Các yếu tố nghề nghiệp chính liên quan đến ĐTL ở nhân viên điều dưỡng thường là các yếu tố về tư thế lao động, tổ chức lao động và tâm sinh lý xã hội trong công việc, cụ thể như: số giờ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
HOÀNG THỊ LIÊN
ĐAU THẮT LƯNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NHÂN VIÊN ĐIỀU DƯỠNG CỦA
BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
HOÀNG THỊ LIÊN
ĐAU THẮT LƯNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NHÂN VIÊN ĐIỀU DƯỠNG CỦA
BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2017
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới: TS Lương Mai Anh – Phó Cục trưởng Cục Quản lý Môi trường y tế và TS Nguyễn Ngọc Bích – Khoa Sức khỏe Môi trường nghề nghiệp, trường Đại học Y tế công cộng đã tận tâm hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm nghiên cứu khoa học và hết lòng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện, hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn: Ban lãnh đạo và chuyên viên ThS.Nguyễn Thị Thu Huyền - Cục Quản lý Môi trường y tế; Ban Giám đốc và ThS.Nguyễn Trọng Sơn - Trưởng phòng Công tác xã hội, KS Nguyễn Khánh Duy - Chuyên viên Phòng tổ chức cán bộ Bệnh viện Việt Đức đã tham gia hỗ trợ đóng góp ý kiến động viên giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô giáo trong Hội đồng bảo vệ đề cương; Hội đồng phản biện luận văn kín, Hội đồng bảo vệ luận văn, có những ý kiến góp ý hết sức quý báu để tôi có thể hoàn thiện luận văn tốt nghiệp
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình, học viên trong lớp, bạn bè đồng nghiệp đã cùng tôi chia sẻ những khó khăn và giành cho tôi những
sự quan tâm, tình cảm trong suốt quá trình học tập và hoàn thành nghiên cứu này Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Định nghĩa, nguyên nhân, một số khái niệm, ảnh hưởng của ĐTL 4
1.2 Tình hình ĐTL ở điều dưỡng tại Việt Nam, trên thế giới và tổng hợp yếu tố nguy cơ, công cụ đánh giá từ các nghiên cứu 13
1.3 Tóm tắt thông tin về địa bàn nghiên cứu 24
1.4 Khung lý thuyết 26
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 28
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu: 28
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: 28
2.5 Phương pháp, công cụ và tổ chức thu thập số liệu 29
2.6 Cách đánh giá, tiêu chuẩn đánh giá 32
2.7 Phương pháp phân tích số liệu 36
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 37
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 38
3.1 Thông tin chung về mẫu nghiên cứu: 38
3.2 Thực trạng, ảnh hưởng của ĐTL đối với điều dưỡng bệnh viện Việt Đức 42
3.3 Những yếu tố liên quan đến ĐTL ở điều dưỡng bệnh viện Việt Đức 47
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 66
KẾT LUẬN 85
KHUYẾN NGHỊ 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 5Phụ lục 1: Phiếu điều tra sức khỏe tự điền 95
Phụ lục 2: Tổng quan bộ công cụ đánh giá ĐTL 110
Phụ lục 3: Các biến số nghiên cứu 116
Phụ lục 4: Cách đánh giá các yếu tố tâm lý xã hội 132
Phụ lục 5: Dự trù kinh phí, vật tƣ, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu 136
Phụ lục 6: Kế hoạch nghiên cứu 137
Trang 6ODI Bộ chỉ số khuyết tật Oswetry
RDQ Bộ câu hỏi đánh giá khuyết tật Roland-Morris
RDQ-12 Bộ câu hỏi đánh giá khuyết tật Roland-Morris phiên bản 12 câu
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Cách đánh giá mức độ ĐTL trong 7 ngày gần đây 33Bảng 2.2 Cách đánh giá về kiến thức và thực hành phòng ĐTL 35Bảng 3.1: Thông tin nhân khẩu học của điều dưỡng bệnh viện Việt Đức 38Bảng 3.2: Thông tin chung về nghề nghiệp của điều dưỡng bệnh viện Việt Đức… 39Bảng 3.3 Thông tin chung tình trạng bệnh lý, chấn thương, dùng thuốc của điều dưỡng bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 41Bảng 3.4: Tổng thời gian ĐTL và mức độ ĐTL của điều dưỡng Hữu nghị Việt Đức trong 12 tháng qua 44Bảng 3.5: Tỉ lệ ĐTL và mức độ khiếm khuyết cơ thể do ĐTL ở điều dưỡng bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong 7 ngày gần đây 45Bảng 3.6: Những ảnh hưởng sức khỏe, hoạt động và công việc do ĐTL ở điều dưỡng bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 46Bảng 3.7 Những yếu tố nhân khẩu học liên quan đến ĐTL ở điều dưỡng bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 48Bảng 3.8 Những yếu tố nghề nghiệp chung liên quan đến ĐTL ở điều dưỡng bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 50Bảng 3.9 Yếu tố kiến thức và thực hành phòng chống ĐTL liên quan đến ĐTL ở điều dưỡng bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 52Bảng 3.10 Những yếu tố hành vi lối sống liên quan đến ĐTL ở điều dưỡng bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 53Bảng 3.11 Thời gian thực hiện tư thế lao động liên quan ĐTL ở điều dưỡng bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 55Bảng 3.12 Tần suất thực hiện tư thế lao động liên quan ĐTL ở điều dưỡng bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 58Bảng 3.13 Yếu tố về tổ chức công việc liên quan ĐTL ở điều dưỡng bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 60Bảng 3.14 Yếu tố về khối lượng công việc liên quan ĐTL ở điều dưỡng bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 62
Trang 8Bảng 3.15 Các yếu tố về tâm sinh lý xã hội công việc liên quan đến ĐTL ở điều dƣỡng 63Bảng 3.16 Các yếu tố về dịch vụ sức khỏe nghề nghiệp liên quan đến ĐTL ở điều dƣỡng 65 Biểu đồ 1: Tỉ lệ điều dƣỡng bệnh viện Việt Đức ĐTL trong 12 tháng qua tại bệnh viện Việt Đức 42 Biểu đồ 2 Tần suất xuất hiện ĐTL ở điều dƣỡng bệnh viện Việt Đức trong 12 tháng qua……… 43 Biểu đồ 3 Thời gian điều dƣỡng bệnh viện Việt Đức ĐTL trong mỗi đợt 43
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Điều dưỡng là ngành nghề có tỉ lệ rối loạn cơ xương cao nhất và rối loạn cơ xương phổ biến nhất ở điều dưỡng là tình trạng đau thắt lưng (ĐTL) Đặc biệt, kết quả của một số nghiên cứu cho thấy điều dưỡng làm việc tại các khoa phẫu thuật có nguy cơ ĐTL hơn so với các khoa phòng khác
Nghiên cứu này thực hiện nhằm mô tả thực trạng ĐTL ở nhân viên điều dưỡng của bệnh viện Việt Đức năm 2016 và tìm hiểu một số yếu tố liên quan Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích, từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2016, 518 điều dưỡng đã hoàn thành phiếu đầy đủ hợp lệ, thông tin được thu thập qua bộ câu hỏi tự điền, xử lý bằng phần mềm Epidata 3.1 và SPSS16.0 Kết quả cho thấy tỷ lệ ĐTL ở điều dưỡng trong 12 tháng qua là 75,7% Tỉ lệ ĐTL trong 12 tháng qua khi đã loại trừ các nguyên nhân về sinh lý/bệnh lý/chấn thương/dùng thuốc là 74,4% Tần số xuất hiện đau phổ biến là từ 2-5 đợt (31,5%), tiếp đến là tần số xuất hiện đau > 5 đợt trong 12 tháng qua là chiếm tỉ lệ 18,1% Thời gian đau trong mỗi đợt phần lớn là dưới 7 ngày (65,6 ), chỉ có 1,9 điều dưỡng có thời gian đau k o dài trên 12 tuần trong mỗi đợt Mức độ đau mỏi điều dưỡng cảm thấy trong 12 tháng qua phần lớn là mức độ đau nh (48,8 ) và đau vừa (24,9%) Tỉ
lệ ĐTL ở điều dưỡng trong 7 ngày qua là 32,4 , mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe do ĐTL của điều dưỡng phần lớn mức khiếm khuyết nh với điểm trung bình là 3,8/12 điểm theo thang điểm Roland-Morris
Tập thể dục, thời gian làm việc gồm giờ hành chính và trực đêm, tần suất trực đêm, số lượng bệnh nhân, hoạt động nâng nhấc bệnh nhân, hoạt động bê vác dụng cụ công cụ, bê vật nặng thường xuyên, tư thế cúi, vận chuyển bệnh nhân bằng cáng, di chuyển bệnh nhân giữa giường và ghế, di chuyển bệnh nhân bằng tay xung quanh giường, lo sợ mất việc làm, hỗ trợ của đồng nghiệp, sự công nhận trong công việc, căng thẳng và thực hành phòng chống ĐTL có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với ĐTL ở điều dưỡng
Trang 10Khuyến nghị: Cần sắp xếp thời gian hợp lý để có những khoảng nghỉ trong một ca làm việc; tăng thêm số lượng điều dưỡng bằng cách tuyển thêm hoặc điều động bổ sung nhóm điều dưỡng đang thực hiện công việc hành chính, nhằm giảm số lượng bệnh nhân trung bình mỗi điều dưỡng phải phục vụ trong ca làm việc; nên mua sắm trang thiết bị máy móc sử dụng trong hoạt động nâng nhấc di chuyển bệnh nhân; tăng cường công tác tập huấn thực hành tư thế đúng trong lao động; đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao ngoài giờ hành chính; cần có biện pháp và cơ chế để phòng ngừa giảm stress, tăng tính hỗ trợ và công nhận kết quả đạt được trong công việc
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế thế giới đau thắt lưng (ĐTL) là nguyên nhân chính gây ra
sự vắng mặt trong công việc và thiệt hại kinh tế cao [73] Năm 2010, nghiên cứu về Bệnh tật toàn cầu đã công bố: ĐTL một trong vấn đề sức khỏe có gánh nặng hàng đầu, với mức trung bình số năm sống điều chỉnh khuyết tật cao hơn so với bệnh HIV, thương tích đường bộ, bệnh lao, ung thư phổi [75]
Trong ngành Y tế, điều dưỡng là một trong những nghề nghiệp có tỉ lệ ĐTL cao nhất Theo kết quả nghiên cứu của Faber A năm 2010, ĐTL đóng góp đáng kể
cho sự thiếu hụt điều dưỡng trong ngành y tế [14]
Các yếu tố nghề nghiệp chính liên quan đến ĐTL ở nhân viên điều dưỡng thường là các yếu tố về tư thế lao động, tổ chức lao động và tâm sinh lý xã hội trong công việc, cụ thể như: số giờ làm việc trong ngày, nâng nhấc vận chuyển bệnh nhân, di chuyển bệnh nhân trên giường mà không có sự trợ giúp, thực hiện bằng tay
để chuyển bệnh nhân giữa giường và ghế, tư thế đứng lâu > 50% thời gian làm việc, căng thẳng công việc [4] [63] [68] [69] Ngoài ra, ĐTL còn có một số yếu tố nguy
cơ khác như làm việc tại khoa phẫu thuật, không tập thể dục, thiếu cân, thừa cân [22] [69] … đã được tìm thấy qua các nghiên cứu
Tỉ lệ bị ĐTL trong 12 tháng qua của các điều dưỡng trong bệnh viện các nước trên thế giới như Thụy Sỹ, Nigeria, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, Thái Lan, Ả rập, Sudan giao động trong khoảng 61,5%-87,5% Tại Việt Nam, đã có một nghiên cứu năm
2010 của Nguyễn Bích Diệp chỉ ra rằng tỉ lệ ĐTL ở điều dưỡng trong hệ điều trị là 72,8% [4], ở mức khá cao so với thế giới
Trong thời gian dài nhân viên y tế Việt Nam chưa được hưởng đầy đủ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe lao động vì chúng ta ít coi nhân viên y tế như những
“người lao động” hay “công nhân” để xây dựng chương trình phòng tránh phù hợp [4] Do vậy, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu chuyên biệt về ĐTL ở nhân viên điều dưỡng, mặc dù với nhiều ngành nghề khác vấn đề nghiên cứu này không còn mới
Trong hơn 1.200 cơ sở y tế khám chữa bệnh của Việt Nam, bệnh viện Hữu nghị Việt Đức là bệnh viện đầu ngành trong lĩnh vực chuyên môn về ngoại khoa đặc
Trang 12biệt là phẫu thuật, một trong những yếu tố liên quan với ĐTL đã được đề cập ở trên Theo kết quả đánh giá nhanh ngày 05/10/2015 của Cục Quản lý Môi trường Y tế phối hợp với Đại học Y tế công cộng Saw Swee Hock, vấn đề sức khỏe liên quan đến khối lượng công việc, tư thế lao động và tâm sinh lý lao động ở nhóm điều dưỡng là một trong những vấn đề được các chuyên gia về sức khỏe nghề nghiệp của đoàn đánh giá quan tâm, thảo luận [66] Một câu hỏi đặt ra là phải chăng nhân viên điều dưỡng của bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đang có nguy cơ cao bị ĐTL?
