I. Khaùi nieäm chung. Daàu khí laø taøi nguyeân thieân nhieân khoâng taùi taïo, nhucaàu tieâu thuï ngaøy caøng nhieàu vaø chöa theå thay theábaèng daïng nhieân lieäu khaùc. Naêm 2003 theá giôùi tieâu thuï treân 4 tyû taán daàu rieângMyõ laø 1 tyû taán, trong khi tröõ löôïng ngaøy caøng caïnkieät. Khoâng coøn nhöõng moû lôùn naèm noâng treân ñaát lieàn vaødeã khai thaùc nhö ôû nhöõng thaäp nieân ñaàu theá kyû 20. Hieän nay coâng taùc tìm kieám vaø khai thaùc ñöôïc trieånkhai ra caùc vuøng nöôùc saâu, xa bôø, treân 3 – 4 ngaønmeùt trong loøng ñaát vaø saâu hôn,
Trang 1Quản lý mỏ
(Reservoir management).
DR NGÔ THƯỜNG SAN
Trang 2I Khái niệm chung.
cầu tiêu thụ ngày càng nhiều và chưa thể thay thếbằng dạng nhiên liệu khác
Mỹ là 1 tỷ tấn, trong khi trữ lượng ngày càng cạn
kiệt
dễ khai thác như ở những thập niên đầu thế kỷ 20
khai ra các vùng nước sâu, xa bờ, trên 3 – 4 ngàn
mét trong lòng đất và sâu hơn,
Trang 3 Mỏ thường có trữ lượng nhỏ, đầu tư lớn, giá thành
khai thác cao, trong khi giá dầu luôn biến động là
một rủi ro lớn, bất kỳ lúc nào cũng có thể tạo cuộc khủng hoảng về năng lượng
triển nhanh những mỏ cận biên đó
ảnh hưởng đến sản lượng, sự thu hồi dầu, tuổi thọ
mỏ,
lý, thiếu hiểu biết về đặc thù và thuộc tính của tầng chứa, thiếu sự theo dõi quản lý trong quá trình khai thác
Trang 4 Ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam từ
khi bắt đầu khai thác những tấn dầu đầu tiên đã trở thành ngành kinh tế quan trọng và chiến lược của đất nước,
lương thực (phân bón) và đặc biệt về nhiên liệu,
ít ra đến giữa thế kỷ 21, khi chưa có nguồn nào khác thay thế hiệu quả và an toàn về môi sinh.
Dầu khí là nguồn tài nguyên thiên nhiên
không tái tạo, trữ lượng ở Việt Nam không lớn, theo dự báo chỉ đủ đảm bảo cho mức sản lượng trần cỡ 35 tr.t/ năm dầu quy đổi.
Trang 5 Việc phát hiện và xây dựng được hệ phương pháp hợp lý, hiệu quả để khai thác dầu có thu hồi tăng cường trong đá móng nứt nẻ là một thành công và đóng góp lớn của ngành dầu khí Việt Nam về thực tiễn và lý luận cho khoa học
địa chất dầu khí thế giới Tên mỏ “Bạch Hổ” đã
đi vào các văn liệu thế giới về dầu khí.
Cấu trúc các mỏ dầu, khí và khí-condensat
ở Việt Nam rất đa dạng, nhiều vỉa; đá chứa có thành phần khác nhau gồm lục nguyên, đá vôi, móng granitoid nứt nẻ, đá phun trào basalt- andesit, kể cả diapir sét.
