1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC NGÀNH NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN GIAN NGƯỜI VIỆT Ở NAM BỘ

24 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Phải chăng là quá trớn khi tôi cho rằng người có nhiều văn hóa bác học đến mấy cũng không thể là người Việt Nam trọn vẹn, nếu ít vốn hiểu biết văn hóa dân gian; ai vừa thấm nhuần văn hóa bác học vừa thấm nhuần văn hóa dân gian thì dường như dễ vượt khỏi tai họa mất gốc tai họa một thời phổ biến trong số người Tây học, y như trong số người nho học trước đó. Ở góc độ quan sát này thì xưa là Nguyễn Du, nay là chủ tịch Hồ Chí Minh có thể được đánh giá như mẫu mực của sự hài hòa” Giáo sư Trần Văn Giàu. Chỉ với đôi dòng ngắn gọn giáo sư Trần Văn Giàu đã chỉ ra được tầm quan trọng trong văn hóa dân gian đối với nguồn tri thức vô tận. Một trong những bí quyết thành công của Cụ Hồ Chí Minh trong việc trọng đại tìm đường cứu nước là Cụ ra đi từ lúc 21 tuổi (1911), mang theo bên mình cùng cái vốn Hán học khá lớn, một hành trang quốc học đáng kính; hành trang quốc học đó như chúng ta đều biết, bao gồm phần văn hóa dân gian Việt Nam nói chung, văn hóa Nghệ Tĩnh và văn hóa dân gian Phú Xuân nói riêng. Bởi vậy, xa quê hương những 30 năm trời, trái tim Cụ Hồ lúc nào cũng đi thẳng về đồng bào. Như hình mẫu Cụ Hồ, trọng thị cả quốc học cổ điển và văn hóa dân gian. Kinh thi chẳng phải là một loại sách tổ của Hán học là gì? Kinh thi chẳng phải là văn hóa dân gian thời Nhị đế tam vương là gì? Văn hóa nhân gian đâu phải đồng nghĩa với văn hóa thấp kém? Từ băm bảy trăm năm nay, văn hóa dân gian Việt Nam đã được các thế hệ học giả chú trọng ghi chép, ca tụng, đó là biểu hiện của lòng tự hào dân tộc; cũng là biểu hiện lòng biết ơn các bậc tiền nhân và quần chúng vô danh. Không một ai phủ nhận sự tồn tại văn hóa dân gian địa phương trong văn hóa dân tộc cả, nhưng hỏi Nam bộ có văn hóa nhân gian gì đặc sắc không, hay chỉ là băn hóa dân gian người Việt ở miền Nam từ đèo Hải Vân cho đến mũi Cà Mau, hoặc từ Bình Thuận trở vào, hoặc riêng miền sông nước Cửu Long? Cả vùng Gia Định xưa, vùng1 | T r a n g Đồng Nai Cửu Long có một lượng và chất văn hóa dân gian người Việt khá đặc sắc. Có lẽ điều này không có vấn đề gì bàn cãi nữa. Nói đến văn hóa dân gian của một vùng mà không đề cập đến các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống và nghệ thuật tạo hình dân gian của vùng đó thì thật thiếu xót. Các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống và nghệ thuật tạo hình dân gian chẳng những cho chúng ta thấy được bản lĩnh nghề nghiệp thủ công từ trất lâu đời trong nhân gian, mà quan trọng hơn, còn làm cho tâm hồn chúng ta rung động trước trình độ thẩm mỹ, năng lực sáng tạo nghệ thuật của nhân đân lao động mà lực lượng tiêu biểu là các thủ công tài hoa và các nghệ nhân gian ưu tú.

