1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích các nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động

6 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 81 KB
File đính kèm Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động.rar (15 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và khi xác lập quan hệ lao động bằng hợp đồng lao động, các bên chủ thể phải tuân thủ các nguyên tắc trong giao kết hợp đồng lao động và các quy định khác theo quy định của pháp luật về

Trang 1

I-MỞ ĐẦU Hiện nay, nền kinh tế của nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa Vì vậy, các thành phần kinh tế không chỉ bó hẹp trong phạm vi kinh tế nhà nước

mà còn cả khu vực kinh tế tư nhân đang ngày càng khẳng định được vị thế của mình Và xuất phát từ thực tiễn của nền kinh tế nước ta hiện nay, quan hệ lao động được hình thành

từ nhiều hình thức như Hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc,… Trong đó, hợp đồng lao động là hình thức phổ biến nhất Và khi xác lập quan hệ lao động bằng hợp đồng lao động, các bên chủ thể phải tuân thủ các nguyên tắc trong giao kết hợp đồng lao động và các quy định khác theo quy định của pháp luật về lao động Vì vậy, em xin làm rõ hơn

trong bài tiểu luận này thông qua đề bài: “Phân tích các nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động?”.

II-NỘI DUNG 1.Khái quát về hợp đồng lao động và giao kết hợp đồng lao động

1.1 Định nghĩa hợp đồng lao động

Có nhiều quan điểm về định nghĩa hợp đồng lao động như ở Pháp, khái niệm hợp

đồng lao động được ghi nhận trong án lệ với quy định như sau: “hợp đồng lao động là sự thỏa thuận, theo đó một người cam kết tiến hành một hoạt động theo sự chỉ đạo của người khác, phụ thuộc vào người đó và được trả công” Còn theo quy định của pháp luật

lao động Việt Nam, cụ thể được quy định tại khoản 1 điều 13 BLLĐ 2019 thì hợp đồng

lao động được hiểu như sau: Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ

của mỗi bên trong quan hệ lao động

1.2 Khái niệm giao kết hợp đồng lao động

Giao kết hợp đồng lao động chính là hình thức pháp lí bày tỏ ý chí nhằm đi đến việc

xác lập quan hệ lao động Sự bày tỏ ý chí ở đây phải là sự bày tỏ ý chí của các bên chủ thể phù hợp với quy định của pháp luật để nhằm thống nhất ý chí với nhau để có thể đạt được mục đích cuối cùng là xác lập quan hệ lao động

Như vậy, để có được một Hợp đồng lao động hoàn chỉnh thì giao kết hợp đồng lao động là một giai đoạn bắt buộc, thông qua đó các bên sẽ đàm phán, thỏa thuận với nhau

về các điều khoản được quy định trong hợp đồng lao động theo những trình tự, thủ tục nhất định để đi đến sự thống nhất ý chí về những nội dung nhất định và nó sẽ có giá trị ràng buộc đối với các bên Chính vì thế mà nó sẽ quyết định đến quyền và nghĩa vụ của các bên Nếu thực hiện tốt giai đoạn này thì sẽ đảm bảo được tốt nhất quyền lợi của mỗi

Trang 2

bên cũng như hạn chế được tối đa những tranh chấp xảy ra trong quan hệ lao động Có thể nói, giao kết hợp đồng lao động là cơ sở để hình thành nên quan hệ lao động

2 Phân tích các nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động

Giao kết hợp đồng lao động là cơ sở để hình thành nên quan hệ lao động, nó là một

yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc quan hệ lao động có được hình thành trên cơ sở bền vững, hiểu biết, tin cậy lẫn nhau hay không, quyền và lợi ích của các bên có được đảm bảo hay không Vì thế, khi thực hiện việc giao kết hợp đồng lao động, cả người sử dụng lao động và người lao động đều phải tuân theo các nguyên tắc trong giao kết hợp đồng lao động được quy định theo pháp luật Cụ thể, tại điều 15 BLLĐ 2019 quy định về các

nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “1 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực 2 Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội” Để làm rõ nội dung và ý nghĩa của các nguyên

tắc trong giao kết hợp đồng lao động Tôi xin được phân tích như sau:

