I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH VÀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH1.Khái niệm vụ án hành chínhTheo từ điển tiếng Việt “ vụ” là sự việc không hay, rắc rối cần phải giải quyết” và “ án” là “ tranh chấp quyền lợi cần được xét xử trước Tòa án” . Như vây xét về mặt thuật ngữ, vụ án được hiểu là công việc phát sinh trên cơ sở tranh chấp về quyền lợi thuộc nhiệm vụ xét xử của Tòa ánTheo đó vụ án hành chính là vụ việc tranh chấp hành chính phát sinh do cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc hoặc do viện kiểm sát khởi tố theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính2.Khái niệm khởi kiện vụ án hành chínhQuyền khởi kiện vụ án hành chính là quyền tự định đoạt của cá nhân, tổ chưc, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lượi ích hợp pháp của mình khi có căn cứ cho rằng các quyền lợi đó bị xâm hại trái pháp luật, và không đồng ý với việc giải quyết khiếu naijtrong giai đoạn tiền tố tụng hành chính
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH VÀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 1
1 Khái niệm vụ án hành chính 1
2 Khái niệm khởi kiện vụ án hành chính 1
3 Trả lại đơn khởi kiện vụ án Hành chính 1
II CÁC TRƯỜNG HỢP TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 1
1 Người khởi kiện không có quyền khởi kiện 2
2 Người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ 2 3 Trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.3 4 Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật 5
5 Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án 6
6 Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 33 6
7 Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 122 7
8 Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật này mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có lý do chính đáng 8
III ĐÁNH GIÁ TÍNH HỢP LÝ CỦA CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRƯỜNG HỢP TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 8
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
Luật tố tụng hành chính là một nghành Luật bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết vụ
án hành chính nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính của công dân, tổ chức và cơ quan nhà nước cũng như trật tự pháp luật của Nhà nước Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án hành chính không phải tất cả các vụ án đều được tòa án thụ lý mà
có những trường hợp tòa án không thụ lý và trả lại đơn khởi kiện Vì vậy để tìm hiểu rõ hơn về các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính em đã
chọn đề bài 05 : “ Phân tích các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện vụ án
hành chính theo quy định của Luật tố tụng hành chính năm 2005 và đánh giá về tính hợp lý của quy định này “
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH VÀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
1 Khái niệm vụ án hành chính
Theo từ điển tiếng Việt “ vụ” là sự việc không hay, rắc rối cần phải giải quyết” và “ án” là “ tranh chấp quyền lợi cần được xét xử trước Tòa án”1 Như vây xét về mặt thuật ngữ, vụ án được hiểu là công việc phát sinh trên cơ sở tranh chấp
về quyền lợi thuộc nhiệm vụ xét xử của Tòa án
Theo đó vụ án hành chính là vụ việc tranh chấp hành chính phát sinh do cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc hoặc do viện kiểm sát khởi tố theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính
2 Khái niệm khởi kiện vụ án hành chính
Quyền khởi kiện vụ án hành chính là quyền tự định đoạt của cá nhân, tổ chưc, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lượi ích hợp pháp của mình khi có căn cứ cho rằng các quyền lợi đó bị xâm hại trái pháp luật, và không đồng ý với việc giải quyết khiếu naijtrong giai đoạn tiền tố tụng hành chính
3 Trả lại đơn khởi kiện vụ án Hành chính
1 Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm từ điển học- Viện Ngôn ngữ học, nxb Đà Nẵng,2002.tr1130
Trang 3Trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính là việc tòa án hành chính từ chối việc tiếp nhận giải quyết vụ án hành chính theo yêu cầu của người khởi kiện
II CÁC TRƯỜNG HỢP TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
Các trường hợp trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính được quy định tại Khoản 1 – Điều 123 Luật tố tụng hành chính năm 2015 Theo đó có 8 trường hợp
cụ thể sau:
1 Người khởi kiện không có quyền khởi kiện
Đây là trường hợp người khởi kiện không có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính , quyết định kỉ luật buộc thôi việc hay nói cách khác việc khởi kiện vụ án hành chính được thực hiện trong trường hợp đã vi phạm điều kiện khởi kiện thứ nhất Cụ thể vi phạm điều kiện khởi kiện thứ nhất là chủ thể vụ án hành chính không có năng lực hành vi tố tụng hành chính, không đáp ứng điều kiện chủ thể theo Điều 54 – Luật tố tụng hành chính 2015
Cùng với đó theo quy định tại Khoản 8 – Điều 3 Luật tố tụng hành chính
năm 2015 thì “ người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành
chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi chung là danh sách
cử tri)” Tại Điều 5 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định về quyền yêu cầu
tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp như sau: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của Luật này”
Theo quy định trên quyền khởi kiện vụ án hành chính là quyền của cá nhân,
cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo thủ tục do pháp luật quy định Do đó cá nhân, cơ quan tổ chức chỉ được khởi kiện các quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chính người khởi kiện chứ không phải bất kì một chủ thể khác
Như vậy chủ thể khởi kiện và quyền khởi kiện có quan hệ mật thiết với nhau, khi chủ thể khởi kiện không đấp ứng các điều kiện về chủ thể và không có quyền và lợi ích bị xâm hại thì sẽ là căn cứ để Tòa án trả lại đơn khởi kiện
2 Người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ
Trang 4“ Năng lực hành vi tố tụng hành chính là khả năng tự mình thực hiện quyền,
nghĩa vụ trong tố tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính” ( Khoản 2- điều 54 Luật tố tụng hành chính) Để yêu cầu Tòa án
bảo vê quyền và lợi ích hợp pháp khi bị xâm phạm bởi các khiếu kiện của các cơ quan, tổ chức thì người khởi kiện phải chứng minh mình có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính Năng lực hành vi tố tụng hành chính bao gồm : Năng lực về độ tuổi và năng lực hành vi dân sự Cụ thể là người khởi kiện phải đủ 18 tuổi trở lên,
có sức khỏe bình thường, không có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần
Người từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính (trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác) hoặc có thể ủy quyền cho bất cứ người nào đại diện cho mình tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 54 và Điều 60 của Luật (trừ những người không được làm đại diện theo Khoản 6, 7 Điều 60) Như vậy, trong trường hợp cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người không được coi là đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức mà trực tiếp thực hiện việc khởi kiện vụ án hành chính thì Tòa án cần xác định việc khởi kiện vụ án hành chính của cá nhân này đã vi phạm về hình thức khởi kiện vụ án hành chính và căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính năm 2015 để trả lại đơn kiện
Đối với người khởi kiện là người chưa thành niên, người mất năng lực hành
vi dân sự sẽ thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật Người được coi là người đị diện theo pháp luật của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự được quy định tại điểm a, b – Khoản 2 Điều 60 gồm: cha, mẹ đối với con chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ
Trong trường hợp là cơ quan, tổ chức thì việc thực hiện quyền và nghĩa vụ sẽ thông qua người đại diện theo pháp luât Người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức là người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc được người đứng đầu cơ quan, tổ chức ủy quyền nhân danh mình tham gia tố tụng
Như vậy nếu cá nhân chưa đủ 18 tuổi, mất năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện theo theo pháp luật hoặc cơ quan tổ chức không có người đại diện theo pháp luật thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện
Trang 53 Trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó
Cá nhân, cơ quan, tổ chức muốn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án phải đảm bảo đầy đủ các điều kiện mà pháp luật tố tụng hành chính quy định Nếu họ không thỏa mãn một trong các điều kiện khởi kiện thì vụ việc sẽ không được Tòa
án thụ lý giải quyết Điều kiện khởi kiện vụ án hành chính bao gồm:
- Đối tượng khởi kiện: bao gồm các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc Các quyết định hành chính, hành vi hành chính phải là các quyết định hành chính cá biệt (Quy định tại Điều 30 Luật Tố Tụng Hành Chính) Các quyết định hành chính, hành vi hành chính sau đây không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật; Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng; Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức
- Chủ thể khởi kiện: Chủ thể được phép khởi kiện vụ án hành chính được quy định tại khoản 8 Điều 3 và Điều 54, Luật tố tụng hành chính năm 2015 cụ thể như sau: Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi tố tụng hành chính, tự mình định đoạt việc khởi kiện vụ án hành chính đồng thời tự mình tham gia tố tụng hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng, việc ủy quyền phải được thể hiện thông qua giấy quỷ quyền được chứng thực Cá nhân dưới 18 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện đượng nhiên định đoạt khởi kiện, người đại diện đương nhiên tự tham gia hoặc ủy quyền cho người khác và cũng phải chứng thực giấy ủy quyền Tại khoản 5 Điều 54, Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định đương sự là cơ quan, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ trong
tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật
- Phương thức khởi kiện: Đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc thì có thể lựa chọn 1 trong 3 phương thức sau: Thứ nhất, khởi kiện ngay sau khi nhận được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc mà không khiếu nại
Trang 6Thứ hai, khởi kiện khi nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần 1 mà không đồng ý với kết quả giải quyết hoặc hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần 1 mà vẫn không được giải quyết Thứ ba, khởi kiện khi nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 mà không đồng ý hoặc hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần 2 mà vẫn không được giải quyết Đối với quyết định giải quyết khiếu nại về xử lý cạnh tranh thì khởi kiện ngay chứ không được khiếu nại Đối với danh sách cử tri sẽ khởi kiện khi nhận được thông báo trả lời khiếu nại mà không đồng ý hoặc hết thời hạn giải quyết khiếu nại trước ngày diễn ra bầu cử 5 ngày
