VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI ĐÔNG NAM Á SOME THEORETICAL AND PRACTICAL ISSUES OF CULTURAL IDENTITY IN TOURISM PROMOTION IN SOUTHEAST ASIA Lê Thế Hiển Tóm tắt: Tr
Trang 1VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI ĐÔNG NAM Á
SOME THEORETICAL AND PRACTICAL ISSUES
OF CULTURAL IDENTITY
IN TOURISM PROMOTION IN SOUTHEAST ASIA
Lê Thế Hiển
Tóm tắt:
Trong bối cảnh của thời đại hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa quốc gia và hệ giá trị truyền thống của dân tộc luôn được lưu ý
và xem trọng Đông Nam Á từ lâu đã là một khu vực quan trọng với đặc trưng là tính
“thống nhất trong đa dạng” Các quốc gia ASEAN đã trở thành những điểm đến hấp dẫn của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nhờ các đặc điểm lịch sử, tài nguyên tự nhiên, văn hóa độc đáo, đầy tiểm năng Bài viết này tập trung phân tích những lý thuyết, khái niệm về bản sắc văn hóa dân tộc nhằm làm rõ các lợi thế và tiềm năng phát triển của một
số địa phương, đặt trong mối liên hệ với hiện trạng đầu tư, khai thác và mục tiêu nâng cao hiệu quả của loại hình du lịch văn hóa Qua đó, tác giả cũng đưa ra các đề xuất, góp ý cho chiến lược phát triển du lịch dựa trên bản sắc văn hóa truyền thống và sự tham gia của cộng đồng địa phương
Từ khóa:
bản sắc dân tộc, du lịch văn hóa, Đông Nam Á, ASEAN, hệ giá trị truyền thống
Thạc sĩ, Giảng viên Khoa Quản trị Du lịch & Khách sạn, trường ĐH Kinh Tế Tài Chính TP.HCM, Nghiên cứu sinh khoa Văn hóa học, trường ĐH KHXH&NV - ĐHQG HCM
Thông tin liên hệ: SĐT 0914378388, Email: thehien1704@gmail.com
Trang 21 Đặt vấn đề
Từ những năm đầu của thế kỷ XXI, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
đã trở thành vấn đề được quan tâm nổi bật và trong bối cảnh ấy, vấn đề đa dạng văn hóa, các trào lưu tiếp biến văn hóa cũng đã đặt ra cho cộng đồng dân tộc và chính phủ các nước nhiều băn khoăn, thử thách Bên cạnh đó, văn hóa cũng có mối liên hệ vô cùng chặt chẽ với ngành du lịch, cụ thể là việc bảo tồn và khai thác các giá trị nhân văn, truyền thống cộng đồng đáp ứng cho việc phát triển kinh tế - xã hội từng địa phương Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã từng nhận định “văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội” Xuất phát từ tình hình thực tế đó, kể từ năm 2001, Liên Hiệp Quốc đã đưa
ra tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hóa, lấy ngày 21/5 hàng năm là Ngày thế giới về
Đa dạng văn hóa vì Đối thoại và Phát triển
Riêng tại Đông Nam Á, nhiều văn bản quan trọng của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) như bản Hiến chương năm 2007 và Tuyên bố Kuala Lumpur năm
2015 đã khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng bản sắc văn hóa khu vực, song song với thúc đẩy du lịch như là một ngành kinh tế mũi nhọn, đảm bảo phát triển bền vững và bảo tồn các di sản, sự đa dạng văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc trong Cộng đồng chung ASEAN Hiện nay, các nước Đông Nam Á đều tranh thủ bối cảnh quốc tế thuận lợi và tiềm lực quốc gia của mình để phát triển du lịch và khai thác, nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngành công nghiệp dịch vụ dựa trên sự phong phú về tài nguyên thiên nhiên, sự đa dạng và độc đáo và tài nguyên nhân văn và bản sắc văn hóa truyền thống đặc sắc Nghị quyết Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 7/1998) cũng đã xác định:
“Việt Nam ta có nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc” và nền văn hóa mà chúng ta xây dựng đó là “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Theo đó, văn hóa chính là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội (Ban Tuyên giáo TW, 2019)