Từ những lý do trên nghiên cứu “Đau thắt lưng và một số yếu tố liên quan ở nhân viên điều dưỡng của bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2016." được tiến hành
nhằm tìm hiểu tình hình đau thắt lưng ở nhân viên điều dưỡng bệnh viện Việt Đức
và các yếu tố liên quan để đề xuất các giải pháp cải thiện và phòng ngừa ĐTL cho
nhân viên điều dưỡng tại bệnh viện
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng đau thắt lƣng ở nhân viên điều dƣỡng của bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2016
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến đau thắt lƣng ở nhân viên điều dƣỡng của bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2016
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Định nghĩa, nguyên nhân, một số khái niệm, ảnh hưởng của đau thắt lưng
1.1.1 Định nghĩa về đau thắt lưng
Đau thắt lưng là một triệu chứng phổ biến của rối loạn cơ xương, bao gồm các triệu chứng đau kèm theo căng cơ hoặc cứng khớp tại vùng được giới hạn bởi dưới m p sườn và trên nếp cơ mông có thể có hoặc không kèm đau thần kinh tọa [29] Theo Tổ chức Y tế thế giới, ĐTL là tổn thương không chấn thương cơ xương khớp khu vực thắt lưng [13]
Theo Ủy ban nghiên cứu ĐTL quốc tế phân loại đau thắt lưng theo thời gian
và mức độ đau như sau [1] [29]:
Phân loại theo thời gian ĐTL:
- ĐTL cấp: kéo dài trong 7 ngày
- ĐTL bán cấp: Từ 7 ngày đến 12 tuần
- ĐTL mạn tính: Kéo dài trên 12 tuần
Phân loại mức độ đau thắt lưng:
- Mức 1 (đau nh ): Cảm giác đau mỏi, chịu đựng được, chưa ảnh hưởng sinh hoạt cá nhân
- Mức 2 (đau vừa): Đau mỏi, nhức, cảm giác khó chịu, đi lại sinh hoạt bị hạn chế, chưa cần đến người khác giúp
- Mức 3 (rất đau): Đau nhức khó chịu, đi lại sinh hoạt bị hạn chế rõ, cần người giúp đỡ
- Mức 4 (đau bất động): Đau không dám thay đổi tư thế
- Mức 5 (đau dữ dội): Nằm yên vẫn đau nhức, cảm giác không chịu nổi phải kêu rên
1.1.2 Nguyên nhân gây đau thắt lưng
Tổng quan các tài liệu Y văn tính đến thời điểm hiện tại có thể thống kê các nguyên nhân gây ĐTL cụ thể như sau:
Trang 15a) Nguyên nhân do yếu tố sinh lý/bệnh lý
Thai kỳ: thường gây đau thắt lưng do những tác động cơ học lên cột sống
thắt lưng (thay đổi độ cong bình thường của cột sống thắt lưng) và vị trí của thai nhi trong bụng Thêm vào đó, các tác động của hormon estrogen nữ, góp phần làm giãn các dây chằng và các cấu trúc vùng lưng [3] [2]
Thoái hóa tại cột sống hoặc đĩa đệm:
Thoái hoá sinh học diễn ra sớm ở các đĩa đệm, đốt sống thắt lưng, quá trình thoái hoá đĩa đệm tăng dần theo tuổi và diễn ra liên tục trong suốt đời người, có những giai đoạn không có biểu hiện lâm sàng [8] [2]
Khi có nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến cột sống và đĩa đệm như những lực xén cắt mạnh đột ngột của chấn thương hoặc lực xoắn vặn… dẫn đến thoái hoá có thể tiến triển nhanh hơn trở thành những yếu tố bệnh lý [9]
- Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn bán cấp tính
- Hội chứng Reiter hoặc viêm khớp phản ứng
Trang 16- Bệnh zona (Herpes zoster) ở vùng lưng hoặc bụng
- Viêm thận, sỏi thận, tụ máu thận
- Viêm bao gân, cân cơ, viêm xơ lan toả
- Bệnh thần kinh cơ
- Phình động mạch chủ bụng
- Viêm tụy cấp
- Bệnh dạ dày/ đại tràng
- Các bệnh của tử cung & buồng trứng
- Phẫu thuật cắt tử cung/buồng trứng
- Xuất huyết hoặc nhiễm khuẩn vùng chậu
b) Nguyên nhân do chấn thương
Chấn thương thường xuất hiện sau khi có những lực cơ học tác động đột ngột
dữ dội ở cột sống thắt lưng làm mất khả năng vận động, lan xuống mặt sau đùi và cẳng chân theo vùng phân bố cảm giác của các rễ thần kinh Bệnh nhân thường nghiêng về phía bên không bị tổn thương, hạn chế cử động như đi bộ, ngồi xổm, cúi, nghiêng, đau tăng khi thay đổi tư thế, khi ho, hắt hơi hoặc rặn khi đại tiện [2]
c) Nguyên nhân do dùng thuốc
Tác dụng chính và tác dụng phụ của một số thuốc như warfarin, … có khả
năng gây ĐTL trong một số trường hợp [3] [8] [26]
d) Nguyên nhân do hành vi lối sống
Nguyên nhân liên quan đến hành vi lối sống bao gồm: hút thuốc, rượu bia, không tập thể dục thể thao, béo phì, gầy còm, đi giầy cao gót làm cho khung chậu phải ngả ra trước và cột sống thắt lưng phải ở tư thế ưỡn gây ĐTL [3] [26] [2]
e) Nguyên nhân do nghề nghiệp
Nguyên nhân liên quan môi trường lao động nơi làm việc gồm quá tải công việc, tư thế bất lợi và yếu tố tâm lý xã hội trong công việc gây ra ĐTL Nếu cột sống phải chịu áp lực trọng tải quá mức do những tư thế bất lợi và thời gian thực hiện tư thế sẽ gây ĐTL gồm: Ngồi lâu, đi đứng ở tư thế cúi, khom mình hay nâng, mang vác vật nặng, đi bộ đường dài, đứng lâu, đi xuống dốc, đi xuống núi, thường xuyên làm việc ở tư thế ngả lưng ra sau hay với tay cao quá đầu, phải nâng nhấc tải
Trang 17trọng lớn Khi công việc quá tải do khối lượng công việc nhiều, áp lực công việc lớn, kiệt sức sau nhiều giờ làm việc liên tục trong ngày gây ĐTL [3] [2] Các yếu tố tâm lý xã hội trong công việc như căng thẳng, thiếu sự hỗ trợ, ít khả năng quyết định, thiếu sự công nhận, mối quan hệ không tốt với cấp trên, lo sợ mất việc khiến
hệ thần kinh giao cảm hoạt động quá mức hoặc kéo dài, các sợi trục cơ trở lên co cứng, khối cơ thắt lưng nổi cục gây ĐTL [3] [6] [26]
1.1.3 Điều dưỡng và Đau thắt lưng nghề nghiệp ở điều dưỡng
a) Định nghĩa điều dưỡng và quy định về công tác điều dưỡng
Điều dưỡng viên là người phụ trách công tác điều dưỡng, chăm sóc sức khỏe,
kiểm tra tình trạng bệnh nhân, kê toa thuốc và các công việc khác để phục vụ cho quá trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đến phục hồi, trị liệu cho bệnh nhân [5] Công tác điều dưỡng tại Việt Nam thực hiện theo quy định tại Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn công tác điều dưỡng chăm sóc người bệnh trong bệnh viện gồm các nhiệm vụ chính gồm: Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe; Chăm sóc về tinh thần; Chăm sóc vệ sinh cá nhân; Chăm sóc dinh dưỡng; Chăm sóc phục hồi chức năng; Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật; Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh; Chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối và người bệnh tử vong; Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng; Theo dõi, đánh giá người bệnh; Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh; Ghi chép hồ sơ bệnh án Chức trách và ngạch viên chức y tế điều dưỡng được quy định tại quyết định số: 26/2015/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ ngày ngày 07 tháng 10 năm 2015 về việc ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức y tế điều dưỡng
b) Đau thắt lưng nghề nghiệp ở điều dưỡng
ĐTL do nghề nghiệp không phải là một vấn đề mới, đã được Bernardino
Ramzzini phát hiện là vấn đề của y học lao động từ những năm cuối thế kỷ 16 [6] Khi xem xét các nguyên nhân dẫn đến ĐTL nghề nghiệp, các nhà nghiên cứu giai đoạn đầu đã chú ý đến các nguyên nhân từ đĩa đệm được cho là những nguyên nhân chính gây lên ĐTL khi nhận thấy có 85 các trường hợp có thoái hóa đĩa đệm
Trang 18(THĐĐ) trong số những trường hợp có ĐTL Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, THĐĐ cũng thường hay gặp ở những người không ĐTL và là một sản phẩm của quá trình lão hóa Các nhà nghiên cứu sau đó đã quan tâm nhiều hơn đến thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) khi phát hiện THĐĐ đĩa đệm xảy ra trước khi thoát vị, trước các biến đổi lâm sàng khác và không phải tất cả các trường hợp TVĐĐ đều xảy ra sau một chấn thương Nhiều trường hợp chấn thương cột sống nặng mà không có TVĐĐ, ngược lại có hơn nửa số bệnh nhân TVĐĐ hình thành từ từ, không có yếu
tố chấn thương Thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) là nguyên nhân ĐTL ước tính trong
