1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN: QUAN HỌ BẮC NINH – NÉT ĐẸP VĂN HÓA NGHỆ THUẬT DÂN GIAN CỦA XỨ KINH BẮC

28 213 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 733,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều quý giá của âm nhạc dân gian cổ truyền, dân ca chính là tính độc đáo và duy nhất. Hơn thế, dân ca còn có một giá trị nghệ thuật đẹp đẽ và mang cho mình những chức năng nhất định, là hình ảnh của đời sống và nền văn hóa, xã hội, nơi nó được sinh ra và tồn tại. Được xem là “đỉnh cao nghệ thuật của dân ca trung du và đồng bằng Bắc Bộ”, Quan họ đại diện cho nền nhạc hát dân gian Việt Nam, được yêu chuộng khắp đất nước và được giới thiệu với bạn bè quốc tế, trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhưng với nhiều người, Quan họ được biết đến như một thể loại âm nhạc trình diễn chứ không đúng như cái chất của chính bản thân nó – một thể loại dân ca giao duyên, một ca khúc dân gian đại diện cho vùng Kinh Bắc nước ta. Trong dòng chảy của sự đa dạng và phong phú các làn điệu dân ca tại Việt Nam, Quan họ vẫn ở đó, nổi bật, lấp lánh lên một sắc màu riêng biệt, không trộn lẫn vào đâu được.

Trang 1

TIỂU LUẬN CUỐI KÌ QUAN HỌ BẮC NINH – NÉT ĐẸP VĂN HÓA NGHỆ THUẬT DÂN GIAN CỦA XỨ KINH BẮC

NĂM 2020

Trang 2

2

MỤC LỤC

A PHẦN TỔNG QUAN 4

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Đối tượng 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Dự kiến kết quả 5

B PHẦN NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 5

1.Cơ sở lí luận 5

1.1 Định nghĩa Văn hóa 5

1.2 Văn hóa dân gian 5

1.3 Dân ca 5

1.4 Dân ca Quan họ 6

2 Cơ sở thực tiễn 6

CHƯƠNG 2: NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH DÂN CA QUAN HỌ 6

1.Xứ Kinh Bắc- cái nôi của dân ca Quan họ 6

2 Truyền thuyết về nguồn gốc Quan họ 8

CHƯƠNG 3 HÌNH THỨC SINH HOẠT TRONG DÂN CA QUAN HỌ 10

1 Hình thức sinh hoạt dân ca Quan họ 10

1.1 Không gian và thời gian sinh hoạt 10

1.2 Tổ chức họ và kết nghĩa 12

1.3 Lề lối hát Quan họ 13

1.3.1 Hát đối đáp 13

1.3.2 Hát canh 14

1.3.2 Hát hội 16

2 Thi pháp ca từ 18

2.1 Từ ngữ 18

2.2 Từ đệm 19

2.3 Lối xưng hô 20

2.4 Thể thơ trong dân ca Quan họ 22

Trang 3

3 Trang phục biểu diễn trong dân ca Quan họ 22

CHƯƠNG 4 DỊ BẢN TRONG DÂN CA QUAN HỌ 24

1.Tính dị bản, truyền miệng trong dân ca Quan họ 24

2 Các biểu hiện của dị bản dân ca Quan họ 25

C KẾT LUẬN 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 4

4

A PHẦN TỔNG QUAN

1 Lí do chọn đề tài

Điều quý giá của âm nhạc dân gian cổ truyền, dân ca chính là tính độc đáo

và duy nhất Hơn thế, dân ca còn có một giá trị nghệ thuật đẹp đẽ và mang cho mình những chức năng nhất định, là hình ảnh của đời sống và nền văn hóa, xã hội, nơi nó được sinh ra và tồn tại

Được xem là “đỉnh cao nghệ thuật của dân ca trung du và đồng bằng Bắc Bộ”, Quan họ đại diện cho nền nhạc hát dân gian Việt Nam, được yêu chuộng khắp đất nước và được giới thiệu với bạn bè quốc tế, trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Nhưng với nhiều người, Quan họ được biết đến như một thể loại âm nhạc trình diễn chứ không đúng như cái chất của chính bản thân nó – một thể loại dân ca giao duyên, một ca khúc dân gian đại diện cho vùng Kinh Bắc nước

ta Trong dòng chảy của sự đa dạng và phong phú các làn điệu dân ca tại Việt Nam, Quan họ vẫn ở đó, nổi bật, lấp lánh lên một sắc màu riêng biệt, không trộn lẫn vào đâu được

“Khách đến chơi nhà rằng mấy khi khách đến chơi nhà

Rót lời hát xuống chén trà mời nhau

Rót lời hát xuống chén trà mời nhau

Để anh xơi một miếng trầu dẫu rằng vẫn biết qua cầu gió bay.”

