Nghiên cứu của Trần Thị Thu Thủy và cộng sự (2016) tại BV Việt Đức Nhóm tác giả sử dụng bộ công cụ DASS 21 để đo lường mức độ căng thẳng nghề nghiệp của ĐD cho thấy tỷ lệ căng thẳng là 18,5% trong đó căng thẳng ở các mức độ nhẹ, vừa, nặng lần lượt là (9%; 7%; 2,5%) Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thu Thủy và cộng sự cũng chỉ ra rằng những điều dưỡng có mối quan hệ không tốt với đồng nghiệp thì xu hướng bị căng thẳng trong công
Trang 22việc cao gấp 2,9 lần so với những người có mối quan hệ tốt với đồng nghiệp [19]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 261 điều dưỡng lâm sàng của Nguyễn Thi Hương và cộng sư tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2020, sử dụng bộ câu hỏi JCQ cho thấy: tỷ lệ điều dưỡng mắc căng thẳng công việc là 13,02% Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ căng thẳng công việc của điều dưỡng lâm sàng bao gồm: những điều dưỡng có thu nhập dưới 5 triệu đồng một tháng thì có xu hướng gặp căng thẳng trong công việc cao gấp 2,56 lần (95% KTC: 1,03 – 6,25) so với những điều dưỡng có thu nhập trên 5 triệu đồng ( p
= 0,04) Điều dưỡng khối Nội có nguy cơ căng thẳng công việc cao hơn 6,7 lần (95%KTC: 1,22 – 36,6) so với điều dưỡng khối Ngoại và sự khác biệt này
là có ý nghĩa thống kê (p = 0,03)
Một số NC khác cho thấy tỷ lệ stress của NVYT là tương đối cao có thể
từ 18% - 34,7% [17], [18] Giống như các NC của các tác giả quốc tế, NC của các tác giả tại Việt nam cũng đã làm tốt việc xác định/ mô tả chi tiết tỷ lệ rối loạn tâm thần, cũng như stress nghề nghiệp của ĐTNC
1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến stress của nhân viên Y tế
1.3.2.1 Yếu tố cá nhân và gia đình
Tình trạng stress của NVYT chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như công việc, yếu tố cá nhân, gia đình và xã hội Các NC trong và ngoài nước đã chỉ ra tình trạng stress của NVYT có liên quan tới các đặc tính cá nhân và gia đình của đối tượng như:
Nghiên cứu của Khali S Al-Gelban (2009) sử dụng thang đo DASS 42
để đánh giá tình trạng trầm cảm, lo âu, stress của 304 BS ở vùng Aseer Saudi Arabia cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa stress và giới tính trong đó nữ giới bị lo âu và stress nhiều hơn nam giới Trong NC của Teris Cheung và Paul S.F Yip thì nữ giới, người đã ly dị/ góa bụa, ít vận động thể chất và khó ngủ có tỷ lệ trầm cảm cao hơn các đối tượng còn lại Tình trạng
Trang 23hôn nhân; sức khỏe; khó ngủ, và thiếu giải trí tương quan đáng kể với sự lo lắng Có mối liên quan giữa Stress và những ĐD trẻ tuổi, ít vận động thể chất, không có thời nghỉ ngơi và uống rượu
Các NC tại Việt nam cũng cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa yếu tố cá nhân, gia đình với tình trạng lo âu, stress của NVYT: Nghiên cứu của Mai Hòa Nhung (2011): giới tính, nghề nghiệp có liên quan đến tình trạng stress của NVYT khối lâm sàng tại BV giao thông vận tải Phải chăm sóc con nhỏ dưới 5 tuổi cũng là yếu tố gây nên căng thẳng trong NVYT Theo tác giả Dương Thành Hiệp thì những ĐD đang chăm sóc con nhỏ dưới 5 tuổi
có nguy cơ mắc stress cao gấp 1,8 lần (CI 95%: 1,05- 3,27, p = 0,021) so với các ĐD đang không phải chăm sóc con nhỏ dưới 5 tuổi
1.3.2.2 Những yếu tố công việc
- Yếu tố nội dung công việc: Do đặc thù của ngành nên NVYT sẽ phải
