Giá trị văn học: “Tuyên ngôn độc lập” là một áng văn chính luận mẫu mực: lập luận chặt chẽ, lý lẽ đanh thép, ngôn ngữ hùng hồn, dẫn chứng xác thực, vừa tố cáo tội ác của thực dân Pháp,
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ………
ĐỀ CƯƠNG NGỮ VĂN Năm học 2021 - 2022
HỌC KỲ I
Trang 2Phần 1: PHẦN VĂN HỌC
KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆN NAM
TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ĐẾN HẾT THẾ KỈ XX
A VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CMTT NĂM 1945 ĐẾN 1975
I Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa
- Đường lối văn nghệ của Đảng góp phần tạo nên một nền văn học thống nhất về
khuynh hướng tư tưởng, về tổ chức và quan niệm nhà văn kiểu mới: nhà văn - chiến sĩ
- Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ kéo dài suốt 30 năm
- Nền kinh tế nước ta còn nghèo nàn, giao lưu văn hóa chủ yếu với các nước XHCN
II Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu:
1 Chặng đường từ 1945 đến 1954
- Một số tác phẩm từ 1945-1946 phản ánh được không khí hồ hởi, vui sướng của
nhân dân ta khi đất nước giành được độc lập
- Từ cuối 1946 đến 1954: phản ánh được cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: + Truyện ngắn và kí sớm đạt được thành tựu: Một lần tới Thủ đô, Trận phố Ràng (Trần Đăng), Đôi mắt, Ở rừng (Nam Cao), Làng (Kim Lân),…
+ Từ năm 1950, xuất hiện những tập truyện, kí khá dày dặn: Vùng mỏ (Võ Huy Tâm), Xung kích (Nguyễn Đình Thi), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc),… + Thơ ca đạt nhiều thành tựu xuất sắc: Cảnh khuya, Cảnh rừng Việt Bắc, Rằm tháng giêng, (Hồ Chí Minh); Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm); Tây Tiến (Quang Dũng); Việt Bắc(Tố Hữu),…
+ Kịch nói : ra đời phản ánh kịp hiện thực cách mạng và kháng chiến
2 Chặng đường từ 1955 đến 1964:
- Văn xuôi mở rộng đề tài, bao quát khá nhiều vấn đề, nhiều phạm vi của hiện thực
đời sống:
+ Cuộc kháng chiến chống Pháp
+ Hiện thực đời sống trước cách mạng
+ Công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội
+ TP: Sống mãi với Thủ đô (Nguyễn Huy Tưởng), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Cửa biển (Nguyên Hồng),…
- Thơ ca phát triển mạnh mẽ, nhiều tập thơ xuất sắc ra đời: Gió lộng (Tố Hữu), Ánh sáng và phù sa (Chế Lan Viên)…
- Kịch nói có bước phát triển mới
3 Chặng đường từ 1965 đến 1975:
- Chủ đề bao trùm: ca ngợi tinh thần yêu nước, Chủ nghĩa anh hùng cách mạng
- Văn xuôi: tập trung phản ánh cuộc chiến đấu và lao động, khắc họa khá thành công hình ảnh con người Việt Nam anh dũng, kiên cường và bất khuất TP: Người
Trang 3mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng), …
- Thơ ca: mở rộng, đào sâu chất liệu hiện thực, tăng cường chất khái quát, chất suy tưởng và chính luận Tập thơ: Ra trận, Máu và hoa (Tố Hữu), Hoa ngày thường, Chim báo bão (Chế Lan Viên), Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm)…
- Kịch nói: có thành tựu mới
III Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt nam từ CMTT-đến 1975:
1) Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước
2) Nền văn học hướng về đại chúng
3) Nền văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
B/ VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN THẾ KỈ XX:
I/ Hoàn cảnh lịch sử, xã hội , văn hóa:
- Với chiến thắng năm 1975, lịch sử dân tộc ta mở ra thời kì mới - thời kì độc lập,
tự do và thống nhất đất nước
- Từ năm 1986, Đảng ta đề xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện, tiếp xúc và giao lưu văn hóa được mở rộng Sự nghiệp đổi mới đã thúc đẩy nền văn học cũng phải đổi mới để phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc cũng như quy luật phát triển khách quan của văn học
II/ Những chuyển biến một số thành tựu ban đầu:
- Từ sau 1975, thơ không tạo được sự lôi cuốn hấp dẫn như các giai đoạn trước nhưng vẫn có những tác phẩm được bạn đọc chú ý
- Từ sau 1975, văn xuôi có nhiều khởi sắc, bộc lộ ý thức đổi mới cách viết về chiến tranh, cách tiếp cận hiện thực đời sống TP: Đất trắng (Nguyễn Trọng Oách), Hai người trở lại trung đoàn (Thái Bá Lợi)
- Từ năm 1986, Văn học chính thức bước vào chặn đường đổi mới, gắn bó, cập nhật hơn đối với những vấn đề của đời sống hằng ngày Nhiều tác phẩm tạo nên tiếng vang lớn TP: Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Tướng về hưu (Nguyễn Huy Tưởng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Tường)
- Từ sau năm 1975, kịch nói phát triển mạnh mẽ tạo được sự chú ý
II/ Những đặc điểm Văn học VN từ sau 1975 đến hết thế kỉ XX :
- Văn học vận động theo xu hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản, nhân văn sâu
sắc
- Có tính chất hướng nội,quan tâm nhiều hơn tới số phận cá nhân trong những hoàn cảnh phức tạp, đời thường
- Có nhiều tìm tòi đổi mới về nghệ thuật
IV Tổng kết : Ghi nhớ /sách giáo khoa trang 19
*************
Trang 4NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÝ
I Tìm hiểu đề và lập dàn ý:
Đề bài:
Anh (chị) hãy trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu:
“ Ôi ! Sống đẹp là thế nào, hỡi bạn?”
- Với thanh niên, học sinh muốn trở thành người “ sống đẹp” cần:
+ Chăm chỉ học tập, khiêm tốn học hỏi, biết nuôi dưỡng hoài bão, ước mơ
+ Thường xuyên tu dưỡng và rèn luyện đạo đức, có tinh thần bao dung, độ lượng
- Trích dẫn nguyên văn câu thơ của Tố Hữu
- Nêu quan điểm của bản thân
Có thể giới thiệu bằng nhiều cách: quy nạp, diễn dịch, phản đề, trực tiếp, gián tiếp…
* Thân bài:
- Giải thích thế nào là lối sống đẹp?
- Phân tích các khía cạnh biểu hiện của sống đẹp
- Chứng minh, bình luận:
+ Nêu những tấm gương người tốt, việc tốt:
o Những tấm gương hi sinh cao cả vì lý tưởng: Hồ Chí Minh, Nguyễn Trãi, Trần Bình Trọng, Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu…
+ Phê phán lối sống ích kỉ, vô trách nhiệm, thiếu ý chí, nghị lực…
+ Bàn cách thức rèn luyện để sống đẹp: tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, có lối sống phù hợp với thời đại và chuẩn mực đạo đức xã hội
* Kết bài:
- Khẳng định ý nghĩa của lối sống đẹp: là chuẩn mực đạo đức, nhân cách của con người
Trang 5- Liên hệ và rút ra bài học cho bản thân
2 Cách làm một bài văn về tư tưởng, đạo lý:
- Quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em…)
- Quan hệ xã hội (Tình đồng chí, đồng bào, tình bạn bè…)
- Cách ứng xử, hành động trong cuộc sống…
* Bố cục: Ba phần
* Các bước tiến hành ở thân bài:
- Giải thích khái niệm của đề bài
- 1920 tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp
- 1930 thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
- 1941 thành lập Mặt trận Việt Minh
- 1945 lãnh đạo thành công cuộc tổng khởi nghĩa tháng tám
-1946 được bầu làm chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho tới khi qua đời vào ngày 2-9-1969
Hồ Chí Minh là nhà yêu nước, nhà cách mạng vĩ đại đồng thời còn là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc VN
II Quan điểm sáng tác văn học của HCM :
1) HCM coi văn học là một vũ khí chiến đấu phục vụ sự nghiệp cách mạng:
“Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong”
Trang 6(Cảm tưởng đọc Thiên gia thi)
=> Chất thép là tính chiến đấu trong thơ ca
2) HCM luôn chú trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học:
- Nội dung: “phải miêu tả cho hay, cho chân thật và hùng hồn” những hiện thực phong phú của đời sống
- Hình thức: “phải phát huy cốt cách của dân tộc và có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, đề cao sáng tạo của người nghệ sĩ"
3) Khi cầm bút HCM luôn xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung, hình thức tác phẩm Người luôn đặt câu hỏi:
+Viết cho ai? ( đối tượng) +Viết để làm gì? (mục đích) +Viết cái gì? ( nội dung) +Viết như thế nào? ( hình thức)
Trang 7IV Phong cách nghệ thuật HCM : độc đáo, đa dạng
1.Văn chính luận: ngắn gọn, súc tích, lập luận sắc sảo, chặt chẽ, bằng chứng giàu sức thuyết phục, và đa dạng về bút pháp
2.Truyện và kí: hiện đại, có tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc
bén
3.Thơ ca: thơ nghệ thuật có sự hòa hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển vả bút pháp
hiện đại;giữa chất trữ tình và chất thép giữa sự trong sáng, giản dị và sự hàm súc sâu sắc
- Đây là thời kì bọn Thực dân nuôi âm mưu tái xâm lược nước ta
2 Đối tượng sáng tác:
- Nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới
- Bọn thực dân, đế quốc: Anh, Pháp, Mỹ, Tưởng
3 Mục đích sáng tác:
- Tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nước ta, khẳng định quyền tự chủ vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới, mở ra một kỷ nguyên độc lập tự do của nước Việt Nam mới, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
- Bác bỏ luận điệu sai trái và âm mưu tái xâm lược của thực dân Pháp
- Khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam
4 Giá trị lịch sử và văn học của bản “TNĐL”:
a Giá trị lịch sử: “Tuyên ngôn độc lập” là lời tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân
phong kiến ở nước ta khẳng định quyền độc lập tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới, là mốc son lịch sử mở ra kỷ nguyên độc lập tự do trên đất nước ta
b Giá trị văn học: “Tuyên ngôn độc lập” là một áng văn chính luận mẫu
mực: lập luận chặt chẽ, lý lẽ đanh thép, ngôn ngữ hùng hồn, dẫn chứng xác thực, vừa tố cáo tội ác của thực dân Pháp, ngăn chặn âm mưu tái chiếm nước ta của các thế lực thù địch và các phe nhóm cơ hội quốc tế, vừa bộc lộ tình yêu nước, thương dân và khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của tác giả và toàn dân tộc
Trang 84 Bố cục: Chia làm 3 phần
- Phần 1: Từ đầu… “chối cãi được”: Cơ sở pháp lí và chính nghĩa của bản Tuyên
ngôn độc lập
- Phần 2: “Thế mà…phải được độc lập” Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và
khẳng định thực tế lịch sử là nhân dân ta đã kiên trì đấu tranh và nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước VNDCCH
- Phần 3: Còn lại: Tuyên bố với thế giới nền độc lập tự do và ý chí bảo vệ độc lập
tự do của dân tộc Việt Nam
II Đọc- hiểu văn bản:
1) Đoạn 1: cơ sở pháp lí và chính nghĩa của bản tuyên ngôn:
- Mở đầu bản Tuyên ngôn, Bác trích dẫn “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ (1776):
“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được Trong những quyền đó có quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của cách mạng Pháp (1791): “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về
quyền lợi.”