Trang 6 Hình thái gồm nhiều thể loại :
dạng vòm và địa hình nhô của móng,
nếp lồi,
uốn nếp-đứt gãy,
các khối xây ám tiêu (reef build-up),
thấu kính, thạch học,
áp gối, vát nhọn địa tầng, v.v
Trang 8 Vì thế để có thể khai thác một mỏ dầu khí có hiệu quả cần hiểu biết cách quản lý mỏ, đó là phương pháp, cách tiếp cận mới để
phát triển và khai thác mỏ nói chung một cách tối ưu và có lợi nhuận cao
Trang 9 Ngành công nghiệp dầu khí nói chung đã trải qua một giai đoạn khai thác ban đầu không khống chế sản
lượng,
yêu cầu của Công ty là phải tối đa hóa lợi nhuận trên các cơ sở, phương tiện khai thác hiện hửu
đoạn của những thách thức và phải chấp nhận thách thức thực tế là một lượng lớn dầu khí sẽ bị giữ lại dưới lòng đất nếu không có một giải pháp kỹ thuật khai
thác tăng cường nào được triển khai để cải thiện thực trạng khai thác hiện thời
Trang 10 Theo D.H.Lehman (Exxon Co.USA) từ khoảng 482 tỷ thùng (76,6 Gm3) dầu tại chổ OIIP phát hiện tại
Mỹ thì chỉ có, 158 tỹ thùng ( 25,1 Gm3) được phát hiện bằng các công nghệ và điều kiện kinh tế bình
thường hiện có
lại đều phải được khai thác bằng các phương pháp
hiệu quả hơn như khoan đan dày bổ sung, và các
phương pháp khai thác tăng cường (EOR)
hiểu biết tổng hợp về mỏ và » hệ thống tầng chứa
(Reservoir systems) « cũng như sự hợp tác chặt chẻ giữa các nhà địa chất khai thác và công nghệ mỏ
Trang 11 Xu thế chung hiện nay trong ngành công nghiệp dầu khí là tập trung các nổ lực vào việc mở rộng và phát
triển các mỏ hiện có hơn là tìm kiếm thêm các mỏ mới để duy trì trữ lượng
khoan đan dày và mở rộng, và nếu không kể các mỏ
ngoài biển thì con số đó khoảng 80%
hiện mới càng ngày càng kém đi
dài, họ tập trung vào những mỏ đang khai thác hoặc kề đó với mục tiêu là kéo dài ranh giới mỏ, hoặc tìm thêm các tầng sản phẩm mới, hoặc áp dụng các giải pháp thu hồi thứ cấp tăng thêm trữ lượng thu hồi
Trang 12 Trước năm 1970, nhiều người như Essley cho rằng
công tác quản lý mỏ là nhiệm vụ của khoa học công nghệ mỏ
mềm sử lý là cơ bản
quản lý mỏ được xem là hệ thống tích hợp của khoa học địa chất và công nghệ mỏ, trong đó đặc tính tầng chứa và mô phỏng mỏ được xem là đặc biệt quan
trọng,
phải được mở rộng ra nhiều lĩnh vực kỹ thuật, công
nghệ, kinh tế, và môi trường quản lý, kể cả quản lý
nhân lực và an toàn, bảo vệ môi trường
Trang 13 Hoạt động quản lý mỏ hiện đại đòi hỏi phải xây dựng những nhóm làm việc phối hợp gắn bó giữa các nhà địa chất, địa vật lý, các kỹ sư công nghệ, chuyên gia kinh tế
trong kinh doanh ở ngành công nghiệp dầu khí đòi hỏi cả người điều hành lẫn cán bộ kỹ thuật phải hợp sức để tìm và phát triển những mỏ tối ưu, hiệu quả hơn với chi phí thấp nhất
Trang 14 Sự thành công gia tăng trữ lượng bằng các biện pháp
kể trên rất phụ thuộc vào:
khai thác mỏ
Trang 15• Vì thế quản lý mỏ là quan điểm, là chiến lược, sự
hoạch định chương trình phát triển, nghệ thuật tổ
chức điều hành đa ngành, phân tích rủi ro, và áp
dụng những biện pháp và tiến bộ khoa học công nghệ để khai thác mỏ dầu khí tối ưu, hiệu quả và kinh tế
nhất, kéo dài hợp lý đời mỏ.
• Quản lý mỏ là quá trình động, là chuổi các giải pháp
kinh tế – công nghệ bắt đầu từ khi thẩm lượng và chỉ kết thúc khi huỷ mỏ
Trang 16II Mục tiêu của hoạt động quản lý mỏ.
Mục tiêu của hoạt động quản lý mỏ là :
tối đa hoá giá trị kinh tế của mỏ,
kéo dài thời gian hoạt động của mỏ (đời mỏ) bằng các giải pháp kỹ thuật khai thác tối ưu,
tăng sự thu hồi dầu,
nhưng đồng thời giãm thiểu sự đầu tư kể cả rủi ro trong đầu tư, giảm thiểu chi phí điều hành,
kết quả cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận, và thu hồi dầu có kinh tế.
Trang 17Quản lý mỏ dầu khí gần đây trở thành cấp thiết khi:
do khai thác,
mới,
hoạch phát triển mỏ một cách tổng hợp và khoa học Một sự hiểu biết cặn kẽ trong quá trình quản lý mỏ là rất quan trọng để phát triển và khai thác tối đa trữ
lượng dầu khí, cuối cùng là hiệu quả, lợi nhuận
Trang 18Có nhiều quan điểm trong quản lý mỏ dầu khí, nhưng chung quy cần phải trả lời :
Nhà điều hành cần phải trả lời :
condensat, riêng lẻ hoặc hổn hợp ?
thác được?
thế nào ?