Dân ca Quan họ luôn thể hiện rõ nét những tâm tư tình cảm, sự thân mật, gần gũi rất đỗi thân thương qua từng ca từ, giai điệu của bài hát Khi thưởng thức, người ta như muốn chìm đắm say sưa vào giai điệu đó, cuốn hút đến bất ngờ Với tư cách là một người con của vùng đất Kinh Bắc, muốn được tìm hiểu, nghiên cứu về chính bản sắc văn hóa của quê hương mình, đặc biệt là Dân ca Quan họ, loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian đặc trưng của nơi đây Và từ đó, tìm ra các biện pháp bảo tồn và phát huy trong xu thế hội nhập và phát triển như ngày nay

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu rõ hơn về nguồn gốc, bản chất, hình thức sinh hoạt của dân ca Quan họ với tư cách là loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian chứ không chỉ là thể loại âm nhạc trình diễn Từ đó đưa ra cái nhìn đúng đắn hơn về thể loại dân ca này

3 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là hình thức sinh hoạt dân ca Quan họ vùng Kinh Bắc xưa và những yếu tố liên quan như con người, vùng đất Kinh Bắc

Trang 5

4 Phương pháp nghiên cứu

Dự kiến sau khi làm đề tài nghiên cứu về dân ca Quan họ, sinh viên làm bài

sẽ thu hoạch được những kết quả như: tăng vốn hiểu biết về dân ca, nhận thức rõ ràng và đúng đắn hơn về Quan họ qua việc nghiên cứu nguồn gốc, hình thức sinh hoạt, những giai điệu, lời ca, …

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.Cơ sở lí luận

1.1 Định nghĩa Văn hóa

Theo E.B Tylor định nghĩa trong Công trình văn hóa nguyên thủy năm

1871, văn hóa là một chỉnh thể phức hợp những gì con người đạt được với tư cách

là thành viên của xã hội, như kiến thức, tín ngưỡng, luật phát, phong tục, …

Hay: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần, do

con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” (Trần Ngọc Thêm,

1996 :27)

1.2 Văn hóa dân gian

Văn hóa dân gian là tất cả các sản phẩm vật chất và tinh thần, những quy ước

xã hội do người bình dân sáng tạo, giữ gìn và phát triển qua nhiều thế hệ Là tổng thể các giá trị được sáng tao ra nhằm đáp ứng những đòi hỏi nhu cầu về đời sống tinh thần của cộng đồng

1.3 Dân ca

“Dân ca là câu ca điệu hát, bài hát được lưu truyền trong dân gian mà không

rõ nguồn gốc, tách giả Người này nghe người kia hát thì nhớ và hát lại hay họ tự hát Người khác thấy hay và học theo nên thành bài rồi lan truyền dần dần rộng ra.”

(Wiktionary, dân ca, https://vi.wiktionary.org)

Trang 6

6

Ngoài ra, có người còn cho rằng dân ca là những bài hát cổ, không rõ sáng tác, hay dân ca là loại hình âm nhạc được lưu truyền và phát triển bằng cách truyền miệng, được biểu diễn theo phong tục

1.4 Dân ca Quan họ

Quan họ là một trong những làn điệu dân ca tiêu biểu của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng ở miền Băc nước ta Được sinh ra và nuôi dưỡng bởi vùng văn hóa Kinh Bắc xưa – Bắc Ninh, Bắc Giang ngày nay, thường được biết đến với cái tên Dân ca Quan họ Bắc Ninh Vào ngày 30 tháng 9 năm 2009, Dân ca Quan họ đã được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

2 Cơ sở thực tiễn

Trong nhiều thập kỷ qua, đã có một khối lượng khá đồ sộ các nghiên cứu về Quan họ, đối tượng nghiên cứu chính đa số là hát Quan họ Trong khi đối với người dân ở các làng Quan họ gốc, Quan họ không chỉ có hát mà người dân còn gọi là chơi quan họ Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, “dân ca Quan họ là một loại hình văn hóa tổng hợp, vừa chứa đựng trong nó nhiều khía cạnh có liên quan đến nghệ thuật từ