Cách viết vừa khéo léo vừa sáng tạo, vừa kiên quyết vừa mềm mỏng => lấy lí
lẽ của đối phương nhằm bác bỏ luận điệu và vạch trần âm mưu xảo trá của kẻ thù
- Cách vào đề của Bác rất ngắn gọn, rõ ràng, khéo léo, trí tuệ, đạt hiệu quả cao: + Tạo sức thuyết phục: Hai bản tuyên ngôn được trích dẫn là chân lí muôn đời được đúc kết từ thực tiễn máu xương của hai cuộc cách mạng Pháp – Mỹ, lấy hạnh phúc và quyền lợi cá nhân con người làm trọng Thế giới đã công nhận độc lập của Pháp và Mỹ→ tất yếu phải công nhận độc lập của Việt Nam
+ Tăng tính chiến đấu: Một mặt, Bác vẫn tỏ ra tôn trọng lịch sử và truyền thống độc lập của hai nước Pháp, Mỹ Mặt khác, tác giả đã khéo léo nhắc nhở họ đừng phản bội lại tổ tiên mình, đừng vấy bùn nhơ lên lá cờ nhân đạo của dân tộc mình Hai bản tuyên ngôn được lựa chọn trích dẫn đã trở thành một hàng rào pháp lí vừa
khéo léo, mềm mỏng, vừa cứng cỏi, kiên quyết → Đây là chiến thuật “gậy ông đập lưng ông”
+ Tạo sự bình đẳng: Bằng cách so sánh, Bác đã đặt 3 cuộc cách mạng - 3 nền độc lập - 3 bản Tuyên ngôn ngang hàng nhau → Từ đó, Bác kín đáo gửi gắm niềm kiêu hãnh và tự tôn dân tộc Nó mang tính chất truyền thống như các tiền nhân
xưa Trong “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi từng viết: “Từ Triệu, Đinh, Lý,
Trần bao đời gây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”
+ Thể hiện sự sáng tạo: từ quyền con người Bác nâng lên thành quyền dân tộc Ba
từ “suy rộng ra” là một đóng góp có giá trị vô cùng to lớn của HCM đối với
phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới Nó là “phát súng lệnh” mở đầu cho cơn bão táp cách mạng ở các nước thuộc địa
- Cuối cùng, bằng lối quy nạp, Bác rút ra kết luận “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” Câu văn mang tính tranh biện, luận chiến sâu sắc đối với những kẻ
đang cố tình toan tính âm mưu “chối cãi”, chà đạp lên “lẽ phải”
Trang 9 Trong phần mở đầu, Bác đã xác lập được cơ sở pháp lí, chính nghĩa vững chắc, thuyết phục của bản TNĐL
2) Đoạn 2: Cơ sở thực tế của bản tuyên ngôn:
a Qua bản “TNĐL”, Bác đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp:
- Bác liệt kê hàng loạt những tội ác của chủ nghĩa thực dân “80 năm qua” trên các
mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục
+ Về chính trị: chúng thủ tiêu quyền tự do dân chủ của ta, chia để trị, thi hành những luật pháp dã man
+ Về kinh tế: chúng bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy, đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí
+ Về văn hóa, giáo dục: chúng thi hành chính sách ngu dân, lập nhà tù nhiều hơn trường học, đầu độc dân ta bằng rượu cồn và thuốc phiện
- Nghệ thuật:
+ Điệp từ “chúng” (14 lần) kết hợp nghệ thuật liệt kê các hành động dã man → tạo
thành lời lên án mạnh mẽ
+ Biện pháp ẩn dụ: “Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi
của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu” kết hợp với
câu văn ngắn, giọng văn hùng hồn, bằng chứng xác thực → Có giá trị tố cáo mạnh, gây xúc động hàng triệu trái tim, khơi dậy lòng phẫn nộ cao độ
Với khoảng 20 dòng văn Bác đã bẻ gãy luận điệu xảo trá khai hóa văn minh của thực dân Pháp, chỉ rõ bộ mặt thật của quân cướp nước
b Bản “Tuyên ngôn độc lập” đã vạch trần bản chất vô liêm sỉ, đê hèn của Thực dân Pháp
- Nếu thực dân Pháp kể công “bảo hộ” Đông Dương thì bản tuyên ngôn chỉ rõ: trong“5 năm” Pháp đã bán nước ta 2 lần cho Nhật dẫn đến dân ta chịu 2 tầng
xiềng xích, 2 triệu đồng bào ta chết đói
- Câu văn ngắn gọn đanh thép, dùng từ gợi cảm, gợi tả “quỳ gối, đầu hàng” khẳng
định bản chất nhu nhược, khiếp sợ của thực dân Pháp
- Câu khẳng định “Sự thật là nhân dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp” nhằm nhấn mạnh những bằng chứng xác thực và đầy
sức thuyết phục buộc Pháp phải thừa nhận Việt Nam không còn là thuộc địa của Pháp
c Bản Tuyên ngôn đề cao cuộc đấu tranh nhân đạo và nhân nghĩa của dân tộc VN
- Nếu thực dân Pháp đã phản bội Đồng minh, 2 lần bán rẻ Đông Dương cho Nhật thì dân tộc VN tất yếu phải đứng lên chống Nhật cứu nước, giành quyền độc lập
- Nhân dân ta đối xử khoan hồng và nhân đạo đối với kẻ thù đã thất thế “Việt minh
đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ”
- Ta đã đánh đổ được ba tầng áp bức: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị” → Câu ghép có giá trị khái quát cả một giai đoạn lịch sử của dân tộc ta: Đánh
đổ thực dân – phát xít - phong kiến để lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Trang 10d “TNĐL” tuyên bố cắt đứt mọi quan hệ với Pháp
- Bản tuyên ngôn nêu rõ: “Thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp”, “xóa bỏ hết hiệp ước mà Pháp kí với Việt Nam”, “xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp ở Việt Nam.”
→ Các cụm từ “thoát ly hẳn, xóa bỏ hết, xóa bỏ tất cả”: là lời tuyên bố hùng hồn,
dứt khoát, ta triệt để thoát ly mọi ràng buộc và những hiệp ước bất công, bất bình đẳng mà chính quyền nhà Nguyễn đã kí với Pháp, khẳng định quyền độc lập tự chủ của nhân dân và chính phủ Việt Nam về mặt chính trị và pháp lý
3) Đoạn 3 Lời truyên bố trịnh trọng
- Sức nặng của lời tuyên ngôn: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và
sự thật để thành một nước tự do độc lập” => nhằm ngăn chặn âm mưu tái xâm
chiếm Việt Nam của Pháp và khẳng định tư cách của nhân dân Việt Nam
- Đồng thời, trong bối cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, bản tuyên ngôn khẳng định lời
thề quyết tử của cả dân tộc “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần
và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền độc lập ấy”
=> Lời tuyên bố ngắn gọn, hùng hồn, đanh thép, hội tụ cả hai điều kiện khách quan và chủ quan để khẳng định quyền độc lập, tạo sức thuyết phục
III- TỔNG KẾT: Ghi nhớ/sách giáo khoa trang 42
GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT
I Sự trong sáng của tiếng Việt
1 Tiếng Việt có hệ thống chuẩn mực và qui tắc chung
2 Tiếng Việt trong sáng không dung nạp yếu tố lai căng, pha tạp
Tính chuẩn mực không phủ nhận sự sáng tạo nhưng sáng tạo phải thực hiện đúng qui tắc chung
Tiếng Việt dung nạp những yếu tố tích cực
3 Tiếng Việt thể hiện tính văn hoá lịch sự của lời nói
II Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Yêu mến và quý trọng tiếng Việt
Có sự hiểu biết đầy đủ về tiếng Việt
Tuân thủ hệ thống chuẩn mực và quy tắc của tiếng Việt
Trang 11- Ông vừa là nhà hoạt động cách mạng vừa là nhà văn hóa lớn của Việt Nam Ông
có các bài nghị luận đặc sắc về: Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh v.v
- Ông từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng bộ máy chính trị của Đảng và nhà nước
2) Hoàn cảnh sáng tác:
Tác giả viết bài này nhân kỉ niệm 75 năm ngày mất của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu (3/7/1888)
II Đọc -hiểu văn bản :
1) Vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong văn học Việt Nam
- Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao, là nhà thơ lớn
- Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là khúc ca hùng tráng của phong trào yêu nước chống xâm lược
Phạm Văn Đồng nhấn mạnh tầm quan trọng và sự đóng góp của Nguyễn Đình Chiểu cho văn học
2) Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ yêu nước:
- Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho, sống trong cảnh nước nhà lâm nguy, triều đình nhà Nguyễn cam tâm bán nước, khắp nơi nhân dân nổi dậy cứu nước
- Dù bệnh tật, bị mù hai mắt, không thể cầm gươm giết giặc nhưng Nguyễn Đình Chiểu vẫn là một chiến sĩ yêu nước dùng thơ văn ghi lại một thời kì khổ nhục nhưng vĩ đại của dân tộc
→ Cuộc đời và hoạt động của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương anh dũng
- Tấm lòng yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu thể hiện bằng quan điểm “chở đạo - trừ gian”
+ Quan niệm “văn tức là người”, văn thơ phải là vũ khí chiến đấu :
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gia bút chẳng tà.”
+ Ông khinh miệt những kẻ lợi dụng văn chương để làm việc phi nghĩa :
“Thấy nay cũng nhóm văn chương,
Vóc dê, da cọp khôn lường thực hư.”
