Tại Israel,nghiên cứu của Zedan năm 2012 cho thấy có đến 91,3% giáo viên tiểu học trảiqua các cấp độ căng thẳng nghề nghiệp khác nhau, trong đó 55,1% giáo viên cótình trạng căng thẳng ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
LÊ THỊ THỦY
CĂNG THẲNG NGHỀ NGHIỆP
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN THANH XUÂN, HÀ NỘI NĂM 2019
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hà Nội - Năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
LÊ THỊ THỦY
CĂNG THẲNG NGHỀ NGHIỆP
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN THANH XUÂN, HÀ NỘI NĂM 2019
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số: 8720701
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ THỊ THANH XUÂN
Hà Nội - Năm 2019
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DASS : Depression Anxiety Stress Scale
Thang đánh giá Trầm cảm- Lo âu- Căng thẳngGVTH : Giáo viên tiểu học
JCQ : Job contend questionnaire
Bảng công cụ đánh giá căng thẳng nghề nghiệpWHO : Word Health Organization
Tổ chức y tế thế giới
Trang 4MỤC LỤC
TRANG
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ
1.1 Đại cương về căng thẳng.3
1.1.1 Định nghĩa căng thẳng 3
1.1.2 Khái niệm căng thẳng nghề nghiệp 3
1.1.3 Nguyên nhân gây ra căng thẳng nghề nghiệp. 4
1.1.4 Các ảnh hưởng tiêu cực của căng thẳng nghề nghiệp. 5
1.1.5 Các dấu hiệu của căng thẳng nghề nghiệp 7
1.2 Đặc điểm của giáo viên tiểu học 8
1.2.1 Định nghĩa giáo dục tiểu học 8
1.2.2 Định nghĩa giáo viên tiểu học 8
1.2.3 Nhiệm vụ của giáo viên tiểu học. 8
1.3 Tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp 9
1.3.1 Tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp ở các ngành nghề khác 9
1.3.2 Tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp ở giáo viên và giáo viên tiểu học. 111.4 Các yếu tố liên quan đến căng thẳng nghề nghiệp ở giáo viên tiểu học 121.5 Các thang đo căng thẳng nghề nghiệp 13
1.5.1 DASS 21 và DASS 42 13
1.5.2 Bộ câu hỏi đánh giá căng thẳng do Hội quản lý căng thẳng Quốc tế 14 1.5.3 Bảng hỏi nội dung công việc của Karasek 15
1.5.4 Thang đo căng thẳng tự cảm nhận 15
1.5.5 Thang đo căng thẳng của Hokmes và Rahe. 15
1.6 Tổng quan địa điểm nghiên cứu 16
Trang 5CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 182.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 18
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.1.2 Địa điểm 18
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu 18
2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn 18
2.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu 19
2.3.1.Bảng biến số và chỉ số nghiên cứu 19
2.3.2 Khung lý thuyết nghiên cứu 23
2.4 Phương pháp thu thập thông tin 24
2.4.1 Công cụ thu thập thông tin 24
2.4.2 Kỹ thuật thu thập thông tin 24
2.4.3 Quy trình thu thập thông tin và sơ đồ nghiên cứu 24
2.5 Xử lý và phân tích số liệu 25
2.6 Sai số và khống chế sai số 25
2.7 Đạo đức nghiên cứu 25
2.8 Hạn chế của nghiên cứu 26
3.1 Một số thông tin dân số học của đối tượng nghiên cứu 27
3.2 Thực trạng căng thẳng nghề nghiệp ở giáo viên tiểu học 28
3.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng căng thẳng nghề nghiệp của đối tượngnghiên cứu 31
Trang 6PHỤ LỤC 1 89
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thông tin dân số học của đối tượng nghiên cứu 27
Bảng 3.2 Đặc điểm thu nhập và tình trạng sử dụng mạng xã hội của giáo viên 28 Bảng 3.3 Tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp theo từng nhóm áp lực công việc theo bảng hỏi JCQ 28
Bảng 3.4 Điểm trung bình của từng cấu phần cụ thể theo thang đo JCQ 29
Bảng 3.5 Điểm trung bình của toàn thang đo JCQ 29
Bảng 3.6 Thực trạng căng thẳng công việc theo thang đo JCQ 29
Bảng 3.7 Tỷ lệ căng thẳng của giáo viên theo từng câu hỏi thang đo DASS 2130 Bảng 3.8 Tỷ lệ căng thẳng của giáo viên theo thang đo DASS 21 31
Bảng 3.9 Điểm trung bình căng thẳng của toàn thang đo DASS 21 31
Bảng 3.10 Tình trạng căng thẳng theo DASS 21 trên hai nhóm nam và nữ giáo viên 31
Bảng 3.11 Tình trạng căng thẳng theo DASS 21 trên hai nhóm trường 31
Bảng 3.12 Tình trạng căng thẳng theo thâm niên công tác của giáo viên 32
Bảng 3.13 Tình trạng căng thẳng theo loại hợp đồng lao động 32