Trang 2

1 | T r a n g

MỤC LỤC

Phần tổng quan……… 2

1 Lý do chọn đề tài……… 2

2 Mục đích nghiên cứu đề tài……… 3

3 Đối tượng nghiên cứu……… 3

4 Phương pháp nghiên cứu……… 3

5 Dự kiến kết quả sau khi nghiên cứu……… 4

Phần nội dung……… 4

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn……… 4

1.1 Cơ sở lý luận……… 4

1.2 Cơ sở thực tiễn……… 6

Chương 2: Sự ra đời và phát triển các nghề thủ công truyền thống văn hóa dân gian của người Việt ở Nam bộ 7

Chương 3: Khảo tả một số nghề thủ công truyền thống văn hóa dân gian của người Việt ở Nam bộ……… 10

3.1 Nghề chế biến lương thực, thực phẩm……… 10

3.2 Nghề đan lót……… 11

3.3 Nghề dệt vải lụa……… 12

3.4 Nghề đóng thuyền ghe……… 12

3.5 Nghề mộc……… 14

3.6 Nghề đúc đồng……… 15

3.7 Nghề gốm……… 16

3.8 Nghề làm đồ mỹ nghệ……… 19

Phần tài liệu tham khảo……… 23

Trang 3

Giàu đã chỉ ra được tầm quan trọng trong văn hóa dân gian đối với nguồn tri thức

vô tận Một trong những bí quyết thành công của Cụ Hồ Chí Minh trong việc trọng đại tìm đường cứu nước là Cụ ra đi từ lúc 21 tuổi (1911), mang theo bên mình cùng cái vốn Hán học khá lớn, một hành trang quốc học đáng kính; hành trang quốc học

đó như chúng ta đều biết, bao gồm phần văn hóa dân gian Việt Nam nói chung, văn hóa Nghệ Tĩnh và văn hóa dân gian Phú Xuân nói riêng Bởi vậy, xa quê hương những 30 năm trời, trái tim Cụ Hồ lúc nào cũng đi thẳng về đồng bào

Như hình mẫu Cụ Hồ, trọng thị cả quốc học cổ điển và văn hóa dân gian Kinh thi chẳng phải là một loại sách tổ của Hán học là gì? Kinh thi chẳng phải là văn hóa dân gian thời Nhị đế tam vương là gì? Văn hóa nhân gian đâu phải đồng nghĩa với văn hóa thấp kém? Từ băm bảy trăm năm nay, văn hóa dân gian Việt Nam đã được các thế hệ học giả chú trọng ghi chép, ca tụng, đó là biểu hiện của lòng tự hào dân tộc; cũng là biểu hiện lòng biết ơn các bậc tiền nhân và quần chúng vô danh

Không một ai phủ nhận sự tồn tại văn hóa dân gian địa phương trong văn hóa dân tộc cả, nhưng hỏi Nam bộ có văn hóa nhân gian gì đặc sắc không, hay chỉ là băn hóa dân gian người Việt ở miền Nam từ đèo Hải Vân cho đến mũi Cà Mau, hoặc từ Bình Thuận trở vào, hoặc riêng miền sông nước Cửu Long? Cả vùng Gia Định xưa, vùng

Trang 4

1 | T r a n g

Đồng Nai - Cửu Long có một lượng và chất văn hóa dân gian người Việt khá đặc sắc Có lẽ điều này không có vấn đề gì bàn cãi nữa

Nói đến văn hóa dân gian của một vùng mà không đề cập đến các nghề thủ công

mỹ nghệ truyền thống và nghệ thuật tạo hình dân gian của vùng đó thì thật thiếu xót Các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống và nghệ thuật tạo hình dân gian chẳng những cho chúng ta thấy được bản lĩnh nghề nghiệp thủ công từ trất lâu đời trong nhân gian, mà quan trọng hơn, còn làm cho tâm hồn chúng ta rung động trước trình

độ thẩm mỹ, năng lực sáng tạo nghệ thuật của nhân đân lao động mà lực lượng tiêu biểu là các thủ công tài hoa và các nghệ nhân gian ưu tú

Xuất phát từ quan điểm ấy, tôi đã tìm hểu xem người Việt ở Nam bộ có những nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống gì đã phát triển như thế nào, nhằm góp phần làm rõ thêm bản sắc văn hóa dân gian ở đây

“Nam bộ là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam” - Hồ Chí Minh Để

giải thích rõ hơn cho câu nói này, tôi quyết định chọn một phần nhỏ trong nền văn hóa dân gian ở Nam bộ làm đề tài nghiên cứu mang tên: “Các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống văn hóa dân gian người Việt ở Nam bộ”