Dưới tác động mạnh mẽ và sâu rộng của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 trong mọi mặt đời sống, những thành tựu của khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại cùng với công cuộc chuyển đổi số và sự phát triển của mạng truyền thông đại chúng - mạng xã hội, bản sắc văn hóa của các quốc gia dân tộc, cộng đồng địa phương nhờ đó cũng có điều kiện để được quảng bá và phát huy mạnh mẽ vai trò quan trọng của nó trong việc
Trang 3đình hình thương hiệu du lịch Du lịch cộng đồng và du lịch văn hóa đã trở thành một
xu thế tất yếu, một dộng lực quan trọng để phát triển ngành công nghiệp không khói này
2 Nhận diện bản sắc văn hóa và vai trò, ý nghĩa của phát triển du lịch văn hóa
Luận bàn về khái niệm của văn hóa, cho đến nay đã có hàng trăm nhà khoa học, nhà nghiên cứu và chuyên gia trên thế giới đưa ra nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau
Từ cách tiếp cận dưới góc độ, văn hóa hay văn minh (Tylor, 1871) - được hiểu theo nghĩa rộng của ngành khoa học văn hóa - là “toàn bộ một phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và cả năng lực, tập quán khác mà con người đạt được với tư cách là một thành viên xã hội”
Hay trong bộ từ điển Bách khoa toàn thư Britainnica, văn hóa được định nghĩa thành một tổng thể bao gồm các thành tố được liệt kê như: ngôn ngữ, tư tưởng, niềm tin, phong tục, những điều cấm kị, luật pháp, hiến pháp, công cụ, kỹ thuật, nghệ thuật, nghi
lễ và các thành tố liên quan khác; cho đến việc tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học của Liên Hiệp Quốc khái quát hóa thuật ngữ này thành một ‘tập hợp những nét khác biệt
về đời sống tinh thần, vật chất, trí tuệ, và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm xã hội’ trong Tuyên ngôn phổ quát về đa dạng văn hóa (UNESCO, 2001) Ngày nay, các nhà Nhân học văn hóa phương Tây hiện đại lại xem tính cố hữu của hằng số văn hóa như là những “mã gien di truyền - meme”, là sự kế thừa di sản văn hóa, là truyền thống, bản sắc, giá trị văn hóa của các dân tộc (Nguyễn Duy Thiệu, 2019)
Như vậy, bản sắc văn hóa (cultural identity) thường được hiểu như là một căn
cước, đặc tính của các cộng đồng, dân tộc Nếu tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng nhất, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử thì bản sắc văn hoá dân tộc là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được dân tộc sáng tạo ra trong lịch sử, là những nét độc đáo rất riêng của dân tộc này so với dân tộc khác (Hoàng Thị Hương, 2011) Những đặc trưng văn hóa khu biệt dùng để nhận diện các cộng đồng, tộc người, mang tính phổ biến và bền vững đối với từng xã hội, các quốc gia; đồng thời là những thuộc tính đặc hữu để phân biệt vùng văn hóa này với vùng văn hóa khác (Nguyễn Văn Kim, 2016) Trong quan hệ quốc tế, bản sắc văn hóa dân tộc được xem như cái “thẻ căn cước”, là cốt cách của mỗi dân tộc thể hiện trên mọi phương diện quan hệ ngoại giao về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Trước đây, các nhà Nho học thường gọi đó là ‘quốc hồn, quốc túy’, bản sắc văn hóa luôn gắn liền với sức sống
và tinh thần dân tộc Tuy nhiên, theo nhà triết học Pháp đương đại Fernand B (1992),
Trang 4‘văn hóa vừa là một hằng số, vừa là một biến số’ Một nền văn hóa không còn thay đổi được nữa, cũng giống như một tử ngữ, sẽ là một nền văn hóa chết (Braudel, 2004) Nhà nghiên cứu Phan Ngọc (1998) khi bàn về tính mở và sự vận động, biến đổi không ngừng của văn hóa, cho rằng: “duy trì bản sắc văn hóa không có nghĩa là đóng cửa lại, chỉ chấp nhận một cách giải thích mà phải thích ứng với mọi sự thay đổi; như vậy có nghĩa là phải chấp nhận mọi sự tiếp xúc, mọi mối quan hệ.”