Bảng 3.14.Các yếu tố liên quan đến tình trình trạng căng thẳng của giáo viên (trên mô hình hồi quy logistic) 33
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong môi trường làm việc hiện nay, các áp lực đến từ công việc là khôngthể tránh khỏi, khi áp lực được một cá nhân chấp nhận nó có thể khiến người laođộng có động lực, tăng khả năng làm việc và học hỏi Tuy nhiên, khi áp lực trởnên quá mức hoặc không thể kiểm soát được, nó dễ dẫn đến căng thẳng Căngthẳng nghề nghiệp (hay Stress nghề nghiệp) được định nghĩa là sự mất cân bằnggiữa yêu cầu và khả năng lao động Các căng thẳng nghề nghiệp dẫn đến sự suygiảm sự tập trung, suy giảm hiệu quả làm việc của người lao động hay thậm chí
là mất khả năng làm việc
Theo Tổ chức y tế Thế Giới (WHO), các nguyên nhân chủ yếu gây racăng thẳng nghề nghiệp có thể được chia thành 2 nhóm chính bao gồm các căngthẳng liên quan đến nội dung công việc (nội dung công việc đơn điệu, khốilượng công việc lớn, thời gian làm việc kéo dài hoặc gò bó hay sự thiếu kiểmsoát trong công việc) và nhóm nguyên nhân liên quan đến bối cảnh công việc(tiền lương, thưởng, vị trí trong tổ chức…) Các nguyên nhân gây nên căngthẳng nghề nghiệp cũng thay đổi theo tính chất công việc
Dạy học là nghề dễ gây ra tình trạng căng thẳng nghề nghiệp cùng với cácnhóm nghề khác như điều dưỡng, quản lý hay nhóm nghề dịch vụ khác Nghiêncứu tại Malaysia năm 2009 cho thấy tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp ở giáo viên là40%, trong khi đó tỷ lệ này ở nhóm các ngành nghề khác chỉ là 20% Tại Israel,nghiên cứu của Zedan năm 2012 cho thấy có đến 91,3% giáo viên tiểu học trảiqua các cấp độ căng thẳng nghề nghiệp khác nhau, trong đó 55,1% giáo viên cótình trạng căng thẳng nghề nghiệp ở mức thấp, 36,2% giáo viên có tình trạngcăng thẳng nghề nghiệp ở mức cao Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy
tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp của giáo viên đang ở mức cao Nghiên cứu của VũThị Thúy tại 8 trường mầm non bán trú công lập tại Bình Thuận cho thấy có đến59,8% giáo viên có tình trạng căng thẳng nghề nghiệp Kết quả nghiên cứu củaTrịnh Viết Then năm 2016 cho thấy tỷ lệ giáo viên mầm non có căng thẳng nghềnghiệp lên đến 54,5% Trong các nghiên cứu trên, việc sử dụng đánh giá căng
Trang 9thẳng của giáo viên qua bộ công cụ JCQ là phổ biến Đây là bộ công cụ đượcchấp nhận rộng rãi để đánh giá căng thẳng nghề nghiệp một cách chuyên biệt và
đã được dịch sang tiếng Việt
Tiểu học là cấp học mà trẻ đang trong giai đoạn chuyển tiếp từ giai đoạnvui chơi sang giai đoạn học tập Trong giai đoạn này các chức năng sinh lý củatrẻ vẫn đang phát triển mạnh mẽ, đồng thời có những khủng hoảng theo tâm lýhọc lứa tuổi Kinh tế xã hội phát triển nhanh cùng với các cải cách trong giáodục Việt Nam trong thời gian gần đây đòi hỏi giáo viên tiểu học cần có nhữngthay đổi nhanh chóng và phù hợp với chương trình dạy học và sự phát triển của
xã hội Các yếu tố này góp phần làm gia tăng căng thẳng nghề nghiệp ở giáoviên từ đó là giảm hiệu quả hoạt động nghề nghiệp Từ thực tế đó, các nghiêncứu triển khai nhằm đánh giá tình trạng căng thẳng nghề nghiệp ở giáo viên tiểuhọc trong giai đoạn hiện nay cũng trở nên rất quan trọng và có ý nghĩa trong lĩnhvực y tế công cộng
Thanh Xuân là một trong những quận trung tâm và phát triển nhất củaThủ đô Hà Nội có diện tích 9,2km2 gồm 11 phường Với dân số là 285.000người và mật độ dân số lớn thứ 2 của Hà Nội Trên địa bàn phường hiện nay có
10 trường tiểu học công lập và 1 trường tiểu học dân lập với số lượng học sinhlớn Cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào về tình trạng căng thẳng nghềnghiệp được triển khai trên đối tượng giáo viên tiểu học tại đây Chính vì những
lý do trên chúng tôi quyết định tiến hành đề tài: “Căng thẳng nghề nghiệp và
một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân- Hà Nội năm 2019”.
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Xác định tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp ở giáo viên tiểu học quậnThanh Xuân, Hà Nội năm 2019
2 Mô tả các yếu tố liên quan đến căng thẳng nghề nghiệp ở giáo viêntiểu học quận Thanh Xuân, Hà Nội năm 2019
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương về căng thẳng.
1.1.1 Định nghĩa căng thẳng.