trực đêm hoặc làm ca đêm theo yêu cầu của công việc Làm việc ca đêm hay trực đêm có thể gây nên tình trạng căng thẳng, mệt mỏi và buồn ngủ ở NVYT dẫn đến những sai sót, tai nạn trong chuyên môn ảnh hưởng tới sự an toàn của người bệnh, NVYT và những người xung quanh Cảm nhận của NVYT về công việc cũng có thể ảnh hưởng tới SKTT của NVYT Trong NC của Trần Thị Thúy khi phân tích hồi quy đa biến cho thấy một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê làm tăng trạng thái stress là: Số buổi trực ≥ 4 buổi (OR = 6,8); cảm nhận công việc ít hứng thú (OR = 4,2) [11] Còn trong NC của Mai Hòa Nhung yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến stress là tuổi (OR = 6,6), thâm niên công tác (OR = 3,1), số buổi trực (OR = 3), mức độ ổn định công việc (OR = 3,2) Tại BV thành phố Vinh nhóm cán bộ không thấy hứng thú với công việc hoặc chỉ tương đối hứng thú sẽ có nguy cơ bị stress cao gấp 11,2 lần so với nhóm cán bộ hứng thú với công việc Theo tác giả Lê Thành Tài, và cộng sự các yếu tố có thể gây stress cho nhân viên ĐD bao gồm thâm niên công tác, làm việc quá nhiều giờ (> 8h/ngày), công việc nhiều áp lực,
Trang 24không hứng thú [9] Đỗ Nguyễn Nhật Trần chỉ ra có mối liên quan giữa stress
và các yếu tố tính chất công việc, mức độ hài lòng với công việc, áp lực hạn cuối phải hoàn thành công việc [14]
- Môi trường làm việc: Các NC chỉ ra rằng các yếu tố thuộc môi trường
làm việc như máy móc, trang thiết bị, cơ sở vật chất, tác nhân độc hại, nguy
cơ lây nhiễm bệnh cũng có thể gây nên tình trạng stress ở NVYT Nghiên cứu của Trần Thị Thúy cho thấy nhóm thường xuyên phải tiếp xúc với hóa chất độc hại có nguy cơ bị stress cao gấp 3,9 lần những nhóm còn lại Theo tác giả Trần Thị Thanh Tuyền thì không khí, độ ẩm, người đông đúc và chất lượng của môi trường làm việc có liên quan đến tình trạng stress của NVYT Trong khi đó Bạch Nguyên Ngọc chỉ ra nhiệt độ phòng làm việc liên quan tới tình trạng stress của ĐD [6]
- Các mối quan hệ trong công việc: như quan hệ với cấp trên, đồng
nghiệp; sự quan tâm của cấp trên hay đồng nghiệp, mối quan hệ với BN… đều có thể ảnh hưởng tới tình trạng stress của NVYT Nghiên cứu tại Đài Loan thì những ĐD có mối quan hệ không tốt với đồng nghiệp sẽ có tỷ lệ trầm cảm cao hơn đối tượng còn lại Tại Việt nam thì mối quan hệ với cấp trên, đồng nghiệp, sự quan tâm từ cấp trên mối quan hệ với BN cũng ảnh hưởng tới tình trạng trầm cảm, lo âu, stress của NVYT
- Yếu tố động viên khuyến khích và cơ hội phát triển nghề nghiệp:
Chế độ lương thưởng, chính sách đãi ngộ, cơ hội được học tập, thăng tiến trong nghề nghiệp, Mọi người lao động, trong đó có ĐDV đều mong muốn được học hỏi nâng cao trình độ, có cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, được đãi ngộ một cách xứng đáng hay sự ghi nhận công lao của lãnh đạo…
1.4 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh là bệnh viện tuyến huyện hạng II có
hệ thống khám chữa bệnh không ngừng phát triển và hoàn thiện, trung bình tiếp nhận mỗi ngày từ 2.000 đến 2.500 lượt bệnh nhân ngoại trú, 700 bệnh
Trang 25nhân nội trú Tổng số cán bộ nhân viên, người lao động: 732 người, 183 bác
sĩ, 40 dược sĩ, 318 điều dưỡng, nữ hộ sinh, KTV còn lại là các thành phần khác
Những năm gần đây hệ thống chăm sóc sức khỏe của BV luôn được cải thiện và nâng lên về mọi mặt Ban giám đốc BV đặc biệt quan tâm áp dụng các kỹ thuật mới, chuyên sâu trong chăm sóc phục vụ người bệnh, từng bước nâng cao hơn nữa chất lượng khám, điều trị và chăm sóc sức khỏe nhân dân với mục tiêu “Tất cả vì sự hài lòng người bệnh Bên cạnh đó tại BV chưa có công trình nghiên cứu nào về stress nghề nghiệp của NVYT Chính vì thế chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu này
Trang 26Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tương nghiên cứu
Nhân viên y tế làm việc tại các khoa lâm sàng bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh năm 2021
Tiêu chuẩn lựa chọn:
Đối tượng nghiên cứu NVYT làm việc tại các khoa lâm sàng bệnh viện
Đa khoa Thành phố Vinh
Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu
Đối tượng có mặt tại thời điểm nghiên cứu và có thời gian công tác từ 6 tháng trở lên theo danh sách phòng tổ chức cung cấp
