Từ bao đời nay Lễ hội cầu nối quá khứ với hiện tại đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa, là sợi dây gắn kết cộng đồng, tạo dựng không gian văn hóa vừa trang trọng, linh thiêng, vừa tưng bừng, náo nức. Lễ hội trở thành nơi công chúng đến với lịch sử cha ông, trở về với cội nguồn dân tộc, tưởng nhớ công ơn người đi trước, cầu mong những điều tốt lành. Ðồng thời là nơi người dân được vui chơi, giải tỏa, bù đắp về tinh thần. Một trong những lễ hội có từ lâu đời, thu hút hàng triệu du khách trong và ngoài nước hằng năm đến tham dự đó là lễ hội vía Bà Chúa Xứ Núi Sam. Qua lễ hội giúp mọi gắn kết với nhau hơn, cảm thông và cùng chia sẻ những khó khan trong cuộc sống. Một lý do khác thiêng về mặt chủ quan, bản thân là người con của vùng đất Nam Bộ nên trong quá trình học môn Văn hóa dân gian cũng như khi bắt đầu tìm kiếm đề tài để thực hiện tiểu luận thì đề tài “Đặc sắc lễ hội vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” thật sự là rất phù hợp, vừa gần gũi với bản thân, vừa lồng ghép được kiến thức học thuật mới, vừa nói lên được sự hiểu biết của bản thân về một nét văn hóa dân gian của mảnh đất nơi mình sinh ra và lớn lên. Tất cả những yếu tố đó thúc đẩy tôi tìm hiểu và thực hiện đề tài này. Và hơn thế nữa, để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tinh thần, lưu truyền cho các thế hệ sau này, “Đặc sắc lễ hội vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” hy vọng sẽ hoàn thành tốt được điều đó.
Trang 1
ĐẶC SẮC LỄ HỘI VÍA BÀ CHÚA XỨ NÚI SAM
Trang 2MỤC LỤC
TỔNG QUAN 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết quả mong muốn 4
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.2 Cơ sở thực tiễn 5
CHƯƠNG II: VÀI NÉT KHÁI QUÁT 5
2.1 Nguồn gốc, hình dáng tượng Bà và đặc điểm kiến trúc miếu Bà 5
2.1.1 Nguồn gốc tượng Bà 5
2.1.2 Hình dáng tượng Bà 6
2.2 Địa điểm tổ chức và quy mô của lễ hội 9
CHƯƠNG III: ĐẶC SẮC LỄ HỘI VÍA BÀ CHÚA XỨ NÚI SAM 10
3.1 PHẦN LỄ 12
Lễ tắm Bà 12
Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về Miếu Bà 13
Lễ Túc Yết 14
Lễ xây chầu 15
Lễ chánh tế 16
3.2 PHẦN HỘI 17
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3TỔNG QUAN
Từ bao đời nay Lễ hội - cầu nối quá khứ với hiện tại đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa, là sợi dây gắn kết cộng đồng, tạo dựng không gian văn hóa vừa trang trọng, linh thiêng, vừa tưng bừng, náo nức Lễ hội trở thành nơi công chúng đến với lịch sử cha ông, trở về với cội nguồn dân tộc, tưởng nhớ công ơn người đi trước, cầu mong những điều tốt lành Ðồng thời là nơi người dân được vui chơi, giải tỏa, bù đắp về tinh thần
Một trong những lễ hội có từ lâu đời, thu hút hàng triệu du khách trong và ngoài nước hằng năm đến tham dự đó là lễ hội "vía Bà Chúa Xứ Núi Sam" Qua lễ hội giúp mọi gắn kết với nhau hơn, cảm thông và cùng chia sẻ những khó khan trong cuộc sống
Một lý do khác thiêng về mặt chủ quan, bản thân là người con của vùng đất
Nam Bộ nên trong quá trình học môn Văn hóa dân gian cũng như khi bắt đầu tìm
kiếm đề tài để thực hiện tiểu luận thì đề tài “Đặc sắc lễ hội vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” thật sự là rất phù hợp, vừa gần gũi với bản thân, vừa lồng ghép được kiến
thức học thuật mới, vừa nói lên được sự hiểu biết của bản thân về một nét văn hóa dân gian của mảnh đất nơi mình sinh ra và lớn lên