Căng thẳng hay Stresslà một trạng thái tâm sinh lý được nảy sinh khi cáckích thích tác động quá mức (vượt ngưỡng giới hạn cho phép) chịu đựng của cánhân dẫn đến thay đổi về nhận thức, thái độ và hành vi
Thuật ngữ stress được xuất hiện lần đầu từ thế kỷ thứ 15 Ban đầu đượcdùng trong vật lý học để chỉ sức nén mà vật liệu phải chịu Đến thế kỷ thứ 17thuật ngữ này được dùng chỉ sức ép trên tâm lý con người chỉ con người phảitrải qua thử thách gay go, tai hoạ hoặc nỗi đau buồn Sau đó năm 1914, WalterCannon sử dụng thuật ngữstress trong sinh lý học Tới năm 1935, trong mộtcông trình nghiên cứu về duy trì cân bằng nội môi ở các động vật có vú trongcác tình huống bị gò bó, ông đã mô tả stress là một phản ứng sinh lý tấn cônghoặc bỏ chạy trước hoàn cảnh khẩn cấp có liên quan đến tăng tiết Adrenal loecủa tuỷ thượng thận Từ hàng loạt các kích thích cấp tính tiến hành trên súc vật,Hans Sylye (1936) đã nhận thấy các đáp ứng không đặc hiệu mà ông gọi là hộichứng thích nghi với ba giai đoạn (giai đoạn báo động, giai đoạn chống đỡ vàgiai đoạn suy kiệt) có liên quan đến tăng bài tiết Glucococticoit ở vỏ thượngthận Stress tâm lý trong tâm thần học với ý nghĩa sang chấn tâm thần đó là tất
cả những sự việc, những hoàn cảnh trong các điều kiện sinh hoạt xã hội, trongmối liên quan phức tạp giữa người với người, tác động vào tâm thần, gây ranhững cảm xúc mạnh, phần lớn là tiêu cực: sợ hãi, lo lắng, buồn rầu, tức giận,ghen tuông, thất vọng
1.1.2 Khái niệm căng thẳng nghề nghiệp.
Theo WHO Căng thẳng nghề nghiệp (hay Stress nghề nghiệp) được địnhnghĩa là sự mất cân bằng giữa yêu cầu và khả năng lao động Trong đó yêu cầucông việc là các khía cạnh về thể chất, tâm lý, xã hội hoặc tổ chức của một côngviệc đòi hỏi nỗ lực hoặc kỹ năng thể chất và/hoặc tâm lý bền vững Nguồn lực
Trang 11công việc là các khía cạnh về thể chất, tâm lý, xã hội hoặc tổ chức của côngviệc hỗ trợ đạt được mục tiêu công việc; giảm nhu cầu công việc và chi phí sinh
lý và tâm lý liên quan; kích thích tăng trưởng cá nhân, học tập và phát triển
1.1.3 Nguyên nhân gây ra căng thẳng nghề nghiệp.
Nhìn chung các nguyên nhân gây ra căng thẳng nghề nghiệp khá đa dạng
và phức tạp Các nguyên nhân cũng thay đổi theo từng nhóm ngành nghề, vị tríviệc làm, giới tính… Năm 2006 Colligan cùng Thomas W và các đồng nghiệp
đã đưa ra 11 nhóm nguyên nhân gây nên căng thẳng nghề nghiệp WHO xếp cácnguyên nhân gây nên tình trạng căng thẳng nghề nghiệp thành 2 nhóm bao gồmcác căng thẳng liên quan đến nội dung công việc (nội dung công việc đơn điệu,khối lượng công việc lớn, thời gian làm việc kéo dài hoặc gò bó hay sự thiếukiểm soát trong công việc) và nhóm nguyên nhân liên quan đến bối cảnh côngviệc (tiền lương, thưởng, vị trí trong tổ chức…) Các nguyên nhân cụ thể baogồm:
- Môi trường làm việc độc hại: Bao gồm các ô nhiễm không khí, ô nhiễmtiếng ồn, môi trường chật hẹp, không vệ sinh, nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh,không đủ ánh sáng, có hóa chất độc hại có khả năng gây bệnh hay các tác nhân
có thể làm lây nhiễm bệnh
- Khối lượng làm việc tiêu cực: Trước đây, khái niệm khối lượng côngviệc quá lớn được hiểu như là một nguyên nhân gây nên căng thẳng nghềnghiệp Tuy nhiên việc sử dụng khái niệm khối lượng công việc tiêu cực gần đâyđược chấp nhận rộng rãi hơn Nó bao gồm cả khái niệm quá tải và việc căngthẳng do khối lượng công việc quá ít Khối lượng công việc và thời gian làmviệc có liên quan mật thiết đến nhau
- Thời gian làm việc: Bao gồm các yếu tố như việc sắp xếp thời gian làmviệc sai khác nhịp sinh học, sắp xếp thời gian làm việc không thuận tiện, thờigian làm việc kéo dài, ít nghỉ giải lao, phải làm thêm giờ hoặc nhiều giờ phụtrội…
Trang 12- Tình trạng cô lập hoặc tư thế làm việc không thoải mái không đúng vớicác tư thế Egonomic, công việc nhàm chán, lặp đi lặp lại trong thời gian dài.
- Áp lực về tài chính: Lương quá thấp hoặc không đủ chi trả cho nhu cầucủa bản thân Mức lương không tương xứng với hiệu quả công việc của bản thânngười lao động
- Vị trí, vai trò trong tổ chức: Người lao động có thể không nhận dạngđược vai trò, vị trí của mình trong tổ chức hoặc cảm thấy vị trí, vai trò của mìnhtrong tổ chức không phù hợp với trình độ, chuyên môn của bản thân, không phùhợp với các nỗ lực của bản thân
- Thiếu tự chủ, các rào cản phát triển sự nghiệp: Căng thẳng có thể đến dongười lao động cảm thấy công việc đang làm thiếu tính tự chủ, tình trạng lệthuộc quá lớn và/hoặc quá nhiều các rào cản để người lao động có khả năng họctập, phấn đấu và phát triển bản thân
- Các mối quan hệ trọng công việc: Bao gồm mối quan hệ với cấp trên vàđồng nghiệp