→ Nêu cao địa vị, tác dụng của văn học nghệ thuật và sứ mệnh cao cả của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa
3) Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương phản chiếu phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ
- Tái hiện lại hoàn cảnh lịch sử nước ta từ năm 1862 khi triều Nguyễn cắt 3 tỉnh miền Đông và năm 1867 cắt 3 tỉnh miền Tây cho giặc Đất nước rơi vào tay Thực dân Pháp
- Vừa ngợi ca vừa bày tỏ lòng cảm thương với những anh hùng sẵn sàng hy sinh
vì nước như : Trương Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực…
- Tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là một trong những tác phẩm có giá trị của Nguyễn Đình Chiểu vì nó ca những nông dân bình thường chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người chiến sĩ, người anh hùng cứu nước
Trang 12=> “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là khúc ca những người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang
- Truyện thơ Lục Vân Tiên là tác phẩm lớn của Nguyễn Đình Chiểu, chứa đựng nội dung tư tưởng lớn, gần gũi với quần chúng nhân dân, ca ngợi chính nghĩa, đạo đức đáng quý ở đời
4) Phần kết:
Khẳng định lại vị trí của NĐC trong nền văn nghệ dân tộc: là nhà thơ lớn, tấm gương đã góp phần nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, của sứ mệnh người cầm bút
→ Kêu gọi mọi người đốt nén hương tưởng nhớ
III Tổng kết:
- Bằng cách nhìn, cách nghĩ sâu rộng, mới mẻ và nhiệt tình của một người gắn bó hết mình với đất nước, với nhân dân, Phạm Văn Đồng đã làm sáng tỏ mối liên hệ khăng khít giữa thơ văn của NĐC với hoàn cảnh Tổ quốc lúc bấy giờ, và với thời đại hiện nay Đồng thời, tác giả hết lòng ca ngợi NĐC, một người trọn đời dùng cây bút làm vũ khí chiến đấu cho dân, cho nước, một ngôi sao trong nền văn nghệ của dân tộc Việt Nam
- Bài viết có sức lôi cuốn mạnh mẽ do cách nghị luận vừa xác đáng, vừa chặt chẽ vừa xúc động, thiết tha, với nhiều hình ảnh, ngôn từ đặc sắc
*************
THÔNG ĐIỆP NHÂN NGÀY THẾ GIỚI PHÒNG CHỐNG AIDS, 1-12-2003
(Cô-phi-An-nan ) I.Tìm hiểu chung :
1 Tác giả:
- Cô-phi-An-nan sinh 1938, tại Ga-na, một nước Công hòa thuộc Châu Phi
- Năm 1962, ông làm việc ở Tổ chức Liên hiệp quốc
- Từ năm 1997-2007, ông làm Tổng thư ký Liên hiệp quốc
- Năm 2001, ông được nhận Giải thưởng Nobel Hòa bình
2 Tác phẩm: là thông điệp của tác giả gửi nhân dân thế giới phòng chống
HIV-AIDS (1-12-2003)
II Đọc- hiểu văn bản:
1 Phần mở đầu : Nêu nội dung thông điệp:
- Lời kêu gọi mọi người mọi quốc gia chung tay phòng chống đại dịch HIV-AIDS
- Với Cô-phi-An- nan phòng chống HIV … không phải là nhiệm vụ của riêng ai
mà là nhiệm vụ của mỗi quốc gia mỗi cá nhân …
→ Tác giả nhắc lại những cam kết về chiến dịch phòng chống AIDS của phiên họp
dặc biệt năm 2001
2 Phần thân : Tổng kết tình hình
Trang 13a Những việc đã thực hiện:
- Ngân sách dành cho việc phòng chống HIV tăng
- Thành lập quỹ toàn cầu về phòng chống AIDS, lao và sốt rét
- Đại đa số các quốc gia đều xây dựng chiến lược để phòng chống HIV
b Những tồn tại ta chưa thực hiện được:
- Bị chậm trong việc giảm quy mô tác động của dịch so với chỉ tiêu Dịch HIV vẫn hoành hành gây tỉ lệ tử vong cao, có rất ít dấu hiệu suy giảm
- Mỗi phút đồng hồ trôi qua có khoảng 10 người bị nhiễm HIV
- Tuổi thọ con người giảm sút
- HIV lây lan với tốc độ báo động ở phụ nữ
- Bệnh dịch đang lan rộng ra cả những khu vực vẫn được coi là an toàn
→ Những luận điểm tác giả đưa ra có sự chọn lọc, cụ thể với những số liệu gây ấn tượng mạnh, tác động trực tiếp đến tâm lý người nghe
c Biện pháp thực hiện:
- Mọi người phải nỗ lực bằng những nguồn lực và những hoạt động cần thiết
- Phải công khai lên tiếng……
- Không nên kỳ thị phân biệt đối với những người mắc bệnh
- Xóa bỏ khái niệm “chúng ta” và “họ”
- Tác gỉa nhấn mạnh: im lặng đồng nghĩa với cái chết
-> Câu văn ngắn gọn xúc tích, cảm xúc dồn nén, sử dụng những từ ngữ mang sắc thái trang nghiêm gây ấn tượng mạnh: “Cái chết, cuộc chiến, thành lũy, thế giới khắc nghiệt”
-> Tình cảm tha thiết chân thành của tác giả đối với con người
3 Phần kết: lời kêu gọi “Hãy cùng tôi…”, “Hãy sát cánh cùng tôi…”
-> Tình cảm tha thiết chân thành và tinh thần trách nhiệm đối với đồng loại và cao hơn hết là lòng nhân ái bao la của tác gỉa đối với con người Lời kêu gọi cũng đánh thức ý thức trách nhiệm của mọi người dân đối với đại dịch
III Tổng kết:
Tác giả khẳng định phòng chống HIV/ AIDS phải là mối quan tâm hàng đầu của tòan nhân lọai và tha thiết kêu gọi các quốc gia hãy sát cánh bên nhau trong cuộc chiến này Bài văn có sức thuyết phục mạnh mẽ vì đã thể hiện được những suy nghĩ sâu sắc và cảm xúc chân thành của tác giả
Trang 14- Ông là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, vẽ tranh, viết văn, soạn nhạc
- Phong cách thơ: hồn hậu, phóng khóang, lãng mạn và tài hoa
- Năm 2001 ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
- Tác phẩm: Mây đầu ô (1968),Thơ văn Quang Dũng(1988)
2) Tác phẩm:
a Hoàn cảnh sáng tác:
- Vài nét về binh đoàn Tây Tiến: là đơn vị quân đội thành lập 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt-Lào, đánh tiêu hao lực lượng Pháp Địa bàn họat động là rừng núi Tây Bắc và Thượng Lào Chiến sĩ binh đoàn Tây Tiến phần lớn là học sinh, sinh viên Hà Nội Tuy họ chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ nhưng vẫn sống lạc quan, chiến đấu dũng cảm
- Năm 1947: Quang Dũng làm Đại đội trưởng binh đòan Tây Tiến
- Năm 1948: chuyển sang đơn vị khác, nhớ đơn vị cũ, tác giả viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”, sau đổi thành “Tây Tiến” in trong tập “Mây đầu ô”
-Phần 3: “ Tây Tiến đoàn độc hành”: Nhớ hình tượng người lính Tây Tiến
-Phần 4: “ Tây Tiến người chẳng về xuôi”: Tấm lòng và sự gắn bó với Tây Tiến
- Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ của nhà thơ về con đường hành quân gian khổ gắn
liền với cảnh vật và con người Tây Bắc
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
- Câu cảm thán “ Tây Tiến ơi !” cách gọi trìu mến, thân thương, tha thiết bộc lộ nỗi nhớ về miền đất từng gắn bó với đoàn quân Tây Tiến
- Nỗi nhớ ấy hướng về “Sông Mã” và “rừng núi” Sông Mã là con sông gắn bó với những hành trình của đoàn quân, gây ấn tượng sâu sắc Nỗi nhớ gắn liền với thiên nhiên làm cho nó cũng trở nên mênh mông rộng lớn, lan tỏa ra cả đất trời
- Điệp từ “nhớ”, từ láy “chơi vơi”, lối gieo vần “ơi” kéo dài nhằm khắc sâu nỗi nhớ, nỗi nhớ ấy bồng bềnh, mông lung, mờ ảo, da diết đưa nhà thơ trở về với những hoài niệm, những kí ức khó quên
b Mười hai câu tiếp theo: nỗi nhớ về cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến :
Trang 15* Cảnh Tây Bắc dưới ngòi bút của nhà thơ Quang Dũng hiện lên thật hùng
vĩ, hiểm trở, hoang vắng, khắc nghiệt, đầy bí hiểm nhưng vô cùng thơ mộng, trữ tình
- Trước hết, đó là nỗi nhớ của nhà thơ về chặng đường hành quân đầy gian khổ
của đoàn quân Tây Tiến gắn với cảnh vật hoang sơ, hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi ”
-Nhà thơ liệt kê các địa danh: Sài Khao, Mường Lát, Mường Hịch, Pha Luông, Mai Châu gây ấn tượng về vùng đất xa xôi, hoang sơ, heo hút cho thấy địa bàn hành quân của Tây Tiến rất rộng lớn
- Hình ảnh tả thực kết hợp với phép cường điệu “sương lấp đoàn quân mỏi” cho
thấy chiến sĩ Tây Tiến phải hành quân trong cảnh rất khắc nghiệt của thời tiết
- Bốn câu thơ tiếp theo vẽ nên địa hình Tây Bắc còn rất hiểm trở với nhiều núi cao, vực thẳm
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời”
+ Những từ láy giàu giá trị tạo hình “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” : gợi con đường
quanh co, uốn khúc, gập ghềnh, cheo leo
+ Nghệ thuật đảo ngữ, từ láy “heo hút” được đặt ở đầu câu đã nhấn mạnh được địa
bàn chênh vênh đầy nguy hiểm
+ Nghệ thuật nhân hóa “súng ngửi trời” cách dùng từ mới lạ dí dỏm, tinh nghịch
thể hiện tâm hồn lạc quan, yêu đời của những người lính Tây Tiến lúc bấy giờ
- Hai câu thơ tiếp theo tác giả tiếp tục gây ấn tượng mạnh ở người đọc về sự hiểm trở của vùng đất Tây Bắc
“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
+ Cách ngắt nhịp 4/3 kết hợp điệp từ “ngàn” và biện pháp đối lập làm cho câu thơ như bẻ đôi ra, diễn tả dốc núi sừng sững, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm, rất nguy hiểm, tạo cảm giác rợn người
+ Nếu những câu thơ trên nhiều thanh trắc thì đến câu thơ “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” sử dụng toàn thanh bằng tạo nên âm hưởng đặc biệt, xua tan những
mệt nhọc, vất vả của những chặng đường hành quân gian khổ Người lính thấy thấp thoáng xa xa những ngôi nhà chìm trong trong cơn mưa Đó chính là vẻ đẹp nên thơ của thiên nhiên
=> Bốn câu thơ có sự phối hợp với nhau tạo nên một âm hưởng đặc biệt, ba câu thơ vẽ bằng những nét gân guốc, câu thứ tư vẽ bằng một nét mềm mại tạo cảm giác nhẹ nhàng, thư thái sau những vất vả, khó khăn
-Tây Bắc còn ấn tượng với những âm thanh, không khí ghê rợn:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
Trang 16=> Từ láy “chiều chiều”, “đêm đêm” cùng biện pháp nhân hóa “thác gầm thét”,
“cọp trêu người” tô đậm sự bí hiểm, hoang sơ, dữ dội của núi rừng Tiếng nước thác gầm thét hòa cùng tiếng gầm của cọp dữ tạo cảm giác thật rợn người
* Chặng đường hành quân:
- Trên phông nền thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ, hùng vĩ ấy, hình ảnh đoàn quân Tây Tiến hiện lên thật đẹp, hào hùng, sẵn sàng hy sinh trong tư thế chiến đấu
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
- Đại từ nhân xưng “anh bạn”: là cách gọi trìu mến, thân thiết thể hiện tình cảm yêu thương, quí mến đối với đồng đội của nhà thơ
-Từ láy “dãi dầu”: tô đậm nỗi vất vả, gian lao to lớn mà những người lính phải vượt qua trên đường hành quân
- Trên những chặng đường hành quân gian khổ, nhiều người lính đã ngã xuống vì kiệt sức nhưng tư thế vẫn hiên ngang, không chút bi lụy, thể hiện qua cách nói
giảm “Anh bạn dãi dầu không bước nữa / Gục lên súng mũ bỏ quên đời” Câu thơ
tuy tả thực nhưng không bi thương bởi vì những người lính không chết mà họ chỉ
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Hương vị thoáng qua rất ngắn ngủi nhưng ngọt ngào tình quân dân, đồng đội Sau bao nhiêu gian khổ, những người lính tạm dừng chân ở trong một bản làng nào đó, quây quần bên nhau bên cạnh nồi cơm dẻo thơm Nếp Mai Châu vốn đã thơm, hương nếp đầu mùa càng thêm thơm, lại được trao từ tay em chính điều này làm cho người lính quên đi bao vất vả mệt mỏi
=> Liên hệ:
“Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương.”
( Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)
Sơ kết :
- Có thể thấy, đoạn thơ “Tây Tiến” với nhiều câu thơ sử dụng thanh bằng diễn tả nỗi nhớ mênh mông của nhà thơ, xen vào đó là những thanh trắc đầy lắc léo nhằm cực tả tất cả những gian khổ nhọc nhằn mà người lính TT phải trải qua
- Đoạn thơ với nhiều câu miêu tả cảnh gian khổ, rất ít câu nói về kỉ niệm cho thấy nhà thơ luôn trân trọng những kỉ niệm ngọt ngào mà người lính có được
Trang 17- Mở đầu đoạn thơ là câu cảm, kết thúc cũng là câu thơ giàu sắc thái trữ tình, gây nên ấn tượng mạnh cho người đọc
Bằng bút pháp hiện thực và lãng mạn đan xen kết hợp với sự phối thanh hài hòa, Quang Dũng đã thể hiện được nỗi nhớ thiết tha của mình về vùng rừng núi Tây Bắc hiểm trở, các chiến sĩ Tây Tiến phải chịu đựng nhiều gian khổ nhưng vẫn chiến đấu với tinh thần hăng hái
2) Khổ 2: Nỗi nhớ về những kỉ niệm đẹp đêm liên hoan và cảnh sông nước miền tây thơ mộng
a Nhớ đêm liên hoan: “Doanh trại hồn thơ”
- Cảnh rực rỡ, lung linh dưới ánh đuốc Từ đuốc hoa theo nghĩa Hán Việt là “hoa
chúc” cách diễn đạt táo bạo pha chút hóm hỉnh của người lính, làm ta hình dung đến đêm tân hôn tưng bừng
- Động từ “bừng”: gợi cảm giác đột ngột, bất ngờ Đó là sự bừng sáng của lửa trại
và cả sự tưng bừng, rộn rã của tiếng khèn, tiếng hát trong đêm liên hoan được cảm nhận bằng thị giác lẫn thính giác
- “Kìa em” thể hiện sự ngạc nhiên, sung sướng khi thấy các cô gái địa phương trong những bộ xiêm áo lộng lẫy (xiêm áo tự bao giờ) vừa e thẹn, vừa tình tứ (nàng e ấp) trong một vũ điệu đậm màu sắc xứ lạ “man điệu” đã xây hồn thơ những chàng trai Tây Tiến Đây là sự phát hiện độc đáo của QD về người lính xuất thân từ tầng lớp trí thức Đó là họ có một tâm hồn hào hoa, lãng mạn hơn so với người lính xuất thân từ tầng lớp nông dân
=> Trong ánh sáng lung linh của đuốc, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, cả
cảnh vật và con người đều như ngả nghiêng, bốc men say ngất ngây, rạo rực
=> Bốn câu thơ chan hòa màu sắc, âm thanh rất tình tứ, lãng mạn làm say lòng người => thi trung hữu nhạc
b) Cảnh sông nước miền tây: “Người đi Châu Mộc hoa đong đưa”
- Cảnh vật như mờ đi trong chiều sương Sông nước, bến bờ lặng tờ, hoang dại Trên dòng sông đậm màu sắc cổ tích huyền thoại ấy, nổi bật lên dáng hình mềm mại, uyển chuyển của cô gái Thái trên chiếc thuyền độc mộc Và như hòa hợp với con người, những bông hoa rừng cùng “đong đưa” làm duyên trên dòng nước lũ
- Cảnh vật thiên nhiên qua ngòi bút của ông như có hồn phảng phất trong gió trong cây (có thấy hồn lau nẻo bến bờ) Cảnh vật trong chiến tranh mà thơ mộng, tĩnh lặng, đẹp như chốn thần tiên Thiên nhiên làm chủ, con người chỉ thoáng qua mờ
ảo
- Câu hỏi tu từ: “có thấy”, “có nhớ” diễn tả nỗi nhớ khắc khoải, khôn nguôi
Thi trung hữu họa
Trang 18Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
+ Hình ảnh “không mọc tóc” “xanh màu lá”: gợi hình dáng xanh xao của những người lính Tây Tiến Đây là hậu quả của những trận sốt rét rừng khủng khiếp, những thiếu thốn về vật chất của những người lính trong cảnh rừng thiêng, nước độc
+ Đối lập với ngoại hình bệnh tật, ốm yếu là khí thế oai phong, uy nghi, lẫm liệt của người lính Tây Tiến
+ Hình ảnh ẩn dụ “dữ oai hùm”: khí phách, tinh thần dũng cảm, can trường của người lính Tây Tiến mang dáng dấp của người tráng sĩ ngày xưa trong tư thế sẵn sàng hy sinh bảo vệ cho Tổ quốc
Mặc dù miêu tả sự thật khắc nghiệt của chiến tranh giải phóng dân tộc nhưng qua ngòi bút của Quang Dũng người đọc có thể cảm nhận được vẻ đạp oai phong, lẫm liệt của người lính lúc bấy giờ
b Tâm hồn hào hoa, lãng mạn:
- Tuy phải đấu tranh trong điều kiện thiếu thốn, khắc nghiệt nhưng tâm hồn người lính Tây Tiến vẫn mang vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
+ Cách nói cường điệu: “mắt trừng ” ánh mắt căm thù giặc, ý chí, thái độ chủ động tiêu diệt kẻ thù, khát vọng lập công danh, bảo vệ đất nước của người lính Tây Tiến
+ Bút pháp lãng mạn: cho thấy người lính Tây Tiến tuy chiến đấu gian khổ song vẫn mang tâm hồn lãng mạn của những chàng trai trí thức Hà Nội:
+ “mơ Hà Nội”: nhớ nhà, nhớ quê tha thiết
+ nhớ “dáng kiều thơm”: nhớ về những người thiếu nữ xinh đẹp của đất Hà thành
Đây chính là sức mạnh tinh thần, động lực giúp họ vượt qua khó khăn gian khổ
Quang Dũng diễn tả một cách tinh tế, chân thật tâm lí của những người chiến sĩ, chính tình cảm riêng hòa vào lí tưởng chung sẽ là sức mạnh để những người chiến sĩ vượt qua khó khăn gian khổ trên bước đường hành quân
là hiện thực đau thương khốc liệt của chiến tranh
- Từ Hán Việt “biên cương” “viễn xứ” đầy cổ kính, trang trọng đã làm giảm nhẹ
sự bi thương làm cho cái chết trở nên bi tráng hào hùng
Trang 19- Câu trên “bi” nhưng câu dưới lại “hùng” như là một khúc tráng ca “Chiến trường
đi chẳng tiếc đời xanh” → Biết chiến tranh là mất mát hy sinh, song họ vẫn sẵn
sàng hiến dâng tuổi xuân của mình cho Tổ quốc và không nề hà gian khổ Họ xem cái chết nhẹ tựa lông hồng và sẵn sàng “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”
- Cách nói giảm “anh về đất”, các anh không chết mà chỉ trở về với lòng đất mẹ
thân thương sau khi hoàn thành nhiệm vụ, quê hương ôm lấy và in lại dáng hình của các anh
- Nhân hóa “Sông Mã gầm” và động từ mạnh “gầm” Sông Mã đau đớn, tiếc
thương trỗi lên khúc nhạc tiễn đưa họ
Âm hưởng hào hùng bi tráng của cả đoạn thơ làm cho cái chết của họ không
bi lụy mà rất hào hùng, hoành tráng Nhà thơ đã thể hiện được tình cảm đau thương vô hạn và sự trân trọng, kính cẩn trước sự hy sinh lớn lao của đồng đội
e Sơ kết :
- Hình ảnh người lính mang vẻ đẹp bi tráng Bởi vì :
+ Nó nói về sự thật, đau thương mất mát của chiến tranh ( bi )
+ Nhưng qua ngòi bút của Quang Dũng, nó lại được tái hiện rất hào hùng, hoàng tráng (tráng)
Chính điều này đã làm cho bài thơ sống mãi trong lòng người đọc
4) Khổ 4 : Lơì thề của các chiến sĩ Tây Tiến:
“ Tây Tiến ………… về xuôi”
- Quang Dũng khẳng định tình cảm của mình đối với đồng đội Tây Tiến đã trở thành một mảnh hồn của tác giả Cách nói “người đi không hẹn ước”, “đường lên thăm thẳm một chia phôi”, “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy” “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi” chính là thể hiện tâm trạng buồn thương, luyến nhớ, bâng khuâng của nhà thơ khi nghĩ về một khoảng thời gian ăm ắp kỉ niệm, về một thời tuổi trẻ hào hùng gắn với những đồng đội thân yêu, những địa danh, những cuộc hành quân tiến về phía Tây lịch sử giờ đây và mãi mãi suốt đời không bao giờ quên
- Bài thơ kết thúc bằng bốn câu thơ nói lời nhắn gửi mà như một lời thề son sắt Lời thề của người lính Tây Tiến sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ, trở về với đất nước, quê hương: thề với những đồng đội đã hi sinh trên đất bạn, thề với lòng mình, với quá khứ hào hùng Đoạn thơ thể hiện lí tưởng chiến đấu “một đi không về” của người lính Họ ra đi chiến đấu không hẹn ngày về
Trang 20III Tổng Kết :
1 Nội dung : Bài thơ “Tây Tiến” thể hiện nỗi nhớ của tác giả về thiên nhiên hùng
vĩ, dữ dội và mĩ lệ ở Tây Bắc và con người Tây Bắc hào hoa đậm nghĩa tình, khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, anh hùng
2 Nghệ thuật: Bài thơ thể hiện phong cách thơ của Quang Dũng: Bút pháp lãng
mạn, tài hoa, ngôn ngữ hình ảnh thơ sáng tạo, giàu tính họa, tính nhạc, vừa cổ điển vừa hiện đại, giọng điệu bi hùng
*************
VIỆT BẮC (trích) -Tố Hữu- Phần I : TÁC GIẢ
I Vài nét về tiểu sử :
- Tên thật : Nguyễn Kim Thành (1920-2002)
- Quê: Quảng Điền – Thừa Thiên Huế
- Xuất thân: trong một gia đình nghèo Cha mẹ là những người thuộc nhiều ca dao dân ca nên đã truyền cho ông tình yêu tha thiết với văn học dân gian
- Quá trình trưởng thành:
+ Thời thanh niên, Tố Hữu sớm giác ngộ cách mạng và hăng say hoạt động, kiên cường đấu tranh trong các nhà tù thực dân
+ Năm 1938: được kết nạp vào Đảng cộng sản ( 18 tuổi )
+ Trong hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, Đế quốc Mĩ và đến năm
1986, Tố Hữu lần lược đảm nhiệm những cương vị trọng yếu trên mặt trận văn hóa văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
- 1996: được trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
=> Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam Thơ ông gắn liền với từng chặng đường lịch sử của dân tộc, mang phong cách trữ tình - chính trị sâu sắc, vừa mang tính sử thi vừa đậm đà tính dân tộc
II Con đường thơ :
Đường thơ của Tố Hữu luôn song hành với đường cách mạng của dân tộc
1.Từ ấy (1937-1946): Đây là chặng đường đầu tiên của đời thơ Tố Hữu, đánh dấu
bước trưởng thành của người thanh niên quyết tâm đi theo ngọn cờ của Đảng, được chia làm 3 phần :
- Máu lửa: cảm thông sâu sắc với cuộc đời cơ cực của những người nghèo khổ, khơi dậy ý chí đấu tranh và niềm tin vào tương lai
- Xiềng xích: sáng tác trong nhà tù, thể hiện tâm tư của người chiến sĩ tha thiết yêu đời và khao khát tự do, ý chí kiên cường của người chiến sĩ cách mạng
- Giải phóng: nồng nhiệt ca ngợi thắng lợi của CMTT
Trang 21- Niềm vui miền Bắc được giải phóng, bắt đầu xây dựng CNXH
- Tình cảm thiết tha sâu nặng với miền Nam ruột thịt và ý chí thống nhất Tổ Quốc
4.Ra trận (1962-1971), Máu và Hoa (1972-1977) : ca ngợi Chủ nghĩa anh hùng
cách mạng của nhân dân hai miền Nam- Bắc, cổ vũ tinh thần chiến đấu chống Mỹ Phản ánh con đường cách mạng đầy gian khổ, hi sinh, khẳng định niềm tin vào đất nước và dân tộc Việt Nam
5 Một tiếng đờn (1992), Ta với ta (1999):
Thể hiện những kinh nghiệm mang tính tổng quát về cuộc đời và con người
III Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu :
1.Nội dung : thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị rất sâu sắc
- Luôn hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người cách mạng, của cả dân tộc
- Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn
+ Cảm hứng chủ đạo: cảm hứng lịch sử - dân tộc Những sự kiện chính trị lớn của đất nước trở thành cảm hứng trong thơ Tố Hữu
+ Nhân vật trữ tình: mang phẩm chất tiêu biểu cho cả dân tộc, tầm vóc lịch sử và thời đại
2 Nghệ thuật: mang tính dân tộc đậm đà :
- Giọng thơ: tâm tình, tự nhiên, đằm thắm, chân thành
- Thể thơ: sử dụng nhiều thể thơ nhưng thành công nhất ở thể thơ truyền thống, thơ lục bát
- Ngôn ngữ: vận dụng từ ngữ và cách nói quen thuộc với dân tộc, sử dụng tài tình
từ láy, thanh điệu vần thơ, phát huy cao độ tính nhạc phong phú của tiếng Việt
Trang 22Đoạn trích nằm ở phần đầu tác phẩm, thể hiện tình cảm sắc son, chung thủy của người cán bộ đối với đồng bào Việt Bắc, đồng thời qua đó cũng nói lên được tình cảm sâu nặng của người kháng chiến đối với Việt Bắc trong những năm kháng chiến chống Pháp
II Đọc – hiểu:
1) Đoạn 1 “Mình về…hôm nay”: tâm trạng lưu luyến của kẻ ở người đi
a Bốn câu đầu : Lời nhân dân Việt Bắc :
“Mình về mình có nhớ ta
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”
- Cách xưng hô “mình – ta”: cách xưng hô mộc mạc, mang âm hưởng ca dao thể hiện mối quan hệ gần gũi, yêu thương gắn bó giữa người đi, kẻ ở
- Từ chỉ thời gian “mười lăm năm” là chi tiết thực, chỉ độ dài thời gian từ khi người chiến sĩ lên Việt Bắc thành lập căn cứ cách mạng cho đến ngày toàn thắng (tính từ năm 1940 – Khởi nghĩa Bắc Sơn, cho tới chiến thắng Điện Biên Phủ năm
1954) Câu thơ mang dáng dấp một câu Kiều “Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình”
- Điệp từ “nhớ” luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tràn đầy thương nhớ, bịn rịn
- Từ láy “thiết tha, mặn nồng” nhấn mạnh tình cảm sự gắn bó sâu nặng
- Câu hỏi tu từ “có nhớ ta”, “có nhớ không” kết hợp các hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng “cây, núi, sông, nguồn” gợi vẻ đẹp của thiên nhiên núi rừng Việt Bắc Câu thơ còn muốn nhắc lại đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, nhắn gửi người ra đi hãy nhớ đừng quên núi rừng Việt Bắc
b.Bốn câu tiếp theo: lời người chiến sĩ cách mạng
“Tiếng ai tha thiết bên cồn
………
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”
- “Tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” => là các từ láy gợi cảm, thể hiện tâm trạng luyến lưu, diễn tả trạng thái tâm lí buồn vui, nhớ mong, đan xen lẫn lộn, không nỡ rời xa miền đất nơi mình từng gắn bó của những người chiến sĩ
- Hình ảnh hoán dụ “áo chàm” là hình ảnh đặc trưng của người dân miền núi phía Bắc, là màu áo đơn sơ mộc mạc nhưng sâu nặng nghĩa tình, đã góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp cứu nước của dân tộc Là hình ảnh không bao giờ phai nhạt trong kí ức người ra đi
- Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”, đầy tính biểu cảm Ba dấu chấm lửng đặt cuối câu, là một dấu lặng trên khuôn nhạc, để tình cảm ngân dài, sâu lắng
- Cả đoạn thơ, nhịp thơ chậm, buồn; đã nói lên được sự xúc động nghẹn ngào, không nói nên lời của người đi kẻ ở, trong giờ phút chia tay Cầm tay nhau còn thể hiện tinh thần đoàn kết, hứa sẽ thủy chung son sắt, xa nhau sẽ nhớ về nhau
2) Đoạn 2 nhân dân Việt Bắc nhắn nhủ :
“Mình đi … cây đa”:
a Nhắc kỉ niệm về những ngày tháng khó khăn, gian khổ :
“Mình đi …… nặng vai?”
