1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lễ hội bà chúa xứ núi sam và vấn đề bảo tồn, phát huy di sản văn hóa

139 37 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 6,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về văn hoá dân gian ở Nam Bộ không thể không nghiên cứu về lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam, bởi đây là một lễ hội lớn, đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Bộ văn hoá, thể thao và du lịch

Trường Đại học Văn hoá Hà Nội

-

ĐOÀN THỊ THANH XUÂN

LỄ HỘI BÀ CHÚA XỨ NÚI SAM VÀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY DI

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Vì yêu thích tìm hiểu về văn hoá truyền thống của dân tộc, đặc biệt là những

sinh hoạt văn hoá diễn ra trong lễ hội Bà Chúa Xứ, tôi đã chọn đề tài: “Lễ hội Bà

Chúa Xứ núi Sam và vấn đề bảo tồn, phát huy di sản văn hoá ” làm luận văn tốt

nghiệp cao học chuyên ngành Văn hoá học của mình Hy vọng rằng luận văn hoàn thành sẽ đóng góp một phần nhỏ vào công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của lễ hội, để lễ hội Vía Bà núi Sam mãi là điểm sáng trong sinh hoạt văn hoá dân gian ở Nam Bộ

Nhân dịp luận văn hoàn thành và được đưa ra bảo vệ, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Quản trị lăng miếu núi Sam, Phòng Văn hoá Thông tin thị xã Châu Đốc, Hội Văn học Nghệ thuật thị xã Châu Đốc đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc tìm

tư liệu để viết luận văn Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Chí Bền đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn Nhờ sự chỉ dẫn của Thầy mà hôm nay tôi mới có thể bảo vệ luận văn này trước Hội đồng

Luận văn là bước khởi đầu cho công tác nghiên cứu khoa học của tôi, vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của Quý Thầy, Cô trong Hội đồng bảo vệ cũng như của những người quan tâm tới lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn Hà Nội ngày 18 tháng 8 năm 2005

Tác giả ĐOÀN THỊ THANH XUÂN

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời nói đầu

Mục lục

MỞ ĐẦU

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SƯU TẦM, NGHIÊN CỨU

LỄ HỘI BÀ CHÚA XỨ NÚI SAM

1.1 Tình hình sưu tầm, nghiên cứu

1.2 Đánh giá tình hình sưu tầm, nghiên cứu

Chương 2: LỄ HỘI BÀ CHÚA XỨ Ở VÙNG NÚI SAM

2.1 Khái quát về môi trường sinh thành, bảo tồn lễ hội Bà Chúa Xứ núi

Sam

2.1.1 Khái quát về vùng Châu Đốc

2.1.2 Khái quát về vùng núi Sam

2.2 Tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở Nam Bộ

2.2.1 Vài nét về tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt ở Bắc Bộ

2.2.2 Đặc điểm về tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt ở Nam Bộ

2.3 Di tích miếu Bà Chúa Xứ núi Sam

2.3.1 Lịch sử ra đời miếu và lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam

2.3.2 Một số đặc điểm về pho tượng Bà Chúa Xứ núi Sam

2.3.3 Các truyền thuyết về Bà Chúa Xứ núi Sam

2.3.4 Một số di tích lịch sử – văn hoá có liên quan tới lễ hội Bà

Chúa Xứ núi Sam

2.4 Diễn trình lễ hội

Trang 4

2.4.1 Lễ mộc dục

2.4.2 Lễ thỉnh sắc thần

2.4.3 Lễ Túc Yết

2.4.4 Lễ Xây Chầu

2.4.5 Lễ Chánh tế

2.4.6 Lễ Hồi sắc

2.5 Lễ hội và tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ trong bối cảnh lễ hội dân gian

của người Việt ở Nam Bộ

2.5.1 Vài nét về lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ

2.5.2 Lễ hội và tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ trong bối cảnh lễ hội

dân gian của người Việt ở Nam Bộ

Chương 3: VẤN ĐỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ

CỦA LỄ HỘI BÀ CHÚA XỨ NÚI SAM

3.1 Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hoá ở nước ta hiện nay

3.1.1 Vài nét về vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hoá của dân

tộc

3.1.2 Vai trò của di sản văn hoá với sự nghiệp phát triển đất nước

3.1.3 Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hoá ở nước ta trong giai

đoạn hiện nay

3.2 Các giá trị văn hoá của lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam

3.2.1 Các giá trị văn hoá vật thể của lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam

3.2.2 Các giá trị văn hoá phi vật thể của lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam

3.3 Vấn đề bảo tồn các giá trị văn hoá của lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam

3.3.1 Những điều đã làm được

3.3.2 Những hạn chế cần khắc phục

Trang 5

3.4 Vấn đề phát huy các giá trị văn hoá của lễ hội Bà Chúa Xứ núi

Sam

3.4.1 Những điều đã làm được

3.4.2 Những hạn chế cần khắc phục

3.5 Một số kiến nghị và giải pháp

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1: Một số hình ảnh về miếu và lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam

PHỤ LỤC 2: Sơ đồ ban thờ miếu Bà Chúa Xứ núi Sam

PHỤ LỤC 3: Bản đồ du lịch cụm di tích lăng miếu núi Sam

PHỤ LỤC 4: Các câu đối, biển chữ hán trong miếu Bà Chúa Xứ núi

Sam

PHỤ LỤC 5: Công tác trùng tu tôn tạo và phúc lợi xã hội do BQT lăng

miếu núi Sam thực hiện từ năm 2000 đến tháng 3/2004

PHỤ LỤC 6: Một số văn bản liên quan tới việc tổ chức lễ hội Bà Chúa

Xứ núi Sam năm 2005

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:

Di sản văn hoá của dân tộc là tài sản quí giá mà cha ông đã để lại cho con cháu Đó là những viên ngọc quí tạo nên nét độc đáo, hấp dẫn và là một trong những nhân tố tạo nên bản sắc riêng của dân tộc Vì tầm quan trọng của di sản văn hoá đối với sự

nghiệp phát triển đất nước theo hướng bền vững, Đảng và Nhà nước đã ban hành Luật

Di sản văn hoá vào năm 2001 nhằm mục đích bảo vệ các di sản văn hoá của đất nước

Lễ hội dân gian nằm trong hệ thống các di sản văn hoá phi vật thể của dân tộc Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian đặc trưng mang tính tổng hợp cao về phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, văn học nghệ thuật, thế giới quan, nhân sinh quan… của nhân dân, được thể hiện tập trung qua các dạng lễ và hội, được tiến hành vào một không gian và một thời gian nhất định Như vậy, có thể coi lễ hội là một bảo tàng phong phú về đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc Lễ hội là nơi thể hiện các giá trị văn hoá vật thể (thông qua qua lối kiến trúc, điêu khắc của địa điểm diễn ra lễ hội, các hoành phi câu đối, nghệ thuật hội hoạ…), và các giá trị văn hóa phi vật thể (thông qua các nghi thức cúng tế, rước sắc, các hoạt động lễ nghi tôn giáo, phong tục tập quán,…) của dân tộc Vì vậy, công tác nghiên cứu lễ hội dân gian góp phần không nhỏ vào việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc

Nghiên cứu về văn hoá dân gian ở Nam Bộ không thể không nghiên cứu về lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam, bởi đây là một lễ hội lớn, đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân các tỉnh Nam Bộ Hàng năm vào những ngày diễn ra lễ hội , khách thập phương hội tụ về khu vực núi Sam rất đông khiến cho lễ hội Vía Bà không còn bó hẹp trong không gian địa phương nữa mà trở thành lễ hội chung của cả vùng Nam Bộ Sức hấp dẫn của lễ hội Bà Chúa Xứ không chỉ bởi qui mô lễ hội này mà còn ở sự độc đáo trong phương thức tổ chức và ở các giá trị văn hoá đa dạng chứa

Trang 7

đựng trong lễ hội Mặt khác, lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam còn chứa đựng những giá trị về mặt lịch sử của người Việt trên đất Nam Bộ Vì qui mô và tầm quan trọng đó, năm

2001 lễ hội Vía Bà núi Sam được nâng cấp thành lễ hội Quốc gia

Để công tác bảo tồn, phát huy các di sản văn hoá của lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam đem lại hiệu quả cao, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu về nguồn gốc sâu xa của lễ hội Bà Chúa Xứ thông qua các truyền thuyết, các nghi thức cúng tế, phong tục, tín ngưỡng dân gian, các giá trị về lịch sử khai phá vùng đồng bằng sông Cửu Long của người Việt… Như vậy mới có thể bảo tồn các giá trị văn hóa của lễ hội và phát huy các giá trị văn hoá đó theo yêu cầu của thời đại: vừa giữ gìn được bản sắc văn hoá của dân tộc, vừa phát triển xã hội theo hướng bền vững

Nghiên cứu về lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam là một việc làm mang ý nghĩa cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn Một mặt làm hoàn chỉnh thêm bức tranh về sinh hoạt văn hoá dân gian của người Việt trên đất Nam Bộ, mặt khác giúp cho công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá của lễ hội mang lại hiệu quả cao Qua đó lễ hội Vía Bà sẽ giữ vững được vị trí, vai trò của mình trong đời sống tinh thần của người dân Nam Bộ và trở thành một điểm sáng trong sinh hoạt văn hoá dân gian của Nam Bộ

Chính vì những lý do ấy, tôi xin chọn đề tài “Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam và

vấn đề bảo tồn, phát huy di sản văn hoá” làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên

ngành Văn hoá học của mình Tôi hy vọng những nghiên cứu, đóng góp của mình sẽ giúp một phần nhỏ vào việc tổ chức, quản lý lễ hội, để lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam trở thành một lễ hội truyền thống tiêu biểu trong thời hiện đại

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

Tìm hiểu bản chất, ý nghĩa của lễ hội Vía Bà núi Sam và những tín ngưỡng dân gian, những truyền thuyết về Bà Chúa Xứ, những phong tục, lễ nghi, những hoạt động

Trang 8

cúng tế trong lễ hội Vía Bà núi Sam nhằm tìm ra những giá trị văn hoá của lễ hội này cũng như vai trò của nó đời sống tâm linh của người dân vùng Nam Bộ Nhưng mục tiêu cuối cùng mà luận văn hướng tới là vấn đề giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của lễ hội Vía Bà núi Sam trong giai đoạn hiện nay

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu các hoạt động văn hoá diễn ra trong lễ hội, các nghi thức cúng tế, các trò chơi dân gian, các giá trị về mặt kiến trúc, điêu khắc của miếu Bà Chúa Xứ Luận văn cũng tập trung vào việc nghiên cứu các phong tục, tập quán, tín ngưỡng đan xen nhau trong lễ hội Mặt khác xem xét mối tương quan giữa lễ hội Bà Chúa Xứ với các di tích lịch sử – văn hoá khác tại khu vực núi Sam để tìm ra các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của lễ hội