2.1 Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng trong giao kết hợp đồng

2.1.1 Cơ sở hình thành nguyên tắc

Thứ nhất, quan hệ lao động là một dạng đặc thù của quan hệ dân sự, vì thế mà nó

mang bản chất cơ bản của quan hệ dân sự là tự nguyện, bình đẳng, thỏa thuận Đây là điểm đặc thù để phân biệt với quan hệ hành chính hay quan hệ hình sự vốn không mang yếu tố bình đẳng mà thường một bên trong các quan hệ này là nhà nước Vì thế mà quan

hệ lao động cũng sẽ phải tuân theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng thể hiện ở các phương diện khác nhau, giữa người lao động và người sử dụng lao động luôn thể hiện họ bình đẳng với nhau khi giao kết hợp đồng lao động với nhau

Thứ hai, xuất phát từ quyền lao động của công dân được quy định trong Hiến pháp

và mọi người có quyền bình đẳng với nhau trước pháp luật Cụ thể, theo quy định tại

khoản 1 điều 32 Hiến pháp 2013: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc” và khoản 1 điều 16 Hiến pháp 2013: “Mọi người đều bình đẳng

trước pháp luật Theo đó thì cả người lao động và người sử dụng lao động phải thể hiện được ý chí tự nguyện của mình cũng như bình đẳng với nhau

Thứ ba, sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, nó gắn liền với bản thân mỗi người, vì thế mà không ai có quyền định đoạt tài sản đó trừ họ, hay nói cách khác, họ có quyền tự nguyện giao kết hợp đồng lao động với ai và các thỏa thuận liên quan đến hợp đồng lao động Hơn nữa, khi giao kết hợp đồng lao động thì chính người lao động và người sử dụng lao động sẽ được hưởng các quyền và lợi ích cũng như tự thực hiện các nghĩa vụ mà mình đã giao kết

Trang 3

2.1.2 Nội dung nguyên tắc

Nguyên tắc tự nguyện biểu hiện về mặt chủ quan của người tham gia giao kết hợp đồng lao động Điều này được hiểu rằng, khi giao kết hợp đồng lao động, các chủ thể hoàn toàn tự do về mặt ý chí và tự nguyện về mặt lí trí, không ai có quyền dùng các thủ đoạn khác nhau như cưỡng bức, dụ dỗ, lừa gạt các bên giao kết hợp đồng trái với ý muốn của họ Ví dụ như đối với người lao động, họ có quyền tự do ý chí về việc quyết định xem họ sẽ làm ở đâu, giao kết hợp đồng với chủ thể nào và không ai có quyền xâm phạm đến quyền tự do ý chí đó của họ Hay đối với người sử dụng lao động, họ cũng có quyền lựa chọn sẽ giao kết hợp đồng với người lao động nào mà họ cho là phù hợp nhất

Ngay cả khi giao kết hợp đồng lao động, các bên cũng được tự nguyện trong việc thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng vì nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa

vụ của họ, hai bên sẽ không bị bất cứ ai tác động đến việc thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng, nếu như vì bị tác động nên họ giao kết hợp đồng không theo ý chí tự nguyện của mình thì hợp đồng lao động đó có thể sẽ bị vô hiệu Ngoài ra, nguyên tắc tự nguyện còn mang tính tương đối bên cạnh tính tuyệt đối nêu trên, thể hiện ở việc người lao động

từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi khi giao kết hợp đồng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện bởi họ là đối tượng có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ

Nguyên tắc bình đẳng thể hiện ở chỗ các chủ thể giao kết hợp đồng lao động có sự tương đồng về vị trí, tư cách, địa vị pháp lí và phương thức biểu đạt trong quan hệ giao kết hợp đồng Tuy nhiên, trên thực tế, người sử dụng lao động luôn là bên mạnh hơn, còn người sử dụng lao động là người yếu thế hơn do họ bị phụ thuộc vào người sử dụng lao động Vì thế mà khi giao kết hợp đồng phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, khi đó việc đàm phán thỏa thuận cũng sẽ bình đẳng và quyền lợi của các bên cũng bình đẳng