1-5 các trường hợp [6]
Cho đến nay có thể tóm tắt nguyên nhân gây ĐTL nghề nghiệp do hai nhóm yếu tố là nhóm yếu tố tác động cơ học và nhóm yếu tố tâm lý – xã hội Nhóm yếu tố tác động cơ học bao gồm do tải trọng bất thường (quá tải) trên một tư thế gánh chịu lực sai lệch hoặc quá tải trên tư thế gánh chịu lực bình thường hoặc tải trọng bình thường nhưng trên cơ chế gánh chịu lực sai tư thế hoặc do tải trọng bình thường trên một tư thế gánh chịu lực bình thường nhưng trong một khoảng thời gian quá lâu Điều kiện nghề nghiệp có các yếu tố cơ học trên buộc cột sống phải:
- Vận động quá giới hạn sinh lý:
- Làm việc trong tư thế gò bó, quá ưỡn, quá gù, lệch v o cột sống
- Thường xuyên cúi vặn mình
- Nâng vật nặng
- Lao động thể lực nặng
- Làm việc trong cơ chế rung xóc
Đây là những yếu tố gây ra “vi chấn thương” đối với đĩa đệm cột sống và những tác động trọng tải quá mức không cân đối thúc đẩy nhanh quá trình thoái hoá đĩa đệm và gây ra ĐTL nghề nghiệp
Nhóm yếu tố tâm lý xã hội bao gồm áp lực tâm lý cao, bị stress kéo dài, công việc đòi hỏi chịu trách nhiệm cao, công việc cần sự tập trung cao độ, làm quá giờ nhiều cũng là những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng ĐTL ở người lao động Sau đó ĐTL nghề nghiệp trở thành đau thắt lưng mạn tính dai dẳng [2]
Trong môi trường lao động của điều dưỡng tại bệnh viện và do những đặc
Trang 19điểm về hành vi lối sống của mỗi cá nhân điều dưỡng đã dẫn đến sự xuất hiện
những cơ chế gây ra ĐTL nghề nghiệp, kèm theo các đặc điểm ĐTL cụ thể như sau:
Tư thế lặp lại, giữ lâu một tư thế, quá biên độ sinh lý: CSTL có biên độ
hoạt động rất lớn, gồm các động tác: cúi, ngửa nghiêng xoay với góc độ rộng Bình thường động tác ngửa được 25-30o, nghiêng sang bên được 25-30 o, quay sang bên được 30 o [10] Trong quá trình lao động, một số tư thế lao động của điều dưỡng khiến cột sống phải ở lâu hoặc lặp đi lặp lại một tư thế giới hạn lớn của các biên độ hoặc tạo thành một góc quá biên độ ví dụ như khi cúi nâng khiêng di chuyển bệnh nhân thì tùy mức tác động sẽ gây những sang chấn làm tổn thương các thành phần của cột sống Tổn thương này gây đau cột sống và làm hạn chế hoặc không thể thực hiện được các động tác cúi, ngửa, nghiêng, xoay
Áp lực trọng tải lên vùng CSTL: Áp lực trọng tải của những đốt sống thắt
lưng cuối cùng trong tư thế nằm là 15-25kg lực, ở tư thế đứng là 100kg lực và tư thế ngồi là 150 kg lực [10] Áp lực này còn tăng lên nhiều nếu cột sống ở tư thế nghiêng, nâng và mang vác vật nặng ví dụ như khi cúi ra trước là 140kg lực, nhưng nếu đồng thời xách thêm 20kg thì áp lực nội đĩa đệm tăng lên đột ngột tới 200kg lực (theo Nachemson và Morris) Theo kết quả nghiên cứu nâng dưới 3 kg không có nguy cơ bị ĐTL, nâng 10 kg thường xuyên tại nơi làm việc sẽ cho kết quả trong 1,4 trường hợp thêm ĐTL cho những 100 nhân viên mỗi năm, nâng 25 kg sẽ cho kết quả trong 3,3 trường hợp thêm ĐTL [47] Đối với công việc nâng, nhấc, khiêng, đỡ bệnh nhân, điều dưỡng thường xuyên bị áp lực trọng tải lên vùng CSTL thêm khoảng > 25 kg trọng lượng bệnh nhân Khi lực gần với giới hạn tối đa của các cơ thì sự căng quá mức có thể chuyển lực sang các tổ chức phần mềm khác như dây chằng và đĩa đệm gây sang chấn các tổ chức này [1]
Lực tác động nhanh đột ngột: Trong động tác lao động có nâng hoặc xoay
cột sống đột ngột như khi điều dưỡng nâng nhấc bệnh nhân quá nặng xoay chuyển…, các vòng sợi cột sống ở phía trực tiếp sẽ bị căng ra, trong đó các vòng sợi
ở bên đối diện sẽ chun lại Sự xoắn vặn sẽ gây sang chấn tập trung ở những vòng sợi sau bên, làm rạn nứt vòng sợi mất tính đàn hồi khiến đĩa đệm dễ bị tổn thương đau đớn nếu phải chịu tải trọng lớn như trước, đây là vị trí dễ bị thoát vị đĩa đệm
Trang 20Thoát vị đĩa đệm được coi là nguyên nhân gây đau dây thần kinh ngồi trong khoảng
95 các trường hợp [10] Các khớp liên cuống bị đau trong khoảng từ 10% -15% các trường hợp ĐTL mãn tính [2]
Thoái hóa ở những vùng tổn thương cũ: cùng với thời gian, các đốt sống bị
tổn thương trước của điều dưỡng cũng có thể bị hư hỏng nặng thêm ĐTL do thoái hóa ở điều dưỡng mang tính chất cơ học, đau ban ngày, đau tăng khi đi lại, vận động hoặc làm việc, giảm khi nghỉ ngơi Có một vài vùng ở cột sống có nguy cơ dễ
bị sang chấn hơn các vùng khác, ví dụ thoái hóa ở L4-L5, L3-L4 làm cho cột sống
có xu hướng trở lên không bền vững, gây ra trượt đốt sống L4 về trước Trượt đốt sống do thoái hóa dẫn đến h p ống sống gây ra ĐTL và dấu hiệu đau cách hồi khi đi lại [6]
Cơ vùng thắt lưng lỏng lẻo, teo đét, có nhiều mỡ tích tụ: Các cơ vùng cột
sống cũng có nhiều vai trò trong cơ chế bệnh sinh của ĐTL Sự teo đ t hoặc lỏng lẻo của cơ bụng và cơ lưng cũng như sự tích tụ quá nhiều mỡ trong tổ chức cơ ở những người b o phì đều làm giảm chức năng vận động và chống đỡ của cơ, khiến cho cột sống dễ bị mỏi và đau [6] Vì vậy với các điều dưỡng có chỉ số BMI cao ở dạng béo phì hoặc thấp ở dạng gầy còm có nguy cơ đau thắt lưng nhiều hơn so với các điều dưỡng có BMI trong khoảng tiêu chuẩn
Hệ thần kinh giao cảm hoạt động quá mức: Các cơ vùng lưng được chi phối
chủ yếu bởi các neutron thần kinh vận động từ các tế bào sừng trước của tủy bụng Tuy nhiên cơ cũng được chi phối bởi hệ thống thần kinh thực vật giống như các mạch máu Nếu hệ thống thần kinh giao cảm hoạt động quá mức hoặc kéo dài sẽ khiến các sợi trục cơ trở lên co cứng, khối cơ nổi cục [3] [6] Ở các điều dưỡng có thể là những căng thẳng trong cuộc sống hoặc công việc, khi mà những nhu cầu tâm
lý công việc rất bức xúc mà không được giải tỏa gây ra ĐTL
c) Cách xác định ĐTL nghề nghiệp
Nguồn gốc chính xác của ĐTL thường rất khó xác định Trong phần lớn các trường hợp, ĐTL không tìm được nguyên nhân cụ thể và đã là một vấn đề chính trong chẩn đoán và điều trị [74] Tính đến nay, ĐTL được biết đến vừa là một biểu
Trang 21hiện triệu chứng của nhiều bệnh vừa là một hội chứng, một biểu rối loạn chức năng
cơ xương vùng thắt lưng Về cơ chế ĐTL do nghề nghiệp đã được y học lao động hiện đại xác định rõ, nhưng cũng như đa số các trường hợp bệnh, ĐTL do nghề nghiệp chưa có một “tiêu chuẩn vàng” Do tính chất đa yếu tố của ĐTL, trong nhiệm vụ thông báo bệnh nghề nghiệp, các bác sĩ nghề nghiệp ở một số nước như
Hà Lan được trợ giúp bởi một hướng dẫn chẩn đoán dựa trên bằng chứng về bản chất công việc liên quan đến ĐTL để quyết định [39, 45] và báo cáo các trường hợp ĐTL liên quan đến nghề nghiệp hàng năm Hướng dẫn chẩn đoán gồm 3 nội dung chính: thứ nhất là về định nghĩa trường hợp ĐTL nghề nghiệp (x t trên đối tượng với nghề nghiệp có nguy cơ, loại trừ đi các bệnh cụ thể có triệu trứng liên quan ĐTL); thứ hai là đánh giá đo kiểm, định lượng các nguy cơ trong môi trường làm việc; thứ ba là tính toán các hệ số ảnh hưởng ĐTL liên quan đến các yếu tố độc lập như tuổi tác…
Trong năm 2013, các bác sĩ nghề nghiệp ở Hà Lan báo cáo 505 trường hợp ĐTL là bệnh nghề nghiệp, chiếm tỉ lệ 26% của tổng số các báo cáo rối loạn cơ xương nghề nghiệp Kết quả tương tự đã được báo cáo ở Hàn Quốc [46] hoặc Vương quốc Anh [48] Trên thế giới, 37 trường hợp lao động bị ĐTL được quy cho nghề nghiệp, với thiệt hại ước tính hàng năm mất đi 818.000 năm sống trong khuyết tật đã được điều chỉnh trên toàn thế giới [49]
1.1.4 Ảnh hưởng của đau thắt lưng đối với điều dưỡng và bệnh viện
a) Những ảnh hưởng của ĐTL đối với điều dưỡng
- Ảnh hưởng đến sức khỏe:
ĐTL khiến cơ thể điều dưỡng phải chịu đựng sự đau đớn, nhức mỏi trong các