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Nghiên cứu về lịch sử hình thành của lễ hội Bà Chúa Xứ trên nền tảng của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt tại Nam Bộ Luận văn nghiên cứu về quá trình đan xen các loại hình tín ngưỡng dân gian trong lễ hội Vía Bà thông qua những đặc trưng về lịch sử, sinh thái - môi trường của vùng Nam Bộ cũng như quá trình người Việt vào sinh sống ở trên mảnh đất này Từ đó tìm ra bản chất và các giá trị văn hoá của lễ hội, đưa ra những kiến nghị về việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá, giúp cho việc tổ chức, quản lý lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam ngày càng hoàn thiện hơn

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

Trang 9

Ngoài việc vận dụng quan điểm, tư tưởng , các đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

4.1 Phương pháp đối chiếu, so sánh:

So sánh một số khác biệt giữa tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt tại Nam Bộ với tín ngưỡng thờ mẫu tại Bắc Bộ để tìm ra sự khác nhau giữa hai vùng

4.2.Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế:

Phương pháp này đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu đề tài vì nó giúp thu thập nguồn tài liệu thực tế tại lễ hội Giúp cho việc miêu thuật, khảo tả lễ hội được chính xác

4.3 Phương pháp nghiên cứu liên ngành:

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học khác có liên quan mật thiết với ngành văn hoá học như Sử học, Dân tộc học… để việc nghiên cứu đề tài luận văn được chính xác

5 DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN:

5.1 Luận văn là công trình đầu tiên tiếp cận lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam ở góc độ bảo tồn và phát huy di sản văn hoá Do đó luận văn sẽ đóng góp thêm những hiểu biết về các di sản văn hoá trong lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam, giúp cho việc nhìn nhận về lễ hội Vía Bà chuẩn xác hơn

5.2 Kết quả của luận văn sẽ giúp cho việc tổ chức lễ hội vừa bảo tồn được các giá trị văn hoá vừa phát huy những giá trị đó theo đúng đường lối của Đảng về vấn đề xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

5.3 Luận văn bước đầu đưa ra những giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy các di sản văn hoá của lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam

Trang 10

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình sưu tầm, nghiên cứu lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam Chương 2: Lễ hội Bà Chúa Xứ ở vùng núi Sam

Chương 3: Vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá của lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SƯU TẦM, NGHIÊN CỨU LỄ HỘI BÀ

CHÚA XỨ NÚI SAM

1.1 Tình hình sưu tầm, nghiên cứu

Lễ hội là một sinh hoạt văn hoá đặc biệt đối với các dân tộc, quốc gia, đó là

“thời điểm mạnh của sinh hoạt cộng đồng” Lễ hội ra đời và phát triển cùng với lịch sử phát triển của xã hội loài người Từ thời nguyên thủy loài người chưa hiểu và giải đáp được các hiện tượng tự nhiên diễn ra xung quanh mình, từ đó đã nảy sinh những nhu cầu tâm linh nhằm giải toả những nỗi lo và để gửi gắm những ước mơ, những nguyện cầu của mình Đây là một trong những lý do dẫn tới sự ra đời của lễ hội

Trang 11

Lễ hội có lịch sử hình thành, phát triển lâu dài và được coi là “bảo tàng” lưu giữ những giá trị văn hoá đặc sắc của các dân tộc như: tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ thuật biểu diễn dân gian… Những giá trị văn hoá này chỉ thực sự trường tồn cùng với thời gian thông qua các lễ hội truyền thống của dân tộc Lễ hội là cây cầu nối liền những cách biệt về mặt thời gian, không gian và làm cho con người nhớ về nguồn cội Lễ hội đã, đang và sẽ mãi mãi đồng hành cùng với con người, là một nhu cầu tâm linh quan trọng của con người trong quá khứ cũng như hiện tại

Tuy vậy, công tác nghiên cứu về lễ hội thực sự diễn ra rất muộn nếu đem so sánh với lịch sử ra đời và phát triển của lễ hội Công trình nghiên cứu đầu tiên về lễ hội cổ truyền ở Việt Nam là công trình nghiên cứu về lễ hội Phù Đổng của tác giả G Dumoutier in trên tạp chí Revue d’Histoire des Religions vào năm 1893 [3, tr 220] Sau bài nghiên cứu của G Dumoutier, các công trình nghiên cứu về lễ hội cổ truyền Việt Nam xuất hiện ngày một nhiều hơn, tuy vậy chủ yếu tập trung vào nghiên cứu các lễ hội ở vùng Bắc Bộ Các lễ hội ở vùng Nam Bộ được các nhà nghiên cứu quan tâm còn muộn màng hơn nữa Có lẽ do Nam Bộ là vùng đất người Việt mới tới định cư , chưa có được các lớp văn hoá dày như ở vùng Bắc Bộ Mặt khác, do điều kiện chiến tranh, đất nước bị chia cắt nên công tác nghiên cứu đã bị hạn chế rất nhiều Các công trình nghiên cứu về lễ hội dân gian ở Nam Bộ trong đó có lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam chỉ thực sự được được quan tâm sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất

Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam diễn ra từ ngày 23 đến ngày 27 tháng tư âm lịch là lễ hội lớn nhất Nam Bộ Những năm gần đây, cứ sau dịp tết Nguyên Đán là khách hành hương lại bắt đầu tập trung về khu vực miếu Bà, tạo nên một không khí tưng bừng, náo nhiệt Không khí hội hè kéo dài suốt 4 tháng và chỉ thực sự kết thúc sau dịp lễ Vía Bà Người dân Nam Bộ luôn cho rằng chỉ cần có lòng tin vào Bà thì sẽ cầu được ước thấy Do đó số người hành hương tới miếu Bà Chúa Xứ ngày càng đông, đặc biệt

Trang 12

là những người buôn bán với niềm tin đi lễ Bà Chúa Xứ thì sẽ được mua may bán đắt, làm ăn phát đạt

Chính sách mở cửa đã đưa lại cho đất nước nhiều cơ hội để ổn định nền kinh tế và hội nhập với thế giới nhưng cùng với đó là những thách thức mới, những rủi ro có thể xảy đến bất cứ lúc nào Văn hoá là lĩnh vực rất nhạy cảm, luôn nằm trong tình trạng có thể đi theo chiều hướng xấu nếu không có sự định hướng chính xác Vì vậy, cần có những điều chỉnh cho phù hợp với xu thế của thời đại và không đi ngược lại với truyền thống dân tộc Các chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống luôn được đưa ra đúng thời điểm và đã đem lại hiệu quả cao Lễ hội dân gian là một trong những vấn đề được quan tâm nhất nên đã dẫn tới sự phục hồi trở lại của các lễ hội dân gian, trong đó có lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam Năm 2001 lễ hội Bà Chúa Xứ được công nhận là lễ hội cấp quốc gia bởi đây là lễ hội tiêu biểu và đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của người dân Nam Bộ

Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam là lễ hội tiêu biểu ở Nam Bộ và đã có thời kỳ người ta xem sự phát triển mạnh mẽ của lễ hội này là hiện tượng xã hội cần quan tâm Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về lễ hội Bà Chúa Xứ lại diễn ra khá muộn

màng Những tài liệu trước năm 1975 có thể kể là cuốn Sự tích miếu Bà núi Sam của

Thần Liên Lê Văn Tất, xuất bản năm 1960 Tài lệu này viết về những sự tích, truyền thuyết lưu truyền trong dân gian về Bà Chúa Xứ cũng như sự linh thiêng của Bà Đây là tài liệu đầu tiên và giữ vai trò quan trọng đối với việc nghiên cứu tín ngưỡng cũng như lễ hội Bà Chúa Xứ ở Nam Bộ Tìm hiểu các sự tích, truyền thuyết liên quan tới Bà Chúa Xứ là việc làm quan trọng trong nghiên cứu về lễ hội và tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ núi Sam vì đây là những yếu tố làm nên sự nổi tiếng của lễ hội

Trang 13

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, các nhà nghiên cứu có điều kiện nghiên cứu về văn hoá một cách toàn diện hơn Do đó đã có nhiều bài viết về lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam được công bố hơn thời kỳ trước năm 1975

Cuốn Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu Long xuất bản năm 1990, do

tác giả Nguyễn Công Bình chủ biên là cuốn sách nghiên cứu sâu về văn hoá của các tộc người đang sinh sống tại vùng đồng bằng sông Cửu Long Đây là công trình nghiên cứu khá công phu và bao quát được tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống con người tại miền Tây Nam Bộ Trong cuốn sách này, các tác giả có đề cập đến lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam là một trong 5 lễ hội tiêu biểu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng chỉ dừng lại ở việc miêu thuật đơn giản Lễ hội được giới thiệu nhằm minh chứng cho sự

đa dạng về văn hoá của vùng đồng bằng sông Cửu Long chứ không phải là mục đích mà các tác giả hướng tới trong cuốn sách này

Nghiên cứu về văn hoá, đặc biệt là nghiên cứu về lễ hội ở vùng Nam Bộ là đề tài tác giả Thạch Phương đặc biệt quan tâm Tác giả đã có nhiều bài viết về lễ hội

được công bố trên các tạp chí chuyên ngành Năm 1995, cuốn 60 lễ hội truyền thống

Việât Nam do ông viết cùng với tác giả Lê Trung Vũ được xuất bản Có thể coi đây là

công trình miêu thuật chi tiết về nhiều lễ hội truyền thống nhất được công bố vào thời điểm đó Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam được tác giả miêu thuật khá chi tiết Bên cạnh đó còn có phần giới thiệu một số sự tích liên quan đến Bà Chúa Xứ Với mục đích giới thiệu về lễ hội truyền thống Việt Nam, cuốn sách đã gặt hái được nhiều thành công vì đã đem tới cho những người quan tâm đến văn hoá truyền thống một cái nhìn tổng thể về sinh hoạt văn hoá dân gian của các vùng, miền, các tộc người trong cả nước thông qua lễ hội

Những năm cuối của thế kỷ 20, các lễ hội truyền thống bắt đầu thu hút được sự quan tâm của những nhà kinh doanh du lịch Khách du lịch có xu hướng thích đi du lịch

Trang 14

tới những nơi diễn ra lễ hội Các lễ hội lớn như lễ hội chùa Hương, lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam… luôn luôn thu hút rất nhiều đoàn khách từ các địa phương khác tới Năm

2000, Tổng cục Du Lịch Việt Nam đề ra 5 chương trình Hành động Quốc gia về du lịch, trong đó có dành riêng chương trình 2 để đề cập đến việc gắn hoạt động du lịch văn hoá với lễ hội Đây là cơ hội lớn để bảo tồn và phát huy một cách tích cực các lễ

hội cổ truyền dân tộc trong thời đại mới Vào năm 2000, cuốn Non nước Việt Nam của