2.1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc

Đối với nguyên tắc tự nguyện, đây là một trong những yếu tố cốt lõi, quyết định đến

bản chất của quan hệ lao động Khi giao kết hợp đồng mà đảm bảo được yếu tố tự nguyện, tức là các bên được tự mình quyết định việc tham gia hay không tham gia vào một quan hệ lao động, quyết định đến các quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động đó Từ đó sẽ góp phần làm giảm tình trạnh tranh chấp về quyền và lợi ích trong quan hệ lao động cũng như giúp việc thực hiện hợp đồng được hiệu quả hơn

Đối với nguyên tắc bình đẳng, khi đảm bảo được nguyên tắc này trong giao kết hợp đồng lao động nó sẽ khiến cho việc giao kết được khách quan hơn, không còn tình trạng

“mạnh ức yếu” từ đó làm sai lệch đi bản chất của quan hệ lao động Khi các bên bình đẳng với nhau thì việc đàm phán hay thỏa thuận sẽ diễn ra dễ dàng hơn, mỗi bên có thể tự bảo vệ được quyền lợi của mình

Trang 4

2.2 Nguyên tắc thiện chí, hợp tác và trung thực

2.2.1 Cơ sở hình thành nguyên tắc

Khác với quan hệ dân sự thông thường, kinh doanh thương mại, quan hệ lao đồng

thường diễn ra trong một khoảng thời gian dài, các chủ thể có mối quan hệ mật thiết, gắn

bó, khác với sự mua đứt bán đoạn trong kinh doanh thương mại Vì thế mà từ khi giao kết hợp đồng và kể cả khi thực hiện hợp đồng, các bên cần thể hiện sự thiện chí, hợp tác, trung thực của mình Bởi khi có sự thiện chí hợp tác thì mới có thể thực hiện được việc giao kết hợp đồng cũng như khi thực hiện hợp đồng

2.2.2 Nội dung nguyên tắc

Thiện chí, hợp tác và trung thực được hiểu là sự lắng nghe, thông cảm, không lừa

dối, giúp đỡ lẫn nhau và phải xem xét đến lợi ích của nhau khi giao kết hợp đồng lao động Như vậy, quyền và lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động luôn đối lập với nhau, và để có thể hài hòa được sự đối lập về mặt lợi ích đó thì nhất thiết cần đến thái độ thiện chí và hợp tác giữa các bên Ví dụ đối với người sử dụng, khi giao kết hợp đồng lao động phải cho người lao động biết được rõ về công việc, những khó khăn trong công việc và từ đó đề ra những ưu đãi nhất định cho người lao động, dù người sử dụng không muốn trả lương cao cho người lao động vì nó ảnh hưởng đến kinh tế của mình nhưng họ phải xem xét đến quyền lợi chính đáng của người lao động, mức lương trả cho người lao động không những không được thấp hơn mức lương tối thiểu mà còn phải tính đến hoàn cảnh sống của người lao động Ngược lại, đối với người lao động thì khi đòi hỏi những quyền lợi của mình cũng cần phải xem xét đến yếu tố lợi ích của người sử dụng lao động như khả năng làm việc của mình có thể đem lại những gì cho người sử dụng lao động

2.2.3 Ý nghĩa

Nguyên tắc này đã khuyến khích các bên đi đến sự thành công trong giao kết hợp

đồng, bởi lẽ hợp đồng lao động chỉ được kí kết khi các bên tham gia đồng ý, hợp đồng phải mang ý chí của các bên chủ thể, nó không thể xuất phát từ một bên chủ thể được Vì thế mà khi các bên thiện chí hợp tác với nhau thì việc giao kết hợp đồng mới có thể được thực hiện một cách thuận lợi Ngoài ra, khi thực hiện đúng nguyên tắc này, các bên có thể hiểu rõ hơn về nhau cũng như về công việc sẽ được kí kết, từ đó sẽ giúp cho các bên dễ dàng quyết định và thực hiện hợp đồng lao động trong tương lai