mô ĐTL cấp tính đôi khi ở mức độ khá trầm trọng, có thể tự biến mất mà không cần can thiệp y tế hoặc có thể điều trị hết trong vòng một đến vài tuần nhưng khả năng tái phát ở 24-50 các trường hợp trong vòng 12 tháng [20] Nghiên cứu của Greg McIntosh và cộng sự năm 2011 cho thấy, có đến 75% những người có tiền sử ĐTL sẽ bị tái phát ít nhất một lần sau đó [36] ĐTL mạn tính (đau trên 12 tuần) tái
Trang 22phát thường xuyên và nghiêm trọng hơn đã phải đến cơ sở điều trị thường xuyên hoặc k o dài hơn so với trước đó [38]
ĐTL làm hạn chế chức năng vận động của cột sống như cúi lưng, giảm giãn cột sống và khả năng nâng vác [1] Ngoài ra đau thắt lưng còn tác động tiêu cực đến các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và chất lượng cuộc sống của điều dưỡng như hạn chế tư thế vận động gồm đi, đứng, ngồi; bị mất ngủ vì cơn ĐTL và gần 100% bị hạn chế các hoạt động tình dục, xã hội và khả năng di chuyển xa ở các mức độ khác nhau [13] Khi ĐTL tiến triển nặng thêm, cơ thể bị suy sụp, không đi lại được và có những rối loạn trầm trọng về vận động, cảm giác, đại tiểu tiện do vậy mất khả năng sinh hoạt và lao động, sống phụ thuộc vào gia đình và xã hội Trong quá trình điều trị ĐTL có thể cần đến sự can thiệp của phẫu thuật (phần lớn trường hợp có hội chứng đuôi ngựa) và có thể bị các di chứng k o dài như đau do viêm dính, liệt chân hoặc rối loạn đại tiểu tiện
Ngoài ra, ĐTL còn dẫn những thay đổi hình dáng cơ thể ngoài những ảnh thưởng tới sức khỏe còn ảnh hưởng không nhỏ đến tính thẩm mĩ như cong v o cột sống, gù nhọn, gù tròn, tư thế ưỡn lưng …
- Ảnh hưởng khả năng lao động
Trên thế giới, 37 trường hợp ĐTL là do nghề nghiệp [62] ĐTL là một vấn
đề sức khỏe phổ biến, gây ra 11-13,5% trong tổng số các bệnh của lực lượng lao động và là một trong những nguyên nhân nghỉ việc, nhất là ở các nước phương Tây [70] Thời gian nghỉ ốm của người lao động cũng tỉ lệ nghịch với khả năng quay lại làm việc khi có ít nhất 50 người bị ĐTL nghỉ việc trong vòng 6 tháng và nếu nghỉ việc trên 2 năm vì ĐTL thì cơ hội trở lại làm việc gần như bằng không [20]
Theo tổ chức điều dưỡng Mỹ công bố năm 2016, có khoảng 52 điều dưỡng phàn nàn về đau lưng mãn tính, 12 rời khỏi công việc cho sức khỏe tốt hơn vì đau lưng; 20 chuyển việc sang một đơn vị khác nhau hoặc thay đổi vị trí công việc vì đau lưng, 12 xem x t lại nghề và 38% bị đau lưng nghề nghiệp đủ nghiêm trọng
để phải nghỉ việc [21]
- Ảnh hưởng kinh tế
Trang 23Ngoài những chi phí được cơ quan bảo hiểm chi trả, còn nhiều thiệt hại về kinh tế khác như sự sụt giảm thu nhập, chi phí phát sinh trong quá trình điều trị ngoài bảo hiểm cũng không nhỏ Chi phí để chữa trị cho những đợt ĐTL cấp trên nền ĐTL mãn tính do những sự cố cơ học (mà ở người bình thường sẽ không gây ảnh hưởng) cũng sẽ trở thành gánh nặng chi phí đeo đẳng cho người bệnh Một số trường hợp phải nghỉ việc do hạn chế của vận động và thể lực đến từ hậu quả của ĐTL nghề nghiệp cũng khiến người điều dưỡng khó tìm kiếm việc làm khác trong tương lai sẽ trở thành phụ thuộc kinh tế hoàn toàn vào gia đình và xã hội
b) Những ảnh hưởng của ĐTL ở điều dưỡng đến bệnh viện
ĐTL có tác động cấp độ tổ chức tức là ảnh hưởng đến bệnh viện nơi điều dưỡng làm việc gồm: làm ảnh hưởng đến kinh tế, lực lượng lao động và chất lượng chăm sóc bệnh nhân của công việc điều dưỡng [13] [14] [15], cụ thể:
- Tác động về kinh tế bao gồm các chi phí chăm sóc sức khỏe, bồi thường cho nhân viên điều dưỡng, mất năng suất lao động, tuyển dụng nhân viên mới, đào tạo thay thế nhân viên, và giảm sút tinh thần làm việc của nhân viên khác [14] [15]
- Tác động đến lực lượng lao động điều dưỡng bao gồm sắp xếp công việc khi nhân viên nghỉ do ĐTL, luân chuyển cán bộ, giảm tỷ lệ duy trì ổn định đội ngũ nhân viên, và thiếu nhân viên [15] [58] Tác động về chất lượng chăm sóc gồm tác động
do việc luân chuyển cán bộ dẫn đến thiếu điều dưỡng làm đe dọa hoặc giảm chất lượng chăm sóc bệnh nhân, tác động một phần đến kết quả điều trị [35] Đau thắt lưng đã đóng góp đáng kể cho sự thiếu hụt điều dưỡng trong ngành y tế [30]
1.2 Tình hình đau thắt lưng ở điều dưỡng tại Việt Nam, trên thế giới và tổng hợp các yếu tố nguy cơ, công cụ đánh giá từ các nghiên cứu
1.2.1 Tình hình đau thắt lưng ở nhân viên điều dưỡng trên thế giới
Năm 1995, Julia Smedley đã tiến hành nghiên cứu về nguy cơ ĐTL từ các hoạt động bằng tay của nhân viên điều dưỡng, với 2405 điều dưỡng của những bệnh viện đại học Southampton University Hospitals, tại Anh cho thấy số lượng bệnh nhân vận chuyển trung bình trong một ca làm việc ở các tư thế khác nhau có nguy cơ ĐTL khác nhau: bằng cáng >5 bệnh nhân/ca OR=1,3; thực hiện bằng tay để chuyển giữa
Trang 24giường và ghế trong khoảng 1-4 bệnh nhân/ca có OR =1,5, từ 5-9/ca có OR= 1,7 từ
10 bệnh nhân trở lên điều chỉnh theo tuổi có OR =1,5; thực hiện bằng tay để chuyển xung quanh giường trung bình, thực hiện bằng tay để nâng bệnh nhân từ sàn nhà với
> 1 bệnh nhân/ca có OR = 1,3 [68]
Năm 2002, I Maul và cộng sự đã đăng báo một nghiên cứu dọc trong 8 năm
để mô tả quá trình ĐTL tại bệnh viện trường đại học lớn ở Thụy Sĩ (từ 1991 đến 1999) Một phiên bản sửa đổi của các câu hỏi Bắc Âu đã được mở rộng để có được thông tin về dữ liệu nhân khẩu học, các hoạt động nghề nghiệp, và các khía cạnh khác nhau của ĐTL Các điều dưỡng đã trả lời các câu hỏi tất cả ba lần (n = 269) được phân loại vào các phân nhóm theo mức độ đau Kết quả nghiên cứu ĐTL là rất phổ biến với tỉ lệ hàng năm từ 73 đến 76% Một tỷ lệ lớn (38%) cho biết cường
độ tương tự của ĐTL trên cả ba lần Tỷ lệ của điều dưỡng báo cáo ĐTL tăng lặp đi lặp lại tại 3 thời điểm nghiên cứu là 19%, tỷ lệ điều dưỡng phàn nàn ĐTL giảm lặp
đi lặp lại là 17 Như vậy nghiên cứu đưa ra một minh chứng rõ ràng rằng ĐTL là một vấn đề dai dẳng ở các điều dưỡng Trong thời gian hơn tám năm gần một nửa
số điều dưỡng chỉ cùng cường độ của ĐTL, do đó ĐTL củng cố những đợt tái phát hơn là một sự tiến triển trầm trọng của ĐTL Hạn chế của nghiên cứu: chỉ có một mẫu của của các đối tượng được kiểm tra lâm sàng do đó không thể là giá trị kết quả tổng quát, khoảng cách lấy thông tin ở giai đoạn sau cách 18 tháng nên khả năng nhớ lại sẽ bị ảnh hưởng, có một số đối tượng điều dưỡng thay đổi trong quá trình nghiên cứu, không tham gia vào nghiên cứu do đó ảnh hưởng đến tính khái quát của nghiên cứu [55]
Năm 2006, Karahan A và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu mô tả tần suất và các yếu tố nguy cơ cho bệnh ĐTL ở các nhân viên y tế trong bệnh viện Thổ Nhĩ Kỳ Đối tượng nghiên cứu là 1600 nhân viên trong sáu bệnh viện liên kết với một trường đại học Thổ Nhĩ Kỳ bao gồm cả y tá, bác sĩ, vật lý trị liệu, kỹ thuật viên, thư
ký và trợ lý của bệnh viện Phương pháp nghiên cứu là thiết kế điều tra cắt ngang Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ ĐTL xuất hiện trong vòng 12 tháng qua cao nhất được báo cáo ở nhóm điều dưỡng (77,1%) và thấp nhất trong số các thư ký (54,1 )
và phụ tá của bệnh viện (53,5 ) Trong đa số các trường hợp (78,3 ) đối tượng
Trang 25xuất hiện ĐTL sau khi bắt đầu làm việc trong bệnh viện, có 33,3% số người được hỏi tìm kiếm chăm sóc y tế cho ĐTL ở mức 'vừa phải' và khoảng một nửa trong số
đó (53,8 , n = 143) đã được chẩn đoán là thoát vị đĩa đệm thắt lưng Tuổi tác, giới tính nữ, hút thuốc, nghề nghiệp, căng thẳng do công việc và nâng nặng là yếu tố nguy cơ có ý nghĩa thống kê khi các kỹ thuật hồi quy logistic đa biến được tiến hành (P <0,05) Nghiên cứu khuyến nghị cần thực hiện biện pháp phòng ngừa như: sắp xếp thời gian nghỉ ngơi hợp lý, chương trình giáo dục tư thế lao động phù hợp
và các chương trình cai thuốc lá [15]