Indonesia là quốc gia đầu tiên công bố hệ giá trị định hình bản sắc dân tộc Trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ II sắp kết thúc và phát xít Đức thất bại ở mặt trận phía Tây, các nhà yêu nước đã nhận thấy sự cần thiết phải xây dựng một cương lĩnh phục vụ cho việc thống nhất lãnh thổ của hơn 300 sắc tộc và 740 ngôn ngữ, phát triển đất nước
và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống Sukarno đã đưa ra đề xuất một hệ thống năm nguyên tắc trong một phiên họp của Ủy ban nghiên cứu xây dựng độc lập (BPUPKI) và
sau này được biết đến phổ biến như là hệ giá trị Pancasila, bao gồm: (1) Thượng đế tối
cao và duy nhất; (2) Nhân loại công bằng và văn minh; (3) Mở rộng đoàn kết quốc gia, dân tộc; (4) Tính dân chủ được định hướng bằng trí tuệ; và (5) Công bằng xã hội cho toàn dân Ngay sau khi xứ sở vạn đảo vừa giành độc lập từ thực dân Hà Lan vào ngày 17/8/1945, Pancasila được chính thức đưa vào Hiến pháp Indonesia Từ năm 1975, dưới thời Tổng thống Suharto, Pancasila cũng được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông Đến năm 1978, Pancasila đã trở thành kim chỉ nam cho toàn bộ xã hội, được tất cả tôn giáo và các tộc người hưởng ứng, tham gia (Trần Ngọc Thêm, 2017)
Cũng trong giai đoạn ấy, nhiều cuộc xung đột và bạo loạn sắc tộc khiến cho tình hình an ninh chính trị - xã hội trở nên căng thẳng và rơi vào khủng hoảng những năm 1959-1965 Hội đồng Tư vấn Quốc gia (MAPEN) của Chính phủ Liên bang Malaysia
đã công bố “năm nguyên tắc quốc gia - Rukun Negara” vào năm 1970 đã thúc đẩy thành
công quá trình đại đoàn kết toàn dân, nhằm tạo nên sự khoan dung tôn giáo và không khí dân chủ, pháp trị trong xã hội Rukun Negara đã giúp làm giảm sự xung đột giữa cộng đồng người Mã Lai bản địa với các tộc người gốc Ấn và gốc Hoa nhập cư, tạo nên một Malaysia thống nhất - Satu Malaysia (Najib Tun Razak,2009) ngày nay, hệ giá trị này bao gồm: (1) Niềm tin vào Thượng đế; (2) Trung thành với Quốc vương và Đất nước; (3) Tuân thủ Hiến pháp; (4) Cai trị bằng pháp luật; (5) Hành vi tốt, đạo đức tốt (Mohamed, 1995)
Trang 5Để giữ gìn bản sắc châu Á đa dạng của đảo quốc Singapore trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập khu vực ASEAN, vào năm 1991, Quốc hội đã thông qua năm giá trị chung - Singapore Shared Values do Phó Thủ tướng Goj Chok Tong đề xuất, đó là: (1) Dân tộc trước cộng đồng và xã hội, trên cá nhân; (2) Gia đình là tế bào hạt nhân của
xã hội; (3) Hỗ trợ cộng đồng và tôn trọng cá nhân; (4) Đồng thuận, không xung đột; và (5) Hòa hợp chủng tộc và tôn giáo (Trần Ngọc Thêm, 2017)
Tương tự, một quốc gia Nam Đảo khác đó là Philippines cũng là một đất nước có đến 176 phương ngữ được sử dụng trên 8 vùng miền, rải rác khắp 7107 hòn đảo lớn nhỏ
Hệ giá trị Philippines được chính thức công nhận hiện nay bao gồm 9 thành tố (Cruz, 2003):
- Gia đình gần gũi và đoàn kết;
- Sự lễ phép và tôn ti trong xã hội thứ bậc;
- Lòng biết ơn;
- Sự hiếu khách;
- Lòng tự trọng và biết xấu hổ;
- Tính linh hoạt, khả năng thích nghi và sáng tạo;
- Lòng trung thành;
- Tinh thần làm việc chăm chỉ và tác phong công nghiệp;
- Sự nhẫn nhịn và năng lực từ chối