Tất cả những yếu tố đó thúc đẩy tôi tìm hiểu và thực hiện đề tài này Và hơn thế nữa, để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tinh thần, lưu truyền cho các thế
hệ sau này, “Đặc sắc lễ hội vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” hy vọng sẽ hoàn thành tốt
được điều đó
Trang 4Củng cố lại lượng kiến thức đã học được từ những môn học trước như Văn hóa Nam Bộ, áp dụng những hiểu biết của bản thân vào trong vấn đề nghiên cứu lần này Tập trung tìm hiểu những nét văn hóa độc đáo và tinh tế những giá trị tâm linh trong việc tôn thờ tín ngưỡng Bà Chúa Xứ, góp phần gìn giữ những nét đẹp về bản sắc văn hóa của lễ hội truyền thống và phát huy hơn nữa tinh thần đoàn kết, gắn bó giữa các dân tộc anh em Việt Nam
Đối tượng của tiểu luận là lễ hội vía Bà Chúa Xứ ở Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
Phương pháp biện chứng đó là: Phương pháp luận và phương pháp cụ thể Và trong mỗi phương pháp bao gồm những chi tiết cụ thể như sau:
Phương pháp luận bao gồm: phương pháp biện chứng, phương pháp logic, phương pháp lịch sử,
Phương pháp biện chứng: Thể hiện bằng việc so sánh tín ngưỡng thờ Mẫu cũng như là các lễ hội ở Nam bộ khác như thế nào với thờ Mẫu ở Bắc bộ để thấy được điểm giống và khác nhau giữa các hiện tượng nhằm phân tích và biện luận một cách chặt chẽ hơn để nâng cao vai trò, đặc điểm, giá trị, bản sắc văn hóa dân gian của lễ hội vía Bà
Phương pháp lịch sử: Bằng việc đặt lễ hội này trong một không gian và thời gian để thấy được chiều dài lịch sử về tín ngưỡng thờ Mẫu phát triển như thế nào, từ đó lien hệ tới lễ hội vía Bà ở Núi Sam, Châu Đốc
Trang 5Phương pháp logic: từ việc nghiên cứu phương pháp lịch sử như trên thì tôi sẽ hệ thống lại những thông tin bằng cách sử dụng phương pháp logic, để làm rõ những nét đẹp bản sắc văn hóa của lễ hội vía Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc Phương pháp cụ thể bao gồm: Liên hệ trực tiếp với các bạn sinh viên là người dân khu vực Bà ngự
Bên cạnh đó, đồng thời sử dụng hai phương pháp là phân tích và tổng hợp để vừa phân tích các tài liệu liên quan trong quá trình viết bài về Đặc sắc lễ hội Vía
Bà Chúa Xứ Núi Sam
Đề tài tiểu luận “Đặc sắc lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” ở thành phố Châu Đốc, An Giang mà tôi thực hiện hy vọng sẽ phần nào thể hiện được những nét đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam nói chung, thờ Bà Chúa Xứ ở Núi Sam nói riêng, sẽ giúp mọi người hiểu được những nét đặc sắc trong lễ hội Vía Bà Từ
đó, có ý thức hơn về cộng đồng, cố gắng hoàn thiện bản thân và sống tốt hơn
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng "Lễ" là hệ
thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện "Hội" là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống
Lễ hội là hoạt động tập thể và thường có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo
Con người xưa kia rất tin vào trời đất, thần linh Các lễ hội cổ truyền phản ảnh hiện
Trang 6tượng đó Tôn giáo rất có ảnh hưởng tới lễ hội Tôn giáo thông qua lễ hội để phô trương thanh thế, lễ hội nhờ có tôn giáo đề thần linh hóa những thứ trần tục Nhưng trải qua thời gian, trong nhiều lễ hội, tính tôn giáo dần giảm bớt và chỉ còn mang
nặng tính văn hóa
1.2 Cơ sở thực tiễn
An Giang thuộc miền Tây Nam Bộ, vùng đất có nhiều lợi thế về thiên nhiên
và rất nhiều di tích văn hóa lịch sử Nơi đây tập trung nhiều công trình kiến trúc, di tích lịch sử văn hóa cùng hàng trăm chùa, am, miếu mang dấu ấn của một thời mở cõi về phương Nam Bên cạnh các di tích lịch sử văn hóa, lễ hội cũng là một loại hình văn hóa đặc sắc của vùng đất này, trong đó đặc trưng nhất là Lễ hội Vía Bà