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

- Nghiên cứu, tìm hiểu các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống và nghệ thuật tạo

hình dân gian ở Nam bộ

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề này là các nghề thủ công mỹ nghệ truyền văn hóa dân gian người Việt ở Nam bộ

- Phạm vi nghiên cứu ở Nam bộ

4 Phương pháp nghiên cứu

- Sưu tầm, nghiên cứu tài liệu

- Thống kê

Trang 5

1 | T r a n g

5 Dự kiến kết quả sau khi nghiên cứu

Mong quà bài nghiên cứu này thì có thể truyền tải nhiều hơn đến với mọi người

về các ngành nghề thủ công truyền thống văn dân gian người Việt ở Nam bộ, cũng như là phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam Từ đó sẽ được phát huy và bảo tồn cho thế hệ mai sau

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1 Cơ sở lý luận

1.1 Một số khái niệm

- Văn hóa dân gian: Thuật ngữ văn hóa dân gian “floklore” được W J.Thom sử dụng đầu tiên vào năm 1846 để chỉ “phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ… của người thời trước”

- Nghề thủ công truyền thống: Theo Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên

cứu văn hóa, Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa

học xã hội, 2012, “Nghề thủ công truyền thống là nghề sản xuất hoàn toàn hay một

phần bằng chân tay những vật dụng trang trí, tiêu dùng, đòi hỏi các kỹ năng tay chân

và nghệ thuật, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, áp dụng trong sản xuất hàng hóa quy mô nhỏ Nghề thủ công thường được chia thành các lĩnh vực: văn hóa tinh thần; sản xuất, chế biến hàng tiêu dùng; chế biến lương thực thực phẩm…”

- Di sản văn hóa: Theo Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của UNESCO và Luật di sản văn hóa: “Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất

có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác

ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

- Tiếp biến về văn hóa: Theo Luật Di cư quốc tế, Tổ chức Di cư quốc tế, Giải

thích thuật ngữ về di cư, số 27: “Tiếp biến về văn hóa là một loạt thay đổi về tập

Trang 6

1 | T r a n g

tục văn hóa (ý tưởng, ngôn từ, giá trị, khái niệm, hành vi, thể chế) do tác động của

sự giao thoa trực tiếp và liên tục giữa các nhóm có nền văn hóa khác nhau, cụ thể thông qua hoạt động di cư và giao lưu kinh tế Tiếp biến về văn hóa có thể xảy ra khi vẫn giữ bản sắc riêng của mình Tiếp biến về văn hóa cũng có thể dẫn đến việc tạo ra một nền văn hóa mới kết hợp các nhân tố của hai nền văn hóa.”

1.2 Nghề thủ công truyền thống văn hóa dân gian

Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có nhiều bảo tàng trưng bày, giới thiệu về các thủ công truyền thống và làng nghề Đây là hình thức góp phần bảo tồn một loại hình di sản văn hóa của nhân loại, đồng thời gián tiếp hỗ trợ các ngành nghề thủ công truyền thống văn hóa dân gian rộng rãi

Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, nghề thủ công truyền thống văn hóa dân gian hình thành trong lòng xã hội xa xưa, không đợi đến sự xuất hiện của các làng nghề, nơi tập trung của các thợ thủ công Tuy nhiên, phải đợi cho đến khi cơ cấu xã hội ổn định thì làng nghề mới trở thành một phần quan trọng cấu thành lịch sử kinh tế văn hóa Việt Nam Từ đó, nghề thủ công truyền thống văn hóa dân gian người Việt ở Nam bộ trở thành một trong những nét tư bản phương Đông ở Việt Nam

Giá trị xã hội của nghề thủ công truyền thống văn hóa dân gian trong xã hội xưa

và nay luôn có vị trí đứng Nghề thủ công có vai trò ổn định cơ sở xã hội bằng việc tạo ra việc làm; vai trò trong việc giáo dục tinh thần lao động, ý thức trách nhiệm, quý trọng thời gian, bình đẳng giới (thể hiện qua việc phân công lao động và vai trò của phụ nữ đối với các nghề truyền thống; cũng như phát huy năng lực và tạo việc làm đối với nhiều phụ nữ)…