Với cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc, Trần Ngọc Thêm (2004) đã dùng phương pháp diễn dịch để xác định đặc trưng của bản sắc văn hóa Việt Nam, kết hợp hài hòa giữa cách nhìn đồng đại và lịch đại để phân tích hệ giá trị của một nền văn hóa đa tộc người, vừa nhằm làm rõ tính thống nhất về mặt địa lý, không gian gốc Bách Việt - Nam
Á của chủ thể là người Việt nói chung Văn hóa phải đảm bảo 4 thuộc tính: hệ thống, giá trị, nhân sinh và lịch sử Trước hết, đặc trưng về hệ thống văn hóa cần được xem xét dựa trên 4 thành tố: văn hóa nhận thức, tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Theo đó, bản sắc văn hóa Việt Nam bao gồm các thành tố đặc trưng như: (1) về đời sống vật chất, nền kinh tế chủ đạo của người Việt là nghề nông nghiệp trồng lúa nước; (2) về tổ chức xã hội, tính cộng đồng và tính tự trị ở cấp độ làng xã đã khái quát hóa thành ý thức độc lập dân tộc và tinh thần đoàn kết toàn dân; (3) về nhận thức, người Việt thể hiện lối sống quân bình và tư duy biện chứng trong triết lý ân dương điển hình; (4) biểu hiện âm tính trong tổ chức gia đình truyền thống là
Trang 6việc đề cao vai trò phụ nữ, xu thế ưa ổn định và coi trọng tình cảm, đời sống tinh thần trong giao tiếp và quan hệ xã hội, trong đối ngoại thì mềm dẻo, chuộng hòa hiếu; (5) văn hóa Việt Nam chứa đựng sự kết hợp giữa cái ổn định và linh hoạt, tính tích hợp cao và tinh thần dung hợp phổ biến rộng rãi trong lối sống cộng đồng
Hoàng Thị Hương (2011) cũng đã phân tích kết cấu của bản sắc văn hóa dân tộc qua mô hình hóa cấu trúc phương thức biểu hiện của nó (theo chiều dọc và chiều ngang) như sau:
Là một quốc gia có lịch sử lâu đời hàng ngàn năm và là đất nước Phật giáo tiểu thừa điển hình tại Đông Nam Á lục địa, Vương quốc Thái Lan cũng đã công bố Hệ thống
12 giá trị cốt lõi của người Thái (Thai Core Values system) Đó cũng trở thành một
niềm tự hào dân tộc và tạo nên thế mạnh để phát triển nền văn hóa bản địa đặc sắc cũng như thúc đẩy du lịch văn hóa một cách hiệu quả, sáng tạo và năng động tại xứ sở Chùa Vàng Suvarnabhum
Một trong những động cơ khiến con người đi du lịch là để tìm kiếm những điều mới lạ, khám phá những điểm đến chứa đựng các giá trị văn hóa lâu đời như những công
Hình 2 Cấu trúc phương thức biểu hiện của bản sắc văn hoá (chiều dọc)
Hình 1 Cấu trúc phương thức biểu hiện của bản sắc văn hoá (chiều ngang)
Trang 7trình kiến trúc nghệ thuật, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, ẩm thực, lễ hội, … Nhờ đó, du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự giao lưu, kết nối giữa du khách với cộng đồng dân địa phương, thể hiện chức năng giáo dục của du lịch trong hoạt động phát triển kinh tế dịch vụ và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa - xã hội Các yếu
tố về vị trí địa lý, cảnh quan tự nhiên, cùng với các nguồn lực xã hội, bản sắc văn hóa truyền thống đặc sắc, độc đáo luôn được xem là các thế mạnh trong phát triển tiềm năng
du lịch của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á (Trần Văn Thông, 2019)
Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2017, du lịch văn hóa là loại hình du lịch được phát triển dựa trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch Cùng với