Trang 19• III Quản lý mỏ là một bộ phận của công tác quản
lý dầu khí (Petroleum management).
Quản lý mỏ là một bộ phận của công tác quản lý dầu
khí (Petroleum management) nói chung ở cấp vi mô
của một công ty dầu khí,
(Macroeconomics)
các công ty đều xuất phát từ quyền lợi của công ty,
nhưng có khi quá trình khai thác (Quản lý mỏ) không
phù hợp với chính sách của nước chủ nhà,
pháp thỏa hiệp quyền lợi giữa các đối tác, liên quan
đến kinh tế vĩ mô
Trang 20• Những mục tiêu chính của nước chủ nhà trong quản
lý dầu khí :
họat động thăm dò khai thác dầu khí
mỏ mới và sự suy giảm các mỏ đang khai thác,
làm giảm sự quyết tâm của nhà đầu tư,
phương thông qua đào tạo, chuyển giao công nghệ, và sự tham gia điều hành hoạt động dầu khí
Trang 21 Sử dụng tối đa lao động địa phương, vật tư và thiết bị tại chổ,
qua sự chia sẽ đầu tư cùng các công ty nước ngoài
bẩy dầu khí
• Những mục tiêu chính và có tính phổ biến của các
công ty dầu trong hoạt động thăm dò và khai thác
dầu khí là :
yếu tố rủi ro, và thời gian đầu tư kéo dài giữa khâu
tìm kiếm-khai thác
Trang 22 Thời gian thu hồi vốn có thể chấp nhận được.
thiên nhiên
hoạt động thăm dò và phát triển khai thác mỏ
dầu khí
quyền lợi hợp lý của nhà đầu tư
sở tại,
Trang 23 Dù ở quy mô nào, các tổ chức dầu khí đều phải có
chiến lược quản lý dầu khí
phân tích tính hợp lý của công tác quản lý tài nguyên
dầu khí (Petroleum Resources Management) được thể
hiện qua 3 yếu tố :
- hệ thống,
- quá trình,
- nhiệm vụ và hoạt động thực hiện
Trang 24• a/ - Quản lý tài nguyên dầu khí là một hệ thống
(system) trong các khâu từ upstream đến downstream
gồm các quy định, các biện pháp kích thích áp dụng để tăng giá trị tài nguyên được khai thác.Sự điều hành công tác quản lý tài nguyên dầu khí rất phụ thuộc vào chất
lượng ‘’đầu vào’’như nhân lực, vật tư, năng lượng, nguồn tài nguyên, kỷ năng quản lý và ảnh hưởng của đầu ra
(output or side-effect) như thị trường tiêu thụ
• b/ Quản lý tài nguyên dầu khí là một quá trình (chuổi
công việc)–(process) triển khai ở tất cả các công đoạn
bắt đầu từ đánh giá tài nguyên (resource assessment),
tìm kiếm, lập kế hoạch phát triển, và tiếp tục là các khâu thiết kế, xây dựng, vận hành, bảo trì, và phân phối sản phẩm cuối cùng
Trang 25• c/ Quản lý tài nguyên dầu khí là sự kết nối các hoạt
động và nhiệm vụ của nhiều đơn vị cùng một mục tiêu
có tác động dây chuyền
• Ví du: - sự suy giảm sản lượng ngoài dự kiến là hậu quả của sự giảm sản lượng của từng mỏ riêng lẻ, có
thể do việc khai thác với chế độ không hợp lý, hoặc do các yếu tố kỹ thuật chứ không chỉ nguyên nhân vấn đề tài nguyên
mặt, từ nhiều khía cạnh khác nhau và xử lý tổng hợp
Trang 26• Nhìn chung, để công tác quản lý dầu khí có thể thựchiện được và có hiệu quả thì cần xác định các mụctiêu rõ ràng, các nhiệm vụ phải cụ thể, hiện thực vàquan trọng là phải phân tích sự gắn kết có tác độngdây chuyền giữa các yếu tố :
• - 1/ vấn đề tài nguyên dầu khí ;
• - 2/ quản lý khai thác ;
• - 3/ cơ cấu tổ chức và cơ chế điều hành
Trang 27IV Hiệu quả của công tác Quản lý mỏ là sự tích hợp dây chuyền các giá trị (Values chain).
khai thác dầu khí là sự cộng hưởng từ các khâu :
• Khai thác – (Reservoir performance).
