Việc nghiên cứu từ ngữ địa phương trong một dạng hoạt động cụ thể là sáng tạothơ ca dân gian sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lí thuyết về hoạt động và vaitrò của phươ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN ĐỨC HÙNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA
TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG NAM BỘ (TRONG THƠ CA DÂN GIAN NAM BỘ)
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 62 22 0101
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
VINH - 2016
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Phương ngữ nói chung, từ ngữ địa phương nói riêng là một trong những
biểu hiện tính đa dạng của ngôn ngữ dân tộc Vì thế nghiên cứu phương ngữ cũngnhư từ địa phương, ở bình diện cấu trúc hệ thống hay mặt hành chức đều là sự cầnthiết Việc nghiên cứu từ ngữ địa phương trong một dạng hoạt động cụ thể là sáng tạothơ ca dân gian sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lí thuyết về hoạt động và vaitrò của phương ngữ nói chung và từ địa phương nói riêng Ngoài ra, kết quả nghiêncứu cụ thể của luận án còn góp phần làm rõ nét bức tranh toàn cảnh của phương ngữViệt và cho thấy sự sinh động đa dạng của ngôn ngữ dân tộc về mặt biểu hiện
1.2 Cũng như lịch sử vùng đất Nam Bộ, phương ngữ Nam Bộ mới được hình
thành và phát triển cách đây hơn ba thế kỉ Về nguồn gốc, từ vựng của phương ngữNam Bộ có nhiều từ ngữ xuất phát từ vùng Trung Bộ Tuy nhiên, cùng với quá trìnhphát triển của lịch sử, các từ ngữ này đã dần tạo ra khác biệt ít nhiều về ngữ âm, từvựng, ngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân và các vùng khác Sự khác biệt ấy khôngchỉ góp thêm phần vào bức tranh đa dạng của ngôn ngữ tiếng Việt mà còn tạo nênnhững nét đặc trưng văn hóa sông nước Nam Bộ trong bức tranh đa sắc màu của vănhóa dân tộc Vì vậy, từ trước tới nay, phương ngữ Nam Bộ đã được các nhà nghiêncứu trong và ngoài nước quan tâm không chỉ từ bình diện ngôn ngữ mà còn cảphương diện văn hóa Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề từ địa phương Nam Bộ trongthơ ca dân gian, một dạng hành chức đặc thù - mang tính nghệ thuật của từ ngữ địaphương chưa được nghiên cứu theo cách tiếp cận nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ -văn hóa Do đó, nghiên cứu từ ngữ địa phương Nam Bộ trong thơ ca dân gian dướigóc nhìn ngôn ngữ - văn hóa để chỉ ra những đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của từngữ địa phương Nam Bộ càng trở nên cần thiết và hữu ích
1.3 Nam Bộ là vùng đất mới nhưng thơ ca dân gian Nam Bộ không những rất
đồ sộ về số lượng sáng tác, đa dạng về loại thể mà còn mang đặc trưng vùng rõ nét.Tạo nên đặc trưng riêng về ngôn ngữ - văn hóa, nội dung nghệ thuật của thơ ca dângian Nam Bộ, một phần quan trọng là do từ ngữ địa phương đã được sử dụng với sốlượng lớn và chúng đã phát huy được vai trò sáng tạo nghệ thuật dân gian của mình.Tuy nhiên, từ trước tới nay, việc tìm hiểu thơ ca dân gian Nam Bộ ở phương diệnngôn ngữ nói chung, và đặc biệt là nghiên cứu từ ngữ địa phương trong thơ ca dângian Nam Bộ dưới góc nhìn của ngôn ngữ - văn hóa nói riêng vẫn chưa được quantâm đúng mức Đó chính là một trong những lí do quan trọng để chúng tôi mạnh dạn
đi sâu nghiên cứu vấn đề này
Với những lí do trên, chúng tôi chọn “Nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa từ ngữ địa phương Nam Bộ (trong thơ ca dân gian Nam Bộ)” làm đề tài
nghiên cứu của luận án
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích mà luận án hướng đến là chỉ ra các đặc trưng về mặt ngữ âm, từ vựng ngữ nghĩa, độ sâu phân loại, cách định danh, giá trị biểu trưng… và cho thấy vai trò của
Trang 3-từ địa phương (TĐP) trong thơ ca dân gian Nam Bộ (TCDGNB) Qua đó, luận án cungcấp thêm tư liệu góp phần làm rõ đặc điểm TĐP của người Việt vùng NB nói chung.