Tổng cục Du lịch Việt Nam được in tái bản lần 3 Đây là cuốn sách dành cho người hướng dẫn du lịch với đầy đủ các thông tin về các tỉnh thành trong cả nước Trong phần giới thiệu về tỉnh An Giang, lễ hội Bà Chúa Xứ được giới thiệu như một sản phẩm du lịch đặc sắc Tuy nhiên đây là cuốn sách hướng dẫn du lịch nên viết rất ngắn gọn

Hiếm có lễ hội nào lại lôi cuốn các nhà văn như lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam Có rất nhiều câu chuyện huyền bí về Bà Chúa Xứ được lưu truyền trong dân gian như những truyền thuyết về lai lịch cũng như sự linh thiêng của Bà và cả chuyện Bà trừng phạt những kẻ dám hỗn xược với Bà… Yếu tố huyền bí luôn thu hút đông đảo khách hành hương tới miếu Bà trong mùa hội Vía và cũng thu hút được các nhà văn viết về lễ hội này

Trước tiên, có thể kể tới cuốn Lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam của cố nhà văn

Mai Văn Tạo Ông là người con của vùng núi Sam, mặc dù không sinh sống ở quê hương nhưng trong suốt cuộc đời viết văn, ông đã dành nhiều thời gian để viết về những danh lam thắng cảnh nổi tiếng của quê hương mình Đây là tập bút ký gồm 10 bài viết của ông về vùng núi Sam Là nhà văn nên lễ hội Bà Chúa Xứ được ông viết dưới góc nhìn của nhà văn Tác giả Mai Văn Tạo đã không đi vào miêu thuật lễ hội mà chỉ viết những cảm nhận của ông về những gì đã và đang diễn ra trong lễ hội, những điều hay và chưa hay, những mặt tốt và mặt hạn chế của lễ hội này Bên cạnh

Trang 15

đóù ông còn nêu ra một số ý kiến đóng góp của mình trong việc tổ chức lễ hội nhằm giữ được những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc

Một nhà văn khác cũng là người con của vùng núi Sam là nhà văn Nguyễn Văn Hầu Ông là người đặc biệt thích du khảo nên đã thực hiện nhiều chuyến điền dã để

lấy tư liệu cho việc viết văn Cuốn Nửa tháng trong miền Thất Sơn kể lại hành trình

15 ngày đến vùng Thất Sơn của ông cùng vài người bạn thân vào dịp đầu năm 1951 Tuy nhiên sau hơn 20 năm, ông mới lấy được đủ tư liệu để viết lên cuốn sách này bởi

lí do chiến tranh và tình hình an ninh tại vùng biên giới Tây Nam lúc đó rất phức tạp Lễ hội và miếu Bà Chúa Xứ được ông đề cập tới trong chương 5 của cuốn sách Các thông tin được đưa ra trong các đoạn đối thoại giữa ông và những người bạn Tuy vậy người đọc vẫn có thể nhận thấy được qui mô, kiểu dáng kiến trúc của ngôi miếu Bà vào thời điểm cách nay nửa thế kỷ

Tác giả Trịnh Bửu Hoài cũng viết về lễ hội Bà Chúa Xứ trong chuyến du khảo

48 giờ vòng quanh núi Sam Tác giả là người địa phương nên những thông tin về lịch

sử xây dựng và tôn tạo miếu Bà, đặc điểm kiến trúc của miếu Bà, đặc điểm pho tượng Bà Chúa Xứ cũng như các truyền thuyết về Bà, các nghi thức diễn ra trong lễ hội được tác giả nêu khá cụ thể mặc dù ở dưới dạng đối thoại

Bên cạnh cuốn 48 giờ vòng quanh núi Sam, Trịnh Bửu Hoài còn là tác giả cuốn

Mùa hội Vía gồm 10 bài viết về vùng Châu Đốc và 1 bài viết về Hà Tiên Phần miêu

thuật lễ hội Bà Chúa Xứ được tác giả đặt lên đầu tiên Các thông tin mà tác giả nêu lên khá đầy đủ Ngoài phần miêu thuật, tác giả cũng đề cập đến các truyền thuyết, các mốc lịch sử trong việc xây dựng miếu và giả thiết của các học giả về pho tượng Bà Chúa Xứ

Hội Văn nghệ Châu Đốc có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu về lễ hội Bà Chúa Xứ và đã xuất bản rất nhiều ấn phẩm về lễ hội này Một trong số đó là cuốn

Trang 16

Những ngày lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam của tác giả Tường Vân Là người địa phương,

lại làm công tác nghiên cứu văn hoá nên tác giả có điều kiện tham dự các nghi thức cúng tế trong lễ hội cũng như có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu các tập tục, lễ bái, thói quen của người hành hương Tác giả được sinh trưởng trong môi trường không gian đầy ắp các truyền thuyết và sự tích về Bà Chúa Xứ nên bài viết khá hoàn chỉnh Các nghi lễ như tắm Bà, lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu, lễ Túc Yết, lễ Xây Chầu, lễ Chánh Tế được viết chi tiết Mặt khác, tác giả cũng đã nêu lên những hủ tục đã từng tồn tại ở lễ hội Bà Chúa Xứ như tục khăn bùa, tục xin xăm, tục lên đồng, tục vay tiền Bà… Ở phần cuối của ấn phẩm này có kèm theo bản danh sách Ban Quản trị lăng miếu núi Sam năm 1990 Hội Văn nghệ Châu Đốc in tái bản lần 2 tập sách này vào năm

1992 Có lẽ đây là cuốn sách viết về lễ hội Bà Chúa Xứ đầy đủ và khách quan nhất vào thời điểm đó mặc dù cũng chỉ dừng lại ở việc miêu thuật lễ hội

Tác giả Trần Văn Đông là người rất quan tâm tới lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam và

đã viết bài “Vài nét về lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam”, đăng trên Tạp chí Văn hoá Nghệ

thuật, số 5 năm 1992 Nguyễn Văn Đông tập trung vào việc miêu thuật các nghi thức cúng tế trong lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam Các nghi thức tế lễ được viết rất chi tiết, do đó bài viết đã trở thành tư liệu tham khảo cho nhiều tác giả nghiên cứu về lễ hội Bà Chúa Xứ sau này

Viết về các sự tích liên quan tới Bà Chúa Xứ là đề tài rất nhiều người quan tâm

Bên cạnh những bài viết trên, còn có bài viết Bí ẩn về Bà Chúa Xứ núi Sam của tác

giả Châu Bích Thuỷ do nhà xuất bản Mũi Cà Mau xuất bản năm 2000 Ngoài phần đề cập tới những nghi thức tế lễ, các hoạt động diễn ra trong lễ hội và các sự tích, truyền thuyết, tác giả còn đặc biệt quan tâm tới chất liệu của pho tượng Bà Chúa Xứ Những nghiên cứu và kết luận của nhà khảo cổ học người Pháp Malleret cũng được tác giả Châu Bích Thủy chia xẻ trong bài viết này Đặc biệt tác giả đã nêu lên vấn đề kiến tạo

Trang 17

của núi Sam, do đó bài viết của tác giả có những nét mới so với những bài nghiên cứu của các tác giả khác trước đó

Những chuyện kì lạ về Bà Chúa Xứ và vùng núi Sam vẫn lưu truyền trong dân

gian đã được tác giả Liêm Châu tập hợp và in trong cuốn Kỳ tích núi Sam (Những

chuyện lạ núi Sam) với 4 tập mỏng Tác giả đã mở đầu tập 1 bằng việc tìm hiểu về

danh xưng Bà Chúa Xứ Một giả thuyết mà tác giả gọi là “giả sử mơ hồ” được nêu lên Có lẽ tác giả cho giả thuyết này là mơ hồ bởi câu chuyện được lưu truyền trong kí ức dân gian nhưng không phổ biến rộng khắp như các giả thuyết khác Câu chuyện kể về một hoàng tử người Ấn Độ đi tìm đất lập quốc ở phương Nam đã đặt một bức tượng đá trên một hòn đảo nhỏ làm cột mốc phân chia gianh giới quốc gia, đó chính là vương quốc Phù Nam sau này Tác giả nêu lên giả thuyết này để lí giải cho sự xuất hiện của pho tượng Bà Chúa Xứ ở vùng núi Sam nhưng ông không đưa ra một kết luận cụ thể nào Ngoài ra, tác giả còn đề cập tới ý nghĩa của danh từ riêng Bà Chúa Xứ được ghi trong địa phương chí và những kết luận của nhà khảo cổ học Malleret về pho tượng Bà Vấn đề di chuyển pho tượng Bà Chúa Xứ lên trên đỉnh núi cũng được tác giả quan tâm Ông đã nêu ra giả thuyết là dùng thuyền vận chuyển bằng đường biển đến khu vực này rồi nâng tượng lên núi Tuy nhiên giả thuyết này không có sức thuyết phục bởi từ trước đến giờ chưa có công trình nào chứng minh được rằng pho tượng Bà là đem từ nơi khác tới

Ban Quản trị lăng miếu núi Sam đã hợp tác với Hội Văn Nghệ Châu Đốc để

viết tập sách Lịch sử miếu Bà Chúa Xứ núi Sam với mục đích hệ thống một cách khoa

học về các truyền thuyết, lễ nghi và lịch sử liên quan tới lễ hội Bà Chúa Xứ Đây là công trình thể hiện mối quan tâm của những người làm công tác quản lí trực tiếp tại miếu Bà vì từ trước tới nay có rất nhiều dị bản về truyền thuyết, lịch sử miếu Bà lưu truyền trong dân gian Cuốn sách ra đời nhằm khẳng định thêm vào kết quả nghiên

Trang 18

cứu của các học giả trước đó, đồng thời cũng để phủ nhận những thông tin không chính xác còn lưu truyền trong dân gian về tín ngưỡng và lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam Nội dung của cuốn sách này được trình bày rõ ràng Quá trình thành lập miếu Bà được nêu lên với các mốc thời gian trùng khớp với những ghi chép trong sử sách từ những năm đầu thế kỷ 19 Các truyền thuyết, các giai thoại về pho tượng Bà và sự linh thiêng của Bà cũng được nêu lên trong phần đầu của cuốn sách Phần hai là những mốc thời gian đã diễn ra các cuộc trùng tu, tôn tạo miếu Bà từ ngày miếu được xây dựng cho đến lần trùng tu gần đây nhất vào năm 1972 Phần ba miêu thuật lại các nghi lễ diễn ra trong lễ hội Bà Chúa Xứ Phần miêu thuật này được ghi chép gần giống như một kịch bản, các nghi lễ cúng tế được viết chi tiết Một số hủ tục đã từng diễn ra trong lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam cũng được đề cập tới trong phần này Phần 4 viết về các nhiệm kỳ của Ban Quản trị lăng miếu núi Sam kể từ năm 1890 tới nay Phần 5 là các công tác xã hội mà Ban Quản trị đã thực hiện như làm từ thiện, xây dựng các công trình phúc lợi xã hội ở địa phương… Ngoài ra, cuốn sách còn có nhiều ảnh tư liệu quí giá và có bản sao lưu bút của những vị khách quí trong những dịp tới thăm miếu Bà