âm nhạc, lời ca đến diễn xướng, gắn bó sâu sắc với thiên nhiên, con người, với văn hóa, văn minh làng xã vừa phản ánh nhiều mặt hoạt động của đời sống cộng đồng nông thôn vùng Kinh Bắc xưa.” (Đặng Văn Lung và cộng sự, 1978: 74) Tục chơi quan họ còn là một tấm gương phản ánh hiện thực đời sống văn hóa của cộng đồng dân cư nơi đây “Dân ca Quan họ đã phản ánh một phần hoạt động, nhận thức, tư tưởng, tình cảm, lý tưởng thẩm mỹ của nhân dân bằng những lời ca đẹp, phong cách lịch sự, trang nhã và bằng cả những lễ lối, tập quán đặc sắc kèm theo nó (Đặng Văn Lung và cộng sự, 1978: 9) Mặc dù đã trải qua một thời gian dài với bao nhiêu thăng trầm, nhưng chính vì tình người và các giá trị vật chất, tinh thần được kết tinh trong những bài ca Quan họ đã tạo nên sức sống trường tồn và mãnh liệt của nó cho đến ngày hôm nay Chính vì những lẽ trên, dân ca Quan họ đã thu hút ánh mắt các nhà nghiên cứu, khiến bao nhiêu giấy mực phải hao tốn để viết về nó với những ý kiến khác nhau

CHƯƠNG 2: NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH DÂN CA QUAN HỌ

1.Xứ Kinh Bắc- cái nôi của dân ca Quan họ

Nói đến dân ca là sẽ nói đến sản phẩm của những vùng văn hóa nhất định Trong đó, mỗi thể loại dân ca đều sẽ trải qua một quá trình hình thành và phát triển, tạo nên những vùng truyền thống đặc biệt bao gồm một số làng xóm nhất định Một số vùng dân ca tiêu biểu có thể kể đến như: Vùng dân ca Phú Thọ với hát Xoan, hát Ghẹo từ Phù Ninh, Tam Nông Hay hát Phường vải Nghệ Tĩnh ở dọc sông Lam, sông La, Đối với dân ca Quan họ cũng vậy Lối chơi Quan họ là một lối chơi đậm chất Kinh

Bắc, hiếm vùng nào có được

Trang 7

Xứ Kinh Bắc thật sự là một tiểu vùng văn hóa dân gian đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ, là nơi có một hệ thống di sản văn hóa tiêu biểu của nền văn hiến truyền thống Việt Nam Từ lâu, Kinh Bắc vốn đã đi vào tâm thức dân gian và thường xuất hiện như một không gian văn hóa trong mỗi người Việt Trước hết, tại đó là một ngọn nguồn lịch sử, ngọn nguồn truyền thuyết phong phú về Lạc Long Quân,

Âu Cơ, Kinh Dương Vương Đây còn là nơi lưu giữ những câu chuyện kể đầy tính chất thần thoại như Thánh Gióng, truyện Trương Chi, Đây là một vùng đất cổ đã trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, biến đổi qua hàng ngàn năm và nằm giữa khu vực Đồng Bằng châu thổ Bắc Bộ Nói tới Kinh Bắc, người ta thường nghĩ tới một vùng có cảnh sông thế núi phong hùng vĩ, những đồng ruộng thẳng tắp cánh cò bay, những bãi sông Hồng, Sông Đuống, sông cầu, sông Thương đầy phù sa và màu mỡ Nơi đây xuất hiện vào thời Lê và tồn tại đến đầu thời Nguyễn, bao gồm miền đất rộng lớn từ bờ Bắc Sông Hồng đến hết huyện Hữu Lũng Tuy là địa bàn giao lưu, tiếp biến với các nền văn hóa Đông- Tây, nhưng Kinh Bắc vẫn tồn tại và phát triển với bản sắc riêng vốn có

cư dân vùng Bắc Ninh ngày nay Không gian văn hóa Quan họ là một không gian khá rộng, tập trung và xoay Quanh thị xã Bắc Ninh, đây cũng chính là không gian của thủ phủ Luy Lâu truyền thống Dân ca Quan họ bao gồm trên dưới 50 làng ở vùng Kinh Bắc xưa và là Bắc Giang, Bắc Ninh ngày nay cùng với rất nhiều truyền thuyết về nguồn gốc của nó Theo Đặng Văn Lung trong cuốn sách “Quan họ nguồn gốc và quá trình phát triển” thì Quan họ có 49 làng, tập trung ở 4 điểm thuộc Bắc