Luận án sẽ cố gắng chỉ ra những giá trị riêng biệt trong sự phân cắt, phản ánhhiện thực và cách sử dụng từ ngữ của người Việt vùng Nam Bộ (NB), nêu rõ nhữngnét riêng trong tính cách cũng như những dấu ấn văn hóa của con người nơi đây
Luận án đề ra 2 nhiệm vụ cơ bản:
- Tổng quan các vấn đề lí thuyết liên quan đến ngôn ngữ - văn hóa (NN-VH)của TĐP, làm cơ sở cho việc phân tích từ ngữ địa phương trong TCDGNB
- Thống kê, phân loại, miêu tả và phân tích các tư liệu đã thu thập được để xácđịnh các đặc trưng NN-VH của từ ngữ địa phương NB thể hiện trên các phương diệnngữ âm, ngữ nghĩa, định danh, biểu trưng và vai trò nghệ thuật trong sáng tác thơ cadân gian (TCDG)
3 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: Phươngpháp thống kê, phân loại; Phương pháp miêu tả; Phương pháp so sánh, đối chiếu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc trưng NN-VH từ ngữ địa phương NB
(trong TCDGNB) trên tư liệu 1667 từ ngữ địa phương NB thống kê được.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khảo sát, nghiên cứu của đề tài là từ ngữ địa phương NB có mặt trong
6 cuốn sách quy mô nhất về sưu tập TCDG Nam Bộ: Văn học dân gian Bạc Liêu; Ca dao - dân ca Nam Bộ; Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long; Văn học dân gian Châu Đốc; Ca dao Đồng Tháp Mười; Ca dao - dân ca Nam kỳ lục tỉnh.
5 Đóng góp của luận án
Lần đầu tiên đặc trưng NN-VH của từ địa phương NB trong TCDGNB được
chỉ ra một cách hệ thống và vai trò của TĐP đối với sáng tạo TCDGNB cũng đượclàm rõ Kết quả của luận án là tư liệu hữu ích cho nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa
NB và là tham khảo cần thiết đối với giảng dạy TCDG và địa phương học ở trườngphổ thông; góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, những nét đặctrưng ngôn ngữ văn hóa của con người vùng đất phương Nam Tổ quốc
Chương 2: Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của từ ngữ địa phương Nam Bộ xét
ở phương diện biến thể ngữ âm và từ vựng - ngữ nghĩa
Chương 3: Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của từ ngữ địa phương Nam Bộ xét
ở phương diện định danh
Chương 4: Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của từ ngữ địa phương Nam Bộ xét
ở phương diện nghệ thuật sáng tạo thơ ca dân gian
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ - văn hoá của
từ địa phương ở Việt Nam
Phương ngữ (PN) tiếng Việt, nhất là vấn đề ngữ âm, từ lâu đã có nhiều tác giả
nước ngoài và trong nước quan tâm nghiên cứu Riêng hướng nghiên cứu ngữ nghĩa
của TĐP gắn với văn hoá của từng vùng gần đây mới được chú ý
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ - văn hoá của từ địa phương ở
vùng Nam Bộ
PNNB đã được các tác giả: Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Đức Dương, Trần Thị
Ngọc Lang, Nguyễn Văn Ái, Lê Trung Hoa quan tâm theo hướng thu thập vốn từ
hoặc nghiên cứu sự khác biệt về từ vựng - ngữ nghĩa so với từ toàn dân; gần đây một
số nhóm từ vựng PNNB được các tác giả như Lý Tùng Hiếu, Huỳnh Công Tín, Hồ
Xuân Tuyên nghiên cứu theo hướng NN-VH
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ - văn hoá từ địa phương trong
thơ ca dân gian Nam Bộ
Trong nhiều năm trở lại đây, một số nhà nghiên cứu cũng đã tìm hiểu yếu tố