Khoảng hai thập niên trở lại đây, lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam thực sự trở thành một hiện tượng xã hội và đã có nhiều nhà nghiên cứu văn hoá viết về đề tài này Những công trình nghiên cứu sâu về lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam đã được công bố, đem đến một cái nhìn mới về lễ hội và tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở Nam Bộ nói chung và

ở núi Sam nói riêng

Tác giả Nguyễn Đăng Duy viết cuốn Văn hoá tâm linh Nam Bộ, trong đó lễ hội

Bà Chúa Xứ núi Sam được xem là đại diện tiêu biểu cho tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ Các truyền thuyết, sự tích về Bà Chúa Xứ, các nghi lễ và diễn trình lễ hội được tác giả đề cập tới nhưng đó không phải là mục đích chính của công trình nghiên cứu này Là công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ, tác giả cho rằng tín

Trang 19

ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ phổ biến rộng khắp vùng Nam Bộ là do người Việt luôn mang nặng triết lí âm sinh trong tín ngưỡng thần linh Đó là lí do người Việt ở Nam Bộ tôn thờ Bà Chúa Xứ như vị thần thổ địa cai quản một xứ sở Tác giả cũng cho rằng tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ là kết quả của quá trình lan toả tín ngưỡng thờ mẫu từ Bắc Bộ vào tới Nam Bộ Sở dĩ có những sắc thái khác nhau trong tín ngưỡng thờ mẫu giữa hai miền Nam và Bắc là do điều kiện thiên nhiên và môi trường sống khác nhau qui định nên

Cuốn Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam của tác giả Nguyễn Minh San đề

cập tới tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở Nam Bộ khá sâu Nhiều vấn đề mới được tác giả đề cập tới trong bài viết của mình Tác giả đã đi vào chi tiết các vấn đề như thời điểm xuất hiện miếu Bà Chúa Xứ, các truyền thuyết, nguồn gốc và đặc điểm của pho tượng Bà Vấn đề nguồn gốc pho tượng Bà Chúa Xứ được tác giả đặc biệt quan tâm và ông đã tìm hiểu về chủ nhân thực sự của pho tượng này Tác giả đã phân tích đặc điểm của pho tượng Bà Chúa Xứ qua các tiêu chí: phong cách điêu khắc, kiểu dáng và tư thế ngồi của pho tượng… Qua đó, ông khẳng định pho tượng này có cùng phong cách tạc với các pho tượng thời tiền Ăngco, thường thấy ở các nước Ấn Độ, Mã Lai… Tuy nhiên, tác giả chưa tìm ra được chủ nhân của pho tượng này là ai

Mục tiêu của tác giả là nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ nên cấu trúc điện thần ở miếu Bà Chúa Xứ núi Sam cũng được tác giả đề cập đến Ông đã so sánh cấu trúc ban thờ mẫu ở miền Bắc với ban thờ Bà Chúa Xứ núi Sam để tìm ra những khác biệt Tác giả khẳng định ban thờ mẫu ở miếu Bà Chúa Xứ núi Sam thể hiện sự hỗn hợp của nhiều loại tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng thờ mẫu, tín ngưỡng phồn thực và tín ngưỡng thờ thành hoàng làng

Trong viết về tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở núi Sam, tác giả Nguyễn Minh San đã căn cứ vào những truyền thuyết li kì, huyền ảo về Bà Chúa Xứ để giải thích thế giới

Trang 20

quan của người Việt Giải thích hiện tượng chỉ có các cô gái đồng trinh mới có thể dịch chuyển được pho tượng, tác giả cho rằng người Việt luôn ao ước âm dương hoà hợp để cầu mong sự sinh sôi nảy nở cho vạn vật Pho tượng Bà vốn là pho tượng người đàn ông mang tính dương nên phải cần có các cô gái đồng trinh là những người mang tính âm mạnh nhất thì mới tạo ra âm dương giao hoà Giải thích việc người Việt ở Nam Bộ thờ một chiếc linga trên bàn thờ Bà Chúa Xứ núi Sam, tác giả cho rằng thờ linga và yoni vốn là tục thờ sinh thực khí của người Việt từ thời xa xưa nhưng tới nay không còn tồn tại ở những nơi khác nữa

Tác giả Nguyễn Minh San đã nghiên cứu khá nhiếu vấn đề về tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở Nam Bộ và có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam

Tác giả PGS.TS Nguyễn Chí Bền là người cũng rất quan tâm tới tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Nam Bộ Bản thân ông đã có một thời gian dài sống tại Nam Bộ nên có nhiều điều kiện thu thập thông tin và khảo sát các lễ hội dân gian ở đây Cuốn

sách Văn hoá dân gian Nam Bộ –Những phác thảo của ông xuất bản năm 1994 với

bút danh Nguyễn Phương Thảo là công trình nghiên cứu về rất nhiều đặc trưng văn hoá dân gian ở Nam Bộ Đây có lẽ công trình đầu tiên nghiên cứu chi tiết về đời sống văn hoá tinh thần cũng như các sinh hoạt văn hoá dân gian của các tộc người sinh sống tại Nam Bộ, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Năm 1995, phần

viết về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ của tác giả được in trong cuốn Đạo Mẫu ở Việt

Nam do GS.TS Ngô Đức Thịnh làm chủ biên Cuốn sách này đã tạo nên bức tranh

hoàn chỉnh về tín ngưỡng thờ Mẫu – Nữ thần ở Việt Nam

Năm 2003, cuốn Văn hoá dân gian Việt Nam- Những phác thảo của tác giả

được xuất bản Nội dung cuốn sách này gồm những công trình nghiên cứu được viết

trong cuốn Văn hoá dân gian Nam Bộ – Những phác thảo và bổ sung thêm một số

Trang 21

công trình nghiên cứu về văn hoá dân gian ở miền Bắc và miền Trung Đây là cuốn sách bao quát được các sinh hoạt văn hoá dân gian trên mọi miền đất nước

Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam được tác giả đề cập đến trong phần viết về Tục thờ

Mẫu với người Việt Nam Bộ Tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ phát triển mạnh mẽ ở Nam

Bộ và theo tác giả, rất có thể tín ngưỡng này có nguồn gốc hoặc là có quan hệ giao lưu với tín ngưỡng thờ bà Đen (bà Neang Khmau) của người Khơme Sở dĩ có nhận định này bởi người Việt từ xa xưa luôn mang theo trong lòng sự tôn thờ Bà Mẹ Đất Trong quá trình tiến về phương Nam, định cư tại môi trường sống mới, người Việât ở Nam Bộ thường xuyên tiếp xúc với người Khơme nên đã tiếp thu tín ngưỡng thờ bà Đen là nữ thần cai quản một vùng của họ Trong phong tục của người Khơme, bà Đen luôn được thờ cặp đôi với bà Trắng là thổ thần của họ Người Việt vì đã có thổ thần nên chỉ tiếp thu tín ngưỡng thờ Bà Đen mà thôi

Trong phần viết về lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam, tác giả đã đề cập tới các nội dung chính như: Các truyền thuyết về Bà Chúa Xứ và lí giải tại sao bà lại có một quyền năng vô lượng như vậy Các vấn đề khác như lịch sử ra đời miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, phong cách kiến trúc của ngôi miếu Bà, cấu trúc và cách bài trí trên ban thờ Bà Chúa Xứ núi Sam, các nghi lễ, lịch cúng tế diễn ra hàng năm tại miếu Bà Chúa Xứ núi Sam được tác giả viết khá chi tiết Phần miêu thuật lễ hội cũng là nội dung mà tác giả quan tâm bởi thông qua các nghi thức diễn ra trong lễ hội tác giả đã giải mã được nhiều điều mới mẻ, lí thú Cụ thể như việc khẳng định lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam thực chất là lễ kỳ yên của xã Vĩnh Tế là do tác giả đã bóc tách được các lớp văn hoá lắng đọng trong lễ hội Quan sát các động tác, các nghi thức tế lễ mà ông chánh tế thực hiện trong lễ Xây Chầu, tác giả đã phát hiện ra đó là các nghi thức cầu mưa thường thấy trong các lễ Kỳ Yên ở Nam Bộ

Trang 22

Cũng nghiên cứu về tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt ở Nam Bộ nhưng bài viết của tác giả Nguyễn Chí Bền đã đem đến một cái nhìn hoàn toàn mới về lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam

TS Huỳnh Quốc Thắng thì tiếp cận lễ hội Bà Chúa Xứ trên khía cạnh giao lưu, tiếp xúc văn hoá giữa người Việt ở Nam Bộ với các tộc người khác trong quá trình

người Việt vào định cư tại Nam Bộ cho đến nay Cuốn Lễ hội dân gian ở Nam Bộ của

tác giả được xuất bản vào năm 2003 được phát triển lên từ luận án tiến sĩ chuyên ngành Dân tộc học Nghiên cứu về lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ trong đó có lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam để tìm hiểu sự giao thoa văn hoá giữa các tộc người ở đây là một hướng nghiên cứu thú vị và mới mẻ

Cuốn sách này tác giả viết thành 3 chương chính Chương 1: Khái quát về môi trường sinh thái tự nhiên và xã hội của các lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ

Chương 2: Tổng quan về lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ (Và khía cạnh giao tiếp văn hoá dân tộc của nó) Chương này tác giả nghiên cứu về một số lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ, trong đó lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam được coi là đại diện tiêu biểu cho tín ngưỡng thờ Mẫu –Nữ thần ở Nam Bộ Tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ rất phổ biến ở Nam Bộ và tác giả Huỳnh Quốc Thắng rất quan tâm tới việc tìm hiểu nguồn gốc sâu xa của tín ngưỡng này Theo tác giả, tín ngưỡng thờ mẫu từ lâu đã là tín ngưỡng giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt ở Bắc Bộ Tín ngưỡng này đã cùng với người Việt vào định cư tại Nam Bộ và trong môi trường sống mới, người Việt có sự tiếp xúc với văn hoá Chămpa, từ đó đã tiếp thu tín ngưỡng thờ Pô Inư Naga - bà mẹ xứ sở của người Chăm Trải qua quá trình giao lưu văn hoá Việt – Chăm lâu dài, từ tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã hình thành nên tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ tại Nam Bộ Trong phần viết về lễ hội thờ Mẫu – Nữ thần

