Việc thụ lí vụ án được hiểu là hành vi tố tụng do Tòa án có thẩm quyền thực hiện theo những căn cứ, hình thức được pháp luật tố tụng hành chính quy định nhằm chính thức chấp nhận giải qu
Trang 1I-MỞ ĐẦU
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa
án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Theo đó, cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện khi họ bị tác động bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính,… ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ (trừ một số trường hợp) Ngoài
ra, nếu cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất khả năng nhận thức làm chủ hành vi thì họ có thể thực hiện quyền khởi kiện thông qua người đại diện theo pháp luật Tuy nhiên, không phải cứ có yêu cầu khởi kiện thì Tòa án buộc phải thụ lí mà Tòa án phải xem xét tính hợp pháp của yêu cầu khởi kiện và sự phù hợp với thẩm quyền của mình để quyết định thụ lí hay từ chối Nếu thuộc các trường hợp phải trả lại đơn khởi kiện thì thẩm phán phải trả lại đơn khởi kiện Vì vậy, để làm rõ hơn
các trường hợp tòa án trả lại đơn khởi kiện, em xin lựa chọn đề tài số 7: “Phân tích các trường hợp tòa án trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính theo quy định của Luật tố tụng hành chính năm 2015 và đánh giá tính hợp lí của các quy định này”.
II-NỘI DUNG 1.Khởi kiện vụ án hành chính
Khởi kiện vụ án hành chính là quyền tự định đoạt của cơ quan, tổ chức, cá nhân
yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi họ cho rằng quyền
và lợi ích đó bị xâm phạm bởi việc thực thi quyền hành pháp Đối với cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất khả năng nhận thức làm chủ hành vi thì họ có thể thực hiện quyền khởi kiện thông qua người đại diện theo pháp luật
Trang 2Như vậy, ta có thể thấy nội dung cơ bản của khởi kiện vụ án hành chính là yêu cầu tòa án có thẩm quyền xem xét thụ lí vụ án Về bản chất thì vụ án hành chính chỉ có thể phát sinh khi được tòa án có thẩm quyền thụ lí và việc thụ lí phải căn cứ vào những quy định cụ thể của pháp luật tố tụng hành chính Nếu tòa án không thụ
lí thì mục đích chính của việc khởi kiện là được giải quyết những tranh chấp hành chính không thể thực hiện được Hơn nữa, việc khởi kiện vụ án hành chính chỉ có thể được thực hiện khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việc quy định một cách cụ thể các điều kiện khởi kiện sẽ giúp hạn chế tình trạng khởi kiện một cách tùy tiện và gây cản trở không cần thiết trong quá trình thực thi quyền hành pháp
2 Điều kiện khởi kiện vụ án hành chính
Thứ nhất, về đối tượng khởi kiện
*Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính Các quyết định hành chính là văn bản áp dụng pháp luật trong hoạt động quản lí hành chính nhà nước, còn hành vi hành chính là hành vi gắn với công vụ, nhiệm vụ, chức vụ, chức danh của cán bộ, công chức, viên chức,
cá nhân tổ chức được giao hoạt động quản lí hành chính nhà nước Các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện phải ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và không thuộc các trường hợp không được kiện như thuộc bí mật nhà nước trong các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, ngoại giao; quyết định hành vi của tòa án trong việc áp dụng các biện pháp xử lí hành chính,
xử lí hành vi cản trở hoạt động tố tụng hay các quyết định, hành vi hành chính mang tính chất nội bộ
Trang 3*Quyết định kỉ luật buộc thôi việc công chức: Là những quyết định kỉ luật buộc thôi việc đối với phần lớn công chức trong bộ máy nhà nước từ Tổng cục trưởng trở xuống và tương đương
*Quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh: Quyết định này không bị khiếu nại mà chỉ có thể giải quyết theo con đường kiện ra Tòa án
*Danh sách cử tri: gồm danh sách bầu cử đại biểu quốc hội, Hội đồng nhân dân, trưng cầu ý dân và phải được khiếu nại trước khi kiện ra tòa án
Thứ hai, về chủ thể khởi kiện: Chủ thể khởi kiện phải là người có quyền khởi kiện
và phải có năng lực hành vi tố tụng hành chính
Thứ ba, về phương thức khởi kiện: Đối với quyết định hành chính, hành vi hành
chính thì người khởi kiện có thể chọn một trong ba cách sau: Khởi kiện mà không khiếu nại; Khởi kiện sau khi khiếu nại lần 1, sau khi nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần 1 hoặc hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần 1; Khởi kiện sau khi khiếu nại lần 2, sau khi nhân được quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 hoặc sau khi hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần 2 Đối với quyết định giải quyết khiếu nại về xử lí vụ việc cạnh tranh thì không được khiếu nại mà khởi kiện ra tòa án, Đối với danh sách cử tri thì buộc phải khiếu nại trước khi khởi kiện
Thứ tư, về thời hiệu khởi kiện (điều 116 LTTHC 2015): thời hiệu là 1 năm kể từ