PN trong TCDGNB theo hai hướng: một là, chú ý các đặc điểm của PN (Nguyễn Thị
Phương Châm, Trần Phỏng Diều, Bùi Mạnh Nhị, Nguyễn Văn Nở, Trần Thị Diễm
Thúy, Trần Minh Thương ); hai là, nghiên cứu một vài biểu hiện về ngôn ngữ và
văn hóa của TĐP (Trần Văn Nam, Bùi Thị Tâm, Huỳnh Công Tín ) Nhìn chung,
cho đến thời điểm hiện tại, đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa TĐP trong PNNB nói chung
và trong TCDGNB nói riêng chưa được nghiên cứu sâu và hệ thống; vai trò của từ
ngữ địa phương trong sáng tạo TCDG cũng như những giá trị văn hóa của nó thì vẫn
chưa tác giả nào tập trung làm rõ Do vậy, cần có một sự nghiên cứu sâu hơn, bao
quát và hệ thống hơn TĐP trong TCDGNB từ phương diện NN-VH
1.2 Những tiền đề lí thuyết liên quan đến đề tài
1.2.1 Khái niệm ngôn ngữ - văn hóa
1.2.1.1 Từ ngôn ngữ đến ngôn ngữ thơ ca
Theo F de Saussure: “ngôn ngữ là một hệ thống dấu hiệu nhiều tầng được người
bản ngữ chấp nhận, ghi nhớ, hiểu và sử dụng trong khi giao tiếp với cộng đồng”
Văn học nghệ thuật là một dạng giao tiếp đại chúng nên chất liệu ngôn ngữ
được sử dụng là ngôn ngữ tự nhiên Trong TCDG, ngôn ngữ được sử dụng có
nguồn gốc dân dã, thể hiện bản chất bình dị, chất phác, hồn nhiên của người dân
lao động Ngôn ngữ gắn liền với địa bàn cư trú và mang đặc trưng văn hoá của
cộng đồng đó
Trang 51.2.1.2 Quan niệm về văn hóa và các vùng văn hóa Việt Nam
a Các quan niệm về văn hóa
Sau khi trình bày quan niệm về văn hóa cho tới nay chưa có sự thống nhất giữacác nhà nghiên cứu nước ngoài và trong nước là do nhiều nguyên nhân, dựa trên cácđịnh nghĩa đã chọn nêu, để thuận tiện cho việc thu thập và phân tích dữ liệu khi
nghiên cứu, chúng tôi quan niệm: Văn hóa là một hệ thống tất cả những giá trị vật chất và tinh thần mang tính biểu tượng do con người tạo ra qua quá trình đấu tranh sinh tồn và phát triển Văn hóa được tạo ra bởi cộng đồng người theo từng nơi cư trú và làm cho cộng đồng người đó có những đặc trưng riêng biệt.
b Các vùng văn hóa Việt Nam
Sau khi nêu cách phân chia vùng văn hóa Việt Nam của các nhà nghiên cứu vàcho thấy tuy kết quả phân chia số lượng vùng văn hóa không giống nhau nhưng phầnđông các nhà khoa học đều xem Nam Bộ là một vùng văn hóa Để làm cơ sở cho việcnghiên cứu đề tài, chúng tôi chấp nhận quan điểm xem NB là một vùng văn hóa lớn
1.2.1.3 Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Ngôn ngữ và văn hóa có quan hệ hữu cơ với nhau Mối quan hệ này được thểhiện ở 5 phương diện: Ngôn ngữ là bộ phận của văn hóa; Văn hóa vừa có tính phổquát vừa có tính đặc trưng hay tính nhân loại và tính đặc thù; Ngôn ngữ là một phầncủa văn hóa; Ngôn ngữ biến đổi chậm hơn văn hóa; Quá trình tiếp xúc với các dântộc khác dẫn đến sự thay đổi ít nhiều của văn hóa
Ngôn ngữ vừa là thành tố vừa là phương tiện biểu hiện văn hóa vì thế nội dungluận án này nghiên cứu đặc trưng văn hoá thể hiện ngay trong bản thân các từ ngữ địaphương Dưới góc độ NN -VH, qua vốn từ ngữ địa phương NB, luận án nêu và phântích những sự khác biệt về thói quen ứng xử, thói quen tư duy liên tưởng của cộngđồng người dân địa phương NB so với các vùng địa phương khác
1.2.2 Phương ngữ tiếng Việt và từ ngữ địa phương Nam Bộ