ở Nam Bộ, tác giả cũng tìm hiểu về nguồn gốc của pho tượng Bà Chúa Xứ núi Sam

Trang 23

qua các truyền thuyết vẫn lưu truyền, từ đó lí giải tại sao người Việt lại chấp nhận tôn thờ một pho tượng nam thần của Ấn Độ giáo và coi đó là một vị nữ thần rất mực linh thiêng của mình Cũng trong chương 2, tác giả có phần miêu thuật lễ hội Vía Bà Ngoài ra, cách bài trí ban thờ tại chánh điện, phong cách kiến trúc, điêu khắc, các mô típ trang trí ở miếu Bà Chúa Xứ là những vấn đề tác giả rất quan tâm vì thể hiện rõ sự giao lưu, tiếp xúc văn hoá của người Việt với các tộc người khác tại Nam Bộ

Chương 3 viết về những đặc điểm của lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ qua khía cạnh giao tiếp văn hoá Trong chương này, lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam lại một lần nữa được nghiên cứu Tác giả cho rằng quá trình giao tiếp văn hoá dân tộc trong lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam là động lực quan trọng, tác động trực tiếp đến sự phát triển của lễ hội, làm cho lễ hội này có sức hút riêng biệt, khác hẳn so với các lễ hội khác

Tín ngưỡng thờ mẫu là một trong những tín ngưỡng dân gian phổ biến ở Việt Nam, vì thế đã có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về đề tài này Các học giả nước ngoài quan tâm tới văn hóa dân gian Việt Nam thường rất thích thú với các vấn đề tín ngưỡng, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu Có lẽ tác giả Philip Taylor hiện ở Australia là người đầu tiên quan tâm tới lễ hội Bà

Chúa Xứ núi Sam Cuốn sách Goddess on the Rise- Pilgrimage and Popular Religion

in Vietnam của tác giả được xuất bản vào năm 2004 nhưng việc nghiên cứu được thực

hiện trước đó hơn 10 năm Ông đã thực hiện chuyến đi đầu tiên tới miếu Bà Chúa Xứ núi Sam vào năm 1990 Tựa đề cuốn sách là nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu như một tín ngưỡng phổ biến ở Việt Nam Tác giả coi tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở Nam Bộ là đại diện tiêu biểu nhất cho tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam nên nội dung cuốn sách chủ yếu là viết về lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam

Trang 24

Cuốn sách gồm 9 chương, phần nội dung dài 294 trang là một công trình nghiên cứu công phu về tôn giáo, tín ngưỡng Tác giả đã tham khảo rất nhiều tài liệu về văn hoá, tôn giáo của nước ngoài và Việt Nam nên phần nội dung rất phong phú

Chương 1 viết về các vấn đề tôn giáo trong lịch sử Việt Nam Các chính sách khuyến khích tự do tín ngưỡng của Việt Nam chính là điều kiện cho sự phát triển trở lại của các lễ hội dân gian bao gồm cả lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam

Chương 2 nói về tính sắc tộc trong tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ mà cụ thể là tính sắc tộc trong tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ của người Việt ở Nam Bộ Người Việt ở Nam Bộ có sự giao lưu, tiếp xúc văn hoá với người Chăm, người Khơme, người Hoa từ đó hình thành nên tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ Tín ngưỡng này khác hẳn với tín ngưỡng thờ mẫu ở Bắc Bộ, tín ngưỡng thờ bà mẹ xứ sở của người Chăm, tục thờ bà Đen của người Khơme và cũng không giống với tục thờ bà Thiên Hậu của người Hoa

Chương 3 tác giả nhận định sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam kể từ chính sách “mở cửa” là nguyên nhân dẫn tới sự phát triển trở lại của các lễ hội thuộc tín ngưỡng thờ mẫu như: lễ hội Phủ Giầy, lễ hội Bà Chúa Kho, lễ hội Bà Chúa Xứ Theo tác giả, thành phần tham gia vào những lễ hội này là những người kinh doanh buôn bán, với mục đích cầu tài Người đi lễ rất đông với những lễ vật hậu hĩnh chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam đang phát triển rất nhanh trong những năm vừa qua

Chương 4 mô tả vị trí trung tâm của khu vực miếu Bà Chúa Xứ núi Sam Ngôi miếu được đặt tại chân núi Sam, một danh thắng nổi tiếng của Nam Bộ, nằm sát biên giới Việt Nam – Campuchia, do đó thu hút rất nhiều khách hành hương tới từ các thành phố lớn, đặc biệt là những người đến từ thành phố Hồ Chí Minh Tác giả cho rằng những người đến từ thành phố là những người giàu có và chính họ đã làm cho lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam cóù một số thay đổi và điều chỉnh để phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, văn hoá của họ Chương này cũng đề cập tới sự hình thành tín ngưỡng thờ mẫu ở

Trang 25

vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và sự ảnh hưởng của của tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ trong đời sống tinh thần của người dân Nam Bộ nói riêng

Chương 5 viết về những cuộc hành hương của người thành phố đến lễ hội Vía Bà Theo tác giả, đó là những cuộc hành hương vì mục đích cá nhân chứ không phải là một tập quán của xã hội Lễ hội Bà Chúa Xứ đã làm cho quá trình thành thị hoá nông thông, thương mại hoá ở địa phương diễn ra nhanh chóng Mặt trái của vấn đề này là có một số lễ nghi tôn giáo ở trong lễ hội đã ít nhiều bị thay đổi

Chương 6 tác giả nghiên cứu lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam dưới góc độ dân tộc học Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam có rất nhiều các nghi lễ tôn giáo , các trò chơi dân gian, các đoàn biểu diễn nghệ thuật dân tộc… Do đó, tham dự lễ hội là cơ hội tăng thêm hiểu biết về văn hoá của các tộc người, các vùng khác ở Nam Bộ

Chương 7 đề cập tới vai trò quan trọng của xã hội đối với sự phát triển của tín ngưỡng dân gian Sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội cũng là nguyên nhân tạo ra sự thay đổi của các tín ngưỡng dân gian, cụ thể như tín ngưỡng thờ mẫu Do đó luôn thấy có sự điều chỉnh, thay đổi trong đời sống tôn giáo để phù hợp với hoàn cảnh mới của xã hội và không đi ngược lại với các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc

Chướng 8 chứng minh tín ngưỡng và lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam là một hiện tượng xã hội nổi bật Theo tác giả, đây là quan hệ giữa thế giới thực với thế giới tâm linh của con người

Trong chương 9, tác giả cho rằng tín ngưỡng thờ mẫu ở Việt Nam chính là sự đề cao vai trò của người phụ nữ Tuy nhiên, Philip Taylor cũng cho rằng đức tin vào các thánh mẫu không hoàn toàn thể hiện quan hệ xã hội của người phụ nữ mà đó là một biện pháp phản kháng và thoát khỏi xã hội phụ quyền, thoát khỏi những ràng buộc của xã hội đối với người phụ nữ như quan niệm tam tòng trong xã hội Việt Nam xưa Sở dĩ tác giả nêu lên quan điểm như vậy bởi ông quan sát thấy số lượng người hành hương

Trang 26

tới lễ hội Bà Chúa Xứ đa phần là phụ nữ Theo ông, những người phụ nữ này tin vào Bà Chúa Xứ là do họ cảm nhận được từ Bà sự an ủi và chia xẻ những gánh nặng trong gia đình cũng như ngoài xã hội

Cuốn sách Goddess on the Rise – Pilgrimage and Popular Religion in Vietnam

của tác giả Philip Taylor đề cập khá sâu về tôn giáo, tín ngưỡng trên thế giới và ở Việt Nam Những nghiên cứu của ông về lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam là rất quí giá bởi ông đã có hơn một thập kỷ để tìm hiểu nên thấy rõ được những thay đổi diễn ra trong các mùa lễ hội Cách tiếp cận của ông cũng rất chính xác bởi ông thu thập thông tin trực tiếp qua những người hành hương nên đã phán ánh đúng nhu cầu thực sự của họ Tuy nhiên cũng có những vấn đề tác giả phản ánh không hoàn toàn chính xác do bị hạn chế về tư liệu và những nguồn thông tin không chính xác từ nước ngoài

1 2 Đánh giá tình hình sưu tầm, nghiên cứu

Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam là lễ hội tiêu biểu cho tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Nam Bộ do đó đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu trong những năm vừa qua Xem xét các tài liệu viết về lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam có thể thấy các tài liệu chủ yếu tập trung vào một vài vấn đề chính như: miêu thuật lễ hội và các truyền thuyềt về Bà Chúa Xứ, tín ngưỡng thờ mẫu…

Các tài liệu do Hội Văn nghệ Châu Đốc xuất bản tập trung vào vấn đề lịch sử pho tượng Bà Chúa Xứ núi Sam, các truyền thuyết, sự tích được lưu truyền trong dân gian về Bà và miêu thuật lại diễn trình lễ hội Các tài liệu này thường mỏng, nội dung được viết trong các sách phần lớn là giống nhau Các cuốn sách này được xuất bản nhằm cung cấp cho khách hành hương có thêm thông tin về lễ hội và tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở núi Sam Số người tham dự lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam là rất đông nhưng không phải ai cũng hiểu chính xác các vấn đề liên quan đến lễ hội Vẫn có một số người hiểu sai ý nghĩa của các sự tích, truyền thuyết về Bà Chúa Xứ và đó là một

Trang 27

trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến những hủ tục đã từng có tại lễ hội Vía Bà như tục xin xăm, tục khăn bùa, lên đồng, vay tiền Bà… Những tài liệu này đề cập khá chính xác những huyền thoại được lưu truyền và tồn tại ở địa phương nên có vai quan trọng trong việc nghiên cứu tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở Nam Bộ Các tài liệu này đã đem lại cho khách hành hương những thông tin chính xác về lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam Tuy nhiên mặt hạn chế là chưa đề cập tới bản chất, nguồn gốc của lễ hội mà mới chỉ dừng lại ở việc thu thập các truyền thuyết, sự tích, các câu chuyện kể về Bà Chúa Xứ lưu truyền trong dân gian và tổng hợp lại thành sách Do đó, người đọc không hiểu được bản chất thực sự của lễ hội Bà Chúa Xứ là gì

Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ mà đại diện tiêu biểu là tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ là đề tài được nhiều tác giả quan tâm Mỗi người có một cách tiếp cận khác nhau nhưng qua những quan điểm của mình, các tác giả đều đã chứng minh được rằng lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam thực chất có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Bắc Bộ và đã cùng với người Việt vào định cư tại Nam Bộ khoảng từ 3 đến 4 thế kỷ trước Chính sự khác biệt về môi trường sống đã tạo nên sự khác nhau giữa tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bắc Bộ so với tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ của người Việt ở Nam Bộ