ngày nhận được hoặc biết về quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỉ luật buộc thôi việc; 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về xử lí vụ việc cạnh tranh; từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày Trong trường hợp đương sự
Trang 4khiếu nại theo quy định pháp luật thì thời hiệu là 1 năm kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần 1, lần 2 hoặc khi hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần 1, lần 2
Thứ năm, vụ việc được khởi kiện thuộc thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của
tòa án
Thứ sáu, người khởi kiện không đồng thời là người khiếu nại đến người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại
3 Các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính 2015
Vụ án hành chính chỉ có thể phát sinh sau khi được Tòa án thụ lí Việc thụ lí vụ
án được hiểu là hành vi tố tụng do Tòa án có thẩm quyền thực hiện theo những căn
cứ, hình thức được pháp luật tố tụng hành chính quy định nhằm chính thức chấp nhận giải quyết vụ án hành chính theo yêu cầu khởi kiện vụ án hành chính của cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, nếu rơi vào các trường hợp quy định tại khoản 1điều 123 Luật tố tụng hành chính 2015 thì tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện mà không thụ lí, cụ thể:
Thứ nhất, người khởi kiện không có quyền khởi kiện Có thể nói, có quyền
khởi kiện là một trong những điều kiện đầu tiên phải đáp ứng nếu người đó muốn khởi kiện một vụ án hành chính Nếu người đó không có quyền khởi kiện thì ngay
từ đầu, họ đã không được khởi kiện Căn cứ theo quy định tại điều 115 Luật tố tụng hành chính 2015 thì người có quyền khởi kiện bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân khi mà họ không đồng ý hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại nhưng đã hết thời hạn giải quyết khiếu nại hoặc không đồng tình với kết quả giải quyết khiếu nại đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc (trừ một số trường hợp); các tổ chức, cá
Trang 5nhân không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh; cá nhân có quyền khởi kiện về danh sách cử tri trong trường hợp đã khiếu nại những đã hết thời hạn giải quyết khiếu nại hoặc không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại đó Tổ chức ở đây có thể là tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc
tổ chức không có tư cách pháp nhân như doanh nghiệp tư nhân hoặc cộng đồng dân cư,… cá nhân có thể là công dân Việt Nam, công dân nước ngoài, người không quốc tịch
Như vậy, để có thể đảm bảo được việc khởi kiện sẽ được tòa án thụ lí thì trước tiên cần phải xem xét xem có quyền khởi kiện hay không Và đương nhiên, khi xem xét để quyết định có thụ lí vụ án hành chính hay không thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện
và ra các quyết định, trong đó có quyết định trả lại đơn khởi kiện nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 điều 123 Luật TTHC 2015 Khi xem xét
mà thấy rằng, người khởi kiện là người không có quyền khởi kiện thì tòa án sẽ ra quyết định trả lại đơn khởi kiện bởi không có quyền khởi kiện đã vi phạm vào một trong các điều kiện khởi kiện
Thứ hai, người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy
đủ Người khởi kiện theo pháp luật tố tụng hành chính phải là người có quyền khởi
kiện và việc định đoạt việc khởi kiện phải là cá nhân có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ Theo quy định tại điều 54 Luật TTHC 2015 thì năng lực pháp luật tố tụng hành chính là khả năng có quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính
và năng lực tố tụng hành chính của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân là như nhau Còn năng lực hành vi tố tụng hành chính là khả năng tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính
Trang 6Như vậy, nếu năng lực tố tụng hành chính của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân là như nhau thì năng lực hành vi tố tụng hành chính là không giống nhau Cụ thể sẽ
có những trường hợp có năng lực hành vi tố tụng hành chính không đầy đủ và trường hợp không có năng lực hành vi tố tụng hành chính Theo quy định thì người
có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính bao gồm cá nhân từ đủ 18 tuổi và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; đối với người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất khả năng nhận thức làm chủ hành vi hoặc đương
sự là cơ quan, tổ chức thì thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật Nếu người khởi kiện là người không có hoặc không có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính thì họ không thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính, vì thế nếu rơi vào trường hợp người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ thì tòa án sẽ ra quyết định trả lại đơn khởi kiện
Thứ ba, trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.