• - Việc đầu tư trong khai thác tập trung nhằm: (1)- đảm bảo công suất mỏ, (2)- tăng hệ số thu hồi đặc biệt ở giai đoạn suy giảm của mỏ
• - Vì thế hiệu quả phải được xem từ khâu quyết định đầu
tư phát triển mỏ đến khâu áp dụng các giải pháp khai
thác tăng cường để tăng hệ số thu hồi, kéo dài đời mỏ
Trang 28• Hiệu quả sử dụng các thiết bị khai thác – (Production
installation efficiency)
• - Các thiết bị cần được thiết kế phù hợp với công
suất mỏ, thời gian sử dụng có tính đến đời hoạt động
của mỏ (lifetime)
lượng, mức độ huy động đầu tư tập trung đễ đạt sản
lượng đỉnh, và cường độ khai thác (sản lượng năm
8-10% trữ lượng)
liền kề nhau
• Hệ thống thu gom và xử lý khí.(Gas disposal systems)
khí đồng hành trong quá trình khai thác dầu
Trang 29• Vận chuyển và tàng trữ (Transportation and storage)
• Thị trường (Marketing).
• - Hiệu quả là sự tích hợp nhiều yếu tố.
• - Hoạt động dầu khí đòi hỏi khả năng (năng lực)
không chỉ trong khai thác mà cả trong thăm dò, phát triển mỏ, điều hành và bảo dưởng các cơ sở khai thác, tìm thị trường và tổ chức kinh doanh dầu khí
• - Đó là khả năng về nguồn nhân lực, quản lý, trình
độ công nghệ, tổ chức.
Trang 30V Mối quan hệ chi phối.
Nhân lực (Human resources).
quan đến vấn đề quản lý nhân lực có trình độ chuyên môn sâu, kỹ năng cao, những người làm công tác
nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực (R&D), vì hoạt
động dầu khí chứa đựng nhiều rủi ro, chi phí đầu tư lớn
• - Quản lý nhân lực có trình độ là vấn đề phức tạp
« Managing professionals is basically the
unmanageable « làm thế nào đễ họ phát huy tính sáng tạo, chủ động tìm mọi cơ hội và giải pháp kỹ thuật đễ gia tăng giá trị của mỏ
Trang 31 Đầu tư và phát triển công nghệ mới.
một lượng tài nguyên lớn sẽ bị giữ lại dưới lòng đất nếu không có những giải pháp khai thác thích hợp
lực » phát triển thăm dò và khai thác dầu khí
pháp mua và ứng dụng nhưng nhiều Tập đoàn lớn thường đầu tư và tổ chức công tác nghiên cứu khoa
Trang 32Quản lý an toàn và bảo vệ môi trường.
tắc quản lý và kỹ thuật đễ bảo vệ an toàn cho con
người, cho môi trường và công trình khỏi các sự cố
gây thiệt hại
là rất nhiều, thường không được quan tâm nghiêm túc một khi thiệt hại nghiêm trọng chưa xảy ra,
năm 1988 ở Biển Bắc gây thiệt hại nghiêm trọng là bài học kinh điển
không chỉ thể hiện trong quá trình điều hành công
trình mà phải bắt đầu từ khâu thiết kế
Trang 33 Các công trình đều phải được đánh giá rủi ro và tác
động môi trường, và có những giải pháp xử lý và
giảm thiểu rủi ro một khi có sự cố xảy ra
VI Quản lý mỏ và hệ thống tầng chứa
(Reservoir systems).
dụng để đánh giá tiềm năng của một bể chứa dầu
của quản lý mỏ là nghệ thuật và hiệu quả áp dụng
công nghệ trong nghiên cứu « hệ thống tầng
chứa »(Reservoir system) của một mỏ cụ thể
Trang 34 Quản lý mỏ có thể được xem như một tập hợp các
công việc điều hành và ra quyết định qua đó một mỏ có thể được xác định, đo vẽ, khai thác, phát triển,
điều chỉnh, và đánh giá liên tục từ khi phát hiện đến suy giảm sản lượng và sau đó là hủy mỏ
trình động, liên tục tiếp diễn trong việc thu thập, phân tích, có luận cứ, và tích hợp các số liệu nghiên cứu
mô hình (phác hoạ) mỏ – (Reservoir description) – và số liệu thực tế khai thác (Performance data)
cường độ khai thác và chế độ suy giảm tối ưu
Trang 35Điều nổi bật trong Quản lý mỏ là:
(plans) tối ưu để quản lý từng mỏ, vỉa (Reservoir)
các số liệu,
gia đa ngành (multidisciplinary team).