- Sự chèn ép của quản lý, lãnh đạo
- Tình trạng quấy rối, đặc biệt là tình trạng quấy rối tình dục
- Môi trường tổ chức kém
1.1.4 Các ảnh hưởng tiêu cực của căng thẳng nghề nghiệp.
Như đã đề cập, căng thẳng nghề nghiệp ở một mức độ vừa phải sẽ kíchthích khả năng lao động Tuy nhiên việc căng thẳng quá mức và/hoặc kéo dài cóthể dẫn đến nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến người lao động cũng như hiệu quảcông việc Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đề cập đến các mặttiêu cực của căng thẳng nghề nghiệp gây nên:
- Các rối loạn tâm lý kèm theo: Căng thẳng nói chung và căng thẳng nghềnghiệp nói riêng có thể dẫn đến hàng loạt các rối loạn tâm lý khác như trầmcảm, lo âu, rối loạn giấc ngủ,
Trang 13- Các căng thẳng nghề nghiệp và các yếu tố xấu trong tâm lý khi lao độngdẫn đến hậu quả là hiệu suất công việc kém, số ngày nghỉ việc tăng, năng suấtlàm việc ít hơn hoặc chấn thương
- Các căng thẳng nghề nghiệp có liên quan mạnh mẽ đến các thay đổi củaphản ứng sinh học cơ thể dẫn đến sức khỏe bị tổn hại như là có thể gây nên bệnhtim mạch, thậm chí có khả năng dẫn đến tử vong Do áp lực cao và nhu cầu tạinơi làm việc, các căng thẳng nghề nghiệp quá mức đã được chứng minh rằng cótương quan với tỷ lệ đau tim, tăng huyết áp và các rối loạn khác ,
- Căng thẳng nghề nghiệp cũng được báo cáo với mối liên hệ với các bệnhxương khớp, đặc biệt là tình trạng đau lưng và cột sống
- Căng thẳng nghề nghiệp cũng làm tăng nguy cơ nhiễm trùng và tai nạnnơi làm việc Các nghiên cứu trên điều dưỡng viên cho thấy việc làm việc dướitình trạng căng thẳng nghề nghiệp cao là yếu tố nguy cơ dẫn đến nhiễm khuẩn
và các tai nạn xảy ra trong lao động
- Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tình trạng căng thẳng nghề nghiệp tănglàm tăng đáng kể việc sử dụng các dịch vụ y tế Các báo cáo cho thấy tỷ lệ côngnhân có tình trạng làm việc căng thẳng sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏequá mức cao hơn nhóm có tình trạng làm việc ít căng thẳng hơn Trong mộtnghiên cứu năm 1998 với 46.000 công nhân, các công nhân có tình trạng căngthẳng khi làm việc phải bỏ ra số chi phí cao hơn nhóm ít căng thẳng đến 50%
Số tiền cụ thể tăng lên trong nhóm công nhân này so với nhóm ít căng thẳng là1.700 đô la Mỹ mỗi năm
- Các căng thẳng nghề nghiệp cũng là nguyên nhân dẫn đến các hành vilệch chuẩn như sử dụng rượu bia nhiều hơn hay sử dụng chất kích thích Nghiêncứu của Richard A Burn và cộng sự cho thấy nhóm lao động có tình trạng căngthẳng nghề nghiệp cao có xu hướng tìm đến rượu bia và chất kích thích để giảitỏa căng thẳng
1.1.5 Các dấu hiệu của căng thẳng nghề nghiệp.
Trang 14Các dấu hiệu của căng thẳng nghề nghiệp khá đa dạng, tuy nhiên nó cómối liên hệ chặt chẽ với khái niệm và biểu hiện stress trong tâm thần học Cácbiểu hiện của căng thẳng nghề nghiệp được Colligan Thomas W và HigginsEileen M đề cập trong nghiên cứu của mình bao gồm:
- Cảm thấy lo lắng, cáu kỉnh hoặc chán nản: Các biểu hiện thường gặpnhất của căng thẳng nghề nghiệp là tình trạng lo lắng về vấn đề công việc, lolắng về khả năng hoàn thành công việc hay lo lắng rằng có khả năng xảy ra cácsai sót trong công việc Tình trạng cáu kỉnh khi công việc không như ý hoặckhông thể hoàn thành công việc đúng tiến độ, đôi khi là cảm giác chán nản
- Sự thờ ơ, mất hứng thú với công việc: Sự thờ ơ, mất hứng thú với côngviệc là biểu hiện tiên quyết của căng thẳng nói chung và căng thẳng nghề nghiệpnói riêng, người lao động không quan tâm đến sự vật, hiện tượng và công việcxung quanh, làm việc ở trạng thái không có hứng thú từ đó làm giảm hẳn năngxuất lao động
- Chất lượng giấc ngủ kém là các rối loạn theo kèm gặp trong căng thẳngnghề nghiệp Các rối loạn liên quan đến giấc ngủ đôi khi có thể gặp đơn độc nhưmất ngủ, tỉnh giấc giữa giấc, gặp ác mộng, thời gian ngủ ít hoặc các triệu chứng
- Căng cơ hoặc đau đầu, đôi khi có thể gặp tình trạng chuột rút
- Các vấn đề với đường tiêu hóa như ăn kém ngon miệng, viêm loét dạdày tá tràng
- Giảm nhu cầu giao tiếp: Người lao động cảm thấy ít có thích thú khitham gia các hoạt động xã hội, gặp mặt, trò chuyện với bạn bè hay các hoạt độngvui chơi, giải trí nơi đông người
Trang 15- Giảm hoặc mất ham muốn tình dục
- Sử dụng rượu hoặc ma túy để đối phó
1.2 Đặc điểm của giáo viên tiểu học.
1.2.1 Định nghĩa giáo dục tiểu học.
Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp một đến lớpnăm trong đó tuổi bắt đầu nhận học sinh là 6 tuổi
1.2.2 Định nghĩa giáo viên tiểu học.