Chúa Xứ núi Sam
CHƯƠNG II: VÀI NÉT KHÁI QUÁT
2.1 Nguồn gốc, hình dáng tượng Bà và đặc điểm kiến trúc miếu Bà
2.1.1 Nguồn gốc tượng Bà
Cách đây gần 200 năm, núi Sam còn hoang vu, cây cối rậm rạp, nhiều thú
dữ, dân cư thưa thớt, giặc biên giới thường sang khuấy nhiễu đặc biệt là quân Xiêm Mỗi khi giặc đến, người dân quanh vùng lại phải bồng bế nhau chốn chạy lên núi lánh nạn Có lần quân giặc đuổi theo lên đến đỉnh núi Sam thì gặp tượng
Bà Chúng hì hục cậy ra, lấy dây buộc lại dùng đòn khiêng xuống núi để mang về
xứ Nhưng khi bọn chúng mới khiêng đi được một đoạn đường ngắn, lạ thay tượng
Bà bỗng dưng nặng trĩu không thể nào nhấc lên được nữa Khi đó, một tên trong bọn tức giận đập vào cốt tượng làm gãy một phần cánh tay bên trái và ngay tức khắc hắn bị trừng phạt hộc máu, chết tại chỗ, bọn cướp hoảng sợ kéo nhau bỏ chạy tán loạn
Trang 7Sau khi chúng bỏ đi, trong làng có một bé gái đang đùa giỡn bỗng dưng ngồi lại, mặt đỏ bừng, đầu lắc lư, tự xưng là Chúa Xứ Thánh Mẫu, nói với các bô lão:
“Tượng bà đang ngự trên núi, bị giặc Xiêm phá hại, dân làng hãy đưa Bà xuống núi lập miếu thờ cúng Bà sẽ phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, tránh được giặc cướp quấy phá, thoát khỏi dịch bệnh hoành hành” Dân làng kéo nhau lên núi, quả thật tượng Bà đang ngự gần trên đỉnh Họ xúm nhau khiêng tượng xuống làng nhằm mục đích để gìn giữ và phụng thờ Bao nhiêu tráng đinh lực điền được huy động, các lão làng tính kế để đưa tượng đi, nhưng không làm sao nhấc lên được Các cụ bàn nhau chắc là chưa trúng ý Bà nên cử người cầu khấn Quả nhiên bé gái hôm nọ lại được Bà đạp đồng mách bảo: “Hãy chọn chín
cô gái đồng trinh để đem Bà xuống núi” Dân làng mừng rỡ tuyển chọn chín cô gái, tắm rửa sạch sẽ ăn mặc đẹp, tới thỉnh bà xin phép Bà được đưa cốt tượng xuống Lạ thay, chín cô gái khiêng bà đi một cách nhẹ nhàng Xuống đến chân núi, tượng bỗng nặng trịch, các cô phải đặt xuống đất và không nhấc lên nổi nữa Dân làng hiểu rằng Bà muốn ngự nơi đây nên tổ chức xin keo, được Bà chấp thuận và lập Miếu thờ
Hôm đó là ngày 25 tháng 4 âm lịch, dân làng lấy ngày này làm lễ vía Bà Từ
đó, dân gian tôn thờ và tin tưởng Bà như một phép mầu huyền diệu mà trời đất đã ban cho cư dân vùng này
2.1.2 Hình dáng tƣợng Bà
Thực chất, tượng Bà vốn là một pho tượng đá, thể hiện dáng hình một người đàn ông trong tư thế ngồi, chân trái của tượng xếp bằng tròn, mũi bàn chân giáp với chân phải; chân phải để gập, co gối, chống thẳng bàn chân xuống mặt bệ
đá Tay trái của tượng ở tư thế chống nạnh, bàn tay xoải xuống mặt bệ đá, phía sau đùi trái Tay phải tượng thả tự nhiên, bàn tay úp trên đầu gối phải Tóc tượng uốn thành những búp xoăn, thả về phía sau Trên mặt tượng có một vành ngấn, là nơi
Trang 8đặt mão lên đầu tượng Trong vành ngấn này có những hoa văn hình móc câu, riêng ở phần vành nằm trước trán của tượng có một hình tròn, chung quanh là những hoa văn kiểu ngọn lửa Trên cánh tay để trần của tượng có một vành đai, giống như cái vòng đeo tay Toàn bộ dáng hình của pho tượng là dáng hình một người đàn ông tràn đầy sức sống, với bộ ngực căng nở và chiếc bụng phệ Trên ngực của tượng có một vành đai như vòng kiềng, trước ngực là hình mảnh trăng lưỡi liềm khá rộng Toàn bộ pho tượng cao chừng 1,25 m, được tạc liền một thớt