PGS.TS Nguyễn Chí Bền trong bài viết về Tục thờ mẫu với người Việt Nam Bộ

đã chứng minh được rằng lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam thực chất là lễ Kỳ Yên của xã Vĩnh Tế, nghi thức tế lễ trong lễ Xây Chầu là nghi lễ cầu mưa của người nông dân ở Nam Bộ Tác giả Nguyễn Minh San cũng viết về lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam trong phần tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ Thông qua việc nghiên cứu sự khác nhau giữa ban thờ Mẫu ở Bắc Bộ so với ban thờ mẫu ở điện Bà Chúa Xứ núi Sam, tác giả kết luận rằng có sự hỗn hợp của nhiều loại tín ngưỡng ở miếu Bà Chúa Xứ núi Sam như tín ngưỡng thờ mẫu, tín ngượng phồn thực, tín ngưỡng thờ thành hoàng Tuy nhiên,

Trang 28

nghiên cứu của Nguyễn Minh San còn có những chỗ chưa hợp lí như việc ông cho rằng tục thờ Linga, Yoni là của người Việt từ thời xa xưa mà nay không còn tồn tại nữa, hay là việc ông lấy quan niệm âm dương giao hoà để giải thích hiện tượng chỉ các cô gái đồng trinh mới có thể dịch chuyển được pho tượng Bà từ trên núi xuống

Tác giả Nguyễn Đăng Duy viết trong cuốn Văn hoá tâm linh Nam Bộ thì lại

giải thích nguồn gốc của tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở Nam Bộ là do người Việt vốn mang trong mình triết lí âm sinh nên rất tôn thờ, kính trọng các nữ thần Trong quá trình tiếp xúc văn hoá với người Chăm, người Việt đã tiếp thu tín ngưỡng thờ bà mẹ xứ sở của họ để hình thành nên tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ là vị nữ thần cai quản một vùng đất của mình

Tác giả Huỳnh Quốc Thắng và tác giả Philip Taylor nghiên cứu về lễ hội Bà Chúa Xứ với tư cách là lễ hội tiêu biểu cho tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ và cả hai ông cùng nghiên cứu lễ hội này dưới góc độ dân tộc học nên đã tìm ra kết quả của việc giao lưu, tiếp xúc văn hoá giữa các tộc người ở Nam Bộ thông các nghi thức cúng tế, cách bài trí ban thờ hay trong lối kiến trúc, điêu khắc tại miếu Bà Chúa Xứ… Đây là cách tiếp cận khá lý thú và đem lại những khám phá mới về lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam

Điểm qua tình hình nghiên cứu về lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam thì thấy rằng một số vấn đề liên quan tới lễ hội đã được các tác giả đề cập khá chi tiết Tuy nhiên vấn đề bảo tồn, phát huy các di sản văn hoá trong lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam thì chưa được quan tâm nghiên cứu Đây là một việc làm quan trọng bởi lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam là một lễ hội lớn, tiêu biểu ở Nam Bộ và từ năm 2001 đã được công nhận là lễ hội cấp Quốc gia Có nhiều vấn đề cần được quan tâm để lễ hội Bà Chúa Xứ mãi giữ được những giá trị văn hoá đặc sắc của mình trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường và quá trình thương mại hoá, đô thị hoá diễn ra nhanh chóng tại địa phương Mặt khác,

Trang 29

do lễ hội Bà Chúa Xứ hàng năm thu hút hàng triệu khách hành hương tham dự, không thể tránh khỏi những hạn chế về mặt tổ chức, quản lý Vì vậy, vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần nghiên cứu trong đó có vấn đề bảo tồn, phát huy các di sản văn hoá của lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam Đây là một việc làm thực sự cần thiết trong thời kỳ các lễ hội đã khôi phục trở lại và phát triển nhanh, đi cùng với đó là những hủ tục cũ dù đã bị cấm nhưng vẫn còn tồn tại, gây nên những hậu quả xấu cho xã hội và đặc biệt là cho chính nơi diễn ra lễ hội Nghiêm trọng hơn là các giá trị văn hoá của dân tộc dần bị quên lãng hoặc bị những cái phi văn hoá che phủ, khiến cho người tham dự lễ hội không thể nhận biết được đâu là bản chất đích thực, là cái chân – thiện – mỹ lễ hội

CHƯƠNG 2

Trang 30

LỄ HỘI BÀ CHÚA XỨ Ở VÙNG NÚI SAM 2.1 Khái quát về môi trường sinh thành, bảo tồn lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam

2.1.1 Khái quát về thị xã Châu Đốc

tổ quốc Phía Bắc giáp với huyện An Phú, phía Tây Bắc giáp với vương quốc Campuchia, phía Nam giáp với huyện Châu Phú, phía Tây giáp với huyện Tịnh Biên và phía Đông giáp với huyện Phú Tân

Tỉnh An Giang xưa (bao gồm 4 tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ và Sóc Trăng ngày nay) được nhập vào bản đồ nước ta từ năm 1757 Thời điểm đó, cả vùng này còn rất hoang vu, hầu như không có người sinh sống Ban đầu, chúa Nguyễn Phúc Khoát đã đặt ba đạo ở vùng đất An Giang xưa gồm : đạo Tân Châu ở thượng nguồn sông Tiền, đạo Châu Đốc ở thượng nguồn sông Hậu và đạo Đông Khẩu ở phía nam sông Hậu Lúc này ở đây chỉ lác đác vài nơi có dân sinh sống, gồm một số người Việt thuộc những gia đình binh lính ở các đạo trên và một vài nhóm người Khơme bản địa sống rải rác ở các gò đồi dọc biên giới Các chúa Nguyễn đã xác định chủ quyền của mình ở vùng đất này vào giữa thế kỷ XVIII, nhưng vài ba thập niên sau đó, dân cư vùng này không có sự thay đổi nhiều vì đây là vùng đất xa xôi hẻo lánh và khó khai thác nên không thu hút được người Việt vào khai phá như các vùng đất màu mỡ khác ở Nam Bộ Vì vậy, “đến đầu đời Gia Long, xét thấy đấy ấy còn bỏ trống nhiều, triều đình nhà Nguyễn bèn lập ra Châu Đốc Tân Cương, đặt chức quản đạo để cai quản, thuộc hệ thống quản lý của dinh Vĩnh Trấn, rồi mộ dân đến ở” [34, tr 201 - 202] Từ chính sách chiêu dân lập ấp của triều đình nhà Nguyễn, số lượng người Việt đến vùng đất này (trong đó có cả Châu Đốc) tăng lên nhanh Như vậy, Châu Đốc thuộc địa phận nước ta từ năm 1757 và kể từ đó đến nay luôn là vùng đất xung yếu, giữ vị trí tiền đồn của đất nước

Trang 31

Địa danh Châu Đốc được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1757, cùng với thời điểm hai tướng của chúa Nguyễn Phúc Khoát là Nguyễn Cư Trinh và Trương Phước

Du vào sắp đặt hành chính ở vùng đất này Tuy nhiên hiện vẫn còn tồn tại hai ý kiến về địa danh Châu Đốc Trong cuốn Đại Nam nhất thống chí do các quan trong Quốc sử quan cùa nhà Nguyễn chép, giải thích Châu Đốc là một từ bắt nguồn từ tiếng Khơme: Mótt Chrút có nghĩa là Mỏ heo, cũng giống như địa danh Sa Đéc được bắt nguồn từ Phsar Dek (có nghĩa là Chợ Sắt)… Ý kiến thứ hai lại cho rằng địa danh Châu Đốc được lấy từ họ của bà Châu Thị Tế, vợ của Thoại Ngọc Hầu Nhưng cả hai cách giải thích này chưa được ổn vì địa danh Châu Đốc đã được sử sách ghi chép trước khi Thoại Ngọc Hầu vào trấn thủ tại Châu Đốc hơn nửa thế kỷ, nên không thể có việc lấy họ của bà nhất phẩm phu nhân Thoại Ngọc Hầu để đặt được Với ý kiến giải thích Châu Đốc là một từ bắt nguồn từ tiếng Khơme thì cũng cần tìm hiểu thêm vì thực tế việc này đã xảy ra với địa danh Sa Đéc, Bạc Liêu, Sóc Trăng Tuy nhiên, nếu địa danh này là do Nguyễn Cư Trinh đặt thì có thể không phải xuất phát từ tiếng Khơme, vì Nguyễn Cư Trinh là người am hiểu về Nho học, nên nhiều khả năng ông đã đặt ra các đạo Tân Châu, Châu Đốc và Đông Khẩu là theo âm Hán – Việt Theo âm Hán - Việt, Châu có nghĩa là cù lao, bãi sông, Đốc có nghĩa là Đốc suất , Châu Đốc có nghĩa là nơi mà binh lính của các chúa Nguyễn đốc thúc việc xây dựng đồn biên giới ở cù lao

Đất Châu Đốc khi những người Việt đầu tiên đặt chân tới đã có những người Khơme bản địa sống rải rác ở các gò đồi ven biên giới Trong thế kỷ XVIII, trên toàn vùng Nam Bộ (bao gồm cả Châu Đốc) đã tiếp nhận hai đợt di dân lớn của những người Hoa không chịu qui phục nhà Thanh Những người Hoa đã được chúa Nguyễn cho phép đến khai phá vùng đất Hà Tiên Người Hoa đã tạo nên những sắc thái văn hoá rất đặc trưng Trung Hoa tại Nam Bộ Vào cuối thế kỷ XIX, Nam Bộ lại tiếp tục

Trang 32

diễn ra một đợt di dân lớn của những người Chăm đi tránh chiến tranh Một bộ phận lớn người Chăm theo đạo Hồi đã tới Châu Đốc trong thời điểm này

Như vậy, về mặt dân cư chỉ có người Khơme là những cư dân đã sống lâu nhất tại Châu Đốc, còn lại người Việt, người Hoa, người Chăm đều là những tộc người đến định cư sau này Vì vậy ở Châu Đốc có thể nhận thấy sự giao lưu, tiếp xúc văn hoá giữa các tộc người diễn ra rất phổ biến Các tộc người đều là những cư dân mới tới nên đã tiếp nhận những kinh nghiệm sống của nhau để cùng nhau phát triển Sự giao lưu, tiếp xúc văn hoá giữa các tộc người là một trong những yếu tố văn hoá đăïc thù của Châu Đốc cũng như của cả vùng Nam Bộ

2.1.2 Khái quát về vùng núi Sam

Núi Sam cách thị xã Châu Đốc 6 km về hướng Tây, nằm trong địa phận phường Núi Sam (trước đây là xã Vĩnh Tế) Ngọn núi này nổi tiếng cả vùng Nam Bộ không những vì có miếu Bà Chúa Xứ, mà còn vì có một hình dáng rất nên thơ “Toàn thể trái núi nằm giữa cánh đồng bằng, không khác hình con sam xanh khổng lồ đặt trên tấm đệm rạ lớn” [17, tr 72]