Trang 8

8

Ninh là Tiên sơn (17 làng), thị xã Bắc Ninh (10 làng), Yên Phong (17 làng) và Việt Yên (5 làng) Cái chất nhẹ nhàng, tinh tế, đằm thắm của con người nơi đây như đã thấm đậm vào trong việc sinh hoạt văn hóa Quan họ, vào lối ca hát cũng như cách giao tiếp, ứng xử của người Quan họ

Trải qua bao thăng trầm và phát triển, dân ca Quan họ đã trở thành niềm tự hào của người dân Bắc Ninh Có lẽ vì những tình yêu thương trọn vẹn, đầy nghĩa tình được đúc kết qua các lời ca Quan họ mà mỗi người chúng ta đều thấy được mối liên kết giữa con người và con người với nhau Tính nhân văn, triết lý được thể hiện

từ truyền thống xa xưa Những câu hát Quan họ ra đời là để thỏa mãn nhu cầu về mặt tình cảm, mang lại những lợi ích thiết thực cho người dân

2 Truyền thuyết về nguồn gốc Quan họ

Trong hàng nghìn năm Bắc thuộc, cùng với hàng nghìn năm tiếp xúc giao lưu văn hóa, nền văn hóa Việt Nam không tránh khỏi việc ảnh hưởng ít nhiều từ các nền văn hóa khác Vì có đủ mọi “sắc hương” như thế nên việc tìm cội nguồn của

đi tìm ra nguồn gốc của nó thật khó Đã có rất nhiều truyền thuyết được ghi chép lại

“Số 1059 của Việt báo, ngày 21 tháng 2 năm 1940, Nguyễn Duy Kiện có ghi lại một truyền thuyết như sau:

“ Đã lâu lắm, từ thời Thượng cổ, nhân dân hai làng Lũng Giang và Tam Sơn giao

hảo với nhau rất thân mật Hễ làng nào có việc Quan, hôn, tang, tế, thì báo cho làng kia biết để dân làng cử vài người làm đại biểu, đem đồ lễ sang hoặc viếng, hoặc mừng nhà hữu sự Làng Tam Sơn hằng năm cứ tháng giêng có lễ vào đám thờ cúng thành hoàng, trong làng mở hội Các cụ bên Lũng Giang sang chơi Sáng ngày 13 tháng giêng, họ họp nhau độ 5-7 cụ ông, 5-7 cụ bà và một số đông nam nữ biết hát Quan họ kéo nhau sang Tam Sơn dự hội Bên Tam Sơn cũng cử một số người ra thù tiếp bạn Sau khi đã ngồi trên dưới thứ tự tại đình thì bắt đầu hát Trai bên này hát, gái bên kia đáp, còn các cụ thì ngồi nghe Từ thuở ban sơ cổ đại, hai làng cứ theo tục này mà di truyền Đó cũng là nguồn gốc của hát Quan họ.”” (Đặng Văn Lung,

Hồng Thao, Trần Linh Quý, 1978: 159)

Theo thuyết trên, hát Quan họ được tổ chức vào dịp Quan, hôn, tang, tế Đây đều là những dịp thờ cúng tổ tiên Mỗi khi đến những dịp này, hai làng lại có mối liên kết, hữu nghị với nhau Điều này nói lên tình thân thiết giữa hai thôn và tầm Quan trọng của tục kết nghĩa trong Quan họ

Một thuyết khác được nêu ra cũng tương tự:

Trang 9

“Làng Viêm Xá kết nghĩa với làng Hoài Bão Viêm Xá mở hội thờ thần vào mồng 4 tháng giêng và mồng 10 tháng tám Mỗi lần có hội, Viêm Xá mời một đoàn trai Hoài Bão sang Say khi tế lễ xong thì tổ chức ca hát Bên Viêm Xá toàn nữ, bên Hoài Bão toàn nam Trai gái hai làng hát đối đáp với nhau Dân Viêm Xá Quan niệm rằng năm nào làng không cử hành như vậy thì trong làng sẽ xảy ra nhiều sự bất an, người, vật bị ốm, mùa màng thất bát, buồn thua bán lỗ, dàn làng cãi cọ nhau, trai gái xinh

ra tật hư nết xấu Vì vậy mà có hát Quan họ.” (Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần

Linh Quý, 1978: 160)

Cả hai truyền thuyết được nêu trên đều khẳng định Quan họ là do tục thờ thành hoàng của những thôn kết nghĩa Suy cho cùng, phần lớn các truyền thuyết đều xoay Quanh việc giải thích nguồn gốc hát Quan họ là do có tục kết nghĩa Ngoài

ra, có một số truyền thuyết khác cho rằng, hát Quan họ để thờ các vua Lý Thực chất, hát Quan họ nguyên là để thờ thành hoàng và tổ tiên Nhưng sau đó có thêm chức năng hát thờ các vị anh hùng dân tộc