Trang 23- Hàng loạt câu hỏi tu từ vừa hỏi han, vừa gợi nhắc về những kỉ niệm ở chiến khu Việt Bắc
“- Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?”
+ Điệp ngữ “Mình đi”, “Mình về” lặp lại nhiều lần nhấn mạnh khung cảnh chia tay
+ Điệp ngữ “có nhớ” đặt ra câu hỏi nhằm khơi lại kỉ niệm từng gắn bó
+ Những hình ảnh “mưa nguồn suối lũ”, “những mây cùng mù” điều kiện thời tiết khắc nghiệt, khó khăn
+ Đối lập “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai” thể hiện sự đồng cam cộng
khổ, là hình ảnh ẩn dụ cho những khó khăn gian khổ của người làm cách mạng những năm đầu kháng chiến nơi núi rừng Việt Bắc
b Tâm trạng của người ở lại :
- Người chiến sĩ ra đi làm cho cả núi rừng trở nên hoang vu, buồn bã
Mình về, rừng núi nhớ ai Trái bùi để rụng măng mai để già.”
+ Nhân hóa “rừng núi nhớ” nỗi nhớ thấm vào thiên nhiên, lan tỏa ra cả núi rừng mênh mông rộng lớn
+ Liệt kê các hình ảnh “Trám bùi để rụng, măng mai để già” chỉ những món ăn
dân dã mà người Việt Bắc đã từng dành cho người cách mạng Câu thơ thể hiện sự trống trải, thiếu vắng hình bóng người cách mạng và sự mong đợi, buồn nhớ của người Việt Bắc đến nỗi trám bùi – măng mai không ai thu hái
“Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”
=> Đối lập “Hắt hiu lau xám >< đậm đà lòng son” → dù khó khăn, gian khổ
nhưng Việt Bắc vẫn giữ tấm lòng son sắt với cách mạng
c Nhắc những kỉ niệm cùng nhau kháng chiến
“Mình về còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?”
- Liệt kê “núi non”, “Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh” kết hợp từ chỉ thời gian “khi”, “thưở”: nhắc về những năm tháng cùng nhau chống thực dân Pháp và Phát xít Nhật → nhắc lại những hoạt động kháng chiến
- Điệp từ “mình” lặp lại 3 lần trên 1 dòng thơ (đa nghĩa) → vừa chỉ người Việt Bắc vừa chỉ người chiến sĩ, họ tuy hai mà là một, gắn bó không tách rời
- Hình ảnh mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào là những địa danh lịch sử, được tách thành “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa” Việt Bắc là cội nguồn là máu xương của người chiến sĩ nên khi phải chia tay ai cũng cảm thấy ngậm ngùi chua xót
3) Đoạn 3: người ra di khẳng định tình cảm nhớ thương tha thiết của mình với Việt Bắc
a Lời nhắn gửi thủy chung
Trang 24“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh”
- Cách ngắt nhịp 3/3 và phép đảo cho thấy sự gắn bó thống nhất không thể tách rời của người chiến sĩ và đồng bào Việt Bắc
- Từ láy “mặn mà”, “đinh ninh” lời nhắn gửi thiết tha chân thành
“Mình đi mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”
- Điệp đại từ “mình” rất đa nghĩa và sâu sắc, vừa chỉ người cách mạng vừa chỉ
người Việt Bắc
- So sánh “Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu” => nhấn mạnh nghĩa tình quân – dân sâu nặng, to lớn mà người ra đi dành cho nhân dân Việt Bắc Đó chính
là tấm lòng son sắt, thủy chung với Việt Bắc
b Nỗi nhớ của người cán bộ cách mạng:
* Nhớ thiên nhiên Việt Bắc:
“Nhớ gì như nhớ người yêu
………… người thương đi về”
- Điệp từ “nhớ” nhấn mạnh trạng thái cảm xúc rất thực của người về xuôi
- So sánh: “như nhớ người yêu” gợi nỗi nhớ cồn cào, da diết
- Nỗi nhớ VB da diết, bao trùm cả không gian (đầu núi, lưng nương, bản làng, bếp lửa, ngòi sông, suối), thời gian (sáng, trưa, chiều, tối)
- Hình ảnh “bản khói”, “bếp lửa” gợi không gian ấm cúng của gia đình, quê hương Cách gọi “người yêu”, “người thương” nhấn mạnh tình cảm thiết tha, sâu đậm
Cảnh vật ở Việt Bắc êm đềm, thơ mộng, gần gũi, thân thương
- Nhớ Việt Bắc qua những địa danh lịch sử cụ thể:
“Nhớ từng……… vơi đầy”
Liệt kê các hình ảnh: ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê cho thấy sự gắn bó thiết tha
mà người chiến sĩ dành cho Việt Bắc
* Nhớ người Việt Bắc với cuộc sống cần lao trong kháng chiến trường kì:
Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi
- Điệp từ, đại từ nhân xưng “mình đây ta đó” gợi gần gũi
- Thành ngữ “đắng cay ngọt bùi” nói lên sự chia sẻ những gian khổ, vất vả, khó khăn lẫn niềm vui, hạnh phúc
“Thương nhau chia củ sắn lùi
……
Chày đêm nện cối đều đều suối xa”
+ Nỗi nhớ về nhân dân Việt Bắc đã chia ngọt, sẻ bùi, che chở cho cách mạng trong quá khứ chiến tranh, cuộc sống ấy ở những tháng năm đơn sơ, nhiều gian khổ nhưng lại tràn đầy niềm tin
+ Nhớ người mẹ cần cù chịu khó, sẵn sàng cưu mang kháng chiến
“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô”
Trang 25+ Nhớ lớp bình dân học vụ và những đêm vui liên hoan:
Đối lập Cuộc sống kháng chiến gian khổ nhưng lạc quan, yêu đời
+ Nhớ phong tục, tập quán đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Bắc:
“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa”
âm thanh tiếng mõ trâu, tiếng chày giã gạo gợi những sinh hoạt bình dị, quen
thuộc, rất đặc trưng ở Việt Bắc
4) Đoạn 4 Nỗi nhớ Việt Bắc qua bức tranh tứ bình:
" Mình về mình có nhớ ta,
… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
a.Hai câu đầu: nỗi nhớ của người ra đi
- Đây là đoạn thơ được xem là đặc sắc nhất của Việt Bắc Chỉ mười câu lục bát, đã thu gọn màu sắc của bốn mùa, âm thanh của cuộc sống, cả thiên nhiên và con người Việt Bắc
- Mở đầu đoạn thơ tác giả đã nhấn mạnh đạo lý thủy chung của người ra đi đối với quê hương cách mạng Việt Bắc:
“Mình về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người”
- Đại từ nhân xưng “ta-mình”; hình thức đối đáp mang âm hưởng ca dao
=> lời tâm tình ngọt ngào, thể hiện tình cảm gắn bó, thủy chung của người đi kẻ ở
- Điệp từ “ nhớ”, câu hỏi tu từ : khắc sâu nỗi nhớ như một kí ức khó quên
- Hình ảnh giàu giá trị biểu trưng: “hoa” tượng trưng cho thiên nhiên, “người” tượng trưng cho đồng bào Việt Bắc, kết hợp với từ “cùng” Tố Hữu lựa chọn thật
đắt hình ảnh đối xứng này, để thể hiện vẻ đẹp kết tinh từ hương sắc đất trời tương xứng với vẻ đẹp của con người Bởi vậy, đoạn thơ được xây dựng theo kết cấu, câu lục nói về thiên nhiên, câu bát nói về con người
=> nỗi nhớ hòa nguyện giữa hoa và người làm cho bức tranh về miền đất Việt Bắc trở nên đẹp đẽ, hoàn hảo hơn
b Tám câu còn lại: bức tranh tứ bình về cảnh và người Việt Bắc:
- Bằng bút pháp lãng mạng,Tố Hữu đã vẻ nên một bức tranh về cảnh và người Việt Bắc vừa thơ mộng trữ tình nhưng cũng vừa bao la hùng vĩ
- Bức tranh tứ bình về thiên nhiên và con người Việt Bắc trong những thời điểm của một ngày: sớm - trưa - chiều - tối và trong những thời điểm của một năm: xuân
- hạ - thu – đông được miêu tả thật đẹp, thật nên thơ, hữu tình
Trước hết là nỗi nhớ về mùa đông Việt Bắc – mùa đông của thuở gặp gỡ ban đầu đến nay vẫn còn nguyên trong kí ức :
- Cảnh :
+ Bức tranh tứ bình đầu tiên là khung cảnh Việt bắc vào mùa đông, đây cũng chính là thời điểm đầu tiên mà những người chiến sĩ đến với Việt Bắc
Trang 26+ Thông thường vào mùa đông thì khí hậu rất khắc nghiệt, thiên nhiên thì u ám,
ảm đạm, nhưng thiên nhiên Việt Bắc vào mùa đông lại tràn ngập sức sống
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng”
+ Câu thơ truyền thẳng cho người đọc cảm nhận về một màu xanh lặng lẽ của núi rừng Màu xanh ngắt đầy sức sống, chứa bao sức mạnh bí ẩn “Nơi thiêng liêng rừng núi hóa anh hùng”
+ Nét chấm phá, đối lập màu sắc xanh - đỏ làm cho cảnh vật vừa hùng vĩ vừa nên
thơ, lãng mạn Màu “ đỏ tươi” không đơn giản là chỉ màu sắc, mà chứa đựng trong
đó cả sự bừng thức, một khám phá ngỡ ngàng, một rung động rất thi nhân
+ Cảnh tràn ngập sức sống với các màu xanh, đỏ, vàng đã xua tan cái âm u lạnh lẽo của mùa đông
- Người :
+ Trên nền của thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng, hình ảnh con người hiện lên hiên ngang, hùng dũng, làm chủ núi rừng và tỏa sáng cùng thiên nhiên “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”
+ Họ giống như một người chiến sĩ anh dũng trong lao động
=> Cảnh Việt Bắc vào mùa đông tươi tắn rực rỡ với con người mang vẻ đẹp lồng lộng, nổi bật giữa núi rừng
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng”
+ Đây là hình ảnh khá quen thuộc trong thơ Tố Hữu, sắc trắng hoa mơ này, cũng
đã đi vào Trường ca “Theo chân Bác” của ông:
“Ôi sáng xuân nay xuân bốn mốt Trắng rừng biên giới nở hoa mơ”
+ Cảnh thiên nhiên vào lúc này thật lung linh huyền ảo nhưng cũng rất trong sáng
êm đềm Người đi không thể không nhớ tới sắc trắng hoa mơ, nơi rừng xuân VB Lại càng không thể không nhớ tới con người, cần cù, uyển chuyển trong vũ điệu lao động tài hoa
-Người :
+ Con người Việt Bắc đang rất cần cù, siêng năng trong lao dộng
“Nhớ người đang nón chuốt từng sợi giang”
+ Động từ “chuốt từng” => gợi lên dáng vẻ tài hoa, tỉ mẩn Ngừơi Việt Bắc đang miệt mài gửi gắm tình cảm của mình vào từng sợ thương sợ nhớ để kết nên những vành nón yêu thương làm đẹp cho đời
→ Mùa xuân dịu dàng, tinh khiết đầy sức sống với con người siêng năng cần mẫn Hai câu thơ lưu giữ cả khí xuân, sắc xuân, tình xuân, bộc lộ sự tài tình hiếm thấy của thi nhân
Bức tranh thứ ba chuyển qua mùa hè :
-Cảnh :
Trang 27+ Tố Hữu lựa chọn hình ảnh cây phách là điểm nhấn cho bức tranh Bởi đây là loại cây đặc trưng nhất cho mùa hè VB
“Ve kêu rừng phách đổ vàng”
+ Tiếng ve: âm thanh đặc trưng của mùa hè làm cho không gian trở nên tưng bừng, rộn rã Ở đây có sự chuyển đổi cảm giác thú vị, từ ấn tượng về thính giác, đã đem lại ấn tượng về thị giác
+ Động từ “đổ” được dùng thật chính xác, tinh tế => Vừa gợi sự chuyển biến mau
lẹ của màu sắc, vừa diễn tả từng cơn mưa hoa phách, mỗi khi có ngọn gió thoảng qua Tác giả sử dụng nghệ thuật dùng âm thanh để gọi màu sắc, dùng không gian
để miêu tả thời gian, bởi vậy cảnh thực mà vô cùng huyền ảo
- Người :
+ Cô em gái hiện lên đầy thơ mộng, lãng mạn
“Nhớ cô em gái hái măng một mình”
+ Cô em gái : hình ảnh trẻ trung, xinh đẹp, đầy sức sống đang miệt mài, chăm chỉ trong công việc lao động hằng ngày Đây là hình ảnh đẹp khó phai trong lòng những người chiến sĩ
+ Hai từ “một mình” nghe xao xuyến lạ, dường như bộc lộ thầm kín niềm yêu mến của tác giả Nhớ về em, là nhớ về cả một mùa hoa
=> Mùa hè ở Việt Bắc lãng mạn, sinh dộng với con người trẻ trung đầy sức sống
Mùa thu :
- Cảnh :
+ Khép lại bức tranh tứ bình là khung cảnh mùa thu trong đêm trăng thanh bình yên ả nơi chiến khu Việt Bắc