1.2.2.1 Phương ngữ và lịch sử nghiên cứu phương ngữ
PN đã được các nhà văn hóa và các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiêncứu từ thời kỳ Trung cổ Ở Việt Nam, PN bắt đầu được đề cập đến từ những năm đầuthế kỉ XX, đến nay đã có nhiều học giả và nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm, nghiêncứu trên nhiều bình diện với quy mô khác nhau, như: Nguyễn Trọng Hoàn, BìnhNguyên Lộc, Nguiễn Ngu Í, Cao Xuân Hạo, Hoàng Thị Châu, Đinh Lê Thư, HoàngCao Cương, Võ Xuân Trang, Phạm Văn Hảo, Nguyễn Quang, Nguyễn Quang Hồng,Nguyễn Đức Dương, Nguyễn Văn Ái, Trần Thị Ngọc Lang, Nguyễn Nhã Bản, HoàngTrọng Canh, Nguyễn Văn Nguyên, Huỳnh Công Tín…
1.2.2.2 Các vùng phương ngữ tiếng Việt
Ngoài đặc điểm chung, mỗi vùng phương ngữ luôn có những đặc trưng riêng.Cho nên nghiên cứu phương ngữ phải gắn với từng vùng phương ngữ cụ thể Cho đến
Trang 6nay, ý kiến của các nhà nghiên cứu là không giống nhau về số lượng, ranh giới cácvùng PN tiếng Việt Có tác giả chia PN Việt thành hai vùng, có tác giả chia thành bốnvùng, có tác giả lại chia thành năm vùng,…Quan điểm chia PN tiếng Việt thành bavùng phương ngữ lớn (PN Bắc (Bắc Bộ), PN Trung (Bắc Trung Bộ) và PN Nam(Nam Trung Bộ và Nam Bộ) là cách chia được phần đông tác giả thể hiện trong cácnghiên cứu Vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu trong luận án liên quan đến một PN cụthể là PNNB, thuộc vùng PN Nam PNNB được hình thành và phát triển cùng vớitiến trình phát triển lịch sử 300 năm của vùng đất mới Nam Bộ.
1.2.2.3 Khái niệm từ địa phương và từ ngữ địa phương Nam Bộ
Về khái niệm từ địa phương, mỗi tác giả có cách định nghĩa riêng nhưng giữa các tác giả đều thống nhất trên hai nét cơ bản: Thứ nhất, từ địa phương là những từ bị hạn chế về phạm vi địa lí sử dụng; Thứ hai, từ địa phương có sự khác biệt nhất định
về ngữ âm, từ vựng hay ngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân.
Về khái niệm từ ngữ địa phương NB, chúng tôi xác định: từ ngữ địa phương
NB là những từ ngữ được người dân vùng NB quen dùng, có sự khác biệt nhất định
về âm, nghĩa hay ngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân.
1.2.3 Thơ ca dân gian với việc sử dụng từ ngữ địa phương
1.2.3.1 Vùng đất và con người Nam Bộ
a Khái quát về vùng đất Nam Bộ
NB là một vùng đất cuối cùng phía Nam của Tổ quốc, nằm chủ yếu ở hạ lưucủa hai con sông Đồng Nai và Cửu Long Về địa lý tự nhiên, NB được chia thành haikhu vực lớn, bao gồm: các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh và cáctỉnh đồng bằng Sông Cửu Long Về tên gọi, mảnh đất NB đã có nhiều tên gọi khácnhau qua các thời kì lịch sử NB là địa bàn cư trú của nhiều tộc người khác nhau,gồm Việt, Hoa, Chăm, Khmer nên văn hóa - tín ngưỡng của mọi cộng đồng đều có sựgiao thoa lẫn nhau
b Về con người Nam Bộ
Con người NB là con người tứ chiếng bởi họ đến đây sinh tồn lập nghiệp từ
nhiều vùng đất khác nhau Do hoàn cảnh lịch sử, địa lí, xã hội, cùng sống trong môitrường sông nước đặc trưng, do đó, người Nam Bộ có đặc trưng tính cách riêng Nóiđến con người NB là nói đến tính cách: trọng nghĩa khinh tài, lạc quan, bộc trực,thẳng thắn, hào phóng và hiếu khách
1.2.3.2 Khái quát về thơ ca dân gian Nam Bộ