đó, du lịch cộng đồng cũng dựa trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi Tuy nhiên, vấn đề bản sắc văn hóa cũng được đề cập trong định nghĩa về du lịch sinh thái - ‘loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp mục đích giáo dục về bảo vệ môi trường’
Du lịch văn hóa có các đặc trưng cơ bản là: (1) tính tổng hợp, đan xen nhiều hình thái vật chất lẫn tinh thần, truyền thống lẫn hiện đại, văn hóa bản địa và văn hóa ngoại lai, vừa có truyền thống lịch sử, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán, đặc trưng thể chế chính trị - xã hội; (2) tính khu vực: mỗi vùng, lãnh thổ và điểm đến du lịch đều có nét đặc trưng riêng, độc đáo về văn hóa, tạo thành sức hấp dẫn, tính đặc sắc để thu hút
du khách; (3) tính kế thừa của các cảnh quan văn hóa đều là kết quả của quá trình diễn biến lâu dài của văn hóa nhân loại, hình thành trong quá trình lịch sử tất yếu của các quốc gia dân tộc; và (4) tính xung đột của du lịch văn hóa không chỉ nảy sinh trong sự
va chạm giữa các nền văn hóa (clashes of civilizations) mà còn xảy ra trong nội bộ hệ
thống và hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch (Trần Văn Thông, 2019)
Như vậy, du lịch có tác động tích cực đến văn hóa - xã hội thông qua vai trò góp phần nâng cao đạo đức con người, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần; đồng thời, tính nhân sinh của du lịch thể hiện qua việc tích cực thúc đẩy du lịch trở thành yếu tố cơ bản của phồn vinh xã hội Du khách tham gia vào hoạt động du lịch sẽ được tích lũy
Trang 8thêm kiến thức về đất nước, con người và lịch sử văn hóa - xã hội của quốc gia; có thêm nhiều hiểu biết về các danh lam thắng cảnh, giá trị văn hóa và đời sống cộng đồng địa phương; nhờ đó gia tăng lòng tự hào dân tộc, tình yêu quê hương, Tổ quốc, nâng cao tinh thần trách nhiệm xây dựng đất nước và bảo vệ môi trường, hội nhập quốc tế Chiến lược xúc tiến, phát triển du lịch còn giúp thúc đẩy sự phát triển văn hóa dân tộc, tạo dựng thương hiệu và quảng bá hình ảnh quốc gia, bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa dân gian (Lê Thị Hải Lý, 2015)
Bất cứ một hiện tượng nào trong xã hội đều có khía cạnh văn hóa của nó nhưng đối với hoạt động du lịch, văn hóa vừa là tài nguyên vừa là biện pháp, cách thức làm ra lợi nhuận Cho nên mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa luôn luôn là sự gắn kết vô cùng chặt chẽ, có tác động qua lại, ảnh hưởng nhau rõ rệt Mặt trái của du lịch nói chung và tác động tiêu cực của du lịch văn hóa nói riêng có thể kể đến việc làm thay đổi cấu trúc kinh tế của vùng, làm biến đổi đáng kể đời sống xã hội của các cộng đồng dân cư địa phương; thương mại hóa nền văn hóa dân tộc, làm cho nó bị tầm thường hóa thành
những hàng hóa, sản phẩm dịch vụ kém giá trị Bên cạnh đó, du lịch đại chúng (mass tourism) và quá trình toàn cầu hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số theo xu hướng du lịch
thông minh cũng làm cho nhiều quốc gia, cộng đồng địa phương thay đổi cách thức làm
du lịch văn hóa, thậm chí là bị biến chất và bỏ quên các mục đích, nguyên tắc cơ bản của việc phát triển bền vững và mục tiêu bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc (Phan Huy Xu; Võ Văn Thành, 2016)
3 Thực trạng khai thác du lịch văn hóa tại các nước ASEAN
Hiện nay, hầu hết các quốc gia Đông Nam Á đều đang coi du lịch là một ngành dịch vụ có vai trò quan trọng và là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, hội nhập hiệu quả Trong đó, du lịch văn hóa đã trở thành một loại hình đặc thù, được xem là thế mạnh của ngành du lịch tại các nước vốn giàu bản sắc văn hóa phương Đông này Bên cạnh nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhiều danh lam thắng cảnh nổi bật thì ASEAN cũng được biết đến như một cộng đồng của các dân tộc đa ngôn ngữ, đa văn hóa, nhiều lễ hội đặc sắc, cùng với các nền văn hóa bản địa độc đáo, thú vị Nổi bật nhất
đó là khối các nước Phật giáo tại Đông Nam Á lục địa, điển hình là Thái Lan, Myanmar, Lào và Campuchia với hoạt động du lịch văn hóa trở thành chủ đạo nhờ vào hàng nghìn
di sản quốc gia và thế giới đa dạng cả về tính vật thể hay phi vật thể (Nguyễn Văn Lưu, 2013)
Trang 9Nhắc đến Thái Lan, không thể bỏ qua những tour du lịch hành hương viếng thăm những điểm đến nổi tiếng là các công trình kiến trúc tôn giáo mang đậm nét bản địa và các di tích văn hóa - lịch sử đầy ấn tượng và giá trị nghệ thuật như chùa Phật vàng Wat Traimit, chùa Núi vàng Wat Saket, chùa Bình Minh - Wat Arun nằm bên bờ sông Chao Phraya, Chùa Trắng - Wat Rong Khun ở tỉnh Chieng Rai, v.v Đó còn là ngôi chùa Wat Phra Kaew - nằm trong khuôn viên Đại hoàng cung - là nơi thường xuyên tổ chức những buổi lễ quan trọng của quốc gia; gần đó là ngôi chùa Phra Chetuphon lớn nhất Bangkok với diện tích 80.000m2 - còn có tên là Wat Pho, được xây dựng năm 1848, vốn là học viện đào tạo nghề matxa cổ truyền lớn nhất nước Chùa Wat Mahathat được xây dựng năm 1374 là di tích trung tâm tại cố đô Ayutthaya, là một tác phẩm nghệ thuật sống động, kỳ lạ - đầu tượng Phật với khuôn mặt đẹp, phúc hậu hiện ra trong chùm rễ cây là nơi từng được sử dụng như một ngôi đền dành cho các nghi lễ hoàng gia Thái Đến với Thái Lan, du khách còn được trải nghiệm hàng trăm lễ hội đặc sắc quanh năm tại mọi địa phương, vùng miền khắp cả nước Trong đó, tiêu biểu và thu hút nhất là lễ hội Songkran - tục lệ té nước đón mừng năm mới, lễ hội thả đèn Loy Krathong với lịch sử hơn 700 năm diễn ra vào dịp cuối năm Lễ hội voi Surin tại vùng Đông Bắc Thái (còn gọi là Issan), lễ hội ăn chay vào ngày 10/10 của người dân Phuket, lễ hội trăng rằm trên đảo Koh Pangan để tạ ơn Thần Mặt trăng
Báo cáo “Quốc gia tốt nhất năm 2017” của U.S News xếp Thái Lan đã đứng thứ
4 thế giới về giá trị du lịch và thứ 7 thế giới về di sản văn hóa Năm 2012, Bangkok lần thứ ba liên tiếp được Tạp chí Travel&Leisure trao tặng danh hiệu “Thành phố lý tưởng nhất thế giới” dựa trên cuộc thăm dò ý kiến trực tuyến với du khách, khảo sát về 6 tiêu chuẩn cảnh đẹp, nhà hàng và ẩm thực, con người, mua sắm, và các giá trị văn hoá, nghệ thuật Vào năm 2016, thủ đô Bangkok đã vượt qua cả London và New York để đứng đầu danh sách “thành phố đáng tham quan nhất” do Euromonitor công bố với gần 35 triệu lượt khách và 71,4 tỷ USD doanh thu “Xứ sở chùa vàng” này luôn phải khiến du khách thốt lên “Amazing Thailand” khi đặt chân đến những trung tâm du lịch nổi tiếng hàng đầu thế giới như Pattaya, Chiang Mai, Chiang Rai, Phuket, Ayutthaya, Udon Thani,…