Ngoài các truyền thuyết được ghi chép lại, còn có những câu thơ nói về nguồn gốc của dân ca Quan họ:

Vốn nay Quan họ Bắc Ninh Muốn tìm tích cũ ở làng Diềm thôn

sử của Quan họ qua một số thuyết khác Từ thời Lý đến thời vua Lê, chúa Trịnh, Quan họ đã được cách tân liên tục Để rồi dần dần, cho đến tận ngày nay, nó trở thành một lối sinh hoạt, lối chơi rộng rãi trên nhiều khía cạnh về mặt không gian, thời gian khác nhau Đến một lúc nào đó, yếu tố thần linh giảm dần, Quan họ trở lại với cuộc sống bình dị của người dân, trở thành những ca từ thân thương đầy tình cảm Ngoài ra, nhiều người đã đi tìm hiểu ý nghĩa của hai từ “Quan họ” để lí giải cho nguồn gốc của loại hình dân ca này Họ đã lý giải nghĩa đen về mặt từ nguyên của "Quan" và của "họ" Điều này dẫn đến những ý kiến về Quan họ xuất phát từ

"âm nhạc cung đình", hay gắn với sự tích một ông Quan phải dừng bước ở vùng Kinh Bắc vì sự hấp dẫn của những câu hát của các liền anh, liền chị Tuy nhiên, theo cách lý giải này, những thành tố của không gian sinh hoạt văn hóa Quan họ như hình

Trang 10

10

thức sinh hoạt, diễn xướng, cách thức tổ chức và giao lưu, lối sử dụng từ ngữ,… đã

bị bỏ qua Tuy vậy, các Quan điểm đó đa số chưa được các học giả chấp nhận Có

lẽ, giáo sư Lê Thị Nhâm Tuyết đã nói đúng, gốc của cái tên “Quan họ” không Quan trọng bằng việc hiểu được nội dung của lối chơi

CHƯƠNG 3 HÌNH THỨC SINH HOẠT TRONG DÂN CA QUAN HỌ

1 Hình thức sinh hoạt dân ca Quan họ

1.1 Không gian và thời gian sinh hoạt

Được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất đặc biệt, dân ca Quan họ có thêm điều kiện để phát triển các hình thức tổ chức, sinh hoạt của mình Với một bề dày lịch sử

và quá trình giao lưu rộng rãi, Quan họ đã dần dần đi vào nề nếp ở các làng cụ thể

Ở đó, những yếu tố cổ được bảo lưu và đồng thời, những yếu tố mới được phát triển Qúa trình đó đã khẳng định bản sắc của Quan họ Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng hình thức hát trong ngày hội là hình thức sinh hoạt dân ca Quan họ điển hình nhất Hằng năm, làng sẽ mở hội ở chùa vào ngày nhất định Địa điểm hát sẽ là

ở chùa, Quanh đồi, trên hồ ao hay trong gia đình các nghệ nhân

Việc xác định địa điểm hát là biểu hiện cho quá trình phát triển của dân ca Nơi hát được hiểu là nơi mọi người quy định với nhau để đến hát Như vậy, đầu tiên

đó sẽ là nơi có điều kiện thuận lợi cho việc hát, về sau người ta sẽ tu sửa hoặc xây lên hẳn một địa điểm để biểu diễn Đây là một tiến trình diễn ra lâu dài trong lịch sử

ca hát dân gian Đối với dân ca Quan họ, trước hết xét về hội chùa ở Hà Bắc, vào những ngày hôi chùa lớn, khi tới đầu làng nơi có hội là sẽ hát mời trầu, nếu có người nhận trầu thì tức là buổi hát Quan họ đã có thể bắt đầu Tiếp theo, Quan họ được hát

ở trong chùa Chùa là một nơi cố định, các nghệ nhân thường biểu diễn Quan họ vào ngày lễ, ngày hội tại nơi đây, đặc biệt là khi tiến hành chặng lề lối Sau đó, họ giải tán về hát tại nhà đã chuẩn bị sẵn trước đó Hát trong nhà cũng có thể xếp vào địa điểm hát cố định Ngôi nhà để hát đã có sự chọn lựa, có sự tổ chức kể cả về ăn uống Người Quan họ chủ ra tận chùa đón và đưa bạn về nhà