- Về thời hiệu khởi kiện: Thời hiệu thời kiện được quy định tại Điều 116 như
sau: “thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi
kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời gian đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện” Đối với
từng trường hợp mà thời hiệu khởi kiện cũng khác nhau như: Đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc thì thời hạn
là 1 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện; từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại hoặc hết thời gian giải quyết khiếu nại 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại
về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh Đối với danh sách cử tri là 5 ngày kể từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách
cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày diễn ra bầu cử Như vậy điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về danh sách cử tri phải khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nếu cá nhân chưa khiếu nại đã khởi kiện vụ án hành chính ra tòa án thì chưa đủ điều kiện khởi kiện Nếu khiếu nại chưa được giải quyết và chưa hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà đã khởi kiện thì tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện vì chưa đủ điều kiện khiếu kiện
4 Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Đối với những sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án thì các cá nhân, tổ chức có liên quan không được quyền khởi kiện yêu cầu tòa án thụ lý giải quyết lại vụ việc đó (trừ trường hợp tòa
án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính được quy định tại khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính năm 2015) Trong trường hợp không đồng ý với
Trang 7bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì cá nhân, tổ chức có liên quan có quyền khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật hoặc đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định này theo thủ tục giám đốc thẩm hay tái thẩm Như vậy, không phải là trong mọi người hợp tòa án đều trả lại đơn khởi kiện nếu sự việc được khởi kiện đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án
5 Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân được chia thành
ba loại, đó là thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo cấp Tòa án Do vậy, có thể xem các trường hợp sau là trường hợp sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
- Trường hợp vụ việc được khởi kiện không thuộc thẩm quyền của hệ thống Tòa án nói chung Tức là không thuộc thẩm quyền giải quyết của bất cứ Tòa nào trong toàn hệ thống Tòa án thì tòa án đã nhận đơn khởi kiện căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính năm 2015 để trả lại đơn khởi kiện
- Trường hợp vụ việc khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của hệ thống Tòa án nói chung nhưng đây không phải là vụ án hành chính thì tòa án đã nhận đơn khởi kiện có trách nhiệm hướng dẫn người khởi kiện thực hiện lại việc khởi kiện và tiến hành thụ lý hoặc chuyển đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật phù hợp với loại vụ án đã được khởi kiện lại
- Trường hợp sự việc được khởi kiện thuộc thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của hệ thống Tòa án nói chung được quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 nhưng không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhận đơn mà lại thuộc thẩm quyền của một Tòa khác trong hệ thống Tòa án (có thể cùng cấp hoặc không cùng cấp) thì tòa án đã tiếp nhận đơn khởi kiện phải chuyển đơn khởi kiện đến tòa
án có thẩm quyền theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 121 Luật tố tụng hành chính năm 2015 Tuy nhiên có trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện các
sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như quyết định hành chính mang tính nội bộ, quyết định kỉ luật cách chức đối với công chức
6 Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 33
Theo quy định tại Điều 33 Luật tố tụng hành chính là trường hợp vừa có đơn khiếu nại vừa có đơn khởi kiện Trường hợp này được được hiểu tại thời điểm
Trang 8khiếu nại và khởi kiện, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chưa thụ lý giải quyết khiếu nại và Tòa án cũng chưa thụ lý giải quyết vụ việc Trong trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà họ lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện
Tuy nhiên, trong trường hợp hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại thì họ vẫn có quyền khởi kiện vụ án hành chính ra tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Trong trường hợp có nhiều cá nhân, tổ chức có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án
có thẩm quyền đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về cùng một vụ việc thì tòa án chỉ căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính năm 2015 để trả lại đơn khởi kiện nếu các cá nhân, tổ chức này đều đã dứt khoát lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải khiếu nại
Nếu các cá nhân, tổ chức này không thống nhất được với nhau về việc lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại hay thủ tục tố tụng hành chính thì tòa án cần căn cứ vào hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao để xác định vụ việc này thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án hay thuộc thẩm quyền của người giải quyết khiếu nại để thụ lý vụ án hành chính hay trả lại đơn khởi kiện theo căn cứ quy định tại đểm e khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính năm 2015