Tiêu chuẩn loại trừ:
NVYT không đồng ý tham gia nghiên cứu
NVYT vắng mặt tại thời điểm tiến hành nghiên cứu
Làm việc tại BV ĐKTP Vinh dưới 6 tháng tính đến thời điểm nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện ĐKTP Vinh
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2021
2.3 Thiết kế nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích 2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho 1 tỷ lệ:
2
2 2 /
d
p p
Z
Trong đó:
+ Z1-α/2: hệ số giới hạn tin cậy (với α = 0,05, Z1-α/2 = 1,96)
+ n: cỡ mẫu nghiên cứu
+ d: sai số mong muốn, chọn d = 0,05
Trang 27+ p: giá trị p tương ứng với các tỷ lệ stress của nhân viên y tế trong nghiên cứu của Lương Quốc Hùng và cộng sự năm 2018 là 0,24
Áp dụng công thức trên, chúng tôi tính được cỡ mẫu là 281 nhân viên
Y tế Trên thực tế, khi tiến hành nghiên cứu, chúng tôi đã khảo sát trên
2.5 Các biến số nghiên cứu
Biến số phụ thuộc: Là tình trạng stress của điều dưỡng Biến này được đo lường bởi thang đo DASS 21 (phụ lục 1) [37]
Trang 28Bảng 2.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu
loại biến
Phương pháp thu thập Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
A Nhóm thông tin cá nhân
1
Tuổi Số lượng/Tỷ lệ tuổi (dương lịch)
của ĐTNC tại thời điểm nghiên cứu, theo nhóm tuổi
Biến phân loại
Phỏng vấn
4
Trình độ học
vấn
Số lượng/ Tỷ lệ bằng cấp cao nhất của ĐTNC tại thời điểm nghiên cứu
Biến định danh
Phỏng vấn
7
Thời gian
làm việc tại
khoa hiện tại
Số lượng/Tỷ lệ năm công tác của ĐTNC tính đến thời điểm nghiên cứu
Biến rời rạc
Phỏng vấn
8
Hút thuốc lá Số lượng/Tỷ lệ người có hút
thuốc lá 1 lần trong 30 ngày tính đến ngày điều tra
Nhị phân Phỏng
vấn
9 Hút thuốc lá Số lượng/Tỷ lệ người hút thuốc lá Nhị phân Phỏng
Trang 29hàng ngày ít nhất 1 lần/ ngày trong tất cả 30
ngày vừa qua tính từ thời điểm điều tra
là ≥ 01 lon bia = 330ml hoặc ≥ 01
ly = 40ml rượu mỗi lần uống)
để làm giảm mức độ căng thẳng của bản thân
Thứ bậc Phỏng
vấn
Trang 30B Nhóm thông tin gia đình
1 Số con Số lượng/Tỷ lệ con của ĐTNC tính
đến thời điểm nghiên cứu
Biến rời rạc
Phỏng vấn
Thứ bậc Phỏng
vấn
Trang 31Thứ bậc Phỏng
vấn
Trang 3217 Tiếng ồn Số lượng/Tỷ lệ đánh giá mức độ
tiếng ồn nơi làm việc
Trang 33Thứ bậc Phỏng
vấn
Trang 34C4 Động viên khuyến khích và phát triển nghề nghiệp
Thứ bậc Phỏng
vấn
2.6 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin
2.6.1 Công cụ thu thập thông tin
Từ những biến số đã nêu và tham khảo các nghiên cứu về tình trạng stress [5], [9], [13], [40], [41], bộ công cụ NGJSQ của Viện nghiên cứu sức khỏe và An toàn nghề nghiệp quốc gia Hoa Kỳ (NIOSH) [27], bộ công cụ được sử dụng để đánh giá nguy cơ stress nghề nghiệp [17], thang đo DASS 21 nhóm nghiên cứu tiến hành xây dựng bộ câu hỏi gồm 4 phần:
Trang 35 Phần A: Thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu: đặc điểm nhân khẩu
học, thâm niên công tác, khoa phòng… bao gồm 14 câu hỏi
Phần B: Thông tin về gia đình của đối tượng nghiên cứu: chăm sóc con
nhỏ, người già, … bao gồm 6 câu hỏi
Phần C: Các yếu tố môi trường làm việc:
Nội dung công việc: vị trí làm việc, phân công công việc, tham gia
quản lý… bao gồm 15 câu hỏi
Môi trường làm việc: cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, bảo hộ lao
động… gồm 9 câu hỏi
Mối quan hệ trong công việc: mối quan hệ với cấp trên, đồng nghiệp,
bệnh nhân, sự giúp đỡ của cấp trên, đồng nghiệp… gồm 6 câu hỏi
Sự động viên khuyến khích và phát triển nghề nghiệp: sự ghi nhập của
cấp trên, đồng nghiệp, cơ hội học tập, thăng tiến trong công việc… gồm 7 câu hỏi
Phần D: Bộ công cụ DASS 21 đánh giá mức độ trầm cảm – lo âu – stress
nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu
Thử nghiệm bộ câu hỏi: sau khi hoàn thiện bộ câu hỏi, chúng tôi tiến