Giáo viên tiểu học là những người được đào tạo từ trung học trở lên cóchuyên ngành phù hợp với giáo dục tiểu học, làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dụchọc sinh trường tiểu học và cơ sở giáo dục khác nhằm thực hiện chương trìnhgiáo dục tiểu học
1.2.3 Nhiệm vụ của giáo viên tiểu học.
- Giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo dục, kếhoạch dạy học; soạn bài, lên lớp, kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quản lýhọc sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạtđộng chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáodục
- Trau dồi đạo đức, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất,danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước học sinh, thương yêu, đối xửcông bằng và tôn trọng nhân cách của học sinh; bảo vệ các quyền và lợi íchchính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp
- Học tập, rèn luyện để nâng cao sức khỏe, trình độ chính trị, chuyên môn,nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy
- Tham gia công tác phổ cập giáo dục tiểu học ở địa phương
- Thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành,các quyết định của Hiệu trưởng; nhận nhiệm vụ do Hiệu trưởng phân công, chịu
sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục
Trang 16- Phối hợp với Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, gia đình học sinh
và các tổ chức xã hội liên quan để tổ chức hoạt động giáo dục
1.3 Tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp.
1.3.1 Tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp ở các ngành nghề khác.
Báo cáo của viện an toàn và sức khỏe nghề nghiệp quốc gia Mỹ (NIOSH)cho thấy 40% công nhân báo cáo công việc của họ rất hoặc cực kỳ căng thẳng,25% cho rằng công việc của họ là yếu tố gây căng thẳng số một trong cuộc sốngcủa họ, 75% công nhân cho rằng căng thẳng trong công việc ngày càng nhiềuhơn so với thế hệ trước, 26% công nhân cho biết họ thường xuyên hoặc rấtthường xuyên bị kiệt sức và có căng thẳng vì công việc và căng thẳng công việc
là yếu tố báo động hàng đầu về sức khỏe của công nhân Năm 2007, khoảng 30% công nhân của liên minh Châu Âu báo cáo rằng họ có căng thẳng nghềnghiệp và căng thẳng nghề nghiệp ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe của họ
20-Cùng với giáo viên, một trong những ngành nghề được đánh giá là có tìnhtrạng căng thẳng nghề nghiệp cao là nhân viên y tế Chính vì vậy, các nghiêncứu về căng thẳng nghề nghiệp ở nhân viên y tế là khá phổ biến Nghiên cứu củaMark.G và cộng sự năm 2011 trên 870 điều dưỡng ở miền nam nước Anh chothấy tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp trong nhóm này là 27,3% Một nghiên cứukhác trên nhóm đối tượng là bác sĩ làm việc tại bệnh viện Đại học Y Ibadan năm
2016 cho thấy tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp của nhóm đối tượng lên đến 31,6% Trong khi đó, một tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp cao bất thường được tìm thấytrong một nghiên cứu phân tích tổng hợp tại Iran Nghiên cứu của SaharDalvand dựa trên số liệu của 30 nghiên cứu trước đó với cỡ mẫu là 4.630 nhânviên điều dưỡng tại Iran Kết quả cho thấy có đến 69% nhân viên điều dưỡngtrong nghiên cứu báo cáo có tình trạng căng thẳng nghề nghiệp Trong đó nghiêncứu có tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp cao nhất trong 30 bài báo trước đó lên đến90%
Trang 17Trong xuất bản của Ahmad Azizah vào tháng 8 năm 2016 và cộng sự trên
113 giảng viên tại đại học Private tại Malaysia cho thấy tỷ lệ căng thẳng nghềnghiệp trong giảng viên lên đến 24,8% Cũng tại Malaysia, nghiên cứu trên 551giảng viên tại Đại học Putra Malaysia tại Serdang cho tỷ lệ căng thẳng nghềnghiệp là 21,7% trong đó ở nam giới là 21,0% và ở nữ là 23,0%
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về thực trạng căng thẳng nghề nghiệp bắtđầu được chú ý trong những năm gần đây Nghiên cứu mô tả cắt ngang đượctiến hành trên 420 công nhân công ty may Trường Tiến, Nam Định năm 2016của Lê Trần Anh Tuấn và cộng sự cho thấy tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp của đốitượng nghiên cứu là 27,9% Nghiên cứu của Trần Thị Thu Thủy và Nguyễn ThịHương Liên trên nhóm 600 điều dưỡng tại bệnh viện Việt Đức Hà Nội năm
2015 cho thấy tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp chỉ ở mức 18,5% Nghiên cứu sửdụng thang đo DASS21 của quỹ tâm lý Úc Trước đó, trong luận văn thạc sĩ củaTrần Thị Thúy cũng đề cập đến tỷ lệ căng thẳng của cán bộ y tế khối lâm sàngcủa bệnh viện Ung bướu Hà Nội năm 2011 cho thấy tỷ lệ căng thẳng của nhómđối tượng này là 36,9%, nghiên cứu cũng sử dụng thang đo DASS 21 Cũng sửdụng thang đo DASS 21, nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết năm 2013 tại bệnh viện
đa khoa 115 Nghệ An trên khối cán bộ lâm sàng cho kết quả tỷ lệ căng thẳng kháthấp
Các nghiên cứu mới nhất năm 2017 và 2018 về căng thẳng nghề nghiệpcũng tập trung trên nhóm cán bộ y tế và giáo viên Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệcăng thẳng nghề nghiệp trên cùng nhóm ngành nghề dường như có xu hướng giatăng Nghiên cứu của Trần Văn Thơ năm 2017 về tình trạng căng thẳng củanhóm điều dưỡng viên bệnh viện tại bệnh viện Nhi Trung Ương cho thấy có đến42,5% điều dưỡng viên lâm sàng có tình trạng căng thẳng Trong khi đó, tỷ lệcăng thẳng của nhóm bác sĩ công tác tại bệnh viện E Hà Nội theo nghiên cứucủa Lê Văn Tuấn là 25% cũng được sử dụng thang đo DASS 21 Nghiên cứu củaĐặng Kim Oanh năm 2017 tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho thấy : Tỷ lệstress nghề nghiệp của điều dưỡng khối lâm sàng Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Trang 18là 35,1%.Theo mức độ stress, tỷ lệ điều dưỡng mắc ở mức độ nhẹ là 22,1%, vừa
là 10,5%, nặng là 2,1%, và không có ai mắc stress ở mức độ rất nặng
Nghiên cứu của Lê Thị Huệ năm 2018 ở nhân viên y tế bệnh viện phongTuy Hòa cho thấy tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp của Bác sĩ và điều dưỡng Bệnhviện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2018 là 6,4%