7 Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 122
Đơn khởi kiện phải đúng theo quy định về nội dung và hình thức Theo quy định tại khoản 1Điều 118 thì đơn khởi kiện phải có đủ nội dung như: Ngày, tháng, năm làm đơn; Tòa án được yêu cầu giải quyết vụ án hành chính; tên, địa chỉ, số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nội dung quyết định hành chính, quyết định
kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, nội dung giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri hoặc tóm tắt diễn biến của hành vi hành chính; nội dung quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có); yêu cầu
đề nghị Tòa án giải quyết; cam đoan về việc không đồng thời khiếu nại đến người
Trang 9có thẩm quyền giải quyết khiếu nại Khi nội dung đơn khởi kiện không đủ nội dung, tòa án yêu cầu người khởi kiện bổ sung những nội dung đã liệt kê như trên thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện
8 Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật này
mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng
án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có lý do chính đáng
Cùng với việc đáp ứng các điều kiện khởi kiện thì việc hoàn thành nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng là điều kiện để tòa án thụ kí giải quyết vụ án Cá nhân, cơ quan,
tổ chức khởi kiện không đóng tiền tạm ứng án phí khi đã hết thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện trừ trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có lý do chính đáng Đó là các trường hợp người khởi kiện vụ án hành chính là thương binh; bố, mẹ liệt sĩ; người có công với cách mạng Người khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; dưa vào cơ sở giáo dục và đưa vào cơ sở chữa bệnh
Cá nhân, hộ gia đình thuộc diện nghèo theo quy định của Chính phủ Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm Ngoài các trường hợp nêu trên, người khởi kiện vụ án hành chính đều phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm
III ĐÁNH GIÁ TÍNH HỢP LÝ CỦA CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRƯỜNG HỢP TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
Trong một số trường hợp nhất định, khi thuộc một trong tám trường hợp được quy định tại Điều 123 Luật Tố tụng hành chính 2015 thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính Tám trường hợp trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính
do pháp luật quy đinh rất hợp lý, là một trong những quy định rất quan trọng, phù hợp với thực tiễn và điều kiện xã hội cuả nước ta hiện nay Cụ thể:
Tòa án trả lại đơn khởi kiện khi người khởi kiện không có quyền khởi kiện là
rất hợp lý Bởi lẽ bản chất của việc khởi kiện vụ án hành chính là việc người khởi kiện bị xâm hại về quyền và lợi ích hợp pháp bởi các quyết định hành chính , hành
vi hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích cho mình Mà trường hợp người khởi kiện
Trang 10không bị xâm hại về quyền và lợi ích hợp pháp thì người khởi kiện không cần bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình Do đó Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện
Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng đầy đủ thì Tòa án sẽ
trả lại đơn khởi kiện trừ một số trường hợp là vì nếu thụ lý vụ án thì người khởi kiện sẽ không tự mình thực hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng, những người chưa đủ 18 tuổi không có người đại diện hợp pháp thì những người trong độ tuổi này chưa đủ khả năng nhận thức, cùng với đó nếu người khởi kiện đủ khả năng 18 tuổi nhưng không có năng lực hành vi dân sự, cụ thể là bị bệnh tâm thần, hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi sẽ không đảm bảo được quyền quyết định lựa chọn việc quyết định khởi kiện để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình điều này vi phạm nghiêm trọng quyền định đoạt và tự quyết định của người khởi kiện Ngoài ra có thể sẽ dẫn đến khi tham gia giải quyết vụ án hành chính gây ra nhiều khó khăn, khiến việc giải quyết vụ án không chính xác, không đúng theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó đảm bảo
Từ đó khiến người dân không tin tưởng vào pháp luật Chính vì vậy quy định trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp này là hợp lý
Trả lại đơn khởi kiện khi thiếu một trong các điều kiện khởi kiện vụ án hành chính là rất cần thiết, bởi các điều kiện là căn cứ để thụ lí vụ án hành chính Do
vậy khi điều kiện khởi kiện vụ án còn thiếu thì Tòa án sẽ không có căn cứ để thụ lý
vụ án, bên cạnh đó sẽ dẫn đến tình trạng tòa án phán quyết sai gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Đối với trường hợp trả lại đơn khi sự việc đã được giải quyết bằng một bản
án hoặc qyết định của tòa án cho thấy sự phù hợp với nguyên tắc pháp chế xã hội
chủ nghĩa, các “bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được
các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi người tôn trọng Cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành”
Đối với trường hợp Trả lại đơn khởi kiện khi vụ việc không thuộc thẩm
quyền giải quyết của tòa án để đảm bảo cho Tòa án giải quyết vụ việc chính xác,
khách quan Bởi lẽ nếu những vụ việc mà thuộc thẩm quyền của Tòa án thì Tòa án
sẽ không có khả năng, kinh nghiệm trong giải quyết vụ án Ngoài ra còn phù hợp với nhiệm vụ và quyền hạn do pháp luật quy định cho từng tòa án cụ thể