Năm 2008, Chuliporn Sopajareeya MS và cộng sự tiến hành một nghiên cứu cắt ngang tại bệnh viện công Singburi của Thái Lan về việc xác định tỷ lệ và yếu tố nguy cơ gây ĐTL ở nhân viên điều dưỡng Đối tượng nghiên cứu là 265 điều dưỡng tình nguyện tham gia vào nghiên cứu và làm việc tại bệnh viện ít nhất 1 năm Dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng một bảng câu hỏi tự điền Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phổ biến của bệnh ĐTL ở điều dưỡng trong 12 tháng qua là 61,5% Các biến có mối tương quan thuận được tìm thấy trong nghiên cứu bao gồm a) di chuyển bệnh nhân trên giường mà không có trợ giúp (OR = 2,08; 95% CI = 1,24-3,49), b) di chuyển bệnh nhân trên giường mà không sử dụng các thiết bị nâng hạ (OR = 1,77; CI 95% = 1,07-2,93), c) đứng liên tục trong hơn hơn 6 tiếng một ngày (OR = 1,57; 95% CI = 0,94-2,62), d) đi bộ kéo dài (OR = 2,70; 95% CI = 1,12-6,50), e) thiếu tập thể dục cơ bắp lưng (OR = 3,25; CI 95 = 1,07-9,86), f) mang giày cao gót (OR = 1,86; 95% CI = 0,89-3,91), g) không gian làm việc chăm sóc của điều dưỡng không thích hợp (OR = 1,98; 95% CI = 1,05-3,75), và h) công việc căng thẳng từ việc thiếu hỗ trợ (OR = 1,90; CI 95% = 0,88-4,11) đã bước đầu được lựa chọn xây dựng mô hình hồi quy logistic Phân tích hồi quy logistic với tính chính xác tổng thể 64,3% Kết quả cho thấy việc di chuyển bệnh nhân trên giường
mà không có sự hỗ trợ có nguy cơ ĐTL gấp đôi so với các điều dưỡng có sự trợ giúp và không tập thể dục cơ bắp vùng thắt lưng có nguy cơ ĐTL cao hơn 3,8 lần so với các điều dưỡng có thực hiện (p <0,05) Hạn chế của nghiên cứu gồm: Thứ nhất, giới hạn của kết quả nghiên cứu chỉ ở những điều dưỡng của một bệnh viện do đó không thể khái quát cho các bệnh viện ở Thái Lan Thứ hai, đây là một nghiên cứu
Trang 26cắt ngang, do đó, mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố nguy cơ và ĐTL không thể xác định được Thứ ba, sai số nhớ lại có thể xảy ra khi những người tham gia được yêu cầu nhớ lại về các sự kiện xảy ra trong một khoảng thời gian dài như 12 tháng qua Ngoài ra, lối sống tại nhà, trong đó có thể ảnh hưởng đến nguy cơ phát triển ĐTL đã không được đưa vào nghiên cứu [69]
Năm 2012, Suzan Mansour Attar đã nghiên cứu tần suất và các yếu tố nguy
cơ đau cơ xương trong y tá tại trung tâm đại học tại Bệnh viện Đại học King Abdulaziz (KAUH) ở Jeddah, Ả Rập (công suất 800 giường), sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang có phân tích 200 điều dưỡng đã được lựa chọn từ các phòng ban khác nhau của bệnh viện từ một danh sách các tên được lấy từ chính bệnh viện
Bộ công cụ nghiên cứu là bảng câu hỏi phỏng vấn Phần này được sửa lại cho phù hợp từ phiên bản câu hỏi chuẩn hóa cơ xương Bắc Âu (đã được hiệu chỉnh và hợp lệ) thành lập bởi Kuorinka et al và thường được dùng là để sàng lọc các triệu chứng
cơ xương Ngoài ra, có các phần câu hỏi khác như các yếu tố nguy cơ ở những thói quen hút thuốc và đặc điểm vật lý, các yếu tố làm tăng nguy cơ rối loạn cơ xương như thiếu điều dưỡng, và nâng bệnh nhân bằng tay Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ
lệ mắc rối loạn cơ xương chung trong 12 tháng qua là 85 (CI 95 79-89 ) ĐTL
có tần số mắc cao nhất là 65,7% (CI 95% 58,7-72,1%) Tiếp theo là các mắt cá chân / chân với tỉ lệ xuất hiện triệu trứng 41,5% (83 bệnh nhân) và ở vai là 29,0% (58 bệnh nhân) Các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đã được kéo dài ca (> 10 giờ mỗi ngày) và thiếu cân Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến cho thấy điều dưỡng đã làm việc hơn 10 giờ mỗi ngày có nguy cơ gia tăng của rối loạn cơ xương (OR 3.66, 95
CI 1,24-10,79, P = 0,018) so với các điều dưỡng khác Thiếu cân cũng là một yếu tố nguy cơ đáng kể (OR 2.66, 95% CI 1,37-5,93, P = 0,004) Các yếu tố nguy cơ liên quan tới ĐTL ở điều dưỡng là làm việc tại Khoa phẫu thuật (OR 2.2, 95% CI 1-4,8,
P = 0,041) [22]
Năm 2013, Ozlem Ovayolu và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu mô tả cắt ngang về tần suất và mức độ nghiêm trọng của ĐTL ở điều dưỡng làm việc vào tại các đơn vị chăm sóc đặc biệt và các yếu tố ảnh hưởng Đối tượng nghiên cứu là
114 tự nguyện tham gia nghiên cứu của 188 điều dưỡng làm việc trong các đơn vị
Trang 27chăm sóc đặc biệt của 3 bệnh viện tư nhân và 3 bệnh viện công ở tỉnh Gaziantep ở khu vực Đông Nam Anatolia của Thổ Nhĩ Kỳ Kết quả nghiên cứu 84,2% của các điều dưỡng ĐTL, và 66,7 điều dưỡng đánh giá đau này là "một nỗi đau với mức
độ nghiêm trọng vừa phải" Nhân viên điều dưỡng đã không nhận được bất kỳ giáo dục sức khỏe về ĐTL, điều dưỡng đứng trong thời gian dài của thời gian hoặc thực hiện công việc có yêu cầu cúi về phía trước hoặc nâng và di chuyển bệnh nhân hoặc không sử dụng bất kỳ thiết bị trợ giúp trong quá trình chăm sóc bệnh nhân, bị đau nhiều hơn và có điểm số đau trung bình cao hơn Ngoài ra, điểm số đau trung bình cao hơn ở những điều dưỡng làm việc theo ca Hạn chế của nghiên cứu gồm: Đây là một nghiên cứu cắt ngang có cỡ mẫu nhỏ; và được tiến hành chỉ trong các cơ quan của tỉnh Gaziantep nằm ở Đông Nam Anatolia Region của Thổ Nhĩ Kỳ Như vậy, kết quả và kết luận không được tổng quát cho các điều dưỡng trong tất cả các đơn vị chăm sóc đặc biệt ở Thổ Nhĩ Kỳ Thứ hai, dữ liệu nghiên cứu được thu thập bằng cách sử dụng bảng câu hỏi, mà không quan sát [60]
Năm 2015, Muhammed Awwal Farooq và công sự đã nghiên cứu đánh giá các yếu tố nguy cơ liên quan đến ĐTL ở điều dưỡng tại Bệnh viện Đại học giảng dạy Ahmadu Bello (ABUTH), Shika – Zaria, Nigeria nhằm xác định tỷ lệ và thời gian ĐTL cũng như xác định các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp liên quan Nghiên cứu này cũng xem x t mối quan hệ giữa các đặc điểm xã hội-nhân khẩu học của các điều dưỡng trong ABUTH và ĐTL Nghiên cứu áp dụng thiết kế điều tra mô tả và
dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi đã được lập sẵn Phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn đã được sử dụng Cỡ mẫu 120 điều dưỡng trong đó 98 điều dưỡng tham gia đầy đủ và hoàn thành điền bảng câu hỏi Các phát hiện chính của nghiên cứu này là như sau: Tỉ lệ ĐTL ở các điều dưỡng là 82,7% Phố biến nhất là có dấu hiệu ĐTL trong vòng 3 tuần (69,1%), thứ hai là những điều dưỡng ĐTL trong khoảng hời gian trên 12 tuần (12,3%) Các yếu tố nguy cơ cao nhất liên quan với ĐTL là nâng bệnh nhân hoặc vật thể (90 ), đứng làm nhiệm vụ (88,9%) và chuyển động của vật nặng / thiết bị (81,5%) Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa ĐTL và giới tính [33]
Trang 28Năm 2015, Muaadh Abdulghani Ghaithan Al-samawi và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu để đánh giá tỉ lệ mắc và những yếu tố nguy cơ và tác động của ĐTL đến các điều dưỡng của Bệnh viện trường đại học AL-Mak Nimer tại thành phố Shendi, Sudan Cỡ mẫu là 80 điều dưỡng của bệnh viện theo phương pháp mẫu hội tụ Phương pháp nghiên cứu là thiết kế nghiên cứu cắt ngang Kết quả cho thấy
tỉ lệ chung của bệnh ĐTL trong số các điều dưỡng là (n = 70, 87,5%) Nữ điều dưỡng phàn nàn về ĐTL nhiều hơn đáng kể so với nam giới (85 ) Có 52,9 đối tượng rối loạn giấc ngủ, 64,3 điều dưỡng báo cáo về việc hạn chế các hoạt động
do ĐTL Có 52,9 đối tượng đánh giá mức đau của họ như là đau vừa phải Điều dưỡng quan niệm nâng nhấc bệnh nhân (nâng bệnh nhân nặng, nâng lặp đi lặp lại và nâng một mình) (35,7%), quá tải công việc (28,6 ) và điều kiện làm việc nghèo (10%) góp phần làm ĐTL Hạn chế của nghiên cứu: không chắc chắn tính trung thực của đối tượng tham gia nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu cắt ngang nên mối quan hệ nguyên nhân gây bệnh là do đối tượng tự diễn giải, tỉ lệ đáp ứng khác nhau giữa các phòng ban của bệnh viện, hàm ý nghiên cứu này là cho các bệnh viện tư nhân [18]
1.2.2 Tình hình ĐTL ở nhân viên điều dưỡng tại Việt Nam