Trong trường hợp này được hiểu là người khởi kiện đã tiến hành việc khởi kiện đến tòa án khi chưa đủ các điều kiện khởi kiện Ví dụ như trong trường hợp khởi kiện một quyết định hành chính nhưng trước đó người này đã thực hiện việc khiếu nại đến người có thẩm quyền nhưng chưa nhận được quyết định giải quyết khiếu nại hoặc chưa hết thời hạn khiếu nại, hoặc trong trường hợp pháp luật bắt buộc phải thực hiện thủ tục khiếu nại trước khi tiến hành khởi kiện đến tòa án như trường hợp khởi kiện đối với danh sách cử tri, tuy nhiên người khởi kiện chưa thực hiện thủ tục khiếu nại mà đã khởi kiện đến tòa án, trường hợp này cũng sẽ bị tòa án trả lại đơn khởi kiện để thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật
Trang 7Thứ tư, sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của tòa án đã
có hiệu lực pháp luật Về nguyên tắc, bản án hay quyết định của tòa án đã có hiệu
lực pháp luật thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tôn trọng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của tòa án phải chấp hành một cách nghiêm chỉnh Như vậy, khi đã có bản án hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan không được khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết lại vụ việc đó Tuy nhiên, theo quy định tại điều 144 Luật TTHC 2015 thì khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, đương sự không có quyền khởi kiện tòa án giải quyết lại vụ án đó, nếu việc khởi kiện này không có gì khác với vụ án đã bị đình chỉ về người khởi kiện, người bị kiện và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp bị đình chỉ theo quy định tại các điểm b, c và e khoản 1 Điều 123, điểm b và điểm đ khoản 1 Điều 143 của Luật này và trường hợp khác theo quy định của pháp luật Như vậy, không phải mọi trường hợp sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của tòa án
đã có hiệu lực pháp luật thì đều không được khởi kiện lại mà vẫn có những trường hợp được quyền yêu cầu tòa án giải quyết lại Ngoài những trường hợp đó, nếu không đồng ý với bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì có thể tiến hành khiếu nại theo quy định của pháp luật hoặc đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm hoặc giám đốc thẩm
Thứ năm, sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việc xác
định tòa án có thẩm quyền phụ thuộc vào nhiều căn cứ, bao gồm thẩm quyền theo
vụ việc, thẩm quyền lãnh thổ, thẩm quyền theo cấp Đối với thẩm quyền theo vụ việc, khiếu kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại điều 30 Luật TTHC 2015 bao gồm các quyết định hành chính, hành vi hành chính không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, b, c khoản 1 điều 30 Luật TTHC 2015 và không phải quyết định của chính phủ, thủ tướng chính phủ; quyết định kỉ luật buộc
Trang 8thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống; Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; Khiếu kiện danh sách cử tri Khi sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nói chung thì tòa án đã nhận đơn khởi kiện tiến hành trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều 123 Luật TTHC 2015 Còn đối với trường hợp sự việc vẫn thuộc thẩm quyền của tòa án nói chung nhưng tòa án nhận đơn không có thẩm quyền mà thẩm quyền thuộc về tòa án khác thì tòa án nhận đơn cần tiến hành việc chuyển đơn đến tòa án có thẩm quyền để giải quyết Đối với trường hợp sự việc vẫn thuộc thẩm quyền của tòa án nói chung nhưng không phải vụ án hành chính thì tòa án nhận đơn hướng dẫn người khởi kiện thực hiện lại việc khởi kiện
Thứ sáu, người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại điều 33 Luật TTHC 2015 Trường hợp
này là trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại Trong trường hợp này, người khởi kiện phải lựa chọn cơ quan giải quyết và phải thông báo bằng văn bản cho tòa án Nếu người khởi kiện lựa chọn người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại giải quyết thì tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện và các điều kiện kèm cho người khởi kiện Khi hết thời hạn giải quyết khiếu nại hoặc không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có thể khởi kiện vụ án hành chính vụ án tới tòa án có thẩm quyền