1.3.2 Tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp ở giáo viên và giáo viên tiểu học.
Các nghiên cứu về căng thẳng nghề nghiệp ở giáo viên và giáo viên tiểuhọc trên thế giới khá phổ biến Đây được coi là một trong những ngành nghề có
tỷ lệ căng thẳng cao cùng với các nhóm ngành khác như điều dưỡng, bác sĩ…
Nghiên cứu của Chaplain Roland P và cộng sự năm 1995 trên nhóm giáoviên tiêu học tiếng Anh cho thấy có 23% giáo viên báo cáo có tình trạng căngthẳng công việc ở mức cao và rất cao Điểm số trung bình căng thẳng theo thang
đo “stress scale” là 2,39±0,93
Tại Malaysia, nghiên cứu năm 2009 cho thấy tỷ lệ căng thẳng nghềnghiệp ở giáo viên là 40%, trong khi đó tỷ lệ này ở nhóm các ngành nghề khácchỉ là 20% Tại Israel, nghiên cứu của Zedan năm 2012 cho thấy có đến 91,3%giáo viên tiểu học trải qua các cấp độ căng thẳng nghề nghiệp khác nhau, trong
đó 55,1% giáo viên có tình trạng căng thẳng nghề nghiệp ở mức thấp, 36,2%giáo viên có tình trạng căng thẳng nghề nghiệp ở mức cao
Năm 2015, nghiên cứu của Yang Wang và cộng sự sử dụng công cụ đolường căng thẳng nghề nghiệp của giáo viên tiểu học ở Liêu Ninh, Trung Quốcbằng bảng kiểm nội dung công việc Karasek (JCQ) Với cỡ mẫu 559 giáo viêntiểu học tham gia cuộc khảo sát, kết quả cho thấy điểm số trung bình theo bảngJCQ ở mức cao, đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra rằng căng thẳng nghề nghiệp
là tác nhân gây nên nhiều bất lợi về sức khỏe ở giáo viên tiểu học
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về thực trạng căng thẳng nghề nghiệp ởgiáo viên rất hạn chế Tác giả Phạm Mạnh Hà đã có công trình nghiên cứu
“Đánh giá mức độ căng thẳng tâm lý (stress) của giảng viên Đại học quốc gia
Trang 19Hà Nội, nguyên nhân và những biện pháp phòng ngừa” Kết quả nghiên cứu chothấy đa số giảng viên Đại học quốc gia Hà Nội căng thẳng ở mức độ nhẹ với90%, và có đến 6% giảng viên có căng thẳng ở mức độ rất nặng Nghiên cứucũng chỉ ra tỷ lệ mắc căng thẳng ở nữ giảng viên là 90% trong khi đó tỷ lệ căngthẳng ở nam chỉ chiếm 88,5%.
Nghiên cứu của Trịnh Viết Then năm 2016 trên đối tượng giáo viên mầmnon cho thấy tỷ lệ căng thẳng ở nhóm giáo viên mầm non là 54,5%, trong đó có38,0% có tình trạng căng thẳng nhẹ, 13,1% có tình trạng căng thẳng trung bình,2,8% có tình trạng căng thẳng cao và 0,6% có tình trạng căng thẳng rất cao