bản đồ đẵng sâu, các bản đồ cấu tạo, đẵng áp, các số liệu mẫu lõi, đo log, các kết quả thử vỉa ở các giếng
khai thác, nhưng vẫn không đủ để dự đoán về sự phân bố đặc tính thấm chứa,
kết quả đo giao thoa giữa các giếng, đo giảm áp nhiều lần có thể dự đoán được ranh giới của tầng chứa,
nhưng độ tin cậy không cao
Trang 36 Trong những năm gần đây, sự tập trung chủ yếu
được hướng vào việc nghiên cứu địa chất tầng chứa
(Reservoir geology) đặc biệt là :
- sự phụ thuộc giữa dòng chất lưu với môi trường trầm tích,
- lịch sử phát triển sau trầm tích
(Post-depositional history),
- những biến đổi thứ sinh tác động hai chiều đến chất lượng tầng chứa
các đặc tính của đá chứa xa giếng khoan, đánh giá
chất lượng tầng chứa và đặc tính của chất lưu
30-40%
Trang 37 Nghiên cứu tổng hợp về đặc tính tầng chứa rất hiệu quả ở các mỏ lục nguyên và carbonat, đặc biệt là để duy trì sản lượng và tăng hệ số thu hồi dầu.
lưu vỉa, lịch sử khai thác và dự báo nhịp độ khai thác
(Reservoir performance) là cơ sở để hoạch định
chương trình khai thác với mức suy giảm hợp lý và tối ưu của mỏ
phương pháp luận quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả trong quản lý mỏ
Trang 38VII Các yếu tố của quản lý mỏ.
thác suy giảm, hoặc chương trình phát triển mỏ
vể khai thác mỏ
thành phần cơ bản của quản lý mỏ, đó là
- 1/ sự hiểu biết về thực thể cần phải quản lý ;
- 2/ về môi trường quản lý (the management
environment) ;
- 3/ và công nghệ sẵn có (available technology)
Khi tất cả 3 thành phần này được tích hợp, hội tụ thì
các quyết định và chiến lược đề ra mới có thể đạt
được mục tiêu của công tác quản lý
Trang 39• 1/ Nhận thức về tầng chứa.
• Khi nói về tầng chứa cần hiểu trong khái niệm hệ
thống nhiều yếu tố với các cấp bậc khác nhau
(Multi-dimensional system)
• Trước hết, đó là bản chất tổng quát của hệ « tầng
chứa »
• Tầng chứa dầu khí (Reservoir) là các thể địa chất, nơi
dầu khí được lưu giữ, tích tụ dưới dạng bẫy, trong hệ thủy-động học liên thông thống nhất
• Vì thế khi nói đến « hệ tầng chứa », trước tiên phải
hiểu khái niệm tổng thể gồm chất lưu vỉa với các đặc tính, thành phần, cơ chế và động thái dòng chảy, các thuộc tính của đá chứa và mối quan hệ giữa chúng với nhau trong một hệ thủy động học thống nhất
Trang 40 Ở cấp bậc thứ hai là những thông số về bản
chất »macro » của tầng chứa, gồm diện phân bố các chất lưu theo thành phần trong phạm vi mỏ, kích
thước, xu thế biến động, các thành hệ chứa dầu khí và môi trường lắng đọng, các dạng đá chứa và thành phần thạch học, chiều sâu tầng chứa và áp suất, và các thông số khác
« micro » gồm các thông số về hình thái và cấu trúc vỉa chứa, độ rỗng, độ chứa sét, độ bão hoà chất lưu, và mối quan hệ với áp suất mao dẫn, độ thấm pha, mối quan hệ PVT ,các thông số về thuộc tính chất lưu vỉa và sự biến động liên quan đến tính bất đồng nhất của vỉa
Trang 41 Nhóm yếu tố thứ 4 trong hệ thống về tầng chứa là lịch sử diển biến khai thác và kết quả biến đổi các thuộc tính của chất lưu và đá chứa trong quá trình khai thác
như loại giếng nào được khoan, vị trí và thứ tự
khoan, vị trí xây lắp dàn, hoàn tất giếng như thế nào, giải pháp kích thích giếng và quá trình thực hiện, lượng chất lưu được thu hồi thêm hoặc bơm vào giếng so với trạng thái ban đầu ?