2.3 Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa

ước lao động tập thể và đạo đức xã hội

2.3.1 Cơ sở hình thành nguyên tắc

Trang 5

Trong quá trình giao kết hợp đồng lao động, vì những lí do nhất định mà sẽ có sự

xâm phạm về quyền và lợi ích giữa các bên, đặc biệt là người lao động Mặc dù theo nguyên tắc bình đẳng thì cả người sử dụng lao động và người lao động đều bình đẳng về địa vị pháp lí, kể cả trong trường hợp mà người sử dụng lao động khi kí kết hợp đồng lao động, người sử dụng lao động thường đưa ra các bản hợp đồng sẵn có nhưng nó vẫn thể hiện sự bình đẳng bởi người lao động mới là người quyết định về việc có chấp nhận bản hợp đồng sẵn có đó hay không Tuy nhiên, trên thực tế thì vì lí do như người lao động sẽ bất chấp kí vì họ không còn sự lựa chọn nào khác do nhu cầu cấp bách về việc làm Vì thế mà người sử dụng lao động có thể sẽ lợi dụng điều đó để xâm phạm đến quyền lợi của người lao động vốn bị coi là “yếu thế” hơn Từ đó mà cần phải có những giới hạn nhất định để kìm chế lại sự tự do quá mức của người sử dụng lao động xâm phạm đến lợi ích của người lao động

2.3.2 Nội dung nguyên tắc

Mặc dù hợp đồng lao động là sự tự do thỏa thuận giữa người lao động và người sử

dụng lao động, nhưng sự tự do này là có giới hạn Giới hạn đó là chuẩn mực tối thiểu về quyền như lương tối thiểu, thời giờ nghỉ ngơi tối thiểu, mức bồi thường tối thiểu dành cho người lao động khi họ bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tối đa về nghĩa vụ như thời giờ làm việc tối đa,… Ngoài sự giới hạn do pháp luật lao động quy định thì sự giới hạn này còn được quy định trong thỏa ước lao động tập thể Đây là văn bản thỏa thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động mà các bên đã đạt được thông qua lao động tập thể Nội dung của thỏa ước này phải phù hợp với quy định của pháp luật và phải có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật Vì thế, để đảm bảo quyền lợi của người lao động là bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng lao động, khi giao kết hợp đồng lao động thì các bên phải thỏa thuận sao cho phù hợp với thỏa ước lao động tập thể này Ngoài ra, sự tự do thỏa thuận này còn phải phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội, họ không thể cùng nhau thỏa thuận những việc

mà trái với chuẩn mực đạo đức xã hội được

2.3.3 Ý nghĩa

Nguyên tắc này đặt ra để bảo vệ và đảm bảo rằng mặc dù được thỏa thuận tự nguyện nhưng sẽ được đặt trong một “khung” nhất định và sự thỏa thuận phải phù hợp với “khung chuẩn” đó Điều này sẽ giúp bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người lao động và

hỗ trợ đắc lực cho cam kết của các bên nhằm hiện thực hóa nó trên thực tế Có thể ví dụ

về thời gian làm việc tối đa của người lao động được quy định cụ thể trong BLLĐ Theo quy định tại khoản 1 điều 105 BLLĐ 2019 thì thời giờ làm việc bình thường không quá

08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong một tuần phù hợp với tính chất của từng loại công việc khác nhau Như đối với các công việc đặc biệt nặng nhọc, nguy hiểm thì thời giờ

Trang 6

làm việc bình thường không quá 06 giờ trong 01 ngày Chính các quy định này đã giới hạn thời giờ làm việc bình thường tối đa và các bên phải thỏa thuận dưới mức tối đa đó Chính điều này giúp đảm bảo được thời gian làm việc hợp lí cho người lao động, từ đó sức khỏe của người lao động sẽ được bảo đảm hơn

Như vậy, việc pháp luật quy định các nguyên tắc khi giao kết hợp đồng lao động lag hoàn toàn hợp lý và hợp pháp Việc thực hiện, tuận thủ các nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên, đặc biệt là người lao động

Ngày đăng: 24/10/2021, 16:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w