1.4 Các yếu tố liên quan đến căng thẳng nghề nghiệp ở giáo viên tiểu học.
Các nghiên cứu khác nhau trên thế giới và Việt Nam đã cho thấy có nhiềuyếu tố liên quan đến tình trạng căng thẳng nghề nghiệp của giáo viên nói chung
và giáo viên tiểu học nói riêng Các nghiên cứu cho thấy có sự liên quan lớngiữa các yếu tố tâm thần khác như trầm cảm hay rối loạn lo âu ở những giáoviên có biểu hiện căng thẳng Nghiên cứu của Desouky D và Allam H trên 568giáo viên Ai Cập cho thấy ngoài sự tương quan giữa căng thẳng nghề nghiệp vàtình trạng trầm cảm, rối loạn lo âu trên đối tượng nghiên cứu, căng thẳng nghềnghiệp còn được quan sát thấy có tỷ lệ cao hơn ở những giáo viên trên 40 tuổi và
nữ giới Nghiên cứu cũng cho thấy giáo viên tiểu học là đối tượng có tình trạngcăng thẳng cao nhất trong số các đối tượng nghiên cứu, ngoài ra có sự ảnhhưởng không nhỏ của mức lương, khối lượng công việc, kinh nghiệm công việchay trình độ của giáo viên Trong nghiên cứu này, giáo viên có trình độ cao hơnhay có kinh nghiệm nhiều hơn lại là yếu tố nguy cơ của căng thẳng
Khu vực công tác cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự căngthẳng và hài lòng trong công việc của giáo viên tiểu học Một nghiên cứu năm
2017 tại Mỹ cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa giáo viên tiểu học giảng dạytại khu vực nông thôn và thành thị trong đó giáo viên ở thành thị có tỷ lệ căngthẳng cao hơn nhóm giáo viên ở nông thôn Nghiên cứu tại Phần Lan củaVertanen-Greis H và cộng sự lại cho thấy sự liên quan mật thiết giữa căng thẳng
Trang 20và rối loạn giọng nói của giáo viên Nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữacăng thẳng và rối loạn giọng nói thậm chí còn mạnh hơn mối liên quan giữacăng thẳng và các bệnh có liên quan hô hấp như hen hay viêm mũi dị ứng
Trong khi các nghiên cứu tập trung tìm hiểu tác động của môi trường đếncăng thẳng của giáo viên Nghiên cứu của Pack S và cộng sự tập trung nghiêncứu ảnh hưởng của tính cách cá nhân đến tình trạng căng thẳng của giáo viên.Kết quả của Pack S và công sự cho thấy các tính cách như sự tự định hướng,kiên trì, phán đoán được các tình huống căng thẳng là các yếu tố bảo vệ nhằmgiảm thiểu nguy cơ căng thẳng ở mức cao của giáo viên tiểu học và trung học cơ
sở Trong khi đó sự thiếu hiểu biết về căng thẳng là một trong những yếu tốnguy cơ dẫn đến tình trạng căng thẳng mức cao Tương tự, nghiên cứu củaMorgan J cũng cho thấy các giáo viên có khả năng kiểm soát công việc của bảnthân tốt trong vòng 2 tuần lễ giúp giảm tình trạng căng thẳng trong công việc
Tại Việt Nam, các nghiên cứu cũng chỉ ra một số các yếu tố liên quan đếntình trạng căng thẳng của giáo viên Các yếu tố căn bản vẫn là giới tính, mứclương, vị trí nghề nghiệp và trình độ học vấn của giáo viên Trong luận án tiến sĩcủa Trịnh Viết Then chỉ ra rằng sự hỗ trợ của đồng nghiệp và phụ huynh là cácyếu tố quan trọng dự báo tình trạng căng thẳng của giáo viên Ngoài ra tính cáchlạc quan, sự hỗ trợ từ gia đình, lòng yêu nghề hay mối liên quan giữa thời gian ởnhà và công việc cũng là những yếu tố dự báo cho tình trạng căng thẳng nghềnghiệp
1.5 Các thang đo căng thẳng nghề nghiệp.
1.5.1 DASS 21 và DASS 42.
DASS (Depression Anxiety Stress Scales) là thang điểm đánh giá cả batình trạng trầm cảm, lo âu và căng thẳng được phát triển bởi các nhà nghiên cứutại Đại học New South Wales của Úc bao gồm 2 phiên bản DASS 42 và phiênbản rút gọn DASS 21 Thang DASS 42 được tạo thành từ 42 mục mà các đốitượng nghiên cứu sẽ tự báo cáo và hoàn thành trong khoảng thời gian từ 5-10
Trang 21phút Mỗi một câu sẽ được đánh giá theo thang đo Likert bốn điểm về tần suấthoặc mức độ nghiêm trọng về trải nghiệm của người tham gia trong vòng 1 tuầnvừa qua với ý định nhấn mạnh các trạng thái qua các đặc điểm Các điểm số nàygiao động từ 0, có nghĩa là đối tượng nghiên cứu tin rằng tình trạng này “hoàntoàn không xảy ra đối với họ”, đến 3 có nghĩa là đối tượng nghiên cứu coi tìnhtrạng đó “áp dụng cho hầu hết thời gian”.
Trong thang điểm DASS 42 mỗi 14 mục tạo nên 1 thang đo riêng chotừng tình trạng trầm cảm, lo âu hoặc căng thẳng Đối với DASS 21 mỗi 7 mụctạo nên 1 thang đo riêng cho từng tình trạng Mục đích chính của thang đoDASS là xác định các khía cạnh của rối loạn cảm xúc Nó hiệu quả đối với cácmẫu trên 16 tuổi Các thang DASS là các rối loạn cảm xúc tự đánh giá chính vìvậy nó là một trong những test sàng lọc hiệu quả đối với tình trạng trầm cảm, lo
âu và căng thẳng của đối tượng nghiên cứu Điều này góp phần tích cực trongchẩn đoán lâm sàng của các bác sĩ Các thang DASS cũng được khuyên có thể
sử dụng kết hợp các thang đánh giá khác Hiện nay thang DASS đã được ViệtHóa và sử dụng khá rộng rãi tại Việt Nam, trong đó có sử dụng để đánh giá tìnhtrạng căng thẳng nghề nghiệp
1.5.2 Bộ câu hỏi đánh giá căng thẳng do Hội quản lý căng thẳng Quốc tế.
Bộ câu hỏi đánh giá căng thẳng do Hội quản lý căng thẳng quốc tế (International Stress Management Association) của Anh sử dụng gồm 25 câuhỏi trắc nghiệm dạng có/không Mỗi câu trả lời có được 1 điểm, còn lại là 0điểm,tính tổng điểm cho 25 câu hỏi để đánh giá mức độ căng thẳng của từng cánhân.Từ4 điểm trở xuống là ít có căng thẳng, từ 5-13 điểm là có liên quan giữacăng thẳng và tình trạng sức khỏe thể chất, tinh thần, từ 14 điểm trở lên là nhữngngười dễ bị căng thẳng Thang đo này chưa được Việt hóa và sử dụng nhiều tạiViệt Nam
