Để bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự một cách toàn diện nhất trước tòa án, pháp luật đã quy định rất chi tiết và chặt chẽ các thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại tòa án các cấp. Khởi kiện là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ tố tụng dân sự, tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án dân sự khi có đơn khởi kiện của các chủ thể. Tuy nhiên không phải lúc nào đơn khởi kiện cũng đáp ứng đầy đủ các điều kiện khởi kiện. Chính vì vậy, em xin chọn đề tài “Phân tích, đánh giá quy định của BLTTDS 2015 về Trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự” cho bài tập học kỳ. Trong phạm vi bài này, em sẽ đi sâu tìm hiểu các quy định về việc trả lại đơn khởi kiện của tòa án, cũng như nhận định về những vướng mắc còn tồn đọng trong thời gian qua để tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện bộ luật tố tụng dân sự.
Trang 1MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 1
II NỘI DUNG 1
1 Một số vấn đề lý luận về trả lại đơn khởi kiện 1
1.1 Khái niệm trả lại đơn khởi kiện 1
1.2 Căn cứ trả lại đơn khởi kiện 1
2 Nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về trả lại đơn khởi kiện 2 3 Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trả lại đơn khởi kiện 8
4 Một số kiến nghị nhằm đảm bảo việc thực hiện pháp luật về trả lại đơn khởi kiện 10
III KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 2I MỞ ĐẦU
Để bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự một cách toàn diện nhất trước tòa án, pháp luật đã quy định rất chi tiết và chặt chẽ các thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại tòa án các cấp Khởi kiện là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ tố tụng dân sự, tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án dân sự khi có đơn khởi kiện của các chủ thể Tuy nhiên không phải lúc nào đơn khởi kiện cũng đáp ứng
đầy đủ các điều kiện khởi kiện Chính vì vậy, em xin chọn đề tài “Phân tích, đánh
giá quy định của BLTTDS 2015 về Trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự” cho bài tập
học kỳ Trong phạm vi bài này, em sẽ đi sâu tìm hiểu các quy định về việc trả lại đơn khởi kiện của tòa án, cũng như nhận định về những vướng mắc còn tồn đọng trong thời gian qua để tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện bộ luật tố tụng dân sự
1 Một số vấn đề lý luận về trả lại đơn khởi kiện
1.1 Khái niệm trả lại đơn khởi kiện
Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật của tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay người khác.1
Từ đó, có thể hiểu trả lại đơn khởi kiện là việc tòa án sau khi xem xét thụ lý vụ
án, đã trả lại đơn khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo cho người khởi kiện 1.2 Căn cứ trả lại đơn khởi kiện
Căn cứ theo Điều 192, Bộ luật tố tụng dân sự, các trường hợp thẩm phán trả lại đơn khởi kiện bao gồm 7 căn cứ trả lại đơn khởi kiện:
-Chủ thể khởi kiện không có quyền, không có năng lực hành vi tố tụng dân sự -Chưa đủ điều kiện khởi kiện
-Khởi kiện không đúng thẩm quyền
-Sự việc đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền
-Không nộp tạm ứng án phí
1 Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND, Tr 241.
Trang 3-Không sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu.
-Rút đơn khởi kiện
Chi tiết về 7 căn cứ trả lại đơn khởi kiện được quy định trong Nghị quyết 04/2017/NQ-HDTP Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192
Bộ luật tố tụng dân sự về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án
2 Nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về trả lại đơn khởi kiện
Sau khi nhận đơn khởi kiện, nếu xét thấy không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì tòa án trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp2
Có 7 trường hợp được quy định và giải thích chi tiết tại khoản 1, Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết 04/2017/NQ-HDTP Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án Cụ thể:
-Người khởi kiện không có quyền khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại
Điều 186, Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Ví dụ: Tổ chức X (không
phải là tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010) cho rằng Công
ty Y bán hàng hóa không đúng tiêu chuẩn, công dụng như đã công bố, quảng cáo dẫn đến việc chị A mua sử dụng bị thiệt hại nên Tổ chức X làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty Y bồi thường thiệt hại cho chị A Trường hợp này, Tổ chức X không có quyền khởi kiện vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 3 Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
+Yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân không cần xác minh, thu thập chứng cứ cũng đủ căn cứ kết luận là không có việc quyền và lợi ích hợp pháp
2 Khoản 2 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Trang 4của họ bị xâm phạm hoặc cần bảo vệ Ví dụ: Cụ A chết năm 2010, để lại di sản là
căn nhà nhưng không có di chúc và không có thỏa thuận khác Cụ A có con là ông
B (còn sống, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015) Trường hợp này, theo quy định của pháp luật về thừa kế thì anh C là con của ông B không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của cụ A theo pháp luật
-Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật: Đây trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan,
tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó
Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều
202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
-Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại
-Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng
Trang 5-Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: là trường hợp mà theo quy định của pháp luật thì các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác hoặc đang do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác giải quyết
-Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này
-Người khởi kiện rút đơn khởi kiện
Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu Đây là quy định mới giúp cho các đương sự thực hiện quyền khiếu nại khi họ bị tòa án trả lại đơn khởi kiện không đúng Toàn bộ khó khăn vướng mắc do thiếu cơ sở pháp lý để Viện kiểm sát nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án đã được tháo gỡ
Theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: “2 Khi trả lại đơn khởi
kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.”
Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát hoàn toàn có thể nghiên cứu hồ sơ lưu tại Tòa án để xem xét, đánh giá tính hợp pháp, có căn cứ của việc Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện Chỉ có như vậy, Viện kiểm sát mới thực hiện được một cách hiệu quả và thực chất quyền năng kiến nghị của mình để hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án được thẩm định, kiểm tra lại một lần nữa, bảo đảm tính minh bạch,
rõ ràng
Theo Điều 194 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì người khởi kiện có quyền khiếu nại với trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày họ nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo do tòa án trả lại Trong thời hạn 10 ngày làm việc,
Trang 6kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị, chánh án tòa án trên một cấp trực tiếp phải ra một trong các quyết định sau:
+ Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp;
+ Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý
vụ án
Trường hợp có căn cứ xác định quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp quy định tại khoản 6 Điều này có vi phạm pháp luật thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao nếu quyết định
bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc với Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao nếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao
Theo khoản 3, Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì đương sự có quyền nộp lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau:
-Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự
-Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại -Đã có đủ điều kiện khởi kiện
-Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật: là các trường hợp trong Bộ luật tố tụng dân sự chưa quy định nhưng đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc sau khi Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành mới được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau đó hoặc trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Trang 7Ví dụ: Trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ thành theo quy định tại Điều 54 của Luật Hôn nhân và Gia đình và đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận về việc hòa giải đoàn tụ thành giữa các đương sự Trong thời gian đoàn tụ, các đương sự lại phát sinh mâu thuẫn và có đơn xin ly hôn yêu cầu Tòa án giải quyết, thì Tòa án căn cứ vào Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình để thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung
So với Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011, Bộ luật Tố tụng Dân
sự năm 2015 bổ sung thêm 2 trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện: Không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều
193 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Người khởi kiện rút đơn khởi kiện Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 cũng đã giải thích rõ như thế nào là trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện Về thủ tục trả lại đơn: Khoản 2 Điều 192
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung thủ tục sao lại và lưu tại Tòa án đơn khởi kiện và các tài liệu liên quan khi trả lại đơn khởi kiện để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu Ngoài ra, Điều 194 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng nâng thời gian người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện lên 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo trả lại đơn khởi kiện
Khoản 2 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 quy
định “Khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi
kiện, Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp” Văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện trên thực tế
chính là Thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án
Tuy nhiên, theo quy định này, hoạt động kiểm sát Thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án chỉ dừng lại ở mức độ kiểm tra về hình thức của hoạt động trả lại đơn, tức là kiểm tra xem Tòa án có ra văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện không? Còn thực chất, với cách quy định này, Viện kiểm sát không có cơ sở pháp
lý để kiểm tra xem lý do trả lại đơn được nêu trong văn bản của Tòa án có đúng căn cứ, quy định pháp luật không? Bởi vì, thực tế khi Tòa án trả lại đơn khởi kiện
Trang 8thì cũng trả lại toàn bộ tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện Muốn biết được lý do trả lại đơn có đúng quy định hay không, Kiểm sát viên phải nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện Nhưng khi nhận được Thông báo trả lại đơn khởi kiện, Kiểm sát viên dẫu có muốn cũng không thể nghiên cứu được vì tòa án không còn lưu giữ những tài liệu đó
Vì vậy, không thể đánh giá được, hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án có chính xác, có căn cứ pháp luật hay không Do đó, phải nhìn nhận một cách khách quan là trước khi Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, việc kiểm sát hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án vẫn chỉ được thực hiện một cách hình thức
Khắc phục được bất cập lớn nhất của Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung 2011, khoản 2 Điều 194 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 đã bổ
sung thêm thủ tục mới: “Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại
cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu”.