đá cùng loại, với bệ tượng dày chừng 10 cm Về trang phục, tượng được tạc trong
tư thế đang vận một chiếc khố Ở bắp cánh tay, gần bả vai của tượng, sát nách, nổi cộm một vòng đai có hình dạng như một chiếc vòng đeo tay Ở cổ tượng nổi cộm một vòng đai hình vòng kiềng, chỗ vòng nằm ngay ngực khá to, hình lưỡi liềm, có
Trang 9Năm 1870, ngôi miếu được xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước Năm 1962, ngôi miếu được tu sửa khang trang bằng đá miểng và lợp ngói âm dương Năm
1965, Hội quý tế cho xây nới rộng nhà khách và làm hàng rào nhà chính điện của ngôi miếu Năm 1972, ngôi miếu được tái thiết lớn và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay, và người thiết kế là hai kiến trúc sư Huỳnh Kim
Mãng và Nguyễn Bá Lăng
Kiến trúc miếu Bà: Ngôi miếu có bố cục kiểu chữ 国 - Quốc, hình khối
tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng Các hoa văn ở cổ lầu chánh điện thể hiện đậm nét nghệ thuật Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo
và nhiều liễn đối, hoành phi lộng lẫy Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chánh điện gần như được giữ nguyên như cũ
Hình 3: Miếu Bà Chúa Xứ.(Nguồn: https://bom.to/e4KXx0V)
Trang 10Chánh điện gồm hai lớp Lớp trong cùng là nơi thờ Bà Chúa Xứ với tượng
Bà bằng đá đặt trên bệ cao, sát hai bên là hai con hạc trắng biểu tượng cốt cách tiên thánh của Bà Bên phải tượng Bà là một linga cũng bằng đá đặt trên một hương án thờ, gọi là bàn thờ Cậu Bên trái tượng Bà là hương án thờ một tượng gỗ chạm hình yoni, gọi là bàn thờ Cô Lớp thứ hai là bàn thờ Hội đồng, sát liền hai tượng chim phượng Hai bên trái, phải của bàn thờ Hội đồng là bàn thờ Tiền hiền khai khẩn (ở bên trái) và bàn thờ Hậu hiền khai cơ (ở bên phải) Ngay lối vào chánh điện có đôi câu đối thể hiện quyền lực linh thiêng của Bà trong việc ban phúc, bảo
vệ nhân dân Nội dung như sau: 求必應試必霛夢中指示 暹可驚清可慕意外難量 Phiên âm: Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thị Xiêm khả kinh, Thanh khả
mộ, ý ngoại nan lượng Dịch nghĩa: Cầu nhất định được, ban nhất định linh, báo cho biết trong mộng Người Xiêm phải sợ, người Thanh phải nể, không thể tưởng
tượng nổi
2.2 Địa điểm tổ chức và quy mô của lễ hội
Lễ hội được tổ chức tại thị xã Châu Ðốc, An Giang và mang đậm bản sắc tín ngưỡng dân gian Đặc biệt là tín ngưỡng của người dân Nam bộ Lễ hội được diễn ra hằng năm tại miếu bà Chúa Xứ thuộc xã Vĩnh Tế (nay là phường núi Sam)
Theo ước tính của ban quản trị miếu Bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc thì hằng năm có khoảng hơn 2 triệu khách thập phương đến thăm viếng và cầu khấn ở miếu Bà, gấp hơn 20 lần dân số thị xã Châu Đốc tạo nên một mùa lễ hội sôi nổi, đông đảo ở núi Sam suốt nhiều tháng Đa số khách đến viếng thăm để dâng hương cầu tài, cầu lộc, thể hiện lòng tạ ơn Bà bằng nhiều hình thức: Cúng heo quay, cúng tiền, lễ vật lưu niệm hoặc các tiện nghi phục vụ cho miếu
Các vật lưu niệm ngày nay quá nhiều, Ban Quản trị đưa vào khu nhà lưu niệm để trưng bày Tiền hỉ cúng hàng năm lên tới vài tỉ đồng (trong đó có vàng, đô-la) Nguồn tài chánh này ngoài việc trùng tu, xây dựng lăng, miếu còn góp phần
Trang 11vào nhiều công trình thủy lợi xã hội địa phương như làm đường, xây trường học,
bệnh xá, đóng góp quỹ từ thiện, khuyến học,…
CHƯƠNG III: ĐẶC SẮC LỄ HỘI VÍA BÀ CHÚA XỨ NÚI SAM
Trong tín ngưỡng của người Việt, bà Chúa Xứ rất được tôn kính và được nhân gian tương truyền bà là người được trời sai xuống cứu dân độ thế, canh giữ