Cùng với TCDG các vùng, TCDGNB cũng có các mảng chủ đề chung mangtính thống nhất làm thành dòng chảy của TCDG dân tộc Tuy nhiên, trong dòng chảychung và thống nhất ấy, TCDGNB lại thể hiện những sắc thái riêng mang tính địaphương độc đáo
Trang 71.2.3.3 Khái quát về từ ngữ địa phương trong thơ ca dân gian Nam Bộ
TCDGNB là những câu hò bài hát được tạo ra trực tiếp trong lao động nên hơn bất
cứ sáng tạo nghệ thuật nào, TCDGNB sử dụng rất nhiều từ địa phương, những từ ngữ mà người lao động vốn quen dùng trong cuộc sống hàng ngày Từ ngữ địa phương trongTCDGNB là từ ngữ của người lao động vùng sông nước đi mở mang chinh phụcvùng đất mới nên luôn đầy sức sống, tác động mạnh vào mọi giác quan của ngườinghe, mang đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của vùng
1.3 Tiểu kết chương 1
Trên đây là những tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lí thuyếtliên quan trực tiếp đến đề tài của luận án Chúng tôi vận dụng các cơ sở lí thuyết nàytrong việc khảo sát, phân tích và lí giải các đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa, định danh,biểu trưng cũng như vai trò của từ ngữ địa phương NB trong TCDG NB
Trang 8Chương 2 ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG NAM BỘ XÉT Ở PHƯƠNG DIỆN BIẾN THỂ NGỮ ÂM VÀ TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA
2.1 Dẫn nhập
Để tìm hiểu các phương diện của từ ngữ NB, chúng tôi khảo sát vốn từ ngữ địaphương có trong 6 tác phẩm chính (xem mục 4) Tổng số từ ngữ thu được trong cáctác phẩm là 1667 đơn vị, với 16016 lần xuất hiện, trong đó có 1200 từ ngữ địaphương, với 14852 lần xuất hiện và 467 từ ngữ chỉ địa danh, với 1164 lần xuất hiện
2.2 Biến thể ngữ âm của từ địa phương Nam Bộ trong thơ ca dân gian
2.2.2 Các dạng biến thể ngữ âm của từ địa phương Nam Bộ
2.2.2.1 Dạng biến thể phụ âm đầu của từ địa phương Nam Bộ
Biến thể phụ âm đầu xảy ra ở các cặp phụ âm: s/x, r/d/gi, tr/ch; d/đ; kh/g; l/nh; nh/c; v/ng; th/s,
2.2.2.2 Dạng biến thể phần vần của từ địa phương Nam Bộ
- Hiện tượng biến thể có quan hệ đối ứng 1/1 gồm: biến thể ở âm chính, biến thể
ở âm cuối, âm đệm - âm chính, âm chính - âm cuối, cả âm đệm - âm chính - âm cuối
- Hiện tượng biến thể có quan hệ đối ứng 1/ hơn 1, như: chơn - chưn - chân; doan - dươn - duyên; dìa - vìa - về; hạp - hiệp - hợp; ngãi - ngỡi - nghĩa
2.2.2.3 Dạng biến thể thanh điệu của từ địa phương Nam Bộ
Trong TCDGNB, thanh ngã phát âm thành thanh hỏi xuất hiện không nhiều.song vẫn có cả từ biến âm rút gọn từ các cụm từ ở ngôi thứ ba, một hình thức biến
thêr rất điển hình của cách phát âm “thanh hỏi hóa” đặc trưng Nam Bộ: ổng/ ông ấy, bả/ bà ấy, trển/ trên ấy, bển/ bên ấy
Ngoài ra, hiện tượng biến âm còn được thể hiện rất đa dạng ở những nhóm
thanh điệu khác như: bợ ngợ / bỡ ngỡ ( / ~); dọ / dò ( / \); vầy / vậy (\ /.),
2.2.2.4 Dạng biến thể âm đầu và thanh điệu hoặc vần và thanh điệu của từ địa phương Nam Bộ
Trong PNNB, lớp từ biến âm còn có dạng biến thể nhiều hơn một bộ phận của
âm tiết như: ghiền/ nghiện; hẩng hờ/ hững hờ; nghe/ nhé
Tóm lại, hiện tượng biến âm của PNNB tạo nên sự khác biệt về hình thức so với
Trang 9từ toàn dân Sự xuất hiện nhiều về số lượng các loại biến thể ngữ âm trong TCDGNBcho thấy diện mạo và đặc trưng riêng về NN-VH của lớp TĐP trong PNNB.