Núi Sam có tên chữ là Học Lãnh Sơn, nhưng vì từ lãnh thường dùng để chỉ những ngọn núi cao hiểm trở, nhưng núi Sam thì chỉ cao 234 m so với mặt nước biển, nên chữ lãnh trong tên của núi Sam dần dần bị rút bỏ, và được gọi là Học sơn Nhưng cũng có ý kiến cho rằng: “núi Sam ngày xưa có tên là Hấu Sơn (Hấu là con Sam), lâu ngày biến âm đọc trại ra là Học” [8, tr 24] Núi Sam là ngọn núi nằm ngoài dãy Thất Sơn nổi tiếng linh thiêng ở Nam Bộ nhưng lại giữ một vị trí quan trọng, là “cửa ngõ của vùng núi hiếm hoi ở đồng bằng sông Cửu Long” [19, tr 33] Có giả thuyết cho núi Sam khi xưa là cù lao nổi gần vịnh Thái Lan, có rất nhiều con sam sinh sống Cư dân

đi biển thường ghé vào đây để bắt sam Sau này khi người Việt vào vùng đất này đã

Trang 33

phát hiện ra khá nhiều tấm ván gỗ của thuyền đi biển còn sót lại nằm rải rác ở khu vực núi Sam

Ngày nay, núi Sam được chia làm ba ngọn: Ngọn Đầu Bờ nằm ở phía Đông, ngọn ở giữa cao nhất vẫn thường được gọi là đỉnh núi Sam, ngọn Đá Chẹt nằm ở phía Tây Ở xung quanh núi Sam có nhiều di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng như miếu Bà

Chúa Xứ, Chùa Tây An, Lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Hang (Xem phụ lục 3) Núi Sam

là một thắng cảnh đẹp của Nam Bộ Từ đỉnh núi Sam phóng tầm mắt ra xa là cả một vùng đồng bằng mênh mông và dãy Thất Sơn hùng vĩ, vì vậy núi Sam từ lâu đã được nhiều người coi là nơi lý tưởng để du ngoạn và ngắm cảnh Năm 1896, tên chánh tham biện Pháp đã xây dựng một ngôi biệt thự kiên cố với nhiều phòng để làm nơi nghỉ mát, ăn chơi Tầng trên là một ngôi tháp cao hình trôn ốc dùng cho việc hóng gió Từ khi có ngôi biệt thự này, đỉnh núi Sam còn được gọi là Pháo đài Hiện nay chỉ còn lại pháo đài trên đỉnh núi Sam

Từ khi đất nước hoà bình, núi Sam vẫn là nơi lý tưởng cho việc du ngoạn Vì vậy, vào năm 1987 Ủy ban nhân dân thị xã Châu Đốc đã xây khu du lịch Vườn Tao Ngộ tại sườn núi Sam để làm nơi nghỉ dưỡng cho du khách Trên núi Sam còn có ngôi đền thờ cụ nghè Trương Gia Mô mới được xây dựng vào năm 1994 Đền không to nhưng khang trang với mái cong, lợp ngói xanh ở trên nền cao Ngôi đền được dựng lên tại núi Sam nhằm tưởng nhớ tới sự kiện cụ nghè Trương Gia Mô đã tuẫn tiết vào ngày 2 tháng 11 âm lịch năm 1926 để tránh sự truy đuổi của quân Pháp

Núi Sam không thuộc dãy Thất Sơn nhưng lại luôn được xếp cạnh dãy Thất Sơn

vì sự linh thiêng Không những vậy nhiều người còn cho rằng núi Sam cũng là một ngọn núi thuộc dãy Thất Sơn Bà Chúa Xứ núi Sam luôn được tôn thờ như một vị mẫu có một sức mạnh siêu nhiên, có thể hoá giải hết mọi khúc mắc trong cuộc sống Sự linh thiêng của Bà Chúa Xứ núi Sam đã được truyền tụng trong dân gian từ lâu, vì thế

Trang 34

núi Sam càng trở nên nổi tiếng với tư cách là ngọn núi thiêng, nơi Bà Chúa Xứ đã từng ngự

Núi Sam là một ngọn núi có vẻ đẹp nên thơ, sừng sững ở vùng đất biên thuỳ, sông rạch dọc ngang Ngoài ra khu vực núi Sam còn có nhiều di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng Nhiều truyền thuyết và các câu chuyện dân gian ra đời tại vùng đất này Vì vậy hàng năm cứ vào 4 tháng đầu năm, hàng triệu người ở khắp vùng Nam Bộ lại lũ lượt đổ về núi Sam để dự lễ hội Bà Chúa Xứ và tham quan các danh thắng nổi tiếng ở đây, tạo nên một không khí hội hè náo nhiệt hiếm thấy ở nơi khác Trong quan niệm của những người hành hương, đến lễ Bà Chúa Xứ phải lên đến đỉnh núi trước kia Bà đã ngự thì mới được coi là cuộc hành hương trọn vẹn Vì vậy đỉnh núi Sam cũng là một

trong những điểm thu hút nhiều du khách trong những ngày lễ hội

2.2 Tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở Nam Bộ

2.2.1 Vài nét về tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt ở Bắc Bộ

Trong đời sống của loài người từ thời xa xưa, cuộc đấu tranh sinh tồn diễn ra rất khốc liệt Để có thể tồn tại trong một thế giới đầy những hiểm nguy, con người đã hình thành nên những đức tin vào các thế lực siêu nhiên Chính những đức tin của con người từ thuở sơ khai là nền tảng cho sự ra đời của các tín ngưỡng Như vậy, các tín ngưỡng dân gian đã ra đời và phát triển từ rất lâu, gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người Trên thế giới người ta thấy tồn tại rất nhiều tín ngưỡng ở các dân tộc khác nhau và có những tín ngưỡng giống nhau tồn tại ở những tộc người không có mối liên hệ, giao lưu gì với nhau Điều đó chứng tỏ các tín ngưỡng này ra đời vào thời điểm các tộc người đó ở cùng một giai đoạn phát triển về mặt nhận thức

Trong tiến trình lịch sử, người Việt cũng như các tộc người khác đã tạo ra rất nhiều loại tín ngưỡng để phục vụ cho đời sống tâm linh, “do đó đã tạo nên diện mạo tín ngưỡng Việt Nam là tín ngưỡng đa thần giáo” [47, tr 11] Người Việt từ thời xa xưa

Trang 35

đã là những cư dân nông nghiệp nên yếu tố tự nhiên đóng vai trò quan trọng, quyết định sự sống còn của họ Sự khắc nghiệt của thiên nhiên là nhân tố dẫn tới việc ra đời

ý thức sùng bái tự nhiên và quan niệm vạn vật hữu linh Mặt khác, trong cuộc sống của các cư dân nông nghiệp, các yếu tố như đất, nước, mây, mưa, nắng đặc biệt được coi trọng, từ đó đã hình thành nên tín ngưỡng thờ tứ pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện Những yếu tố tự nhiên nằm ngoài tầm kiểm soát của con người được người Việt tôn thờ dưới hình bóng những nữ thần

Có rất nhiều truyền thuyết, huyền thoại nói về tín ngưỡng thờ nữ thần của người Việt và các tộc người khác còn lưu truyền đến ngày nay Trước hết phải nhắc tới là truyền thuyết về Mẹ Âu Cơ đã sinh ra bọc trăm trứng, là Quốc Mẫu của người Việt mà bất cứ ai cũng không thể quên Tục tôn thờ một vị nữ thần làm quốc mẫu không chỉ thấy ở tộc người Việt mà còn thấy ở các tộc người khác như “tổ tiên của các dân tộc Thái, Khơ mú cũng là do Bà Mẹ sinh ra trong quả bầu trong đó chứa tổ tiên của các dân tộc Còn với các dân tộc Tây Nguyên thuỷ tổ là người phụ nữ và con chó thần…” [55, tr 12]

Tín ngưỡng thờ Mẫu - Nữ thần phổ biến rộng khắp trên đất nước ta và đều thuộc tín ngưỡng thờ thần của người Việt Nhưng từ tín ngưỡng thờ Mẫu - Nữ thần để trở thành đạo thờ Mẫu phổ biến ở nước ta phải trải qua một quá trình phát triển với tất cả các yếu tố cấu thành mà một tôn giáo cần phải có Đạo Mẫu ở nước ta được ra đời trên

cơ sở của tín ngưỡng thờ Mẫu- Nữ thần, là một đạo điển hình với hệ thống các đền phủ, các nghi thức hành lễ rất đặc trưng Đặc biệt là ở miền Bắc Việt Nam, cơ sở thờ tự của đạo Mẫu có mặt ở khắp nơi Đạo Mẫu ra đời và trong quá trình tồn tại đã chịu ảnh hưởng từ Đạo Lão, là một trong các tôn giáo du nhập đã từng rất phát triển ở nước ta từ những thế kỷ đầu công nguyên Do đó, có thể thấy trong cơ sở thờ tự của đạo Mẫu có thờ các vị thánh của đạo Lão như Ngọc Hoàng, Thái Thượng Lão Quân, Nam Tào Bắc

Trang 36

Đẩu Truyền thuyết về các Mẫu thờ cũng luôn mang màu sắc huyền bí như trong các câu chuyện tiên của đạo Lão Bởi vậy có nhận định cho rằng: ”Trên cơ sở tín ngưỡng Mẫu thần dân gian, với những ảnh hưởng của đạo giáo Trung Quốc đã hình thành và định hình đạo mẫu Tam phủ, Tứ phủ (Tam toà thánh mẫu), một thứ đạo giáo đặc thù của Việt Nam , có thể gọi một cách ngắn gọn hơn và thực chất hơn là Đạo Mẫu” [55,

tr 22]

Đạo Mẫu ở Việt Nam tôn thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế là vị thánh tối cao, sau đó mới tới các bậc thánh mẫu (Tam phủ, Tứ phủ), tiếp theo là: Ngũ Vị Vương Quan, Tứ Vị Chầu Bà, Ngũ Vị Hoàng Tử, Thập Nhị Vương Cô, Thập Nhị Vương Cậu, Ngũ Hổ, Ông Lốt (Rắn) Mặc dù Ngọc Hoàng Thượng Đế là vị thần được thờ phụng ở vị trí cao nhất trong đạo Mẫu nhưng vai trò lại rất mờ nhạt trong tâm thức dân gian Khi nói tới Đạo Mẫu ở Việt Nam người ta thường hay nói tới việc tôn thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh và Bà là biểu tuợng của Đạo Mẫu

Thánh Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện trong các điện thờ của Đạo Mẫu khá muộn Những truyền thuyết về Bà còn lưu truyền tới ngày nay cho thấy mốc thời gian Bà xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XVI, nhưng Bà đã nhanh chóng được tôn thờ ở vị trí cao hơn tất cả các thánh mẫu khác Bà vừa là một thiên thần vừa là một nhân thần, có một đời sống trần gian thực sự Các truyền thuyết về Mẫu Liễu Hạnh rất nhiều và phức tạp Có những truyền thuyết mang màu sắc huyền bí, phi thực tế nhưng có những truyền thuyết rất hiện thực, chứng tỏ “Vị Thánh Mẫu Liễu Hạnh ra đời chậm trễ nhất trong số các thánh mẫu nhưng thần tích của Bà cũng được người đời “trần thế hoá”,