Giá trị văn hóa tinh thần là giá trị nổi trội nhất của nghề thủ công truyền thống văn hóa dân gian Đây là một thành tố cơ bản, bộ phần hữu cơ của văn hóa dân gian, đời sống dân gian, tạo những dấu ấn và sự phong phú của văn hóa dân tộc Các nghề thủ công phản ánh bản sắc của từng địa phương, khu vực, là tinh hoa được truyền từ thế hệ này sang thế khác Các sản phẩm thủ công truyền thống không chỉ đơn thuần

là hàng hóa thuần túy kinh tế mà còn mang tính sáng tạo và nghệ thuật, phản ánh phong tục, tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồng Bên cạnh đó, nghề thủ công

Trang 7

1 | T r a n g

truyền thống văn hóa dân gian còn là nền tảng truyền thống đạo đức trong các phép tắc, lễ nghĩa và các quan hệ ứng xử Ngoài ra, các nghề truyền thống văn hóa dân gian còn là nguyên vật liệu cho nhiều tác phẩm văn học dân gian

2 Cơ sở thực tiễn:

Nghề thủ công Việt Nam vốn có truyền thống rất lâu đời Truyền thống đó gắn liền với nền văn minh lúa nước, gắn với những tên làng nghề, phố nghề và được biểu iện bằng những sản phẩm thủ công với những nét độc đáo, tinh xảo, hoàn mỹ Nghề thủ công không chỉ đem lại lợi ích về kinh tế, mà còn chứa đựng nhiều phong tục tập quán, những nét đẹp văn hóa truyền thống làng quê Việt Nam

Gắn liền với nền văn minh lúa nước, các làng nghề truyền thống ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở châu thổ sông Hồng, Nam Định, Bắc Ninh,… rồi phát triển theo chiều dài lịch sử cùng quá trình di dân vào miền Nam của những dòng lưu dân hình thành nên nghề thủ công cổ truyền văn hóa dân gian ở Nam bộ Trải qua thời gian, các ngành nghề thủ công văn hóa dân gian phát triển theo quy mô gia đình rồi dần hình thành nên những phường nghề, làng nghề thủ công chuyên sâu ở một nghề không những ở ngoài Bắc bộ mà còn cả trong Nam bộ

Do đặc tính sản xuất nông nghiệp và quan hệ làng xã Việt Nam với tổ chức xã hội gần như khép kín, người dân nông thôn Việt Nam thường đề cao tính tự cung tự cấp, tinh thần đoàn kết cộng đồng, nên nhiều làn xã hình thành các ngành nghề thủ công độc đáo với bí quyết riêng Bí quyết làng nghề ấy lại được lưu truyền từ đời này sang đời khác, bởi vậy mà hàng trăm năm qua, nhiều nghề thủ công không những được duy trì mà còn phát triển

Sản phẩm thủ công nghiệp truyền thống văn hóa dân gian không chỉ đơn thuần là trao đổi thương mại, mà còn có giá trị về văn hóa lịch sử Trong đó nhiều địa danh làng nghề, phố nghề đã trở thành điểm hấp dẫn trong các tour du lịch văn hóa và du lịch làng nghề

Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 4.500 làng nghề, trong đó có gần 400 làng nghề truyền thống Các làng nghề thu hút khoảng 12 triệu lao động, ngoài ra còn tạo việc làm cho hàng triệu lao động nông thon lúc nông nhàn Các sản phẩm thủ công truyền

Trang 8

mô lớn lại bắt đầu khá muộn, song một số nghề thủ công vẫn sinh sôi và phát triển nhanh chóng, với bản lĩnh và tay nghề khá già dặn mang những nét độc đáo riêng đặc trưng di sản văn hóa cho mảnh đất Nam bộ

Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, “Đồng Nai - Gia Định đã có mặt nhiều

ngành nghề thủ công như mộc, chạm bạc, tiện, làm thừng chão, đúc, thêu, sơn, nhuộm, dệt, vẽ, làm lọng, làm giày, thếp vàng, làm mực, đắp tượng, làm đồ thiếc, làm lược, làm đồ đi ngựa, làm bút, làm gương, khắc chữ, làm mành, làm vật dụng bằng đồi mồi, làm gạch ngói, nung vôi, làm chum, làm giấy, dây thép, dây đồng

và kim may, làm đinh, đóng ghe, thuyền v.v…” - Theo đoạn trích Gia Định thành

thông chí (Văn hóa dân gian người Việt ở Nam bộ, chương VIII, tr.236) Trong đó,

có một số nghề đã rất phát triển, như “nghề đóng ghe, nghề dệt vải lụa, nghề khai

mỏ sắt và làm đồ sắt, nghề ép dầu động phộng, nghề chế biến đường” - (Văn hóa

dân gian người Việt ở Nam bộ, chương VIII, tr.236) Và cũng từ đó đã xuất hiện

nhiều thợ thủ công chuyên nghiệp, tách khỏi nông nghiệp, tuy ít nhiều vẫn còn giữ kiểu cách sản xuất ở từng gia đình

Không có số liệu thống kê một cách chính xác về số ngành nghề và thơ thủ công

chuyện nghiệp thời ấy, chỉ biết rằng đến cuối thế kỷ XVIII, “chính quyền họ

Nguyễn đã đặt ở Gia Định 62 ty, cuộc, tượng” - (theo số liệu năm 1791,

https://vi.wikipedia.org/wiki/Nhà_Nguyễn), chuyên chế tạo các loại vật phẩm cung

Trang 9

bè, dầu đèn, chén đĩa, lu hũ, đồ gỗ, dao rựa, vật trang trí v.v…, một phần quan trọng

đã được chế tác ra

Sự sinh sôi và phát triển nhanh chóng của các ngành nghề thủ công ở Nam bộ còn

có một nguyên nhân khác, trong dòng lưu dân di cư vào Nam có một bộ phận không nhỏ là thợ thủ công Số này đã mang theo trong hành trang của mình các kiến thức

và kỹ xảo nghề thủ công cổ truyền từ nơi quê hương bản quán dẫn đến việc tiếp biến

về văn hóa Với cái vốn tay nghề sẵn có, lại đứng trước nhu cầu rất lớn về vật dụng, những người này đã biết tận dụng nguyên liệu tại chỗ, vừa tự mình hành nghề, vừa truyền lại cho các thế hệ đời sau, cho người thân và những người tha thiết với nghề Nam bộ có rất nhiều ngành nghề thủ công khác nhau mà người truyền nghề đầu

tiên có gốc là người miền Trung Chẳng hạn, “nghề đúc đồng ở vùng Chợ Quan ra

đời từ các phường thợ đúc Qui Nhơn - Bình Định vào lập nghiệp tại làng Nhân Giang (Chợ Lớn) đầu thế kỷ XVIII; nghề đóng ghe nổi tiếng Chợ Kinh (Cần Đước

- Long An) là do con cháu họ Trần quê ở Đức Phổ - Quảng Ngãi đã vào lập nghiệp đầu thế kỷ XIX truyền lại” - (Văn hóa dân gian người Việt ở Nam bộ, Chương VIII,

tr.237)

Miền Đông Nam bộ xưa kia chiếm đa phần là rừng già bao phủ Rừng ở đây có gần hơn 60 loại gỗ tốt, đặc biệt là các loại gỗ quý như: sao, trắc, cẩm lai, gõ, giáng hương, mun v.v… Đều là những nguyên liệu cần thiết cho nghề mộc gia dụng và

Trang 10

Một điều đáng lưu ý là các ngành nghề thủ công dân gian ở Nam bộ phát triển nhanh chóng là do nó gắn liền với nhịp độ phát triển nhanh của nền nông nghiệp ở đây