hành thử nghiệm với 10 NVYT ở BV Sau đó tập hợp các ý kiến phản hồi, tiến hành chỉnh sửa một số nội dung và từ ngữ cho phù hợp với ĐTNC trước khi tiến hành khảo sát chính thức
2.6.2 Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập số liệu định lượng qua phỏng vấn bằng bộ câu hỏi tự điền Quy trình thu thập thông tin được triển khai qua các bước sau đây:
Bước 1: Nhóm nghiên cứu làm việc với lãnh đạo các khoa/ phòng về
kế hoạch và thời gian thu thập số liệu của từng khoa/ phòng
Bước 2: Triển khai thu thập số liệu: Sau thời gian giao ban của các khoa/ phòng các NVYT tham gia nghiên cứu được tập hợp tại phòng giao ban
Trang 36 Đối tượng nghiên cứu được giới thiệu về mục đích nghiên cứu
Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu được phát phiếu điều tra và được hướng dẫn cách điền phiếu Trong quá trình thu thập thông tin, các điều tra viên thực hiện giám sát để ĐTNC không trao đổi câu trả lời với nhau làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu
Khi ĐTNC đã trả lời xong các điều tra viên kiểm tra lại thông tin và cảm ơn đối tượng nghiên cứu
2.7 Xử lý và phân tích số liệu
− Số liệu sau khi thu thập được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm
Epidata 3.1, phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 để cho các thông tin mô tả
và phân tích thống kê
− Đánh giá mức độ stress của các nhân viên ĐD bằng cách cộng điểm
các câu hỏi trong bộ công cụ DASS 21 theo từng nhóm sau đó nhân với hệ số
2 cụ thể: Stress bao gồm các câu hỏi có số thứ tự 1, 6, 8, 11, 12, 14, 18 Số
điểm thu được sẽ đối chiếu với bảng kết quả (Bảng 1.1) để biết stress ở mức
độ nào
2.8 Sai số và cách khắc phục
Sai số gặp trong nghiên cứu: Sai số trong bộ câu hỏi; Sai số do phỏng
vấn viên; Sai số nhớ lại
Để hạn chế những sai số: Thử nghiệm bộ câu hỏi trước khi tiến hành
nghiên cứu để chuẩn hóa các nội dung; Tập huấn kỹ bộ câu hỏi cho điều tra viên, kỹ năng phỏng vấn; Hỏi kỹ và dành thời gian cho đối tượng phỏng vấn nhớ lại
2.9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ tiến hành khi có sự đồng ý tham gia của ĐTNC Trước khi tiến hành nghiên cứu, ĐTNC được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu
Nghiên cứu không gây ảnh hưởng tiêu cực gì cho ĐTNC, mọi thông tin
Trang 37cá nhân của ĐTNC được giữ kín Các số liệu thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác
Đề cương nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý của Ban giám đốc và Hội đồng khoa học Bệnh viện ĐKTP Vinh
Kết quả nghiên cứu là cơ sở để khuyến nghị cải thiện môi trường làm việc, tăng cường năng lực ứng phó của NVYT với các tác nhân stress, từ đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý nhân lực Điều này rất có ý nghĩa và giá trị đối với hoạt động chăm sóc sức khỏe, khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Một số thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi với giới (n= 285)
Nhận xét: Trong số 285 đối tượng nghiên cứu, giới tính nữ nhiều hơn là
nam giới, tỷ lệ nữ/nam là 2,85/1 Độ tuổi < 30 tuổi chiếm đa số trong nghiên cứu với tỷ lệ 53,7% Độ tuổi thấp nhấp là nhóm trên 50 tuổi, chỉ chiếm 1,1%
Bảng 3.2 Tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu (n= 285)
Tình trạng hôn nhân Số lượng Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Đa số đối tượng tham gia nghiên cứu đều đã kết hơn (chiếm tỷ
lệ 73,7%), chưa kết hôn chiếm 24,9% và đã ly dị, góa là thấp nhất chỉ chiếm 1,4%
Trang 39Bảng 3.3 Trình độ học vấn, vị trí công tác, thâm niên công tác của
Thâm niên công tác
<5 năm (chiếm 62,8%), từ 5-10 năm và trên 10 năm chiếm tỷ lệ lần lượt là 19,3% và 17,9%
Trang 40Bảng 3.4 Thói quen sinh hoạt của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.5 Đặc điểm tình trạng gia đình của đối tượng nghiên cứu (n =285)