2.3 Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của từ ngữ địa phương Nam Bộ qua các hiện tượng biến thể từ vựng - ngữ nghĩa
2.3.1 Lớp từ ngữ địa phương chỉ địa danh vùng Nam Bộ
2.3.1.1 Thống kê định lượng
Bảng 2.2 Số lượng và tần số xuất hiện loại địa danh trong TCDGNB
2 Địa danh chỉ các đối tượng nhân văn 363 77,7 1028 88,3
Trong TCDGNB, địa danh NB chủ yếu liên quan đến địa hình sông nước Từngữ chỉ địa danh nhân văn có số lượng lớn và tần số xuất hiện cao; điều đó phản ánhvai trò của con người trong việc chinh phục vùng đất mới
a Thành tố chung và thành tố riêng của địa danh vùng NB
Các thành tố địa danh NB có sự đa dạng về cấu tạo Trong tổng số 467 từ ngữchỉ địa danh, có 157 từ có chứa thành tố chung, tần số xuất hiện là 253 lần Cấu tạocủa thành tố chung chủ yếu là cấu tạo đơn (trên 99%) Về thành tố riêng, vùng đồngbằng có số lượng từ nhiều nhất là 350 từ, thường gắn liền với địa danh kiến tạo, tiếpđến là vùng sông nước với 87 từ, ít nhất là vùng đồi núi chỉ với 30 từ
b Nguồn gốc ngôn ngữ của tên gọi địa danh vùng NB
Các từ ngữ chỉ địa danh NB có nguồn gốc rất đa dạng, nhiều nhất là địa danhgốc Hán (51,6%), tần số 726 lần (62,4%); địa danh thuần Việt có 106 từ (22,7%), với
169 lần xuất hiện (14,5%); địa danh gốc Khmer có 74 từ (15,8%), với 210 lần xuấthiện (18%) Ít nhất địa danh nguồn gốc hỗn hợp, chỉ 21 từ (4,5%), xuất hiện 24 lần(2,1%) Kết quả trên cho thấy NB là vùng đất có sự kết hợp và giao thoa đa NN-VH
2.3.1.2 Dấu ấn ngôn ngữ - văn hóa của từ ngữ chỉ địa danh vùng Nam Bộ
a Địa danh thể hiện đặc điểm địa chất và các dạng địa hình qua các yếu tố
chung, chẳng hạn: ấp Trung, cù lao ông Chưởng, giồng Trôm
b Trong TCDGNB, văn hóa tín ngưỡng thể hiện rất rõ qua các địa danh chỉ disản vật thể liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng, sự tri ân các anh hùng dân tộc, tên cáccông trình do chế độ cũ để lại, tục kiêng húy tên của thần linh, vua chúa, hoàng tộc
c Về văn hóa sinh hoạt, TCDGNB đã ghi lại những địa danh gắn liền với đặc
điểm vị trí quần cư của người dân nơi đây, như: cù lao, giồng, gò, núi, hòn
d Địa danh trong TCDGNB phản ánh diện mạo văn hóa của vùng đất NB vớinhững lễ hội truyền thống nổi tiếng, những sản phẩm của các làng nghề truyền thốngvà sản vật của địa phương nổi tiếng
Trang 10e Các tên gọi địa danh được dùng để thể hiện nguyện vọng, ước mơ của người
dân trong công cuộc khẩn hoang và phát triển vùng đất mới
f Các tác giả dân gian sử dụng địa danh với ý nghĩa ẩn dụ, biểu trưng nghệ
thuật Chẳng hạn: Châu Đốc, Nam Vang, Cầu Ô, Sài Gòn, Mĩ Tho, Bến Thành…
2.3.2 Lớp từ ngữ địa phương chỉ sông nước vùng Nam Bộ
2.3.2.1 Xét về cấu tạo
Bảng 2.6 Số lượng và tần số xuất hiện xét về phương diện cấu tạo
của từ ngữ chỉ sông nước trong TCDGNB
Cấu tạo Số lượng Tỉ lệ % Tần số xuất hiện Tỉ lệ %
2.3.2.2 Xét về từ loại
Trong 124 từ ngữ chỉ sông nước, danh từ có số lượng nhiều nhất, gồm 103 từ,chiếm 83,1%; tiếp đến là động từ, gồm 17 từ, chiếm 13,7%; ít nhất là nhóm tính từ,gồm 4 từ, chỉ chiếm 3,2%
2.3.2.3 Dấu ấn ngôn ngữ - văn hóa của từ ngữ chỉ sông nước trong TCDGNB
a Đây là lớp TĐP gọi tên đối tượng phong phú, đa dạng mang đậm sắc thái địa
phương Chẳng hạn, xáng, ghe
b Qua tên gọi, ta thấy hiện lên mảnh đất NB với đặc điểm điểm địa lý nổi bật
là hệ thống kênh rạch chằng chịt, gồm: rạch, xẻo, bưng, láng, lung, gành, xáng
c Nhiều từ ngữ liên quan đến sông nước trong TCDGNB được sử dụng theophương thức chuyển nghĩa nhằm thể hiện cách tri nhận của các tác giả dân gian về sự
vật, hiện tượng vùng sông nước mang đặc trưng địa phương, như: sình, cù lao, lội, chịu sào, lịch, láng cò
d Những sự vật gắn vơi vùng sông nước quen thuộc đi vào TCDGNB và đã trởthành hình ảnh biểu trưng (chúng tôi sẽ phân tích cụ thể ở chương 4)
Trang 11Như vậy, Qua lớp từ ngữ chỉ sông nước, chúng ta thấy được phần nào cách lựachọn các đặc trưng sự vật, cách phân cắt hiện thực khách quan, cùng với cách lựachọn hình ảnh của tác giả dân gian với những đặc trưng rất độc đáo nhưng lại rất gầngũi với cộng đồng người dân vùng sông nước NB.