Qua đó, có thể thấy rằng về cơ bản, Quan họ là lối hát đã xác định được nơi hát Các điểm hát sẽ chi phối phần nào nội dung các loại bài ca Hơn thế, việc hát trong nhà còn thể hiện trình độ cao hơn các lối hát khác ở chỗ nơi hát cố định Đây cũng chính là đặc điểm thúc đẩy sự phát triển của loại hình dân ca này

Giống như hát Xoan và hát Dậm, Quan họ có định kỳ chắc chắn Điển hình mỗi năm, vào những ngày có thời gian rõ ràng như hội làng hay tang lễ, cưới xin, hay khao lão được tổ chức, đều có mời hát Quan họ Ngoại trừ những ngày hội lớn, còn lại nếu không mời thì không hát Quan họ Đây đều làn những lối hát được tiến hành vào dịp nhất định Trong phạm vi từng làng, Quan họ tổ chức hát định kỳ từng

Trang 11

năm vào những ngày cụ thể Nhưng nếu xét theo phạm vi toàn vùng thì vào ba tháng xuân đầu năm, liên miên từ mồng bốn Tết đến giữa tháng ba âm lịch, hầu như lúc nào cũng có hát Như vậy, một cuộc hát có thể kéo dài cả mấy ngày hội hoặc chỉ diễn ra nửa buổi hay một ngày Cho tới nay, hằng năm cứ từ mồng bốn tháng giêng

âm lịch trở đi, các làng Quan họ ở Bắc Ninh lại tràn ngập rộn ràng lời ca, tiếng hát của các liền anh, liền chị để chuẩn bị cho ngày hội Những câu hát mộc mạc, đầy chân tình và thân thương giống như con người nơi đây vậy Ngày 10 và 11 tháng giêng âm lịch, ở Bắc Ninh thường tổ chức những cuộc thi hát Quan họ Vào ngày

mở hội, không chỉ có người dân tỉnh Bắc Ninh mà còn nhiều khách tỉnh lân cận đến chung vui Quan họ là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp gắn liền với những sinh hoạt văn hóa cộng đồng của cư dân đặc biệt là lễ hội truyền thống Đã từ lâu, những hội Quan họ nổi tiếng xứ Kinh Bắc đã được biết đến như hội Lim, hội Diềm, hội Ó, hội chùa Phật tích, hội ở Đền Đô, Đây đều là những lễ hội của làng Quan họ gốc,

có qui mô lớn và đặc sắc Tục lệ được quy định chặt chẽ: Quan họ phần lễ là để thờ Phật, thờ thần; còn phần hội là để cho các liền anh, liền chị hát giao duyên đối đáp nhằm vui chơi giải trí với nhau

Về hội Lim: Cứ vào ngày 13 tháng Giêng âm lịch hằng năm, người dân vùng Lim và những vùng lân cận lại nô nức, kéo nhau về lăng Hồng Vân và chùa Hồng Ân trên núi Lim để tham dự Quan trấn thủ xứ Thanh Hóa Nguyễn Đình Diễn

là người của thôn Đình Cả, Nội Duệ, xứ Kinh Bắc được phong thưởng nhiều bổng lộc do có công với triều đình, đã hiến ruộng vườn và tiền của mình để trùng tu chùa đình chùa, mở mang hội hè và giữ gìn những nét thuần phong mỹ tục tốt đẹp Ông còn cho xây dựng trước lăng mộ của mình trên núi Lim với tên gọi lăng Hồng Vân Bởi thế, sau khi mất, ông được nhân dân tôn thờ làm hậu thần, hậu Phật hàng tổng Trải qua nhiều năm tháng lịch sử, hội Lim đã tiếp nhận nhiều lớp văn hóa, người dân chỉ tế lễ hậu thần vào ngày 13 tháng Giêng trùng với hội chùa Lim Khi tế, có nghi thức hát Quan họ thời thần Khi hát chỉ được hát giọng lề lối để ngợi ca công

lao của thần Về tục này, Toan Ánh có ghi lại như sau: “Hằng năm vào ngày 13

tháng giêng, các bậc tài tử cố đô Thăng Long rủ nhau người người lớp lớp đi xem hội Lim, để nghe trai gái đồng quê cùng nhau say đắm trong điệu hát Quan họ.” (

Toan Ánh, 1974: 55) Hay Nguyễn Văn Huyên có viết “Hôm đó, Lim trở thành một

trung tâm hội hè lớn Trai gái, đàn ông, đàn bà, ăn vận áo quần đẹp nhất, đứng đông nghịt trên những thửa ruộng bao Quanh ngôi làng vốn ngày thường rất đỗi êm ả