1.5.3 Bảng hỏi nội dung công việc của Karasek.
Trang 22Bảng hỏi nội dung công việc (Job contend questionnaire) trong đó cóđánh giá về các căng thẳng do công việc gây ra Bảng hỏi gồm 33 câu hỏi với sốđiểm từ 1 đến 4 tương ứng với các mức độ tăng dần cho mỗi câu mô tả mô hìnhcăng thẳng của Karasek Bảng hỏi này đánh giá 5 phương diện: áp lực thể chất,quyền quyết định thời gian và nhịp độ công việc, quyền quyết định về mức độphức tạp của công việc, quyền quyết định về thứ bậc trách nhiệm, sự ủng hộ vềmặt xã hội thông qua đánh giá mối quan hệ người lao động với đồng nghiệp vàcấp trên Bảng câu hỏi này đã được Việt Hóa và bắt đầu được sử dụng nhiều tạicác nghiên cứu về căng thẳng nghề nghiệp tại Việt Nam
1.5.4 Thang đo căng thẳng tự cảm nhận.
Thang đo căng thẳng tự cảm nhận (Perceived stress scale) được phát triển
để đo lường các mức độ mà các tình huống trong cuộc sống của một người đượcđánh giá là căng thẳng thang đo căng thẳng tự cảm nhận được phát triển từ năm
1983 và đã trở thành một trong những công cụ phổ biến để đo lường sự căngthẳng nhận thức không đặc hiệu thang đo có 2 phiên bản PSS-10 và PSS-14 đãđược phiên dịch sang tiếng Việt tuy nhiên ít được sử dụng để đo lường căngthẳng nghề nghiệp
1.5.5 Thang đo căng thẳng của Hokmes và Rahe.
Thang đo căng thẳng của Holmes và Rahe gồm 43 mục mô tả các sự kiệntrong cuộc sống có thể góp phần vào tình trạng căng thẳng chung Thang đo bắtđầu được phát triển vào năm 1967 Thang đo được đánh giá riêng cho người lớn
và trẻ em Tuy nhiên thang đo khá dài nên khó kết hợp để sử dụng cho đánh giácăng thẳng nghề nghiệp
Trong các thang đo căng thẳng trên, JCQ là bộ công cụ được chấp nhậnrộng rãi trong thời gian gần đây Bộ câu hỏi có nhiều điểm thuận lợi khi được sửdụng để đánh giá căng thẳng nghề nghiệp tại Việt Nam như nó đã có phiên bảntiếng Việt, đánh giá một cách chính xác các khía cạnh của căng thẳng nghềnghiệp mà ở đó các bộ công cụ khác không làm được
Trang 231.6 Tổng quan địa điểm nghiên cứu.
Quận Thanh Xuân nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của Thủ đô Hà Nội códiện tích 9,2km2 gồm 11 phường Với dân số là 282,678người và mật độ dân sốlớn thứ 2 của Hà Nội
Dân cư chủ yếu tại quận là dân lao động, một bộ phận công chức và cácngành nghề dịch vụ khác Trình độ dân trí không đồng đều, thu nhập bình quânđầu người còn thấp, điều kiện nhà ở chật trội Hiện nay trên địa bàn có 12trường tiểu học công lập và 1 trường tiểu học dân lập với số lượng học sinh lớn.Danh sách các trường tiểu học công lập bao gồm:
- Trường tiểu học Đặng Trần Côn
- Trường tiểu học Khương Đình
- Trường tiểu học Phương Liệt
- Trường tiểu học Nhân Chính
- Trường tiểu học Xuân Trung
- Trường tiểu học Hạ Đình
- Trường tiểu học Thanh Xuân Nam
- Trường tiểu học Kim Giang
- Trường tiểu học Nguyễn Trãi
- Trường tiểu học Phan Đình Giót
- Trường tiểu học Khương Mai
- Trường tiểu học Thanh Xuân Bắc
Trường tiểu học dân lập duy nhất trên địa bàn quận Thanh Xuân hiện nay
là trường tiểu học Ngôi Sao Hà Nội nằm tại khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính
Trang 24CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1.Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Giáo viên tiểu học công lập và ngoài công lập đanglàm việc tại 13 trường tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân
- Tiêu chuẩn loại trừ: Các giáo viên làm không đồng ý tham gia nghiên cứu,các giáo viên đi công tác hoặc đi học dài ngày không tham gia giảng dạy
2.1.2 Địa điểm
- Các trường tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân, Hà Nội
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 6 năm 2020
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang
- Z1-α/2: độ tin cậy 95%, khi α=0,05 thì Z1-α/2=1,96
- p: Tỷ lệ giáo viên có căng thẳng nghề nghiệp đã được nghiên cứu trước đây,lấy theo nghiên cứu của Trịnh Viết Then là 54,5%
Trang 25- d : Độ chính xác tuyệt đối lấy bằng 5%
Với các giá trị của tham số được chọn, tính theo công thức, cỡ mẫu là 381cộng với 10% dự phòng, cỡ mẫu cần lấy là 419 người
1.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu
2.3.1.Bảng biến số và chỉ số nghiên cứu
Biến số Loại biến Chỉ số/tiêu chí đánh giá
Phương pháp thu thập THÔNG TIN DÂN SỐ HỌC CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU A1 Tuổi Định lượng Trung bình, độ lệch chuẩn Tự điền
Tỷ lệ phần trăm các nhómtình trạng hôn nhân
Tự điền
A4 Tôn giáo Định tính, Tỷ lệ phần trăm các nhóm Tự điền