Quá trình người Việt khai phá vùng đất Nam bộ diễn ra khá muộn, nhưng nền nông nghiệp ở đây vẫn phát triển đa dạng và nhanh chóng Rất sớm, lúa gạo đã sản xuất đầy đủ thậm chí là dư thừa so với du cầu sản xuất lương thực trong vùng Và

số lúa gạo ấy biến thành món hàng trao đổi buôn bán với các vùng khác trong nước, chủ yếu là xứ Đàng Trong vùng Thuận Hóa, thỉnh thoảng ta có trao đổi lúa gạo với nước ngoài Nhịp độ phát triển nhanh chóng đã thúc đẩy sự phân công lao động xã hội, tạo điều kiện cho thủ công nghiệp dần dần tách khỏi nông nghiệp và dẫn đến một vài bộ phận đi vào chuyên môn hóa

Nét đặc trưng nổi bật nhất ở đây, ngay từ rất sớm, nhiều nghề thủ công đã tiến vào quá trình thương mại hóa Vào nửa thế kỷ XVIII, cùng với nông nghiệp, các nghề thủ công đã trở thành một bộ phận tích cực trong nền sản xuất hàng hóa của vùng Nam bộ Sản phẩm làm ra chủ yếu bán ở các chợ, các đô thị hay thị các thị trấn nhỏ trong vùng Một số mặt hàng còn được các thương lái nước ngoài mua, như đồ mỹ nghệ bằng vàng bạc, vật dụng bằng đồi mồi, thuyền gỗ, cột buồm bằng gỗ quý v.v…

Sác Gia Định thành thông chí viết: “Gia Định là chỗ đô hội thương thuyền của

các nước, cho nên trăm món hành hóa phải tụ hội nơi đây” - (Trịnh Hoài Đức,

sđd, tập Hạ, tr 39 - 47) Lời nhận xét này đã phản ánh lên được phần mức độ thương

mại hóa các sản phẩm thủ công ở Nam bộ

Từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, “vùng Đồng Nai - Gia Định đã xuất hiện

những tụ điểm thủ công nghiệp như chợ Lò Thổi, thuộc trấn Biên Hòa, tập trung

Trang 11

1 | T r a n g

những thợ chuyên khai thác sắt và làm đồ sắt; Trang Thuyền Tụ ở phía Tây Ngã

ba sông Nhà Bè, cũng thuộc trấn Biên Hòa, tập trung những thợ chuyên tu sửa

và đóng mới thuyền bè Vùng Cần Đước (Tân An), vùng Bình Đại, vùng Cái Bè (Định Tường) đã trở thành trung tâm sản xuất nhiều ghe lớn dùng chuyên chở hàng hóa trên sông Cửu Long và trên biển Vùng ven sông Tiền, thuộc thị trấn Định Tường, chuyên về trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa Vùng Tân Châu (An Giang) và huyện Phước An (Biên Hòa) là những nơi dệt loại lãnh đen rất nổi tiếng; vùng Gia Định và Biên Hòa chuyên ép dầu phộng và làm đường v.v…” -

(Theo thống kê Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ)

CHƯƠNG 3 KHẢO TẢ MỘT SỐ NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA

DÂN GIAN CỦA NGƯỜI VIỆT Ở NAM BỘ

3.1 Nghề chế biến lương thực, thực phẩm

Lúa gạo là nông sản chính của vùng đồng bằng sông Cửu Long và cũng là mặt hàng mua bán chủ yếu từ thế kỷ XVIII Vì vậy, bên cạnh việc xay lúa giã gạo trong

quy mô nhỏ gia đình, nơi đây đã sớm xuất hiện nghề làm “hàng xáo”, tức nghề xay

gạo bằng những cối xay làm bằng tre và cối giã gạo bằng chày đập Chính vì thế đã thúc đẩy mặt hàng lúa gạo phát triển thương mại hóa của trong vùng lẫn ngoài nước

Để phục vụ cho việc sản xuất lúa gạo với số lượng thương mại, nhiều cơ sở đóng cối

xay, cối giã gạo mọc lên nhiều nơi Những tên, “chợ Gạo” (chợ Phú Lâm cũ), “Xóm

cối”, “Trại cối” nằm trên đoạn sông Thủ Thừa, “chợ Đêm” (bán đệm và gian hàng đựng gạo) ở miệt quanh Sài Gòn - Chợ Lớn, hay chợ Gạo (Định Tường),

“Cái Cối” (Bến Tre) chính là dấu vết kinh doanh lúa gạo phát đạt một thời trước khi người Pháp nắm độc quyền ngành xay xát lúa gạo với công nghiệp hiện đại.”