Họ tìm cách chen lấn nhau, ngày cả những người lúc bình thường tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc cách ly nam nữ Họ từ khắp nơi đến và họ muốn trở về làng với tiếng thơm là người hát hay.” ( Nguyễn Văn Huyên, 2002: 23)

Quả là đúng với những lời nhận xét trên Mỗi khi đến mùa hội, mọi người lại say đắm, thả hồn vào những giai điệu Quan họ, một giai điệu mang đầy sức dân

Trang 12

12

giã mà cuốn hút, làm say đắm lòng người Điều đó chứng tỏ, Quan họ hội tụ đầy đủ các yếu tố để trở thành một tổng thể không thể tách rời của cả âm nhạc và những hiện tượng văn hóa gắn liền với nó

Hát Quan họ trên thuyền tại hội Lim

Hát Quan họ là lối hát có cho mình lề luật đầy đủ, tươm tất và chặt chẽ mà khó có lối hát nào có được Trong các loại hát xoan ghẹo ở Phú Thọ, ví phường vải

ở Nghệ Tĩnh, đúm ở Hải Phòng hay giậm ở Hà Nam, … có loại điểm hát cố định thì

lề lối lại không chặt chẽ và ngược lại, hay còn có loại khá tự do mà không có lề luật

gì So với các loại dân ca trên, Quan họ có lề luật đầy đủ hơn Đó là một loại hình dân ca có nơi hát cố định, có quy định thời gian hát, có tục kết nghĩa kèm theo và có thể thức hát nhất định

lẽ đó, sinh hoạt Quan họ đã hình thành nên tình trạng từng bọn khá phức tạp, nhưng trong đó lại rất rõ ràng và hoàn chỉnh về phân công, phân nhiệm vụ Có hai cách

Trang 13

hình thành bọn Quan họ, thứ nhất là làng cử đại diện đi hát, những người được cử đi gọi là bọn Quan họ; thứ hai là bọn Quan họ do tự tổ chức Việc tổ chức như vậy đã

vô tình thắt chặt mối Quan hệ xã hội trong các bọn Quan họ, từ đó hình thành lên những lối chơi khác nhau Ngoài ra, còn có một số lối tổ chức bọn đáng chú ý như: Từng bọn tự do, từng bọn cố định và từng bọn vừa tự do, vừa cố định

Đúng như tên gọi, bọn tự do hoạt động theo thời gian rỗi Tức, có thời gian rảnh rỗi thì rủ nhau đi hát Lối hát này không cần lề lối, không cần đối giọng, chỉ cần đối ý Nói đến kiểu tổ chức này thì phải kể đến các làng Quan họ như: Quan họ Thị Cầu, Bò Sơn,

Tổ chức điển hình của Quan họ là bọn cố định Đi theo lối tổ chức này là những làng gốc như: Quan họ Diềm- Bịu, Lũng Giang- Tam Sơn Họ hát vào những dịp hội làng, cưới, khao, Không như bọn tự do, bọn cố định có cách tổ chức Quan

họ rất chặt chẽ, có thứ lớp, có huấn luyện, đặc biệt phải có lề lối

Tổ chức phổ biến hơn cả là kiểu tổ chức từng bọn vừa tự do, vừa cố định Khi hát hội, hát thi thì họ tham gia chung với nhau, khi được các Quan họ bạn mời hát thì họ có thể tách nhau ra Có thể thấy, cách tổ chức này rất linh động, đến cả việc tổ chức hát cũng linh động không kém Người ta không chỉ hát ở đình, chùa, ghe, thuyền, trên đồi hay ở chợ, dịp cưới, dịp khao, mà còn hát ở bất kỳ nơi nào và bất kỳ lúc nào cũng hát được

Về tục kết nghĩa, tục kết nghĩa hay còn gọi là tục kết ước, kết chạ hay ăn

giải “Đó là hình thức liên minh hòa bình giữa các làng nông nghiệp để hỗ trợ nhau

khi đói khó, thiên tai, giặc giã hay đình đám.” (Nhiều tác giả, 2006: 205) Khi tục