2.3.3 Lớp từ ngữ địa phương chỉ thiên nhiên, miệt vườn vùng Nam Bộ
2.3.3.1 Xét về cấu tạo
Bảng 2.8 Số lượng và tần số xuất hiện xét về phương diện cấu tạo
của từ ngữ chỉ thiên nhiên, miệt vườn trong TCDGNB
Cấu tạo Số lượng Tỉ lệ % Tần số xuất hiện Tỉ lệ %
2.3.3.3 Những dấu ấn ngôn ngữ - văn hóa của từ ngữ chỉ thiên nhiên, miệt vườn trong TCDGNB
a Trước hết, TCDGNB đã ghi lại cảnh thiên nhiên hoang sơ, khắc nghiệt, gồm
các tên gọi như: bưng, biền, bưng biền,
Đó là vùng đất hoang sơ, sình lầy, cây cối rậm rạp với những loài thú hung dữ,
nguy hiểm, luôn rình rập, đe dọa tính mạng con người: sấu, cọp, ác, rít,
b Tác giả dân gian cũng đã dùng một lớp TĐP đa dạng để gọi tên thực vật
như: bần, bàng, còng, lác, tràm, bình bát, kèo nèo, lúa ma, xa cừ, tên gọi động vật như: ác, cọp, rít, bồng bồng, chim quyên, cò ma, cồng cộc, le le, thằng chài,
c Ngoài những sản vật từ thiên nhiên ban tặng, TCDGNB còn giới thiệu sự
giàu có về sản vật từ các miệt vườn, như: chôm chôm, mãng cầu, sầu riêng
d Con người NB chủ yếu gắn bó với các miệt vườn nên những món ăn hàngngày của họ rất đạm bạc, cá và các loại rau trồng trong vườn
Như vậy, qua sự đa dạng của các tên gọi phản ánh thiên nhiên, miệt vườnchúng ta nhận thấy khả năng tri nhận sâu sắc về các sự vật, cách lựa chọn hình ảnhđặc trưng của các tác giả dân gian độc đáo, gần gũi, ngôn ngữ chân chất như lời ăntiếng nói hằng ngày của người dân địa phương Tất cả đã tạo nên cái văn minh miệtvườn tiêu biểu của vùng đất phương Nam của Tổ quốc
Trang 122.3.4 Lớp từ ngữ xưng hô địa phương Nam Bộ
2.3.4.1 Thống kê định lượng
Bảng 2.10 S ố lượng và số lần xuất hiện của các nhóm từ xưng hô
Nhóm từ xưng hô Số lượng Tỉ lệ % Số lần xuất hiện Tỉ lệ %
2.3.4.2 Các nhóm từ xưng hô trong thơ ca dân gian
a Dùng danh từ thân tộc
Một đặc điểm rất nổi bật về xưng hô trong TCDGNB là từ xưng hô chỉ quan hệ
trong gia đình được dùng phổ biến ngoài xã hội, như: cậu - con, mợ - con, bà - con,…
Ngoài ra, danh từ thân tộc con có thể kết hợp với tính từ nhỏ (như: con nhỏ, thằng nhỏ, vợ nhỏ…) lâm thời làm từ xưng gọi, dùng khá phổ biến.