bờ cõi Bà là một trong 6 nữ thần bất tử theo tín ngưỡng dân gian (Bà chúa Bầu, bà chúa Liễu, bà chúa Tó, bà chúa Kho, bà chúa Ngọc, bà chúa Xứ) Theo thời gian,
lễ hội vía bà Chúa Xứ không còn nằm gọn hẹp trong tín ngưỡng của những người dân vùng Bảy Núi mà đã trở nên phổ biến hơn với người dân của cả nước
Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được chính thức bắt đầu vào ngày 22
tháng 04 âm lịch hằng năm bằng lễ “Phục hiện rước tượng Bà” từ trên đỉnh núi
Sam xuống miếu thờ Nghi thức trên đã khắc họa lại một cách rõ nét rằng cách nay hơn 200 năm khi người dân đến khai phá vùng này rất cần một chỗ tựa tâm linh để vui sống và tồn tại trước thiên nhiên hoang dã quá ư khắc nghiệt Việc tái hiện lại những hình ảnh trên làm sống lại lịch sử của thời khai hoang lập ấp Sự hòa trộn giữa hiện thực và huyền thoại khiến cho lễ "phục hiện rước tượng Bà " này được
sự đồng thuận và ngưỡng mộ của mọi tầng lớp nhân dân Từ miếu Bà Núi Sam đến đỉnh núi nơi Bà ngự trên 3 km, hàng chục ngàn người dân đứng hai bên đường hòa mình vào lễ hội với lòng thành kính và ý thức trật tự rất cao Đây cũng là một nét
đẹp về văn hóa trong lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam
Trang 12
Hình 4 và 5: Lễ phục hiện rước tượng Bà (Nguồn: https://bom.to/WcIQiXV)
Vẫn theo nghi thức truyền thống với hai phần là phần lễ và phần hội Phần
lễ gồm các hoạt động chính như: Lễ phục hiện rước tượng Bà; Lễ tắm Bà; Lễ thỉnh sắc Thần Thoại Ngọc Hầu, tức rước sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân từ lăng Thoại Ngọc Hầu (Sơn lăng) về miếu Bà, sau đó là Lễ Túc yết (tức
Trang 13dâng lễ vật và tiến hành cúng Bà) và lễ “Xây chầu” mở đầu cho việc hát bội tại Võ
ca của miếu; Lễ Chánh tế và lễ Hồi sắc Ngoài các hoạt động trên còn có các hoạt động thể thao dân gian như đua thuyền, đẩy cây, đập nồi, kéo co, hội thao leo núi Những hủ tục về mê tín dị đoan, đốt vàng mã đã được tuyên truyền để người dân hạn chế, giảm bớt Thông qua các hoạt động lễ hội, tạo sức hút không chỉ đối với đối tượng du khách, khách hành hương mà còn là cơ hội lớn cho thị xã Châu Đốc tiếp tục giới thiệu, quảng bá các di tích, thắng cảnh, thế mạnh tiềm năng về dịch
vụ, du lịch và thương mại để thu hút đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị
3.1 PHẦN LỄ
Lễ tắm Bà
Lễ này được tổ chức vào lúc 24 giờ đêm 23 rạng ngày 24 Nói là tắm bà, nhưng thực tế là lau lại bụi bặm trên tượng thờ và thay áo mão cho Bà Vào giờ đó, trong khuôn viên miếu, hàng chục ngàn người chen chúc nhau trên sân, mọi di chuyển tới lui chỉ có thể nhích từng bước một
Vào 23 giờ 30, ông chánh bái và Ban quản trị lăng miếu cùng các vị bô lão địa phương có mặt ở chánh điện Các du khách dâng cúng áo mão cho tượng Bà có vinh dự được đứng trong khu vực Chánh điện để chứng kiến Đúng 0 giờ ngày 24,
lễ tắm Bà được chính thức cử hành
Nghi thức đầu tiên là thắp sáng hai cây đèn cầy to trước tượng Bà Ông chánh bái và hai vị bô lão niệm hương, dâng rượu, trà, kế đến là Ban quản trị lần lượt niệm hương cầu nguyện, lễ tất Bức màn vải có viền ren thêu chữ, hoa nhiều màu sặc sỡ được kéo ngang bệ thờ, che khuất khu vực đặt tượng Một nhóm từ 4- 5 phục nữ đã được chọn lựa, phân công từ trước vén màn bước vào trong chuẩn bị tắm Bà Đầu tiên là cởi mão, khăn đội trên tượng, rồi lần lượt đến đai áo, áo ngoài,
áo trong, để lộ toàn thân pho tượng bằng đá sa thạch ở tư thế ngồi Dưới chân