Hiện tại, chưa có nghiên cứu về ĐTL chuyên sâu cho đối tượng nghiên cứu ở Việt Nam Các nghiên cứu về ĐTL ở nhân viên y tế nói cũng còn chưa nhiều, có ba nghiên cứu về rối loạn cơ xương ở nhân viên y tế tại Việt Nam trong đó có một nghiên cứu được thực hiện ở tầm quốc gia, đã được tổng hợp cụ thể như sau:
Năm 2004, Nguyễn Bích Diệp nghiên cứu các vấn đề đau cơ xương và Stress nghề nghiệp ở các bác sĩ và y tá tại một phòng khám nha khoa Sử dụng phương pháp chấm điểm stress trung bình cứu trên đối tượng y bác sĩ làm nha khoa Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đau cổ là 88,9 , đau cả hai vai là 55,6-60 , Đau lưng là 33,3 và ĐTL là 50 Đối tượng có điểm stress nghề nghiệp do áp lực về thời gian
và gánh nặng lao động quá tải và chữa trị cho bệnh nhân nặng có tỷ lệ mắc ĐTL cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng
Trang 29Năm 2004, nghiên cứu của Đào Phú Cường cho thấy bác sĩ và điều dưỡng phải làm việc ở tư thế bất hợp lý k o dài như đứng lâu, cúi, vặn người là yếu tố nguy
cơ gây rối loạn và đau mỏi: 61 các bác sĩ phàn nàn về đau mỏi cổ, 55,2 ĐTL, 40,4 đau vai Tỷ lệ đau mỏi cơ xương của bác sĩ và điều dưỡng tăng theo thâm niên công tác [4]
Năm 2010, Nguyễn Bích Diệp và Nguyễn Thị Hồng Tú nghiên cứu điều kiện lao động đặc thù và sức khỏe nghề nghiệp của nhân viên y tế trong giai đoạn hiện nay Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang phối hợp nghiên cứu định tính định lượng và nghiên cứu can thiệp Nghiên cứu được tiến hành trên 9437 nhân viên y tế thuộc 132 cơ sở y tế điều trị và dự phòng từ tuyến trung ương và đến tuyến địa phương Khoảng 1/5 số người được phỏng vấn (2000) được chọn ngẫu nghiên để khám lâm sàng và xét nghiệm Kết quả cụ thể như sau [4]:
Trong khoảng > 50% thời gian lao động tỉ lệ các nhân viên điều dưỡng có các tư thế làm việc cụ thể như sau: có 47,7 ở tư thế ngồi, 61,3 % ở tư thế đứng, 17,7 tư thế cúi, 13% ở tư thế xoay Nguy cơ làm việc ở tư thế đứng lâu > 50% thời gian của nhân viên y tế nói chung bị ĐTL gấp 1,5 lần (OR = 1,515 khoảng tin cậy 1,196 – 1,918, p<0,001) [4]
Khảo sát tình hình đau mỏi cơ xương trong 12 tháng trước khi điều tra ở nhân viên điều dưỡng cho thấy ĐTL chiếm tỷ lệ cao nhất (72,8 ), sau đó là đau gáy (45,8 ) Đau đầu gối, đau bả vai, lưng cổ tay chiếm tỷ lệ trên 20 Đau đùi, khuỷu tay và mắt cá chiếm tỷ lệ thấp hơn 17,4-19,4%
Tỷ lệ đau mỏi cơ xương trong 7 ngày trước khi điều tra của nhân viên điều dưỡng phần lớn thấp hơn so với tỷ lệ 12 tháng qua ĐTL cũng chiếm tỷ lệ cao nhất (38,3 ) sau đó là đến đau gáy (31,8 ), khuỷu tay (30,8%)[4]
1.2.3 Tổng hợp các yếu tố nguy cơ liên quan đến đau thắt lưng ở nhân viên điều dưỡng từ kết quả các nghiên cứu
Yếu tố nhân khẩu học:
Tổng hợp các yếu tố về nhân khẩu học liên quan đến ĐTL ở nhân viên điều dưỡng từ kết quả của các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam bao gồm: Tuổi [30]
Trang 30[37] [37, 52] [61], Giới tính [15] [18] [33] [52] [54], Tình trạng hôn nhân [15] [54], Làm m [52], Nghề nghiệp [15], Chiều cao cân nặng [59], Thiếu cân [22], Thâm niên công tác [52]
Yếu tố hành vi lối sống:
Một số nghiên cứu tại Anh, Ý, Iran và Thái Lan đã tìm thấy các yếu tố về hành
vi lối sống có mối liên quan với tỉ lệ điều dưỡng có ĐTL Trong các hoạt động thuộc về lối sống, hoạt động thể dục thể thao và tập thể dục cơ lưng là yếu tố tương quan nghịch và được xem xét là yếu tố bảo vệ Tỉ lệ ĐTL ở những điều dưỡng có tham gia hoạt động thể dục thể thao chỉ bằng 0,4 lần so với các điều dưỡng không tham gia hoạt động thể dục thể thao [59] Đặc biệt, các điều dưỡng không thực hiện bài tập thể dục cơ bắp lưng có tỉ lệ ĐTL cao gấp 3,25 lần so với các điều dưỡng có thực hiện các bài tập này [69] Trong các hành vi sức khỏe của điều dưỡng, hành vi hút thuốc được tìm thấy là yếu tố tương quan thuận với tỷ lệ ĐTL và được x t đến
là một yếu tố có hại khi tỉ lệ ĐTL ở những điều dưỡng có hút thuốc lá cao hơn 20
so với các điều dưỡng không hút thuốc lá [68]
Yếu tố tư thế làm việc:
Các yếu tố về tư thế làm việc được tìm thấy là yếu tố liên quan trong các nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Anh, Nigeria, Việt Nam bao gồm: nâng bệnh nhân, di chuyển bệnh nhân, đứng làm nhiệm vụ lâu > 50% thời gian, đi bộ kéo dài, cúi về phía trước
Nâng bệnh nhân là yếu tố nguy cơ gây ĐTL cao gấp từ 1,3 đến 2,7 lần so với các điều dưỡng không thực hiện nâng bệnh nhân trong ca làm việc theo kết quả thu được từ các nghiên cứu [27]
Di chuyển bệnh nhân là yếu tố tương quan thuận theo kết quả của các nghiên cứu Ở nhóm điều dưỡng thực hiện việc di chuyển bệnh nhân trên giường mà không
có sự hỗ trợ có tỉ lệ ĐTL cao gấp 2,08 lần so với nhóm có sự hỗ trợ [69] Khi điều dưỡng thực hiện bằng tay để chuyển bệnh nhân giữa giường và ghế: tỉ lệ ĐTL (có điều chỉnh theo tuổi) ở nhóm di chuyển từ 1-4 bệnh nhân/ca cao gấp 1,4 lần; ở nhóm di chuyển từ 5-9 bệnh nhân/ca cao gấp 1,8 lần; ở nhóm di chuyển từ 10 bệnh
Trang 31nhân trở lên cao gấp 1,5 so với nhóm điều dưỡng không thực hiện việc di chuyển bệnh nhân [68] Khi điều dưỡng thực hiện bằng tay để chuyển bệnh nhân xung quanh giường: tỉ lệ ĐTL (có điều chỉnh theo tuổi) ở nhóm dịch chuyển từ 5-9 bệnh nhân/ca cao gấp 1,6 lần; ở nhóm dịch chuyển từ 10 bệnh nhân trở lên cao gấp 1,7 lần so với nhóm không thực hiện việc dịch chuyển Với những điều dưỡng thực hiện bằng tay để nâng > 1 bệnh nhân từ sàn nhà có tỉ lệ ĐTL (có điều chỉnh theo tuổi) cao gấp 1,3 lần so với nhóm không phải thực hiện việc nâng này [68]
Tư thế đứng làm nhiệm vụ là yếu tố nguy cơ gây ĐTL [33] Ở nhóm điều dưỡng đứng lâu > 50% thời gian lao động có nguy cơ bị ĐTL cao gấp 1,5 lần so với nhóm còn lại [4] Đặc biệt, kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhóm đi bộ kéo dài trong thời gian làm việc có tỉ lệ ĐTL cao gấp 2,7 lần so với nhóm không đi bộ kéo dài [69] Tư thế cúi về phía trước cũng được xem xét là yếu tố nguy cơ theo kết quả thu được từ nghiên cứu [60]
Yếu tố khối lượng và tính chất công việc
Các yếu tố nguy cơ về khối lượng và tính chất công việc liên quan đến tỉ lệ
ĐTL được tìm thấy trong các nghiên cứu bao gồm: làm việc ở khoa phẫu thuật, loại công việc, làm việc theo ca, làm việc > 10 giờ mỗi ngày và nâng nặng
Loại công việc mà các điều dưỡng được giao có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tỉ lệ ĐTL [52] Các điều dưỡng làm việc ở khoa phẫu thuật có tỉ lệ ĐTL cao gấp 2,2 lần so với các điều dưỡng làm việc ở các khoa phòng khác [22] Điều dưỡng làm việc theo ca là yếu tố nguy cơ so với điều dưỡng chỉ thực hiện công việc trong giờ hành chính [60] Thời gian làm việc kéo dài trong ngày làm tăng tỉ lệ ĐTL ở điều dưỡng, với điều dưỡng phải làm việc >10 giờ mỗi ngày tỉ lệ ĐTL cao gấp 3,66 lần so với các điều dưỡng chỉ làm việc từ 5 đến 10 giờ mỗi ngày [22] Tính chất công việc phải nâng nặng cũng chính là yếu tố nguy cơ gây ĐTL theo kết quả nghiên cứu
Yếu tố tâm lý xã hội
Những yếu tố về tâm lý xã hội được tìm thấy là yếu tố nguy cơ gây ĐTL trong
rất nhiều nghiên cứu [52] gồm: Các điều dưỡng không hài lòng trong mối quan hệ
Trang 32với đồng nghiệp và không hài lòng với nghề nghiệp có tỉ lệ ĐTL cao gấp 1,6 lần so với các điều dưỡng có sự hài lòng; Các điều dưỡng bị ĐTL có tỉ lệ rất hài lòng và hài lòng trong mối quan hệ với giám sát thấp hơn khoảng 13% so với nhóm điều dưỡng không bị ĐTL; Quá mệt mỏi từ công việc, Chịu áp lực, Lo lắng trong công việc, Áp lực về thời gian, Kiên nhẫn mức cao và sự sáng tạo thấp là các yếu tố liên quan thuận với tỉ lệ ĐTL [59]; Mức căng thẳng trong công việc > 7 điểm VAS có tỉ