“Rừng thu trăng rọi hòa bình”
+ Vẫn là rừng Việt Bắc nhưng dưới ánh trăng nó lại mang một vẻ đẹp lung linh, huyền ảo gợi nên không khí thật ấm áp, yên bình
- Người :
+ Giữa không gian ấy hình ảnh con người hiện lên qua tiếng hát ca ngợi ân tình, nhắn gửi thủy chung
“Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
+ Đại từ phiếm chỉ “ai” đã gộp chung người hát đối đáp với “mình” là một, tạo một hòa âm tâm hồn đầy lưu luyến, giữa kẻ ở người đi, giữa thiên nhiên với con người
Mùa thu ở Việt Bắc huyền ảo lung linh với con người son sắc thủy chung
Điệp từ “nhớ”: gây ấn tượng sâu sắc khó phai, nhấn mạnh tình cảm thiết tha
trong lòng người chiến sĩ khi rời chiến khu Việt Bắc
Mỗi câu lục bát đan xen tạo thành một bức tranh hoàn chỉnh cho bộ tranh tứ bình Mỗi bức tranh mang một vẻ đẹp riêng nhưng lại hòa kết với nhau tạo nên một vẻ đẹp ấn tượng về thiên nhiên và con người Việt Bắc
5)Đoạn 5 Nhớ Việt Bắc trong kháng chiến:
a Nhớ những ngày chiến đấu gian khó
“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
………
Nhớ từ Cao - Lạng, nhớ sang Nhị Hà”
Trang 28- Câu thơ dồn dập, âm hưởng hào hùng trang nghiêm, đậm chất sử thi, nhịp thơ mạnh mẽ, khẩn trương
- Điệp từ “nhớ” nhấn mạnh những kỉ niệm chiến đấu
- Điệp từ “giặc” lặp lại 2 lần nhấn mạnh hình ảnh thực dân Pháp đã đến chiến khu Việt Bắc tìm cách tiêu diệt phong trào cách mạng
- Biện pháp nhân hóa “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” → thiên nhiên gắn bó
với con người trong chiến đấu
- Đoạn thơ thể hiện sự đoàn kết trong kháng chiến “Đất trời ta cả chiến khu một lòng”
- Sử dụng câu hỏi tu từ + liệt kê các địa danh phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, Cao- Lạng… gợi nỗi nhớ dạt dào về Việt Bắc gắn với những địa danh lịch sử
b Việt Bắc hào hùng trong kháng chiến:
- Mở đầu đoạn thơ tác giả đã miêu tả được khí thế chống giặc hào hùng của
cả dân tộc
“Những đường VB của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung”
+ Những đường VB: cho thấy cuộc chiến của ta là toàn dân toàn diện Quân và dân cùng hừng hực khí thế đấu tranh trên những chặng đường chiến dịnh
+ Từ láy “rầm rập”, nghệ thuật so sánh cường điệu “như là đất rung” diễn tả khí thế đánh giặc hào hùng mạnh mẽ của nhân dân ta
=>Nhịp thơ mạnh, háo hức đã cho thấy được khí thế chiến đấu thần kì của quân và dân ta trước giờ ra trận, khí thế ấy có thể làm rung chuyển cả đất trời
- Bốn câu thơ tiếp theo: niềm lạc quan, tin tưởng vào chiến thắng tất yếu của dân tộc
- Những câu thơ tiếp theo, nhà thơ miêu tả hình ảnh đoàn quân ra trận
“Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”
+Từ láy “điệp điệp, trùng trùng” => đoàn quân ra trận đoàn đoàn, lớp lớp, đông đảo như sóng cuồn cuộn tạo nên sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc
+ Hình ảnh vừa tả thực vừa tượng trưng => các anh chiến sĩ ra trận không phải đi trong đêm tối mà đi dưới ánh sao dẫn đường Đây cũng chính là hình ảnh tượng trưng cho lí tưởng cách mạng đã soi sáng con đường hành quân của dân tộc ta
- Hình ảnh đoàn dân công phục vụ tiền tuyến được thể hiện qua lối nói phóng đại:
“Dân công đỏ đuốc từng đoàn Dấu chân nát đá, muôn tàn lửa bay”
+ Trong cuộc chiến của ta không chỉ có những người chiến sĩ ra trận mà tất cả nhân dân ta từ già đến trẻ đều hăng hái kháng chiến Họ là lực lượng đông đảo quần chúng nhân dân vượt qua cả đêm tối để vận chuyển lương thực, vũ khí, mở đường,… để giúp các anh bộ đội có đầy đủ điều kiện chiến đấu, giành chiến thắng + Nghệ thuật phóng đại kết hợp vận dụng ý ca dao “bước chân nát đá” nhấn mạnh khí thế hào hùng, mạnh mẽ của lực lượng dân công, sẵn sàng san bằng mọi khó khăn để tiến về phía trước
+ Cuộc chiến đấu của ta là cuộc chiến của cả dân tộc, sức mạnh đoàn kết sẽ giúp ta chiến thắng mọi kẻ thù
- Hình ảnh đoàn xe ra trận vừa hiện thực vừa lãng mạn:
Trang 29“Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”
+ Ngày đầu kháng chiến ta chỉ có tầm vong, giáo mác, vũ khí thô sơ Nhưng giờ đây quân ta đã có lực lượng hùng hậu với những binh đoàn được trang bị đầy đủ
vũ khí cùng nối nhau ra trận => sự trưởng thành của quân đội cũng là nhân tố quyết định thắng lợi
+ So sánh “Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”:
Tả thực: chỉ ánh sáng của đoàn xe, xua tan những đêm mù, đẩy lùi những thiếu thốn, khó khăn, soi sáng con đường kháng chiến
Tượng trưng: Câu thơ diễn tả cảm hứng tự hào, lạc quan tin tưởng về một tương lai tươi sáng của chiến khu trường kì gian khổ Dù hôm nay, dân tộc phải chìm trong khói lửa đau thương nhưng hãy tin rằng ngày mai chúng ta
sẽ chiến thắng Chúng ta sẽ được độc lập, tự do, ấm no và hạnh phúc
- Quân ta càng đánh càng chiến thắng với những chiến công rực rỡ Những tin vui chiến thắng dồn dập, liên tục:
“Tin vui chiến thắng trăm miền
Hòa Bình,Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”
+ Liệt kê những địa danh gắn liền với những chiến công của dân tộc như: Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An khê, Việt Bắc, đèo De, núi Hồng đã bộc lộ được niềm sung sướng tự hào trước những chiến công của dân và quân ta + Điệp từ “ vui”, cách kết hợp từ tăng tiến “tin vui vui về vui từ vui lên” như lời reo mừng, diễn tả niềm vui dồn dập với tâm trạng hân hoan vui sướng
=> Đây là đoạn thơ thể hiện được khung cảnh Việt Bắc hào hùng trong kháng chiến và qua đó cũng nói lên niềm tự hào vui sướng trước những chiến công của
cả dân tộc
6) Đoạn 6 Nhớ Việt Bắc là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến toàn quốc:
- Khẳng định Việt Bắc là căn cứ địa kháng chiến, là cơ quan đầu não của cách mạng
- Vị trí của Bác Hồ, của Đảng, của Việt Bắc trong những năm kháng chiến là quan trọng Bác là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng
"Ở đâu u ám quân thù cụ Hồ sáng soi"
- Việt Bắc là tấm gương trong chiến đấu dũng cảm anh hùng, trung tâm của
sự đoàn kết dân tộc là niềm tin, niềm tự hào của cả dân tộc Người cán bộ CM luôn nhớ về cái nôi của cuộc kháng chiến:
"Trông về Việt Bắc chí bền"
- Lời khẳng định lòng thuỷ chung son sắt đối với quê hương Việt Bắc
"Mười lăm năm cộng hoà"
III Tổng kết:
1.Nội dung : "Việt Bắc" là khúc hát ân tình thuỷ chung của những người kháng
chiến, của dân tộc qua tiếng lòng của nhà thơ Bên cạnh đó bài thơ còn cất lên âm
Trang 30hưởng anh hùng ca đưa ta về với một thời kì lịch sử trọng đại của đất nước, nhắc nhở mọi người phát huy truyền thống anh hùng và nghĩa tình của dân tộc
2 Nghệ thuật : Bài thơ tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình ngọt ngào, tha thiết Sử
dụng thể thơ lục bát và lối đối đáp trong ca dao đậm đà tính dân tộc, ngôn ngữ giàu hình ảnh nhạc điệu
************
ĐẤT NƯỚC (Trích trường ca “Mặt đường khát vọng” )
- Nguyễn Khoa Điềm -
về đất nước, về nhân dân qua những trải nghiệm của mình
- Tác phẩm tiêu biểu: Tập thơ “Đất ngoại ô”(1972), Trường ca “Mặt đường khát vọng”(1974)
1 Chín câu đầu Cảm nhận mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về sự hình thành
và phát triển của Đất Nước :
a Đất nước có từ lâu đời:
- Cách vào đầu giản dị và tự nhiên như 1 câu nói của nhân dân:
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi,
Trang 31Đất Nước có từ trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể…”
+ Câu thơ khẳng định sự hình thành lâu đời, bền vững của Đất Nước Đất nước có
từ rất lâu, lâu đến nổi không xác định được mốc thời gian cụ thể => ĐN hiện hữu trước khi ta ra đời, có hình hài, dáng vóc, có bờ cõi và có bề dày của tháng năm lịch sử => Câu thơ mở đầu thật tự nhiên và sâu lắng, làm cho lời định nghĩa về đất nước thoát khỏi cái khung khái niệm khô khan để trở thành một cuộc trò chuyện thân mật, gần gũi Đây chính là lối thơ chính luận trữ tình
- Cụm từ “ngày xửa, ngày xưa” dùng rất khéo, nó như dẫn ta ngược thời gian, trở
về với cội nguồn xa xưa của Đất Nước và dân tộc
- ĐN bắt nguồn từ những gì gần gũi, thân thuộc nhất và cũng bình dị nhất trong đời sống vật chất, tâm hồn của con người Đất nước ở ngay trong cuộc sống của mỗi gia đình chúng ta, đất nước đã có trong tâm hồn mỗi người qua những câu chuyện cổ tích xa xưa mẹ thường hay kể
b Sự hình thành và phát triển Đất Nước:
“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
- Đất Nước hình thành từ nền văn hoá lâu đời của dân tộc: tục ăn trầu, tục nhuộm răng, tục cưới hỏi Miếng trầu là hình ảnh quen thuộc trong ca dao, đời sống của người Việt Nam Trong miếng trầu nhỏ bé và dung dị đó ẩn chứa 4000 năm phong tục mà người Việt đã cố công gìn giữ
- Đất Nước được hình thành phát triển qua truyền thống kiên cường chống giặc ngoại xâm bảo vệ dân tộc của cha ông Tre là hình ảnh gợi nhớ đến truyền thuyết Thánh Gióng, tre gắn liền với nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp
và Mĩ
c Những hình ảnh tạo nên đất nước:
- Đất Nước gắn liền với những hình ảnh dung dị:
“Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”
- “Tóc mẹ thì bới sau đầu” thể hiện nét đẹp đặc trưng của người phụ nữ Việt Nam:
giản dị, dịu dàng, nữ tính, thuần hậu Đây là bản sắc riêng, là thuần phong, mĩ tục của nhân dân ta
- Đất Nước hình thành từ lối sống giàu tình nặng nghĩa “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” Câu thơ lấy ý từ ca dao, ca ngợi tình cảm vợ chồng sắt
son, ân nghĩa chung thủy Muối càng lâu năm thì càng mặn, gừng càng già càng cay, vợ chồng sống với nhau càng lâu thì tình nghĩa càng đong đầy Truyền thống
đó góp phần làm nên một Đất Nước nồng thắm nghĩa tình
- Đất Nước gắn liền với truyền thống lao động cần cù, chịu khó của dân tộc: “Cái kèo cái cột thành tên/ Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng” + Tác giả sử dụng phép liệt kê “cái kèo, cái cột” chỉ ra tên gọi của những bộ
phận tạo nên căn nhà truyền thống
+ Thành ngữ “một nắng hai sương”; liệt kê các động từ “xay, giã, giần, sàng”
nhấn mạnh sự vất vả của con người để làm ra hạt gạo Điều đó cho thấy Đất Nước gắn liền với quá trình lao động của nhân dân ta
Trang 32- Đoạn thơ kết lại với lời khẳng định:
“ Đất Nước có từ ngày đó…”
Câu thơ ngắn nhưng đã tổng kết được một quá trình lịch sử hình thành và phát triển đất nước
Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng nhiều chất liệu từ văn hóa dân gian như: truyện
cổ tích, truyền thuyết, ca dao,…; lời thơ nhẹ nhàng, cách viết hoa từ “ĐN” tạo nên một sự khám phá mới mẻ, độc đáo Quá trình sinh ra, lớn lên, trưởng thành, tồn tại của Đất Nước được cảm nhận thật gần gũi, thân thiết
2 ( Câu 10 - 29 ): Lời định nghĩa về Đất nước
a ĐN được định nghĩa từ bình diện không gian:
- Đất nước gắn bó với con người qua những không gian quen thuộc: đất là con đường anh đến trường, nước là bến sông nơi em tắm Đất nước là nơi in dấu bao kỉ niệm êm đềm của tuổi thơ, rất bình dị và cũng rất riêng tư
“Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm Đất Nuớc là nơi ta hò hẹn
ĐN là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”
- Từ “Đất Nước” được tách ra làm hai từ đơn thể hiện ý niệm mỗi người đều mang trong mình một phần đất nước
ĐN hiện diện trong những điều rất giản dị, thân thuộc với mỗi con người
b ĐN được định nghĩa từ bình diện thời gian:
- ĐN trường tồn bắt đầu từ những huyền thoại:
“Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
=> Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng hai câu ca dao miền Trung, đây là những hình ảnh thấm nhuần chất dân gian: đất nước là núi, sông, rừng, bể Câu thơ vẽ nên không gian mênh mông, giàu đẹp của lãnh thổ
“Đất là nơi chim về Nước là nơi rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”
- Đất nước là nơi hội tụ của muôn loài, của các dân tộc anh em gắn bó ruột thịt, tồn
tại qua “thời gian đằng đẵng” và “không gian mênh mông” Bằng cách nhắc lại
sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ, tác giả đem đến cho người đọc niềm tự hào về nguồn gốc cao quý của dân tộc Việt Nam - con cháu Lạc Hồng, dòng giống Rồng
Tiên Hai tiếng “đồng bào” rất thân thương, đánh thức tinh thần đoàn kết của dân
tộc
- Đất Nước luôn tiềm tàng mối quan hệ máu thịt giữa các thế hệ, gắn quá khứ với hiện tại và tương lai:
“Những ai đã khuất
Trang 33Những ai bây giờ Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ”
Đó là lịch sử nối tiếp tự nhiên làm nên sự sống bất diệt, sự trường tồn muôn
đời của Đất Nước Lời thơ nhắn gửi thế hệ sau đừng quên cội nguồn, đừng vong
ân Hình ảnh “cúi đầu” là hình ảnh xúc động, thể hiện sự thành kính, thiêng liêng
Đó là nét đẹp của đời sống văn hóa tinh thần dân tộc, nói lên truyền thống đạo lí của dân tộc luôn hướng về cội nguồn, có ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc
Cách định nghĩa Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm đã chạm được vào những
gì thiêng liêng nhất, lớn lao nhất nhưng lại cũng gần gũi và thân thiết nhất đối với mỗi người Tác giả đã tập trung cảm nhận về Đất Nước ở chiều rộng địa lí, chiều dài lịch sử và cả chiều sâu trầm tích văn hóa Nó dễ gợi cho ta những suy ngẫm về quá khứ, về lòng tự hào dân tộc Và cũng bởi thế, nó thức tỉnh ý thức dân tộc và tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, nhân dân trong mỗi chúng ta
3 (Câu 30 - 42): Trách nhiệm của mỗi người đối với Đất Nước
a Lời nhắn nhủ của nhà thơ đối với thế hệ hôm nay:
- ĐN được viết hoa thể hiện thái độ trân trọng của nhà thơ khi nói về đất nước
- Ở hai câu thơ đầu tiên tác giả khẳng định ĐN có trong tình yêu đôi lứa
“Trong anh và em hôn nay
Đều có một phần đất nước”
- Đại từ nhân xưng “anh - em”: thể hiện sự thân thiết gần gũi, lời thơ như một lời tâm tình nhắn nhủ
- Cách nói khẳng định “đều có một phần Đất Nước” đã xác định Đất Nước kết
tinh, tồn tại trong mỗi con người Bởi vì mỗi chúng ta sinh ra đều kế thừa những giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc => ĐN rất gần gũi thân thiết, hóa thân ngay trong mỗi con người chúng ta
- ĐN là sự kết tinh của tình đoàn kết yêu thương nhau
“Khi hai đứa cầm tay nhau
ĐN trong chúng ta hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
ĐN vẹn tròn to lớn”
- Điệp từ “khi” là lời khẳng định chân thành thiết tha gửi gắm một thông điệp mới
mẻ về ĐN
- “Hai đứa”: chỉ cá nhân, gia đình, tượng trưng cho tình cảm riêng
- “Chúng ta”, “mọi người”: chính là cộng đồng, dân tộc, tượng trưng cho tình
cảm chung
- Cử chỉ“cầm tay”: khẳng định tinh thần đoàn kết, gắn bó dân tộc
=> ĐN là sự hòa nguyện giữa cái riêng và cái chung, là sự thống nhất hài hòa giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu Tổ quốc, cá nhân với cộng đồng => nếu có sự đoàn kết thì nhất định ĐN của chúng ta ngày một to lớn và vững mạnh
b Lời nhắn nhủ của nhà thơ đối với thế hệ mai sau:
Trang 34- Nhìn nhận về ĐN nhà thơ cũng bộc lộ niềm tin tưởng vào tương lai của ĐN
“Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang ĐN đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng”
- “Con ta”: chỉ thế hệ trẻ, thế hệ đi sau tiếp nối
- “Mai này”: chỉ tương lai mai sau
- Động từ “mang”: khẳng định vai trò trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với ĐN
- “Tháng ngày mơ mộng”: những điều mong ước của cha ông sẽ trở thành hiện
thực
=> Nhà thơ tin tưởng vào thế hệ trẻ sẽ làm cho ĐN ngày một phát triển, tươi sáng hơn
c Lời nhắc nhở chung về trách nhiệm của mỗi người đối với Đất Nước:
- Muốn ĐN ngày một lớn mạnh vững bền thì mỗi cá nhân phải ý thức được vai trò trách nhiệm của mình đối với ĐN
“Em ơi em
ĐN là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên ĐN muôn đời”
- Cách xưng hô thân mật “Em ơi em”, giọng thơ ngọt ngào tha thiết như lời tâm
sự, nhắn gửi chân thành dành cho thế hệ trẻ cũng như bản thân mình
- Cách so sánh “ĐN là máu xương của mình”: khẳng định Đất Nước là một phần
không thể thiếu trong mỗi con người, là sự hi sinh của bao người tạo nên ĐN là lẽ sống, là sinh mệnh của mỗi người
- Điệp ngữ “phải biết”→ như một mệnh lệnh phát ra từ trái tim kết hợp những động từ tăng tiến, dồn dập “gắn bó”, “san sẻ”, “hoá thân” nhấn mạnh thái độ
sống tích cực, đầy trách nhiệm của mỗi người với Đất Nước
“gắn bó”: là đoàn kết để tạo nên sức mạnh tập thể
“san sẻ”: là chia sẻ, gánh vác trách nhiệm với vận mệnh của Đất Nước
“hóa thân”: tinh thần xả thân, hi sinh khi Tổ quốc lâm nguy
=> Đoạn thơ kêu gọi cá nhân phải cùng nhau chung tay giữ gìn, đoàn kết, góp sức thậm chí hi sinh, hòa cái riêng vào cái chung để xây dựng và bảo vệ ĐN
Có như thế ĐN mới vững bền và phát triển đến muôn đời
4 Tư tưởng “ Đất Nước là của nhân dân”: là tư tưởng khẳng định vai trò to lớn
của nhân dân Họ là chủ thể của ĐN, người kiến tạo, xây dựng và bảo vệ ĐN Tư tưởng này đề cao vai trò lịch sử của nhân dân đối với ĐN
a) Câu 43 – 54: Nhân dân xây dựng nên những địa danh của Đất Nước:
- Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã liệt kê hàng loạt danh lam thắng cảnh từ Bắc đến Nam của Đất Nước ta nhắm khẳng định ĐN này là Đất Nước của nhân dân
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Trang 35Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình cho đất tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm…”
- Tất cả các địa danh đều gắn liền với một huyền thoại, một sự thật lịch sử về cuộc đời của nhân dân Ẩn chứa đằng sau đó là nét đẹp tâm hồn của nhân dân trong mấy
nghìn năm lịch sử Điệp từ “góp” thể hiện sự gắn bó giữa con người và địa danh
Chính nhân dân hóa thân thành những danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp cho Đất Nước
+ Ở miền Bắc, danh thắng ấy hiện lên với núi Vọng Phu, hòn Trống Mái biểu tượng cho vẻ đẹp của tình yêu thủy chung bền vững Hòn Vọng Phu nay vẫn còn ở Lạng Sơn gắn liền với tích nàng Tô Thị bồng con chờ chồng hóa đá Hòn Trống Mái ở Sầm Sơn, Thanh Hóa, tương truyền do hai vợ chồng yêu nhau hóa thân thành Thời gian trôi qua, những vẻ đẹp thủy chung, nghĩa tình đã trở thành bất tử
+ Đó còn là vẻ đẹp người anh hùng làng Gióng với chứng tích “ao đầm” hình
móng chân ngựa mọc đầy quanh chân núi Sóc Sơn (Hà Nội) Đó là quần thể núi
non hùng vĩ “chín mươi chín con voi” bao quanh núi Hi Cương (Phú Thọ) nơi đền
thờ vua Hùng ngự trị Tất cả nhằm nhắc nhở chúng ta nhớ về truyền thống đánh giặc giữ nước, công cuộc xây dựng, kiến thiết đất nước của cha ông
+ Ở miền Trung, nhà thơ đưa ta về với vùng đất Quảng Ngãi để chiêm ngưỡng
“núi Bút, non Nghiên” do cậu học trò nghèo dựng nên Đó là biểu tượng của
truyền thống hiếu học của nhân dân đã góp cho đất nước bao tên tuổi
+ Ở miền Nam, danh thắng là con sông Cửu Long hiền hòa, tươi đẹp: “Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm” Ngoài ra, những địa danh còn là sự hóa thân của những con người lao động bình dị: “Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”
- Từ đó nhà thơ đúc kết và khẳng định: núi sông này, Đất Nước này là một
“Ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi ĐN sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”
Nhân dân đã đặt tên, đã ghi dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, con sông,
hình ảnh của họ hiện diện khắp nơi, trở thành linh hồn của lịch sử dân tộc
- Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” là đóng góp lớn của nhà thơ làm sâu sắc thêm ý niệm về Đất nước của thơ thời kỳ chống Mỹ cứu nước
b) Câu 55 - 79: Nhân dân bảo vệ Đất nước và truyền lại cho đời sau những giá trị vật chất và tinh thần
- Tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” đã chi phối cái nhìn nhà thơ khi nghĩ về bốn ngàn năm lịch sử của dân tộc Vì thế, khi nhắc đến những người có công với đất
Trang 36nước, nhà thơ không nhắc đến những anh hùng được tôn vinh trong lịch sử mà lại
nói tới những con người bình dị, vô danh vì chính họ là những người âm thầm chịu
đựng những mất mát hy sinh để giữ gìn và bảo vệ đất nước
“Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất nước”
Nhân dân là người sáng tạo ra đất nước, họ cần cù lao động trong thời bình và
sẵn sàng ra trận trong thời chiến
- Những cụm từ lấy từ cao dao, tục ngữ “nuôi cái cùng con”, “giặc đến nhà đàn bà
cũng đánh” vừa tạo cho lời thơ sự nhuần nhị, gợi cảm vừa ca ngợi vai trò của
người phụ nữ đảm đang, quật cường trong chiến đấu
- Họ còn tạo ra và giữ gìn, truyền lại cho thế hệ mai sau những giá trị vật chất và
tinh thần :
“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người đời sau trồng cây hái trái.”