Thái Lan được đánh giá là một trong 10 quốc gia có nền văn hóa ẩm thực phong phú nhất thế giới nhờ sự hòa trộn tinh tế của thảo dược, gia vị và thực phẩm tươi sống với những phong cách nấu nướng đặc biệt Trong nhiều năm qua, Chính phủ Thái Lan
Trang 10đã thực hiện chiến dịch tập trung riêng để quảng bá nền ẩm thực Thái Lan mang tên Thailand - Kitchen to the World (Thái Lan: bếp ăn của thế giới) với mục tiêu chính của nhằm khuyếch trương ẩm thực Thái, được thực hiện rộng rãi trên qui mô toàn cầu Cựu Thủ tướng Thaksin Sinawatra đã từng phát biểu: “Ẩm thực là phương thức thứ ba để quảng bá du lịch” và ông đã đích thân tiếp thị cho thịt gà và trứng gà Thái trong thời gian dịch cúm gia cầm bùng phát hay từng trực tiếp chủ trì giới thiệu cho chương trình quảng cáo “Hãy là khách hàng của chúng tôi” cho ngành Du lịch Thái Lan Song song với các chiến dịch ngắn hạn, Cục Xúc tiến Du lịch (TAT) phối hợp xuất bản ấn phẩm Tin tức về nhà hàng Thái và tổ chức hội thảo để giúp các nhà đầu tư Thái phát triển thương hiệu nhà hàng Thái ở nước ngoài Một số hoạt động nội bật trong Chiến dịch
“Amazing Thailand” gồm: tổ chức các hội nghị về ẩm thực Thái Lan; hội chợ ẩm thực Thái ở trong nước và cả các gian hàng Thái ở Hội chợ nước ngoài; thiết kế các tour du lịch cho khách quốc tế đến thăm, thưởng thức và học nấu món ăn Thái; tạo điều kiện thuận lợi cho các đầu bếp Thái Lan ra nước ngoài hành nghề (Trần Ngọc Thêm, 2017)
Bên cạnh sự hấp dẫn, đặc sắc của ẩm thực đường phố, được xem là một trong những nét văn hóa đặc trưng độc đáo của người Thái, còn có nhiều hoạt động khai thác
du lịch luôn diễn ra sôi động quanh năm trên khắp mọi miền đất nước Không chỉ thành công nhờ mô hình 4S: Sea - Sun - Shop - Sex mà Vương quốc Thái Lan còn trở thành vùng đất của những nụ cười thân thiện, mến khách và những Phật tử hiền hòa, chất phác hay những người bán hàng rong, chợ trời tại Pratunam, Chatuchak, Maeklong, chợ đêm Jatujak Green và Silom - Patpong, Khao San, Sukhumvit Ngoài ra, phải kể đến các tour tham quan chợ nổi như Damnoen Saduak, Amphawa, Taling Chan, Bang nam Pheung, Khlong Lat Mayom,…Theo một nghiên cứu của Nalin S và cộng sự (2020), các yếu tố tạo nên sự hấp dẫn và phát triển mạnh mẽ của du lịch Thái Lan bao gồm: đứng đầu là nền văn hóa bản địa và các giá trị truyền thống dân tộc; đặc sản địa phương; hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch; điểm đến, điểm tham quan; kiến trúc và nhà ở; văn hóa ẩm thực; và cuối cùng là đời sống người dân
Cùng với Thái Lan thì các quốc gia láng giềng trong Tiểu vùng Sông Mekong như Lào, Campuchia và Miến Điện đều tận dụng những di sản văn hóa dân tộc để tạo nên sức hút và các sản phẩm đặc thù của du lịch văn hóa nhằm quảng bá hình ảnh, thương hiệu của quốc gia mình Các di sản mang giá trị văn hóa - lịch sử được xếp hạng đặc biệt như các khu di tích quốc gia và các di sản thế giới do Tổ chức UNESCO công