b Dùng nhóm từ xưng hô theo thứ tự sinh
Xưng hô theo từ chỉ thứ tự sinh hay xưng hô kết hợp giữa danh từ thân tộc và
từ gọi theo thứ tự sinh cũng là một lối xưng hô độc đáo của người dân NB, kiểu như:
Tư, Năm,…má Bảy, cậu Ba, mợ Ba, cô Năm, em Hai Phải chăng, đây cũng là một
nét biểu hiện của văn hóa cởi mở, mộc mạc, hòa đồng của người NB
c Dùng đại từ nhân xưng
Trong TCDGNB, các tác giả dân gian sử dụng từ xưng hô là các đại từ biến âm
rút gọn: ổng, bả, chỉ với sắc thái nghĩa trung tính để chỉ người ở ngôi thứ ba Đây là các đại từ đặc biệt của PNNB Trong TCDGNB còn có đại từ xưng hô bậu, qua Đây
là những từ có nguồn gốc từ tiếng Triều Châu đã được Việt hóa hoàn toàn
Như vậy, cách dùng từ xưng hô để xưng gọi ở đây thể hiện sự mộc mạc, bìnhdân, rất cởi mở, phóng khoáng và luôn thấm đậm tình cảm thân thiết Đó là những nétsắc thái văn hóa riêng của người dân NB trong xưng hô
2.3.5 Lớp từ ngữ địa phương đồng nghĩa với từ toàn dân
2.3.5.1 Thống kê định lượng
Bảng 2.11 Số lượng từ ngữ địa phương NB đồng nghĩa trong TCDG
phân theo các tiểu loại
Các tiểu loại đồng nghĩa của từ địa phương
Trang 132.3.5.2 Các nhóm từ đồng nghĩa trong thơ ca dân gian Nam Bộ
a Nhóm từ đồng nghĩa phong cách
Trong TCDGNB, chúng tôi thấy từ địa phương NB đồng nghĩa phong cách vớitừ toàn dân ở nhiều từ loại, gồm:
- DT: heo - lợn; nón - mũ; sáo - mành; sình - bùn
- ĐgT: mướn - thuê; xá - vái; ẵm - bồng - bế; leo - trèo; nói láo - nói dối
- TT: ốm - gầy; cứng - rắn; lẹ - nhanh chóng; mắc - đắt; sình - ươn
- ĐT: bay - bọn mày, chúng mày; chi - gì; chi vầy - gì vậy
Nằm trong sự đối lập đồng nghĩa, từ toàn dân thường trung hòa về phong cách,còn TĐPNB lại mang tính biểu cảm, thể hiện rõ nét sắc thái văn hóa địa phương.Nguyên nhân của sự khác nhau này một phần là do hiện thực được phản ánh là hiệnthực NB, một phần là do thói quen nói năng của người ĐP vẫn dùng nhiều từ cổ của
tiếng Việt, như: bể (vỡ), bợ (đỡ), bông (hoa), heo (lợn), lẹ (nhanh), lượm (nhặt), lu (mờ), giỡn (đùa), mùng (màn)
b Nhóm từ đồng nghĩa ý niệm
Trong TCDGNB, chúng tôi thấy có các từ đồng nghĩa ý niệm như: ác - quạ; chỉ điều - chỉ đỏ; chú ủi - lợn; cù lần - chậm chạp; eo - teo tóp; vườn - quê
Các từ đồng nghĩa ý niệm trong TCDGNB có sự phân biệt với nhau về nhữngsắc thái nghĩa cơ bản nên chúng có vai trò hết sức quan trọng trong việc thể hiện tưtưởng, tình cảm của chủ thể sử dụng ngôn ngữ, đồng thời làm cho lời thơ trở nên ý
nhị, sâu xa hơn Ví dụ: đành thể hiện sự hài lòng, chấp nhận vì thỏa mãn với các tiêu chí đã đề ra; ưng thể hiện sự ưng thuận, đồng ý ở phương diện tình cảm
c Nhóm từ đồng nghĩa ý niệm - phong cách
Đây là loại từ đồng nghĩa phân biệt với nhau cả về sắc thái ý nghĩa chung và cả
về màu sắc phong cách, như: dơ - bẩn; cưng - chiều; lục bình - bèo tây; nhậu - ăn/ uống Các TĐPNB hầu hết có nghĩa biểu hiện rộng hơn và mang sắc thái biểu cảm
tinh tế hơn so với từ toàn dân, phù hợp với thực tế và thói quen ứng xử VH của ngườidân nơi đây
2.4 Tiểu kết chương 2
Ở chương này, luận án đã phân tích các lớp từ ngữ có hiện tượng biến thể ngữ
âm, biến thể từ vựng - ngữ nghĩa Qua mỗi lớp từ, chúng tôi thấy từ địa phương NB
có sự thể hiện đa dạng cả về số lượng và ngữ nghĩa và có sự khác biệt với NNTD.Điều này đã tạo nên đặc trưng NN-VH riêng biệt của từ ngữ địa phương NB