+ Điệp từ “họ” đặt ở đầu câu: những thế hệ trước, những người anh hùng, là nhân
dân Tác giả sử dụng nhiều động từ “chuyền, truyền, gánh,…” nhấn mạnh những
việc mà cha ông đã làm cho chúng ta
+ Biện pháp liệt kê khẳng định chắc chắn nhân dân chính là người sáng tạo, lưu
giữ và truyền lại cho thế hệ sau những giá trị vật chất lẫn tinh thần của dân tộc: hạt
lúa, lửa, tiếng nói, tên xã tên làng,
- Họ còn là những người dũng cảm chống thù trong giặc ngoài để bảo vệ đất nước:
“ Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại”
=> Đó là truyền thống yêu nước nồng nàn của người Việt ĐN chưa bao giờ được
bình yên trước họa ngoại xâm Vì vậy, Nhân dân luôn ý thức truyền lại truyền
thống đấu tranh của dân tộc cho thế hệ mai sau
c Quan niệm “Đất nước của nhân dân” (câu 80-81):
- Nhà thơ khẳng định đất nước là của nhân dân:
“Để Đất nước này là Đất nước của Nhân dân
Đất nước của Nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại”
- Câu thơ có hai vế song song, cụm từ: “Đất Nước này là Đất Nước của nhân
dân” được lặp lại 2 lần như một lời khẳng định đanh thép, hùng hồn
- Cách định nghĩa về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm thật giản dị mà độc
đáo: từ ca dao thần thoại ta thấy được vẻ đẹp của con người Việt Nam Nhà thơ
còn chọn lọc trong kho tàng ca dao 3 câu ca dao đặc sắc nói về ba phương diện
quan trọng trong truyền thống dân tộc :
Trang 37+ Chân thành, tha thiết trong tình yêu: “Yêu em từ thuở trong nôi – Em nằm
em khóc anh ngồi anh ru.”
+ Quý trọng tình nghĩa: “Cầm vàng mà lội qua sông – Vàng rơi không tiếc tiếc công cầm vàng.”
+ Quyết liệt trong căm thù và chiến đấu: “Thù này ắt hẳn còn lâu – Trồng tre đánh giặc, gặp đâu đánh què.”
Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân là tư tưởng cốt lõi, xuyên suốt cả bài thơ Nhân dân là người dựng xây, gìn giữ, bảo vệ ĐN Vì vậy, chúng ta phải có trách nhiệm giữ gìn những gì mà cha ông đã để lại Thế hệ trẻ hôm nay phải luôn tự nhắc mình về trách nhiệm đối với Đất Nước
- Tác giả cảm nhận Đất Nước mình đẹp biết bao, bởi những tâm hồn yêu đời, lạc quan Chính những người lao động bình dị: chèo đò, kéo thuyền, vượt thác … là những người tô điểm cho Đất Nước đẹp hơn:
“Ơi những dòng sông……….sông xuôi.”
=> Tư tưởng “ Đất Nước của nhân dân” thực ra đã có từ thời lịch sử xa xưa Những nhà tư tưởng lớn, những nhà văn lớn của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu… đã từng nói lên nhận thức của mình về vai trò của nhân dân trong lịch sử Ngày nay, tư tưởng ấy được lớp lớp nhà thơ trẻ phát biểu một cách thấm thía qua những trải nghiệm của chính mình
III.TỔNG KẾT:
1 Nội dung :
- Đoạn trích “Đất Nước” thể hiện cảm nghĩ mới mẻ của tác giả về đất nước qua
những vẻ đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều bình diện: lịch sử, địa lí, văn hóa,
- Qua đó, nhà thơ khẳng định trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước cùng với lòng yêu nước, niềm tự hào về đất nước Đặc biệt, thể hiện tư tưởng cốt lõi: Đất nước của nhân dân
2 Nghệ thuật :
- Sử dụng từ Đất nước với ý đồ nghệ thuật cao (viết hoa cả hai chữ, điệp từ, lúc tách ra thành từ Đất và Nước, lúc nhập vào lại thành Đất Nước)
- Lối thơ trữ tình, lời thơ nhẹ nhàng như lời trò chuyện, tâm tình, nhắn nhủ
- Hình ảnh thơ giàu cảm xúc, đầy suy tư và mang nhiều ý nghĩa biểu trưng
- Giọng thơ tha thiết, trang nghiêm, thành kính
- Sử dụng nhiều chất liệu văn hoá, văn học dân gian
*************
Trang 38- "Sóng" là bài thơ tiêu biểu của Xuân Quỳnh được sáng tác năm 1967 trong
chuyến đi thực tế vùng biển Diêm Điền (Thái Bình)
- Đây là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh
- Bài thơ in trong tập “Hoa dọc chiến hào”
- Đối lập: dữ dội - dịu êm ; ồn ào - lặng lẽ => sóng có lúc dữ dội nhưng cũng có
lúc rất dịu êm, đây là những trạng thái tuy đối nghịch nhau nhưng cùng tồn tại trong hình tượng sóng
- Tâm trạng người con gái khi yêu cũng như vậy: có lúc nồng nàn, sôi nổi, đắm say nhưng cũng có lúc rất dịu dàng đằm thắm
Trang 39- Chính điều đó đã khơi dậy những khát vọng lớn lao ở sóng và em:
“Sông không hiểu nổi mình
=> Con sóng khi vượt qua những giới hạn chật chội mới thật sự nhận thấy sức mạnh, nỗi khát khao sôi sục của chính mình Cũng như người con gái khi đối diện với tình yêu mới hiểu được giá trị của mình, cảm nhận được sức mạnh và khát vọng tình yêu của bản thân
b.Khổ 2: sự trường tồn của sóng và tình yêu
- Đối diện với sự trường tồn của sóng nhà thơ liên tưởng tới sự bất diệt trong tình yêu:
“Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ”
- Thán từ “ôi”: trực tiếp bộc lộ cảm xúc
- Từ chỉ thời gian “ngày xưa-ngày sau”=> thời gian có thay đổi nhưng sóng vẫn
dạt dào, xao động, tình yêu cũng thế luôn luôn trường tồn theo năm tháng
-Từ láy “bồi hồi”, hoán dụ “ngực trẻ”: khẳng định tình yêu luôn luôn là báu vật
quý giá mà tạo hóa ban tặng cho con người, nhất là những người trẻ tuổi
=> Âm điệu nhịp nhàng, dạt dào, lúc sôi nổi lúc dịu êm của câu thơ năm chữ kết hợp với hình ảnh gợi tả đã thể hiện được những trạng thái phức tạp của sóng cũng như tâm hồn của người phụ nữ khi yêu
3 Khổ 3+4: suy tư trăn trở trong tình yêu
- Trước không gian bao la của biển người phụ nữ trăn trở về sự khởi đầu của tình yêu
“Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?”
- Điệp ngữ “em nghĩ”, câu hỏi tu từ => sự suy tư, boăn khoăn của người phụ nữ
- Người con gái muốn tìm hiểu nguồn gốc của sóng cũng như sự khởi đầu của tình yêu
- Nhưng tình yêu muôn đời là một bí ẩn mà khó ai có thể giải thích đầy đủ Nó giống như sóng biển gió trời mà ta không thể nào khám phá hết được
Trang 40- Chính vì lẽ đó mà người con gái đành phải chấp nhận nó như một sự thật đã được định sẵn
“Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau”
- Cách lí giải của người phụ nữ thật hồn nhiên, nữ tính: “Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau” Tình yêu là một quy luật rất tự nhiên của con người, nó chứa đầy những bí ẩn lớn lao mà con người bao thế hệ luôn khát khao tìm kiếm
4 Khổ 5: tình yêu gắn liền với nỗi nhớ
- Nỗi nhớ thường gắn liền với tình yêu, nó cũng chính là thước đo của tình yêu Nỗi nhớ ở đây được Xuân Quỳnh miêu tả thật nồng nàn, tha thiết
“Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được”
- Điệp ngữ “con sóng”: làm cho câu thơ nhịp nhàng, tha thiết như lời nhắn gửi
nồng nàn của sóng
- Từ ngữ đối lập: dưới lòng sâu - trên mặt nước ; ngày - đêm
- Nhân hóa “sóng nhớ bờ”, “không ngủ” => sự trăn trở, thao thức của sóng cũng như của người con gái khi yêu
=> nỗi nhớ bờ của sóng bao trùm cả không gian và thời gian, một nỗi nhớ triền miên, bềnh bồng da diết
- Hình tượng sóng vẫn chưa diễn tả hết nỗi nhớ trong lòng mình, nhà thơ bày tỏ lòng mình một cách trực tiếp, không hề giấu giếm
“Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
- Mơ : là cõi mộng, tiềm thức của con người
- Nỗi nhớ trong tình yêu của người con gái thường trực trong mọi không gian và thời gian, không chỉ tồn tại trong ý thức mà còn len lỏi trong tiềm thức, xâm nhập vào cả giấc mơ
=> Nỗi nhớ thật nồng nàn, tha thiết cho thấy tình yêu của người phụ nữ thật chân thành táo bạo, khi yêu họ không hề giấu giếm khát vọng về một tình yêu sôi nổi, mãnh liệt của mình Điều này thật hiếm thấy trong văn học Việt Nam trước đó
5.Khổ 6+7 : tình yêu gắn liền với sự thủy chung
- Hình tượng sóng giữa biển khơ một nữa lại bộc bạch tâm trạng của người phụ nữ đang yêu
“Dẫu xuôi về phương Bắc