này thâm nhập vào Quan họ thì kết chạ Quan họ lại mang một nghĩa mới mà các tục kết chạ các không có Trong tục lệ của xứ Kinh Bắc thì tục kết nghĩa giữa các làng với nhau là một dạng sinh hoạt văn hóa đặc sắc Trong đó, dân của những làng kết chạ đối xử với nhau một cách thân thiết, những lần đi hát cũng có nghĩa đi thăm hỏi, chia sẻ lẫn nhau Khi vào cuộc hát, mọi người sẽ bộc lộ những cử chỉ vừa ân cần, son sắt, nghĩa tình, vừa tôn trọng và lịch sử Khi ra khỏi cuộc hát, họ sẽ lo toan, chung lưng giúp đỡ nhau như anh em Tục này phản ánh lên tính cố kết cộng đồng

thái đặc trưng không thể thiếu của Quan họ Nó giúp phần xác lập nên một tập thể

có tính cố kết, Quan hệ gắn bó với nhau, có qui định thứ bậc và lối ca hát giao duyên này gắn chặt với tục kết nghĩa

1.3 Lề lối hát Quan họ

1.3.1 Hát đối đáp

Khi biểu diễn ở hội hay trong một canh hát gặp gỡ bạn bầu, hát Quan họ phải

có lề luật: đối đáp nam nữ, đối đôi nam với đôi nữ, đối giọng và đối lời Đối đáp

Trang 14

14

nam nữ là bên nữ hát một bài rồi đến bên nam hát một bài, cứ thế dài hết cuộc hát hoặc canh hát Đối giọng sẽ có một bên hát trước một bài hát có làn điệu như thế nào thì bên còn lại phải hát một bài khác có làn điệu như bài của bên trước đó Trong nước ta, không có dân ca nào hát đối giọng, trừ dân ca Quan họ Về đối lời, bên hát sau sử dụng làn điệu nhạc giống như bên hát trước nhưng ca từ phải khác đi, dẫu vậy

ca từ vẫn phải gắn bó tình ý với lời ca của bên hát trước để tạo nên hiệu quả hô-ứng, đối xứng

Cả ba hình thức hát đối đáp nam nữ, đối giọng, đối lời đều được xem là sự đối đáp hoàn chỉnh theo lề lối của Quan họ Điều này dù giống với dòng dân ca khác nhưng vẫn phải chú ý sao cho bảo tồn được giá trị của Quan họ, luôn không ngừng sáng tạo, tích lũy vốn âm nhạc, vốn thơ ca Nâng cao trình độ sáng tác và nghệ thuật

ca hát

1.3.2 Hát canh

Hát canh hay còn gọi là canh ca bởi vì một số nơi kiêng chữ hát Chẳng hạn,

ca một canh Theo đúng lề lối, một canh hát Quan họ thường diễn ra vào mùa xuân hoặc mùa thu, đây đều là những mùa hội chùa, hội đình làng Những nhóm Quan họ nam và nữ mời nhau đến nhà, ca một canh cho vui bàu vui bạn, vui xóm, vui làng, cầu may cầu phúc Canh hát tuân theo các lề lối mà Quan họ đã đề ra, thường được kéo dài từ 7 giờ tối đến 3 giờ sáng Nếu hội làng mở nhiều ngày, có canh hát kéo dài đến hai, ba ngày đêm

Trình tự một canh hát đúng lề lối có thể chia ra ba chặng Sau khi kết thúc nghi lễ giữa Quan họ khách và Quan họ chủ, Quan họ sẽ đi vào chặng hát đầu tiên

Ở chặng đầu, mọi người hát giọng cổ, giọng lề lối Khi xưa Quan họ có đến 36 giọng

cổ, nhưng về sau, chỉ còn chừng 5 đến 6 giọng Ở đâu, giọng đầu tiên cũng là Hừ la, đến La rằng (hoặc A rằng, Tôi rằng, Ta rằng), Đương bạn, Tình tang, Cây gạo, Các giọng đều mang cho mình âm điệu cổ, chậm rãi, nền, nảy, có nhiều tiếng đệm lót, mang nhiều dấu hiệu đặc trưng của Quan họ truyền thống Giọng La rằng có một vai trò cực kì Quan trọng trong việc chi phối nghệ thuật ca hát ấy Đa số người Quan họ cho rằng, không ca được La rằng cho vang, rên, nền, nảy thì đừng nói đến chuyện

ca Quan họ Chặng ca bài cổ là chặng bắt buộc, thể hiện được sự nghiêm ngặt, tuân thủ quy tắc lề lối trong Quan họ

“Trèo lên cây gạo cao cao (thương cái nỗi này) cao cao Khăn thâm em vắt dưới, khăn đào em vắt trên

Tay em cầm nắm trấu (thương cái nỗi này) tung lên Tung xuống thề nguyền trấu biên ra gio”

Ngày đăng: 17/11/2021, 22:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w