“địa phương hoá”ù, và “lịch sử hoá” một cách khá trọn vẹn để từ đó Bà bước lên ngôi thứ cao nhất trong điện thần tứ phủ” [55, tr 61]

Trong điện thờ của đạo Mẫu, Mẫu Liễu Hạnh được coi là hoá thân của mẫu Thượng Thiên và được thờ ở vị trí trung tâm Không những vậy, Mẫu Liễu Hạnh còn

Trang 37

được coi là hoá thân của Địa Tiên Thánh Mẫu – Bà Mẹ Đất trông coi các vùng đất đai và sự sống của vạn vật

Đạo Mẫu ở Việt Nam tồn tại hai khái niệm là Tam Phủ và Tứ Phủ Mẫu Tam Phủ gồm có Mẫu Thiên, Mẫu Thượng ngàn, Mẫu Thoải Khi Mẫu Tam Phủ được kết hợp thêm Mẫu Liễu Hạnh sẽ tạo thành Tứ Phủ Quan niệm về Tam Phủ, Tứ Phủ thể hiện rất rõ vũ trụ luận của người Việt Các Thánh Mẫu trong đạo Mẫu thường được thờ với các màu tượng trưng cho các phương trong vũ trụ Tứ phủ bao gồm Thiên Phủ ứng với màu đỏ, Thoải phủ ứng với màu trắng, Địa phủ ứng với màu vàng và Nhạc phủ ứng với màu xanh

Đạo Mẫu ở miền Bắc nước ta thuộc hệ thống Tam toà Thánh Mẫu và trung tâm của tín ngưỡng này là ở quần thể di tích Phủ Giầy (nằm trong ba thôn Tiên Hương, Vân Cát, Giá Bàng) gắn liền với tục thờ mẫu Liễu Hạnh Phủ Giầy (xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) là quê hương của Mẫu Liễu, do đó trong tâm thức dân gian đây là vùng đất linh thiêng, được coi là quê Mẹ Có rất nhiều truyền thuyết, di tích, địa danh gắn liền với cuộc đời của Mẫu Liễu còn tồn tại cho đến nay Mẫu Liễu Hạnh thường được nhắc tới với nguồn gốc thiên thần, nhưng Bà là vị thánh đã được trần tục hoá và có một cuộc sống bình thường như bao người phụ nữ khác ở thế gian này “Mẫu Liễu Hạnh có khá đủ những dấu ấn tiểu sử: Cha mẹ, quê quán, chồng con Người ta chỉ ra: đây là chỗ sinh, kia là chỗ hoá, đây là vườn tược, người này là cháu bao đời” [55, tr 151]

Tín ngưỡng thờ Mẫu đã có ở nước ta từ rất lâu trước khi có sự xuất hiện của mẫu Liễu Hạnh Tuy vậy, khi nói tới tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bắc Bộ, người ta thường nói tới sự thờ phụng Mẫu Liễu Lễ hội Phủ Giầy diễn ra từ ngày mồng 1 đến ngày 10 tháng 3 âm lịch và thường thu hút rất nhiều khách hành hương Các truyền thuyết về Mẫu Liễu Hạnh cũng như các nữ thần khác thường rất huyền bí và mang nhiều yếu tố linh thiêng,

Trang 38

thường hay làm việc khuyến thiện trừ ác, do đó có sức hút lớn với nhân dân, đặc biệt là với những người phụ nữ sống trong xã hội phong kiến, luôn chịu những ràng buộc và bất công Nghi lễ chính của đạo Mẫu là hầu bóng cũng là một yếu tố tạo nên sức cuốn hút của đạo Mẫu

Tín ngưỡng thờ Mẫu ra đời từ rất sớm ở nước ta và rất có thể là đã xuất hiện từ thời kỳ người Việt bắt đầu công cuộc khai phá vùng đồng bằng Bắc Bộ Tín ngưỡng thờ Mẫu đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của nhân dân và là “một sinh hoạt tư tưởng rộng rãi của quần chúng lao động, chủ yếu là nông dân, từ nhiều thiên niên kỷ nay, nó phản ánh đậm nét tâm hồn người Việt, nó có một sức sống mạnh mẽ, uyển chuyển, tự điều chỉnh để phù hợp với mọi hoàn cảnh lịch sử “ [4, tr 13]

2.2.2 Đặc điểm về tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ của người Việt ở Nam Bộ

Lịch sử vùng đất Nam Bộ được nói đến trong lịch sử Việt Nam chỉ mới hơn 3 thế kỷ nhưng từ trước khi người Việt tới định cư và khai phá, nơi đây đã từng tồn tại những nền văn hoá cổ Trước khi người Việt vào định cư tại Nam Bộ, khu vực này dù còn hoang vu nhưng cũng đã có một số tộc người khác sinh sống ở miền Đông Nam Bộ và cực nam của dãy Trường Sơn, do đó các sắc thái văn hoá ở Nam Bộ khá đa dạng Khác với miền Bắc, các tộc người thường sinh sống ở từng khu vực riêng biệt, cách xa nhau nên ít thấy có hiện tượng giao thoa văn hoá do tiếp xúc giữa các tộc người Vùng đất Nam Bộ vốn rộng và trù phú, khí hậu ôn hoà nên không bắt buộc con người phải khắt khe trong việc lựa chọn nơi định cư Có thể thấy hiện tượng phổ biến ở đây là các tộc người cùng chung sống trong một khu vực mà không xảy ra mâu thuẫn với nhau Không những thế, các tộc người sống và giao lưu, tiếp xúc với nhau một cách tự nhiên, tạo nên một không gian văn hoá đa dạng Nghiên cứu về sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa, tín ngưỡng của các tộc người ở Nam Bộ có thể thấy rõ hiện tượng này Sự độc đáo và khác biệt về văn hoá, tín ngưỡng ở Nam Bộ so với Bắc Bộ được tạo nên từ

Trang 39

những yếu tố này và làm cho văn hoá dân gian ở Nam Bộ mang những sắc thái riêng biệt

Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ cũng không nằm ngoài quy luật ấy Trước khi người Việt vào định cư tại Nam Bộ, các tộc người đã có mặt trên vùng đất này từ trước cũng có đời sống tâm linh rất phong phú Trong những tín ngưỡng của họ có thể thấy tín ngưỡng thờ Nữ thần rất gần gũi với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Người Việt vào định cư tại Nam Bộ đã gặp phải những khó khăn trong việc thích nghi với môi trường sống mới, vì thế buộc họ phải học tập theo một số cách ứng xử của các tộc người ở đây để tồn tại Từ việc tiếp thu những kinh nghiệm sống, người Việt tiếp thu một số yếu tố tín ngưỡng trong đó có cả tín ngưỡng thờ nữ thần của các tộc người khác như người Chăm, người Khơme và tạo nên tín ngưỡng thờ Mẫu khác hẳn với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Bắc Bộ

Tín ngưỡng thờ Nữ thần phát triển rất mạnh và giữ vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của nhiều tộc người ở nước ta Việt Nam trong các giai đoạn của lịch sử luôn được nói tới là một đất nước thuần nông nghiệp, vì thế có một sự đồng nhất trong đời sống tâm linh của các tộc người là rất tôn thờ thần đất và sáng tạo vị thần này ở dạng nữ thần “Nền tảng của tín ngưỡng thờ mẫu là ý thức của người nông dân cầu mong ở đất đai mùa màng tươi tốt Vị thần đất là vị thần mà người nông dân sáng tạo

ra, để họ gửi gắm các khát vọng của mình Vị thần ấy, ngay từ buổi đầu đã mang một cốt lõi uyên nguyên, mang yếu tố âm nên thường xuất hiện dưới dạng nữ thần” [3, tr 428] Sự gần gũi trong đời sống tín ngưỡng là một trong những yếu tố giúp cho các tộc người hiểu nhau và cùng chung sống hoà bình

Trong cuộc sống ở vùng đất mới này, người Việt đã tiếp thu một số vị thần của các tộc người khác để tôn thờ, vì vậy hệ thống các mẫu được thờ của người Việt ở Nam Bộ rất đa dạng và phức tạp

Trang 40

Trịnh Hoài Đức chép có bốn bà: Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, Bà Hoả Tinh, Bà Thuỷ Long Huỳnh Tịnh Của chép có bảy bà: Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Động, Bà Cố Hỉ, Bà Thuỷ, Bà Hoả Hiện tại các bô lão ở Bến Tre cho biết có chín bà thường được người dân thờ phụng là Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Hồng, Bà Hoả, Bà Thuỷ, Bà Thiên Hậu, Bà Chúa Xứ, Cửu Thiên Huyền Nữ và Bà Nữ Oa [3, tr 438]

Số lượng các mẫu được người Việt tôn thờ ở Nam Bộ rất nhiều nhưng trong đó, Bà Chúa Xứ được thờ rộng rãi nhất và là một đặc trưng trong tín ngưỡng thờ Nữ thần ở Nam Bộ Các miếu thờ Bà Chúa Xứ có thể thấy ở khắp nơi trên đất Nam Bộ Làng nào cũng có miếu Bà Chúa Xứ, thậm chí có nơi còn thờ cả Bà Chúa Xứ trong khuôn viên đình làng và “ở Nam Bộ, nhà nào cũng có miếu Bà Chúa Xứ , đặt ở góc nhà hoặc góc vườn Trong rừng U Minh, người dân đốn củi, lấy mật ong cũng thờ Bà Chúa Xứ để cầu mong được mạnh khoẻ, tránh được sốt rét, tránh được những rủi ro trong nghề nghiệp” [5, tr 377]

Tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ của người Việt ở Nam Bộ không hoàn toàn giống với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Bắc Bộ Ở miền Bắc, các Mẫu được thờ trong hệ thống Tam toà Thánh Mẫu Tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ được hình thành từ tục tôn thờ Nữ thần và trong đó có sự ảnh hưởng không nhỏ của tục thờ bà mẹ xứ sở – Pô Inư Naga của người Chăm Thực ra tín ngưỡng thờ nữ thần rất phổ biến ở cư dân nông nghiệp trong khu vực Đông Nam Á Khi các tộc người có sự giao lưu, tiếp xúc với nhau, gặp những nét tương đồng về tín ngưỡng thì rất dễ diễn ra việc chấp nhận một cách tự nguyện các vị thần của tộc người khác làm vị thần của mình, và khoác lên đó những hình tượng nữ thần mà mình tôn thờ Người Việt đã từng làm như thế trong trường hợp thánh mẫu Thiên Y A Na Khi người Việt tiến về phía nam, vào tới vùng đất thuộc Vương Quốc Chămpa xưa đã có giao lưu, tiếp xúc với văn hoá Chăm và tiếp

Ngày đăng: 06/06/2021, 01:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w