lệ ĐTL cao gấp 2,58 lần so với mức căng thẳng <5 điểm VAS và tỉ lệ ĐTL cao gấp 2,7 lần ở nhóm điều dưỡng có báo cáo phàn nàn về tình trạng thiếu nhân lực [22]
Yếu tố dịch vụ y tế sức khỏe nghề nghiệp:
Qua kết quả thu được từ các nghiên cứu, tập huấn đào tạo phòng ĐTL là yếu
tố liên quan đến tỉ lệ ĐTL Tập huấn đào tạo để tối ưu hóa tư thế nâng và di chuyển cho thắt lưng từ 5-10% [47] và được xem xét là một yếu tố bảo vệ [40]
Yếu tố năng lực phòng ĐTL
Nhóm yếu tố về năng lực phòng ĐTL gồm có các yếu tố về kiến thức, thái
độ, và niềm tin phòng ĐTL Các điều dưỡng có kiến thức tốt về phòng ĐTL như biết cần tập thể dục bảo vệ cơ lưng, tập thể dục thường xuyên có tỉ lệ ĐTL chỉ bằng 0,26 hoặc 0,11 lần tương ứng so với nhóm điều dưỡng không có kiến thức đó [17] Thái độ tiêu cực, niềm tin về sự lo sợ không tránh khỏi việc bị ĐTL đã được chứng minh là làm tăng nguy cơ đau lưng lâu dài là yếu tố liên quan theo kết quả của các nghiên cứu [72], [64], [65], [53]
1.2.4 Tổng quan bộ công cụ đánh giá Đau thắt lưng
a) Bộ công cụ sàng lọc đánh giá Đau thắt lưng
Trong môi trường nghề nghiệp, việc đánh giá các rối loạn cơ xương được thực hiện thường thông qua bảng câu hỏi tự báo cáo do tính ứng dụng thực tế và mức tiết kiệm chi chi phí [71] Trên thế giới hiện nay có những bộ câu hỏi thường được sử dụng để sàng lọc các triệu trứng cơ xương như: Bộ câu hỏi sàng lọc đau thắt lưng cấp tính của do Linton &Halld n; Bảng câu hỏi ĐTL ở công nhân ngành công nghiệp may mặc của Supreet Bindra và cộng sự; Bảng câu hỏi tiêu chuẩn hóa cơ
Trang 33xương Hà Lan (DMQ) của Hildebrandt VH và cộng sự, Bảng hỏi tiêu chuẩn cơ xương Bắc Âu của Kuorinka và cộng sự; Bảng hỏi Giám sát sức khỏe định kỳ rung toàn thân của Dự án Mạng lưới nghiên cứu về phát hiện và phòng chống thương tích do tiếp xúc rung động nghề nghiệp”-EU;…
Với mục tiêu tìm kiếm một bộ câu hỏi sàng lọc cung cấp thông tin về đặc điểm ĐTL có tính chất nghề nghiệp (ĐTL mãn tính, có những đợt đau cấp) và những ảnh hưởng của ĐTL, các bộ công cụ kể đến ở trên đã được rà soát Bộ công cụ được chọn cần thỏa mãn các điều kiện sau: có giá trị, hiệu lực cao, có tính nhạy trong việc xác định các trường hợp có rối loạn cơ xương, đơn giản và đã được ứng dụng trong nhiều các nghiên cứu về ĐTL trên đối tượng điều dưỡng
Trong các bộ câu hỏi được tìm thấy trên thế giới, bộ câu hỏi được Chuẩn hóa
về các triệu chứng cơ xương Bắc Âu là Bộ câu hỏi được sử dụng phổ biến để sàng lọc các vấn đề về rối loạn cơ xương và đã được áp dụng cho một loạt các nhóm nghề nghiệp khác nhau để đánh giá vấn đề rối loạn cơ xương, bao gồm máy tính và nhân viên trực tổng đài, lái xe, nhân viên trong ngành công nghiệp rượu whisky, điều dưỡng và công nhân lâm nghiệp [76] Đặc biệt sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về ĐTL ở đối tượng điều dưỡng [17, 22, 43, 55, 61, 69] [22] [43] [55] [61] [69]
Mặc dù kiểm tra cơ thể rất quan trọng trong bối cảnh lâm sàng, nhưng trong ĐTL do nghề nghiệp không làm tăng độ nhạy và đặc hiệu so với SNMQ Nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng SNMQ xác định được ĐTL mãn tính hoặc tái phát với độ nhạy 100 và đặc hiệu 88% [71]
Trên cơ sở những lý do đã đề cập ở trên, bộ công cụ SNMQ đã được lựa chọn để sàng lọc các triệu chứng cơ xương trong nghiên cứu này trên đối tượng là điều dưỡng của bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
b) Bộ công cụ đánh giá mức độ khuyết tật do ĐTL
Theo kết quả tổng quan các nghiên cứu, hiện có 31 bộ câu hỏi tính điểm để đánh giá và góp phần dự báo những ảnh hưởng của ĐTL Mỗi bộ công cụ đều có những ưu nhược điểm nhất định Tuy vậy, được sử dụng nhiều nhất trong điều trị
Trang 34lâm sàng và thiết lập nghiên cứu là Bộ câu hỏi đánh giá khuyết tật Roland-Morris (RDQ) và Bộ chỉ số khuyết tật Oswetry (ODI) Sự khác biệt về giá trị sử dụng giữa hai bộ công cụ là không lớn Tuy nhiên, ODI được khuyến cáo ở những bệnh nhân khuyết tật nặng dai dẳng, với quần thể điều dưỡng (đang làm việc, chủ yếu bị đau
nh hoặc đau vừa), ODI không được khuyến cáo sử dụng do các điểm số đánh giá quần tụ quanh tầm thấp của thang vì điểm số quá thấp ở mức cơ bản [31] Do đó, đánh giá ĐTL ở nhân viên điều dưỡng cần một công cụ nhạy cảm với mức độ khuyết tật thấp hơn là RDQ
RDQ có rất nhiều phiên bản sửa đổi gồm RDQ với 24 câu hỏi, RDQ với 23 câu hỏi, RDQ với 18 câu hỏi, RDQ với 16 câu hỏi và RDQ với 12 câu hỏi (RDQ-12) Trong đó phiên bản RDQ với 12 câu hỏi là phiên bản cập nhật hơn, ngắn gọn,
có tính thống nhất nội bộ trong bảng hỏi là rất tốt tuy có thấp hơn so với bản RDQ với 23 câu hỏi ban đầu một chút nhưng kết quả đánh giá lặp lại trong một khoảng thời gian 3 tháng không có sự khác biệt Tính hiệu lực của bộ câu hỏi là tương tự hoặc tốt hơn so với RDQ 23 câu hỏi Tính đáp ứng và tính thông dịch của bộ câu hỏi rất tốt [67]
Như vậy, trong khuôn khổ nghiên cứu về thực trạng ĐTL trên đối tượng nghiên cứu là nhân viên điều dưỡng của bệnh viện, bộ công cụ được lựa chọn để đánh giá mức độ ảnh hưởng của ĐTL đến tình trạng khiếm khuyết trong các hoạt động thể chất và chức năng của điều dưỡng viên là RDQ với 12 câu hỏi
1.4 Tóm tắt thông tin về địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức là một bệnh viện ngoại khoa, là một trong những trung tâm phẫu thuật lớn nhất Việt Nam Bệnh viện có trụ sở tại số 40 phố Tràng Thi, Hà Nội, Việt Nam với diện tích mặt bằng khoảng 30.000 mét vuông
Bệnh viện có 11 phòng chức năng, 19 khoa lâm sàng, 10 khoa cận lâm sàng
và 01 đơn vị trực thuộc cùng với 09 trung tâm của trường đại học Y Hà Nội đặt tại bệnh viện Về nhân lực, bệnh viện có 293 Bác sĩ, 929 Điều dưỡng, 132 Kỹ thuật viên, 35 Dược sĩ, 257 cán bộ chuyên ngành khác Trong đó, có gần 70 Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ
Trang 35Bệnh viện là tuyến cao nhất của ngành Ngoại khoa miền Bắc, Việt Nam Bệnh viện thực hiện các chức năng: Cấp cứu, khám chữa bệnh; Đào tạo; Nghiên cứu khoa học; Chỉ đạo chuyên khoa; Phòng bệnh; Hợp tác quốc tế Hiện bệnh viện có quy mô 1.500 giường bệnh, với 52 phòng mổ hiện đại, mỗi năm bệnh viện tiến hành khoảng 42.000 ca phẫu thuật thuộc nhiều chuyên khoa sâu khác nhau
Các lĩnh vực phẫu thuật mà bệnh viện Việt Đức thực hiện ngang tầm khu vực
và thế giới là phẫu thuật thần kinh sọ não, tim mạch, tiết niệu, chấn thương, cột sống, tiêu hóa, gan mật, chẩn đoán hình ảnh, gây mê hồi sức, nhi; phẫu thuật bằng Robot, nội soi, vi phẫu và ghép tạng Chiều ngày 10/11/2015, tại Hà Nội, Bệnh viện Việt Đức được công bố là bệnh viện hạng đặc biệt
Về công tác điều dưỡng chăm sóc người bệnh:
Hội đồng Điều dưỡng được thành lập theo Quyết định số 771/QĐ-VĐ ngày
18 tháng 5 năm 2015 gồm 17 cán bộ với nhiệm vụ: Thực hiện tốt và phổ biến Thông
tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn công tác điều dưỡng chăm sóc người bệnh trong bệnh viện; Tư vấn cho Giám đốc bệnh viện xây dựng kế hoạch công tác chăm sóc người bệnh trong bệnh viện đảm bảo an toàn
và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh; Tư vấn cho Giám đốc bệnh viện sửa đổi, bổ sung các quy định kỹ thuật về chăm sóc điều dưỡng phù hợp với quy định của Bộ Y tế và đặc điểm của chuyên khoa ngoại
Bệnh viện hiện có 01 Phòng điều dưỡng với 6 cán bộ và 923 nhân viên điều dưỡng được phân bổ thực hiện các công việc chuyên môn tại các khoa phòng khác Các điều dưỡng trước khi được ký kết hợp đồng, dù có trình độ hoặc kinh nghiệm ở mức nào cũng đều trải qua 3 tháng đào tạo và bắt buộc phải thi đạt tay nghề tại cuối khóa học Phân nhóm điều dưỡng theo đặc điểm của vị trí việc làm, xét theo từng nhóm công việc tương đồng, cụ thể:
- Nhóm Điều dưỡng ngoại chung: thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng thông thường như tiêm truyền, theo dõi tình trạng bệnh nhân tại các khoa như phẫu thuật, khám bệnh, nam học, u bướu…;