Theo quy định này, Thẩm phán buộc phải sao chụp và lưu tại Tòa án toàn bộ đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đã trả lại cho người khởi kiện Như đã phân tích ở trên, toàn bộ khó khăn vướng mắc do thiếu cơ sở pháp lý để Viện kiểm sát nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án đã được tháo gỡ Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát hoàn toàn có thể nghiên cứu hồ
sơ lưu tại Tòa án để xem xét, đánh giá tính hợp pháp, có căn cứ của việc Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện Chỉ có như vậy, Viện kiểm sát mới thực hiện được một cách hiệu quả và thực chất quyền năng kiến nghị của mình để hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án được thẩm định, kiểm tra lại một lần nữa, bảo đảm tính minh bạch, rõ ràng
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 mở ra hành lang pháp lý để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát Trên cơ sở quy định của pháp luật, quy chế nghiệp vụ của ngành kiểm sát, nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động kiểm sát trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, trên thực tế, Viện kiểm sát một số
Trang 9địa phương đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp tạm thời để triển khai thực hiện
có hiệu quả hoạt động này trong thời gian chờ hướng dẫn của Viện kiểm sát cấp trên Lãnh đạo đơn vị đã đề ra một số biện pháp quản lý, theo dõi chặt chẽ hơn hoạt động kiểm sát trả lại đơn khởi kiện của Tòa án
Theo đó, sổ theo dõi được điều chỉnh lại các cột mục, nội dung ghi chép cho phù hợp với hoạt động này, thể hiện việc lãnh đạo phân công từng Kiểm sát viên thực hiện và cập nhật kết quả kiểm sát hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án qua các giai đoạn (nếu có) Nếu qua việc kiểm sát thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, phát hiện có dấu hiệu chưa chính xác, vi phạm thì Kiểm sát viên được phân công đề xuất lãnh đạo có công văn rút hồ sơ lưu tại Tòa để nghiên cứu, xem xét kiến nghị nếu đủ căn cứ Toàn bộ hoạt động này phải được lập thành hồ sơ, đưa vào lưu trữ đúng quy định (có đầy đủ tài liệu, phiếu kiểm sát, đề xuất của Kiểm sát viên, ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo để phân rõ trách nhiệm) và được cập nhật kết quả
cụ thể vào sổ theo dõi Bước đầu đưa vào thực hiện, quy trình nghiệp vụ này đã phần nào đáp ứng được yêu cầu công tác, giúp triển khai hiệu quả Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
3 Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trả lại đơn khởi kiện
Thứ nhất, theo quy định tại khoản 2 Điều 192, khi trả lại đơn khởi kiện và các
tài liệu kèm theo cho người khởi kiện, Tòa án phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, văn bản trả lại đơn khởi kiện được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp biết Quy định này mặc dù đã có sự tiến bộ nhưng vẫn không thật sự chặt chẽ Ngoài đơn khởi kiện, văn bản khởi kiện thì Viện kiểm sát không nhận được bất kỳ tài liệu nào khác
Mặt khác, Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 (Thông tư liên tịch số 02/2016) của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa
án nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì trong những trường hợp cần xem xét kiến nghị hoặc khi nhận được thông báo mở phiên
Trang 10họp giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, VKS sẽ gửi văn bản yêu cầu Tòa án cho sao chụp một số hoặc toàn bộ bản sao đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ, chứ không phải trong tất cả các trường hợp trả lại đơn Tòa án cũng đều sao gửi cho VKS đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo
Quy định như vậy là chưa đầy đủ và làm khó cho công tác kiểm sát, bởi lẽ, nếu chỉ kiểm sát thông qua thông báo trả lại đơn khởi kiện, VKS sẽ không được trực tiếp xem đơn khởi kiện cũng như tài liệu, chứng cứ kèm theo thì quá trình kiểm sát khó phát hiện được vi phạm, thiếu sót trong việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án
Thứ hai, về thời hạn gửi văn bản Thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ quy định khi trả lại đơn khởi kiện, Thẩm phán phải gửi cho VKS cùng cấp mà không quy định cụ thể thời hạn là bao lâu Việc không quy định thời hạn gửi Thông báo nhưng lại quy định về thời hạn kiến nghị của VKS chỉ được thực hiện trong thời hạn 05 ngày hoặc 10 ngày sẽ rất khó xác định; bởi lẽ, trên thực tế phương thức chuyển giao tài liệu, văn bản giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trên cùng địa bàn còn có nhiều bất cập, nay lại là các văn bản của cấp trên thì việc xác định chính xác ngày VKS nhận được để thực hiện quyền kiểm sát là chưa hợp lý
Thứ ba, về việc tham gia phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 194 BLTTDS năm 2015 thì phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị phải có sự tham gia của đại diện VKS cùng cấp
Còn theo quy định tại Điều 26 Thông tư liên tịch số 02/2016 nêu trên thì “Trường
hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp, trừ trường hợp Viện kiểm sát kiến nghị”.
Quy định này cũng tương tự như đối với các phiên họp, phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm mà không có kháng nghị của VKS thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử Điều này thực sự là chưa hợp lý và hiệu quả, đặc biệt trong xu thế thời đại ngày nay, quyền con người đang là mối quan tâm của toàn cầu, việc tham gia của VKS sẽ góp phần làm hạn chế những vi phạm, sai sót của Tòa án trong việc xử lý đơn khởi kiện nói riêng và trong cả quá trình giải quyết vụ án nói chung