Thứ bảy, đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 điều 118 Luật TTHC 2015 mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điều 122 của Luật TTHC 2015 Yêu cầu về nội dung và hình thức của
đơn khởi kiện mà một trong những yêu cầu quan trọng Bởi lẽ thông qua đó, các cơ quan, tổ chức, cá nhân biểu đạt chính thức những yêu cầu của mình trước tòa án và
Trang 9cung cấp những thông tin cần thiết Nếu đơn khởi kiện không có đầy đủ nội dung chính như ngày tháng năm làm đơn, tòa án được yêu cầu, tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, nội dung của các đối tượng khởi kiện, nội dung giải quyết khiếu nại (nếu có), yêu cầu đề nghị tòa án giải quyết, cam đoan về việc không đồng thời khiếu nại thì tòa án sẽ không
có đủ những thông tin để thụ lí giải quyết vụ án
Thứ tám, hết thời hạn được thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật này mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có lý do chính đáng Việc thực hiện nghĩa vụ nộp án phí là một trong nghĩa vụ đầu tiên, mặc dù nó không chi phối đến việc thụ lí vụ án hành chính nhưng việc nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm là cần thiết Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng phải nộp tiền tạm ứng án phí mà
có những trường hợp được miễn, không phải nộp tiền tạm ứng án phí như người khởi kiện là người có công với cách mạng, cha mẹ của liệt sĩ,…
4 Đánh giá các quy định về các trường hợp trả lại đơn khởi kiện và kiến nghị hoàn thiện
Mặc dù pháp luật hiện hành có quy định các trường hợp trả lại đơn khởi kiện
được trình bày theo phương pháp liệt kê các trường hợp, điều này có một ưu điểm lớn đó là dễ áp dụng trên thực tế Tuy nhiên, việc liệt kê như vậy đã dẫn đến một thực trạng đó là có sự chồng chéo giữa các quy định, hơn nữa, có những quy định còn chưa thực sự hợp lí với thực tiễn áp dụng, không có một cách hiểu đồng nhất dẫn đến khó áp dụng một cách thống nhất
Thứ nhất, đối với quy định tại điểm c khoản 1 điều 123 Luật TTHC 2015 thì tòa
án sẽ trả lại đơn khởi kiện nếu pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó
Trang 10Vậy hiểu thế nào là thiếu điều kiện khởi kiện hay nói cách khác là chưa đủ điều kiện khởi kiện? Có hai cách hiểu: thứ nhất là trường hợp người khởi kiện chưa gửi
đủ các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình theo quy định nên thẩm phán chưa xác định được người khởi kiện có đáp ứng được đủ điều khiện khởi kiện hay không Nếu hiểu như vậy sẽ dẫn đến hiện tượng tùy tiện trong việc trả lại đơn khởi kiện Thứ hai là hiểu theo nghĩa chưa có đủ các điều kiện về chủ thể khởi kiện như quyền khởi kiện, năng lực hành vi tố tụng hành chính; thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền của tòa án…1Nếu hiểu như vậy thì quy định này đã chồng chéo với một số trường hợp trả lại đơn khởi kiện khác được quy định trong điều này Cụ thể như chưa có đủ các điều kiện về chủ thể khởi kiện như quyền khởi kiện, năng lực hành
vi tố tụng hành chính được quy định tại điểm a, b khoản 1 điều 123 Luật TTHC
2015 hay chưa đủ điều kiện về mặt nội dung của đơn khởi kiện nhưng lại được quy định tại điểm g khoản 1 điều 123 hay điều kiện về thẩm quyền của tòa án lại được quy định tiếp tại điểm đ khoản 1 điều 123; điều kiện về việc người khởi kiện không được đồng thời là người gửi đơn khiếu nại đến chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại,… Để có một cách hiểu thống nhất để không bị áp dụng một cách chồng chéo thì nên có những văn bản pháp luật hướng dẫn, giải thích cụ thể hơn về vấn
đề này
Thứ hai, theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều 123 Luật TTHC 2015 thì tòa án
trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp sự việc không thuộc thẩm quyền của tòa án Việc quy định như vậy là chưa hợp lí Bởi lẽ, tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp sự việc không thuộc thẩm quyền của tòa án nói chung, nhưng trong trường hợp sự việc vẫn thuộc thẩm quyền của tòa án nói chung nhưng tòa án nhận đơn khởi kiện không có thẩm quyền mà tòa án khác có thẩm quyền, như thẩm quyền theo cấp hoặc theo lãnh thổ thì tòa án nhận đơn khởi kiện sẽ chuyển đơn
1Khởi kiện và thụ lí vụ án hành chính theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đổng Thị Ninh