- (Văn hóa dân gian người Việt ở Nam bộ, chương VIII, tr.240)

Gạo nếp và các loại đậu đã biến thành trăm món ăn khác nhau như: bún, bán cuốn, bột lọc, bột đậu, giá, dầu đậu phộng, bánh tráng, bánh phồng v.v… Những người có tay nghề chế biến chung một mặt hành thường tập hợp lại thành một ấp xóm riêng

Trang 12

1 | T r a n g

Ở Sài Gòn có xóm Lò Bún (Chợ Lớn) chuyên làm bún; Xóm Giá (Gần cầu Cây Gõ) chuyên làm giá đỗ xanh; Phụng Du Thôn (tức làng An Bình xưa) chuyên ép dầu đậu phộng Ở Mỹ Lồng, Sông Đốc (Bến Tre) có nghề làm bánh tráng, bánh phồng nổi tiếng Bánh phồng, bánh neo ở chợ Đào (Long An) đã độc chiếm gần như toàn bộ thị trường Sài Gòn - Chợ Lớn trước đây v.v…

Nghề trồng mía, làm đường cũng phát triển mạnh ở miền Đông rồi dần dần lan

xuống miền Nam Trung bộ Năm 1869, “Nam bộ đã có khoảng 532 hecta mía” -

(Charles Lemire, Co chinchine francasie, Paris, 1869, p.201) Đường mía ở Nam

bộ được xếp vào hành loại tốt, có chất lượng cao Trong thế kỷ XIX, các tàu buông phương Tây từ Singapore và Mỹ thường tới Sài Gòn mua đường Nguyễn Ánh cũng từng thu mua đường để đổi cho lái buôn phương Tây lấy vũ khí

3.2 Nghề đan lát

Các đồ gia dụng trong sinh hoạt hằng ngày như chiếu, đệm, buồm thúng, mẹt, rổ

rá, bao bì, dụng cụ đánh bắt cá (lợp, lờ, đăng, đó v.v…) rất cần thiết đối với cuộc sống sinh hoạt của người dân Ở Nam bộ luôn được thiên nhiên ưu đãi, các nguyên vật liệu để là ra luôn luôn có sẵn lúc bấy giờ Cây bàng mọc đầy những vùng trũng thấp, sình lầy ở Đồng Tháp Mười, cây dừa nước có mặt trên khắp đôi bờ sông rạch; mây, tre, trúc, lồ ô, tầm vông mọc thành rừng ở nhiều nơi

Lúc đầu, các vật dụng làm từ mây, tre có xu hướng sản xuất “tự túc” trong gia đình Về sau, do nhu cầu thị trường tăng lên, việc đan lát vật dụng từ mây, tre từ chỗ

là một nghề thuật chuyển dần dần sang nghề chính và hướng tới sự chuyên môn hóa,

từ đó xuất hiện các tụ điểm quần cư có mật độ cao về nghề đan lát, và những sản

phẩm đó làm ra mang tính hàng hóa Nam bộ khi ấy, “ở Sài Gòn xưa có Xóm Chiếu

(Khánh Hội ngày nay), Xóm Đệm Buồm (Quận 1 ngày nay) là địa điểm tập tụ thơ đan buồm, đan đệm, dệt chiếu Dân các xã Long Định, Long Kim, Long Can (Long An) có nghề dệt nhiều chiếu bông, chiếu lãi rất nổi tiếng.” - (Văn hóa dân

gian người Việt ở Nam bộ, chương VIII, tr.241)

Ngày đăng: 24/12/2021, 09:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. “Le probleme des textiles en Cochinchine”, trong Tập san Indochine, số ngày 16-11-1944 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Le probleme des textiles en Cochinchine”
5. Charles Lemire, Co chinchine francasie, Paris, 1869 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Charles Lemire", Co chinchine francasie
1. VĂN HÓA DÂN GIAN NGƯỜI VIỆT Ở NAM BỘ, nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Khác
2. Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức Khác
6. Báo Đồng Nai, đăng ngày 01-03-1952 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w