Trang 36- Nhóm điều dưỡng gây mê hồi sức: thực hiện các công việc có các kỹ thuật đặc thù liên quan đến tính chất công việc gây mê và hồi sức cho bệnh nhân tại Khoa gây mê hồi sức;
- Nhóm điều dưỡng điều trị tích cực: thực hiện thao tác kỹ thuật liên quan đến điều trị tích cực ngoài các kỹ thuật điều dưỡng chung tại Khoa điều trị tích cực
- Nhóm điều dưỡng làm công việc liên quan đến lọc máu chạy thận nhân tạo có tư thế lao động lặp lại và sự tập trung theo dõi xử lý các thông số trong quá trình lọc máu tại Khoa thận lọc máu;
- Nhóm điều dưỡng điều trị theo yêu cầu là bao gồm các loại điều dưỡng ở trên nhưng làm việc tại Khoa điều trị theo yêu cầu và có trách nhiệm cao trong việc khiến bệnh nhân luôn hài lòng về dịch vụ (có thể ví như một bệnh viện thu nhỏ trong bệnh viện Hữu nghị Việt Đức)
- Nhóm Điều dưỡng hành chính tại các khoa phòng thuộc khối hành chính được phân công các công việc liên quan đến sổ sách, nhập dữ liệu hoặc chuẩn bị dụng cụ phòng mổ
Điều dưỡng thực hiện chăm sóc người bệnh theo mô hình chăm sóc người bệnh toàn diện, lấy người bệnh là trung tâm bảo đảm an toàn, chất lượng, hiệu quả
và hài lòng Mô hình phân công theo nhóm và làm ca ở khoa: Khám bệnh, Gây mê hồi sức, Thần kinh, Tim mạch lồng ngực
1.5 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết được xây dựng thông qua việc rà soát các y văn về ĐTL và thừa hưởng các kết quả nghiên cứu về ĐTL ở nhân viên điều dưỡng trên thế giới và tại Việt Nam (mục 1.5)
Từ các thông tin chi tiết về địa bàn nghiên cứu, nghiên cứu này tham khảo sơ đồ Sức khoẻ người lao động trong mối quan hệ ảnh hưởng ở nơi làm việc gia đình và cộng đồng trong bài giảng môn Sức khỏe nghề nghiệp và áp dụng mô hình các yếu tố quyết định sức khỏe của Lalonde (1981) để xây dựng lên khung lý thuyết về các yếu
tố nguy cơ và các yếu tố liên quan đến ĐTL nghề nghiệp ở điều cụ thể như dưới đây:
Trang 37Yếu tố dịch vụ y tế sức khỏe nghề nghiệp:
- Đào tạo tập huấn phòng ĐTL
- Tiếp cận tài liệu phòng ĐTL
- Đi giày cao gót
Môi trường và điều kiện lao động nơi làm việc
Yếu tố về công việc quá tải:
- Tổ chức công việc
- Khối lượng công việc
Yếu tố tư thế làm việc bất lợi:
- Tư thế bất lợi khi làm việc làm ảnh hưởng đến thắt lưng: cúi, nâng
- Thời gian thực hiện tư thế
- Tần suất thực hiện tư thế
Yếu tố căng thẳng tâm lý xã hội:
- Căng thẳng công việc
- Khả năng quyết định công việc
- Hỗ của đồng nghiệp
- Sự công nhận
- Công việc lặp đi lặp lại
- Mối quan hệ không tốt với cấp trên
- Lo sợ mất việc làm
Trang 38CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nhân viên điều dưỡng của bệnh viện Việt Đức, Hà Nội
Tiêu chuẩn lựa chọn:
Nhân viên điều dưỡng bệnh viện đồng ý, tự nguyện tham gia vào nghiên cứu và điền đầy đủ phiếu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Không đồng ý tham gia vào nghiên cứu
- Không có mặt trong thời gian nghiên cứu
- Không điền đầy đủ phiếu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian: Từ tháng 18/3- 6/6/2016
Địa điểm: Tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
- Mô tả cắt ngang có phân tích
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
- Cỡ mẫu: Áp dụng công thức
Trong đó:
n: cỡ mẫu tối thiểu
z: hệ số tin cậy Chọn độ tin cậy ở mức 95%, ta có z = 1,96
p: tỷ lệ điều dưỡng bị ĐTL
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bích Diệp và Nguyễn Thị Hồng Tú về điều kiện lao động đặc thù và sức khỏe nghề nghiệp của nhân viên y tế trong giai đoạn hiện nay, ước tính tỷ lệ điều dưỡng ở bệnh viện Việt Đức bị ĐTL là p= 0,728 [4] Từ đó ta tính được 1-p = 1 – 0,728 = 0,272
Trang 39 d: sai số cho ph p giữa tỷ lệ thu được trong nghiên cứu và tỷ lệ thực trong quần thể điều dưỡng Ta chọn d = 0,05
Từ công thức trên n ≈ 305 điều dưỡng Dự kiến tỷ lệ điều dưỡng từ chối không tham gia nghiên cứu, nghỉ ốm, ph p, đi công tác … là 20 Như vậy cỡ mẫu tối thiểu cần thu thập đã hiệu chỉnh tỷ lệ tham gia của nghiên cứu là 366 điều dưỡng
Tuy nhiên, nghiên cứu được lồng gh p với hoạt động điều tra về an toàn vệ sinh lao động toàn diện do Cục Quản lý môi trường y tế phối hợp với bệnh viện triển khai trên đối tượng là tất cả nhân viên của bệnh viện, do đó phương pháp chọn mẫu toàn
bộ 929 điều dưỡng đã được thực hiện Kết quả có 518 điều dưỡng hoàn thành đầy đủ hợp lệ phiếu điều tra, đáp ứng yêu cầu lớn hơn cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu
2.5 Phương pháp, công cụ và tổ chức thu thập số liệu
2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu sử dụng trong nghiên cứu là phát phiếu tự điền 2.5.2 Công cụ thu thập số liệu
Theo kết quả tổng quan bộ công cụ, nghiên cứu này sử dụng Bộ câu hỏi đã được chuẩn hóa về các triệu chứng cơ xương Bắc Âu để sàng lọc các đối tượng nghiên cứu có ĐTL trong các khoảng thời gian và mô tả đặc điểm, tính chất của ĐTL; sử dụng Bảng câu hỏi đánh giá khuyết tật Roland-Morris (RDQ) để đánh giá mức độ ĐTL trong khoảng thời gian 7 ngày qua Đây là những biến đầu ra chính của nghiên cứu
Các nhóm thông tin khác học viên xây dựng các câu hỏi dựa trên sự tham khảo các bộ công cụ từ sáu nghiên cứu khác bao gồm: Nghiên cứu của Natália da Rosa Fonseca và cộng sự năm 2008 tại Brazil; Chuliporn Sopajareeya MS tại Thái Lan năm 2008; Supreet Bindra năm 2013; Nguyễn Bích Diệp và cộng sự năm 2010 tại Việt Nam; Julia Smedley năm 1995 tại Anh, Lưu Thị Thu Hà năm 2011
Bộ câu hỏi đã được chỉnh sửa theo góp ý của các chuyên gia hoàn thiện dự thảo và tiến hành thử nghiệm bộ công cụ với 30 điều dưỡng ở ngẫu nghiên các khoa của bệnh viện, dựa trên việc tập hợp ý kiến phản hồi, và tiến hành chỉnh sửa một số nội dung liên quan đến từ ngữ đảm bảo súc tích, dễ hiểu Kết quả bộ công cụ thu thập
Trang 40số liệu trong nghiên cứu này đã được xác lập gồm bảy phần: các thông tin cá nhân, hành vi lối sống, công việc, tư thế lao động, tâm lý sinh lý xã hội trong công việc,
dịch vụ y tế sức khỏe nghề nghiệp, tình trạng và ảnh hưởng của ĐTL (Chi tiết tại phụ lục 1)
2.5.3 Biến số nghiên cứu:
Tóm tắt thông tin về các nhóm biến số của nghiên cứu cụ thể như sau (phần chi tiết thông tin của từng biến số nghiên cứu được trình bày tại phụ lục 2):
- Nhóm biến thông tin cá nhân gồm: thông tin chung về nhân khẩu học thông tin chung về nghề nghiệp, thông tin chung về bệnh lý hoặc dùng thuốc hoặc thương tích có liên quan đến cột sống thắt lưng, kiến thức phòng ĐTL, thực hành phòng ĐTL
- Nhóm biến về hành vi lối sống: Tập thể dục, Uống rượu bia, Hút thuốc, Đi giày cao gót
- Nhóm biến về công việc: Thời gian làm việc, Hoạt động thể lực trong công việc, tần suất trực đêm, khối lượng vật nặng thường xuyên bê
- Nhóm biến về các yếu tố tâm sinh lý xã hội: Căng thẳng công việc, khả năng quyết định trong công việc, Hỗ trợ của đồng nghiệp, Công việc lặp đi lặp lại,
Có mối quan hệ không tốt với cấp trên, Lo sợ mất việc, Sự công nhận
- Nhóm biến về tư thế làm việc: Thời gian thực hiện tư thế, Tần suất thực hiện
tư thế
- Nhóm biến về tình trạng và ảnh hưởng của ĐTL: Tình trạng ĐTL gồm các triệu trứng, mức độ, tần số, thời gian đau, xử trí khi bị ĐTL, ảnh hưởng đến sức khỏe, ảnh hưởng khả năng lao động, công việc
- Nhóm biến về dịch vụ y tế sức khỏe nghề nghiệp: Tập huấn phòng ĐTL; Tiếp
cận tài liệu hướng dẫn phòng ĐTL;
2.5.4 Tổ chức thu thập số liệu:
Nghiên cứu được lồng gh p với hoạt động điều tra về an toàn vệ sinh lao động toàn diện do Cục Quản lý môi trường y tế phối hợp với bệnh viện Việt Đức triển khai trên đối tượng là tất cả nhân viên của bệnh viện, hoạt động thu thập số liệu có sự phối hợp chặt chẽ với Hội đồng bảo hộ lao động, cụ thể như sau: