Trong quá trình tham gia đấu thầu có nhiều chủ thể khác nhau nh: chủ đầu t bên mời thầu và các doanh nghiệp xây dựng có khả năng đáp ứng yêu cầu của chủ đầu t.. Hàng hóa tham gia đấu th
Trang 1Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cạnh tranh trong đấu thầu của các doanh nghiệp xây dựng
1.1 Đấu thầu xây dựng và cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
1.1.1 Đặc điểm của đấu thầu xây dựng
Theo qui định tại mục 2, Điều 4, Chương 1, Luật Đấu thầu đợc Quốc hội nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam, thụng qua ngày 29 thỏng 11 năm 2005, thì: "Đấu thầu là quỏ trỡnh lựa chọn nhà thầu đỏp ứng cỏc yờu cầu của bờn mời thầu để thực hiện gúi thầu thuộc cỏc dự ỏn quy định tại Điều 1 của Luật này trờn cơ sở bảo đảm tớnh cạnh tranh, cụng bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế" [17, tr 2]
Xét trên phơng diện chủ thể tham gia thì đấu thầu đợc chia làm hai loại đấu thầu trong nớc và đấu thầu quốc tế "Đấu thầu trong nước là quỏ trỡnh lựa chọn nhà thầu đỏp ứng cỏc yờu cầu của bờn mời thầu với sự tham gia của cỏc nhà thầu trong nước" [17, tr 2] "Đấu thầu quốc tế là quỏ trỡnh lựa chọn nhà thầu đỏp ứng cỏc yờu cầu của bờn mời thầu với sự tham gia của cỏc nhà thầu nước ngoài và nhà thầu trong nước" [17, tr 2]
Nh vậy, đấu thầu xây dựng là quá trình lựa chọn các nhà thầu có năng lực thực hiện những công việc có liên quan tới quá trình t vấn, xây dựng, mua sắm thiết bị và lắp đặt các công trình, hạng mục công trình xây dựng nhằm đảm bảo tính hiệu quả kinh tế, các yêu cầu kỹ thuật của dự án
Đấu thầu xây dựng là phơng thức đấu thầu đợc áp dụng rộng rãi đối với hầu hết các dự án đầu t xây dựng cơ bản
Đấu thầu xây dựng có các đặc điểm sau:
Trang 2Thứ nhất, về chủ thể tham gia đấu thầu xây dựng Đấu thầu xây dựng
là một trong những phơng thức cạnh tranh nhằm lựa chọn các nhà thầu thực hiện những công việc nh: t vấn, khảo sát thiết kế, thi công xây lắp, mua sắm trang thiết bị cho các công trình, hạng mục công trình xây dựng Xét về thực chất, đây là một hoạt động mua bán mang tính đặc thù, tính đặc thù ở
đây đợc thể hiện qua quá trình thực hiện của chủ thể tham gia Thực chất đây
là hoạt động cạnh tranh xuất phát từ mối quan hệ cung - cầu, diễn ra giữa hai chủ thể: cạnh tranh giữa bên mời thầu (chủ đầu t) với các nhà thầu và cạnh tranh giữa các nhà thầu với nhau Trong quá trình tham gia đấu thầu có nhiều chủ thể khác nhau nh: chủ đầu t (bên mời thầu) và các doanh nghiệp xây dựng có khả năng đáp ứng yêu cầu của chủ đầu t Các bên tham gia đấu thầu phải đảm bảo tuân thủ qui định của pháp luật về điều kiện tham gia đấu thầu
Đối với chủ đầu t, phải là đơn vị có đủ năng lực về tài chính, có khả năng tổ chức thực hiện và quản lý dự án Về phía các nhà thầu, đối với nhà thầu trong nớc thì phải đáp ứng đủ các điều kiện: có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép kinh doanh và thực hiện đúng theo đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép kinh doanh do cơ quan nhà nớc có thẩm quyền cấp; hoặc có quyết định thành lập (đối với các đơn vị không có đăng ký kinh doanh) do cơ quan nhà nớc có thẩm quyền cấp và thực hiện theo đúng quyết
định thành lập Đối với nhà thầu là tổ chức nớc ngoài thì phải có đăng ký hoạt động hợp pháp do cơ quan có thẩm quyền của nớc nơi nhà thầu mang quốc tịch cấp Đối với nhà thầu là cá nhân thì: 1) Phải là ngời từ đủ 18 tuổi trở lên; 2) Có hộ khẩu thờng trú tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp; 3) Có đăng ký hoạt động hợp pháp hoặc chứng chỉ chuyên môn phù hợp do cơ quan có thẩm quyền cấp và thực hiện đúng theo đăng ký hoạt động hoặc chứng chỉ chuyên môn; 4) Không ở trong tình trạng bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang trong thời gian chờ chấp hành các hình phạt của tòa án các
Trang 3cấp Mặt khác, các nhà thầu phải đảm bảo sự độc lập về tài chính, theo đó, nhà thầu phải là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập; không có cùng lợi ích kinh
tế với các tổ chức và cá nhân liên quan [23, tr 93]
Thứ hai, về đối tợng hàng hóa tham gia đấu thầu xây dựng Hàng hóa
tham gia đấu thầu xây dựng là hàng hóa đặc biệt, đó là các dự án xây lắp, các
dự án cung ứng hàng hóa, các dự án t vấn về thiết kế, giám sát, đầu t Các…nhà thầu thực hiện việc cạnh tranh với nhau để tìm kiếm các cơ hội kinh doanh, đó là: đấu thầu tuyển chọn t vấn thiết kế; đấu thầu mua sắm hàng hóa, thiết bị; đấu thầu xây lắp; đấu thầu thực hiện lựa chọn đối tác thực hiện dự
án Hàng hóa lúc đầu đem ra thị trờng cha đợc định giá một cách cụ thể, dựa trên các thông số yêu cầu về điều kiện kinh tế - kỹ thuật của dự án, doanh nghiệp và nhà đầu t thông qua hình thức đấu thầu để xác định giá cả
cụ thể của hàng hóa và các yêu cầu cụ thể về kỹ thuật và điều kiện thực hiện
để hoàn tất việc mua bán Hoạt động này diễn ra giữa ngời mua (chủ dự án) với ngời bán (nhà thầu) và giữa các nhà thầu với nhau nhằm bán đợc sản phẩm của mình Thông qua cạnh tranh đấu thầu sẽ hình thành giá thầu - giá của hàng hóa đem ra bán đây cũng chính là giá dự toán của công trình
Thứ ba, về phơng thức tổ chức đấu thầu, theo qui định của pháp luật
có ba phơng thức đấu thầu cơ bản mà chủ đầu t dự án có thể lựa chọn tổ chức
đấu thầu, đó là: đấu thầu một túi hồ sơ, đấu thầu hai túi hồ sơ và đấu thầu hai giai đoạn
Đấu thầu một túi hồ sơ, là phơng thức mà nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu trong một túi hồ sơ Phơng thức này đợc áp dụng đối với đấu thầu mua sắm
và xây lắp
Đấu thầu hai túi hồ sơ, là phơng thức mà nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về giá trong từng túi hồ sơ riêng vào cùng một thời điểm
Trang 4Túi hồ sơ đề xuất kỹ thuật sẽ đợc chủ dự án xem xét trớc Theo đó, những hồ sơ sau khi đánh giá đạt số điểm kỹ thuật từ 70% trở lên sẽ đợc mở tiếp túi hồ sơ đề xuất về giá để xem xét tiếp Phơng thức này trong lĩnh vực xây dựng th-ờng chỉ áp dụng đối với đấu thầu tuyển chọn t vấn.
Phơng thức đấu thầu hai giai đoạn chỉ áp dụng cho các trờng hợp sau:
- Các gói thầu mua sắm và xây lắp có giá từ 500 tỷ đồng trở lên;
- Các gói thầu mua sắm hàng hóa có tính chất lựa chọn công nghệ thiết bị toàn bộ, phức tạp về công nghệ và kỹ thuật hoặc gói thầu xây lắp đặc biệt phức tạp
- Dự án thực hiện theo hợp đồng chìa khóa trao tay;
Phơng thức đấu thầu hai giai đoạn đợc thực hiện theo qui trình sau:
- Giai đoạn 1: Các nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu sơ bộ trình bày các đề
xuất về kỹ thuật và phơng án tài chính cho bên mời thầu Bên mời thầu xem xét, đánh giá và thảo luận cụ thể với từng nhà thầu nhằm thống nhất về yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật để nhà thầu chuẩn bị và nộp hồ sơ thầu chính thức;
- Giai đoạn 2: Bên mời thầu mời các nhà thầu đã tham gia ở giai đoạn 1 nộp hồ sơ dự thầu chính thức với đề xuất kỹ thuật đã đợc bổ sung theo yêu cầu chung của dự án và đề xuất chi tiết về tài chính với đầy đủ nội dung về tiến độ thực hiện, điều kiện thực hiện hợp đồng, giá dự thầu [7, tr 23]
Thứ t, về hình thức tổ chức đấu thầu Tùy theo từng dự án cụ thể, việc
đấu thầu xây dựng đợc tổ chức theo hai hình thức cơ bản qui định tại Nghị
định 88/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 1999, đó là: đấu thầu rộng rãi,
đấu thầu hạn chế
Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu đợc áp dụng phổ biến trong
Trang 5đấu thầu Hình thức đấu thầu này không hạn chế số lợng nhà thầu tham gia Bên mời thầu phải thông báo công khai trên các phơng tiện thông tin đại chúng tối thiểu 10 ngày trớc khi phát hành hồ sơ mời thầu về các điều kiện
kỹ thuật, thời gian dự thầu
Đấu thầu hạn chế, là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối thiểu là 5) có đủ kinh nghiệm và năng lực tham gia đấu thầu Trong trờng hợp không có đủ 5 nhà thầu tham dự, bên mời thầu phải báo cáo chủ dự án trình ngời có thẩm quyền xem xét, quyết định Trên cơ sở của bên mời thầu về kinh nghiệm và năng lực của các nhà thầu một cách khách quan
và công bằng, chủ dự án sẽ quyết định danh sách nhà thầu tham dự đấu thầu
Đấu thầu hạn chế chỉ áp dụng khi có một trong các điều kiện sau:
- Chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu;
- Do nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tổ chức đấu thầu hạn chế;
- Do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế
Thứ năm, về nguyên tắc đấu thầu Khác với các hình thức mua bán
hàng hóa khác, đấu thầu xây dựng phải tuân thủ các nguyên tắc mua bán đặc thù, đó là: nguyên tắc công bằng, bí mật, công khai, có đủ năng lực và trình
độ, và đảm bảo cơ sở pháp lý
Nguyên tắc công bằng thể hiện quyền bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ đấu thầu Theo đó, các nhà thầu phải đợc đảm bảo đối xử bình đẳng trong việc tiếp nhận thông tin từ chủ đầu t, bình đẳng trong việc trình bày các giải pháp kinh tế - kỹ thuật của mình trớc chủ đầu t, trong quá trình thực hiện các thủ tục tham gia đấu thầu (nộp hồ sơ, tham gia mở thầu )
Nguyên tắc bí mật đòi hỏi chủ đầu t cũng nh các nhà thầu phải giữ bí
Trang 6mật về các thông số trong hồ sơ dự thầu của các nhà thầu nh: mức giá bỏ thầu, các giải pháp kỹ thuật của nhà thầu Mục đích của nguyên tắc này là tạo ra tính khách quan và sự công bằng giữa các nhà thầu với nhau, đồng thời, cũng là biện pháp bảo vệ nhằm tránh thiệt hại cho chủ đầu t trong trờng hợp các nhà thầu bỏ thầu thấp hơn giá dự kiến do có sự rò rỉ thông tin.
Nguyên tắc công khai là một trong những yêu cầu bắt buộc trong đấu thầu xây dựng (trừ những công trình đặc biệt, là bí mật quốc gia) Các công trình xây dựng khi đem ra đấu thầu đều phải đảm bảo tính công khai các thông tin cần thiết nh: tính năng của công trình, điều kiện của các nhà thầu tham gia đấu thầu, thời gian mở hồ sơ dự thầu Các thông tin này phải đợc công khai trên các phơng tiện thông tin đại chúng theo qui định của pháp luật Tuân thủ nguyên tắc này sẽ tạo ra sự công bằng giữa các nhà thầu và thu hút đợc nhiều nhà thầu, nâng cao chất lợng công tác đấu thầu
Nguyên tắc có đủ năng lực và trình độ đòi hỏi chủ đầu t và các bên
dự thầu phải có năng lực thực sự về kỹ thuật và tài chính để thực hiện những
điều kiện cam kết khi tham gia đấu thầu Tuân thủ nguyên tắc này sẽ tránh đợc thiệt hại cho các bên khi thực hiện các cam kết đã đề ra, qua đó, nâng cao chất lợng, tạo ra sân chơi bình đẳng cho các nhà thầu khi tham gia đấu thầu
Nguyên tắc đảm bảo cơ sở pháp lý đòi hỏi các bên tham gia đấu thầu phải chấp hành các qui định của nhà nớc về nội dung, thủ tục đấu thầu và những cam kết trong hợp đồng giao nhận thầu Khi các bên tham gia đấu thầu không tuân thủ nguyên tắc này, chủ dự án và cơ quan quản lý dự án có quyền kiến nghị hủy kết quả đấu thầu
1.1.2 Đặc điểm của cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
Cạnh tranh có nghĩa là "cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những ngời, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích nh nhau" [3, tr
Trang 7108] Trong kinh doanh, cạnh tranh có thể đợc hiểu là sự ganh đua giữa các nhà kinh doanh trên thị trờng nhằm chiếm u thế trên cùng một đối tợng khách hàng, sản phẩm nhằm giành thắng lợi về phía mình.
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng trong đấu thầu là sự cố gắng giành đợc quyền thực hiện các dự án thông qua gọi thầu với điều kiện thuận lợi và tối u nhất trên cơ sở nguồn nội lực và ngoại lực có khả năng khống chế đợc của doanh nghiệp nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích kinh tế - xã hội Cụ thể, cạnh tranh đấu thầu có thể đợc hiểu trên các khía cạnh sau:
- Theo nghĩa hẹp, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng trong
đấu thầu là quá trình doanh nghiệp đa ra những giải pháp về kỹ thuật, trang thiết bị, nhân lực, tiến độ thi công, giá bỏ thầu, u thế về kinh nghiệm thể hiện tính u việt của mình so với nhà thầu khác nhằm thỏa mãn các yêu cầu của bên mời thầu trong việc thực hiện dự án Cách hiểu này chỉ giới hạn ở khâu đấu thầu, cha chỉ ra đợc sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh, do đó rất khó xác định đợc tính toàn diện của cạnh tranh trong quá trình đấu thầu
- Theo nghĩa rộng, cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là sự ganh đua quyết liệt giữa các doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm thông tin, đa ra các giải pháp về kỹ thuật, u thế về kinh nghiệm, điều kiện thực hiện dự án, giá bỏ thầu nhằm đảm bảo trúng thầu và thực hiện các cam kết theo hợp
đồng ký kết với chủ đầu t Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng thờng đợc hiểu theo nghĩa rộng, nó có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, về chủ thể tham gia cạnh tranh đấu thầu xây dựng Cạnh
tranh trong đấu thầu xây dựng thờng có nhiều chủ thể tham gia, các chủ thể này có cùng mục tiêu theo đuổi đó là phải giành đợc những lợi thế về phía mình Các chủ thể tham gia cạnh tranh đấu thầu phải tuân thủ các qui định
Trang 8của pháp luật, các thông lệ quốc tế và các ràng buộc về điều kiện tham gia
đấu thầu do cơ quan quản lý dự án đặt ra Các chủ thể khi tham gia đấu thầu
đều phải cạnh tranh với nhau, điều này dẫn tới sự hình thành nhiều mối quan
hệ cạnh tranh giữa các chủ thể khi tham gia đấu thầu Đó là, mối quan hệ cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua, theo đó, ngời mua (bên mời thầu) thì muốn mua đợc công trình xây dựng có chất lợng cao, thời gian thi công ngắn, chi phí hợp lý, về phía những ngời bán (nhà thầu) thì muốn bán đợc công trình trong tơng lai có giá cao với chi phí hợp lý và có lợi nhuận lớn nhất trong hạn độ bảo đảm các qui chuẩn của xây dựng
Thứ hai, về đối tợng của cạnh tranh đấu thầu xây dựng Khi đánh giá
và quyết định lựa chọn nhà thầu, chủ đầu t thờng căn cứ vào các tiêu chí để xét thầu, đó là: kinh nghiệm, năng lực của nhà thầu; khả năng tài chính; trình
độ chuyên môn, kỹ thuật; tiến độ thi công và giá dự thầu Trong đó, bên mời thầu chú ý nhiều nhất tới chất lợng, tính năng u việt về kỹ thuật và giá thành sản phẩm, đó cũng chính là đối tợng cạnh tranh giữa các nhà thầu với nhau
Cạnh tranh bằng chất lợng công trình, là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong việc đề xuất các giải pháp tốt nhất về khoa học - công nghệ nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn do bên mời thầu đa ra Để thắng thầu, doanh nghiệp phải không ngừng đầu t, nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ nhằm nâng cao chất lợng công trình Chất lợng công trình là một trong những yếu tố quan trọng nhất, nó khẳng định năng lực thi công, uy tín của doanh nghiệp Mặt khác, chất lợng công trình còn góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hoàn thành các mục tiêu kinh tế - kỹ thuật mà doanh nghiệp đã đề ra và thơng hiệu của doanh nghiệp
Cạnh tranh bằng giá dự thầu cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quyết định đến thành công hay thất bại trong đấu thầu xây dựng Do
Trang 9đó, xây dựng đợc mức giá bỏ thầu hợp lý là yêu cầu hàng đầu quan trong việc đảm bảo tính cạnh tranh và đạt hiệu quả kinh doanh cao của doanh nghiệp Để tạo ra u thế cạnh tranh về giá trong cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh nhạy và linh hoạt trong việc tìm hiểu thông tin về dự án,
đối thủ cạnh tranh, mục tiêu của dự án, u thế của các doanh nghiệp khác trong cạnh tranh Tùy theo từng công trình cụ thể dựa vào mục tiêu của công ty, tiềm lực tài chính, năng lực thi công từ đó xây dựng chính sách giá khác nhau để quyết định giá bỏ thầu
Cạnh tranh bằng tiến độ thi công Tiến độ thi công thể hiện năng lực của nhà thầu trên các khía cạnh nh; trình độ tổ chức và quản lý thi công, khả năng kỹ thuật, trang thiết bị máy móc và nguồn nhân lực Nhà thầu cạnh tranh với nhau qua các tiêu chí này để giành những u thế trong đấu thầu Thực hiện đầy đủ các cam kết về tiến độ thi công là điều kiện quan trong để thắng thầu cũng nh nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ ba, về hình thức cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng Trong đấu
thầu xây dựng, tồn tại hai hình thức cạnh tranh chủ yếu là: cạnh tranh theo chiều rộng và cạnh tranh theo chiều sâu
Cạnh tranh theo chiều rộng (cạnh tranh có giới hạn) bao gồm các yếu
tố chính nh: Đa dạng hóa các công trình xây dựng mà doanh nghiệp kinh doanh trên cơ sở nguồn lực hiện có; cải tiến phơng thức thanh toán và các điều kiện thi công trong hợp đồng nhận thầu; nâng cao năng lực xây dựng hồ sơ dự thầu, đặc biệt là hoạt động giới thiệu và thông tin về doanh nghiệp; đổi mới công tác tổ chức thi công; tăng cờng hoạt động tìm kiếm thông tin kinh tế;
đẩy mạnh hoạt động marketing, truyền thông
Cạnh tranh theo chiều sâu (cạnh tranh không có giới hạn) là sự đầu t của doanh nghiệp thông qua việc nâng cấp thiết bị thi công, nghiên cứu và
Trang 10ứng dụng những tiến bộ của khoa học - công nghệ vào thi công, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ khoa học và công nhân, viên chức trong doanh nghiệp Cạnh tranh theo chiều sâu thực chất là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thông qua việc đầu t nghiên cứu nhằm nâng cao hàm lợng khoa học - kỹ thuật của hàng hóa chào bán nói riêng (công trình) và năng lực khoa học của doanh nghiệp nói chung.
Trong thực tế, doanh nghiệp thờng thực hiện cả hai hình thức trên để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng
Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của doanh nghiệp thờng đợc đánh giá qua các tiêu chí nh: năng lực tài chính, số lợng công trình trúng thầu, giá trị công trình trúng thầu; tỷ lệ thắng thầu trong các dự án; chỉ tiêu về lợi nhuận của doanh nghiệp; chỉ tiêu về chất lợng công trình; chỉ tiêu về kinh nghiệm, năng lực của nhà thầu Cụ thể:
- Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thờng đợc đánh giá qua các chỉ tiêu sau đây:
* Hệ số vay nợ
Hệ số vay nợ = Tổng tài sản nợ
Tổng tài sản
Hệ số này phản ánh khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp,
hệ số này càng cao thì khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp càng giảm Do đó, khi khả năng thanh toán lãi vay thấp, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong huy động vốn vay và sẽ không đáp ứng đủ vốn khi nhu cầu vốn lu
Trang 11động của công trình tăng.
* Khả năng thanh toán lãi vay
Khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trớc thuế +tiền lãi vay
Lãi tiền vay
Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán tiễn lãi vay của doanh nghiệp Nếu tỷ lệ này thấp sẽ làm giảm khả năng trả lãi và lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là một trong những tiêu chí để các ngân hàng xem xét khi cung ứng các khoản vay của doanh nghiệp
* Khả năng thanh toán hiện hành
Khả năng thanh toán hiện hành = Tài sản lu động
Nợ ngắn hạn
* Khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán nhanh = Tài sản lu động - Hàng hóa tồn kho
Nợ ngắn hạn
* Khả năng thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán tức thời = Tiền mặt
Nợ ngắn hạn
- Lợi nhuận của doanh nghiệp Hệ số doanh lợi bao gồm:
Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu
Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn
sản xuất kinh doanh = Lợi nhuận sau thuế
Vốn sản xuất kinh doanh
Trang 12Hệ số này phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh và kết quả cạnh tranh đấu thầu của doanh nghiệp, hệ số này tỷ lệ thuận với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Số lợng công trình trúng thầu và giá trị công trình trúng thầu
Tiêu chí này phản ánh một cách khái quát kết quả, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động đấu thầu, tình hình dự thầu, kết quả hoạt động đấu thầu nói riêng và kết quả kinh doanh nói chung của doanh nghiệp trong năm Số lợng công trình trúng thầu phản ánh khả năng và qui mô của doanh nghiệp trong cạnh tranh đấu thầu Giá trị trúng thầu hằng năm của doanh nghiệp là tổng giá trị của tất cả các công trình (kể cả gói thầu trong hạng mục công trình) mà doanh nghiệp đã trúng thầu trong năm Giá trị công trình trúng thầu trong năm phản ánh năng lực và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong năm Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ công tác
đấu thầu của doanh nghiệp có hiệu quả và ngợc lại
- Tỷ lệ trúng thầu trong các dự án
Tiêu chí này phản ánh năng lực cạnh tranh đấu thầu của doanh nghiệp, nó đợc xác định dựa trên hai chỉ tiêu: theo số công trình và theo giá trị công trình trong năm Chỉ số này tỷ lệ thuận với năng lực cạnh tranh đấu thầu của doanh nghiệp Tỷ lệ này đợc tính nh sau:
* Tính theo số công trình
P1 = Σ Ctt x 100%
Σ CdtTrong đó:
P1: Tỷ lệ trúng thầu theo số công trình doanh nghiệp dự thầu
Trang 13Ctt: Số công trình trúng thầuCdt: Số công trình doanh nghiệp dự thầu
* Tính theo giá trị công trình
P2 = Σ Gtt x 100%
Σ GdtTrong đó:
P2: Tỷ lệ trúng thầu theo giá trị công trìnhGtt: Giá trị công trình trúng thầu
Gdt: Giá trị công trình dự thầu
- Chất lợng dự án
Chất lợng các dự án chính là chất lợng hàng hóa mà doanh nghiệp bán ra Chất lợng dự án là tổng hợp các đặc tính theo yêu cầu của sản phẩm, của qui trình xây dựng và của ngời sử dụng Chỉ tiêu về chất lợng các dự án
đó là sự đáp ứng các yêu cầu kinh tế - kỹ thuật của dự án Trong lĩnh vực xây dựng, chất lợng sản phẩm chính là chất lợng các công trình xây dựng, nó biểu hiện ở công năng sử dụng, độ an toàn, tuổi thọ, tính kinh tế, tính kỹ thuật và mỹ thuật của công trình
Với sự phát triển của khoa học - công nghệ hiện nay, cạnh tranh thông qua chất lợng các dự án là sự cạnh tranh hết sức gay gắt và không có giới hạn Nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật, nâng cao chất lợng các dự án là việc làm thờng xuyên của doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Năng lực kỹ thuật của doanh nghiệp
Năng lực kỹ thuật của doanh nghiệp là một trong những yếu tố quyết
Trang 14định chất lợng của công trình, là yếu tố quan trọng, có tác động lớn đến thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong công tác đấu thầu Đây là yếu tố hàng đầu quyết định đến uy tín trên thơng trờng, tiến độ thực hiện dự
án và năng lực thi công của doanh nghiệp Năng lực kỹ thuật của doanh nghiệp đợc xác định dựa trên một số tiêu chí sau:
- Khả năng đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của bên mời thầu;
- Tính hợp lý, tính tối u và tính khả thi của các giải pháp kỹ thuật;
- Khả năng đáp ứng các yêu cầu về an toàn lao động, vệ sinh môi trờng;
- Khả năng đáp ứng của thiết bị thi công (số lợng, chủng loại, chất ợng, công nghệ, tiến độ huy động )
l Uy tín và kinh nghiệm của nhà thầu
Khi đánh giá các tiêu chí để lựa chọn nhà thầu, chủ dự án không chỉ căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ thuật, giá công trình do doanh nghiệp đa ra mà chủ
đầu t còn xem xét đến uy tín trên thơng trờng và kinh nghiệm của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các dự án tơng tự trớc đó Uy tín của nhà thầu đợc thể hiện qua các tiêu chí nh: uy tín về thơng hiệu, uy tín về năng lực thi công, uy tín về năng lực tài chính và đội ngũ cán bộ, công nhân viên lành nghề Đó là những yếu tố hết sức quan trọng tác động đến khả năng trúng thầu của doanh nghiệp, vì vậy, doanh nghiệp luôn xem việc xây dựng thơng hiệu, uy tín trên thơng trờng là yếu tố hết sức quan trọng trong chiến lợc phát triển của mình
- Giá bỏ thầu
Giá bỏ thầu có tác động rất lớn đến thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong quá trình tham gia đấu thầu Khi tham gia dự thầu, các doanh nghiệp mong muốn đa ra một mức giá hợp lý, thấp hơn giá của đối thủ