121 Một số vấn đề về phương pháp luận phục vụ điều tra, đánh giá tài nguyên vị thế, kỳ quan sinh thái, địa chất vùng biển, ven bờ và các đảo Việt Nam .... MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP L
Trang 1TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG BIỂN
HẢI PHÒNG - 9/2008
Trang 2MỤC LỤC
Lời nói đầu 2
Nghị quyết Trung ương 4 khóa X “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” trong xu thế hội nhập quốc tế 3
Quyết định số 116/2008/QĐ-TTg 29
Phát triển kinh tế biển Việt Nam – Cơ hội và thách thức 35
Tổng quan về hệ thống pháp luật biển Việt Nam 59
Điều tra cơ bản tài nguyên - môi trường biển và phát triển bền vững 87
Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 109
Một số đặc điểm về địa chất – khoáng sản, địa động lực địa chất tai biển vùng biển Hải Phòng – Quảng Ninh 121
Một số vấn đề về phương pháp luận phục vụ điều tra, đánh giá tài nguyên vị thế, kỳ quan sinh thái, địa chất vùng biển, ven bờ và các đảo Việt Nam 131
Định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên môi trường đới ven biển Hải Phòng – Quảng Ninh theo hướng phát triển bền vững 149
Tiềm năng di sản địa chất và công viên địa chất đới ven biển và hải đảo Việt Nam qua thí dụ các tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng 165
Quản lý tổng hợp đới bờ hướng tới phát triển bền vững ở Việt Nam 193
Nguồn lợi hải sản vùng vịnh Bắc Bộ, Việt Nam, dựa trên một số chỉ số sinh thái học qua các chuyến điều tra lưới kéo đáy thực hiện từ năm 2001 đến 2005 201
Bảo vệ và phát triển các khu bảo tồn biển Việt Nam nhằm bảo về đa dạng sinh học, bảo đảm khai thác bền vững 215
Công nghệ đo đạc khảo sát và biên vẽ bản đổ biển 235
Ứng dụng công nghệ viễn thám phục vụ phát triển kinh tế biển và hải đảo của Việt Nam 247
Băng cháy (khí hydrat) nguồn năng lượng trong tương lai 261
Tiềm năng dầu khí các bề trầm tích đệ tam Việt Nam qua công tác tìm kiếm, thăm dò từ 1960 đến 2003 281
Đặc điểm hydrat khí biển và dự báo khả năng tồn tại ở Việt Nam 311
Hiện trạng công tác điều tra tài nguyên nước dưới đất vùng ven biển và các đảo Việt Nam 327
Vai trò công tác đo đạc thành lập bản đồ biển trong điều tra cơ bản về tài nguyên – môi trường biển 333
Phát triển kinh tế biển TP.Hải Phòng đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 341
Thực trạng và một vài kết quả bước đầu đạt được trong hoạt động nâng cao năng lực thực hiện quan trắc & phân tích môi trường biển 347
Chính sách khai thác nguồn lợi biển của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX(1802 - 1858) trên lĩnh vực giao thông vận tải và thương nghiệp 355
Xây dựng cơ sở dữ liệu hải dương học nghề cá phục vụ khai thác hải sản xa bờ ở Việt Nam 373
Quản lý tổng hợp - một phương pháp quản lý mới nhằm sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và đới bờ 383
Đảng và Nhà nước Việt Nam với vấn đề biển, đảo trong thời kỳ đổi mới 393
Xây dựng môi trường bền vững về quốc phòng – an ninh trên biển là một trong những điều kiện quyết định quan trọng để góp phần thực hiện thành công chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 409
Báo cáo hiện trạng quy hoạch cảng Nghi Sơn và đề xuất ý tưởng điều chỉnh 429
Trang 3MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN PHỤC VỤ ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN VỊ THẾ, KỲ QUAN SINH THÁI, ĐỊA CHẤT VÙNG BIỂN, VEN BỜ VÀ
CÁC ĐẢO VIỆT NAM Th.S Trần Đức Thạnh, Trần Đình Lân, Nguyễn Hữu Cử,
Lăng Văn Kẻn, Nguyễn Văn Quân
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
MỞ ĐẦU
Tài nguyên vị thế được hiểu là những tiềm năng và giá trị về vị trí địa
lý và các thuộc tính không gian liên quan đến cấu trúc, hình thể sơn văn
và cảnh quan sinh thái có thể sử dụng cho các mục đích phát triển kinh
tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng và chủ quyền quốc gia Kỳ quan
sinh thái bao gồm các hệ sinh thái hoặc các sinh cảnh, hoặc tổ hợp của chúng, có những tính chất đặc biệt về tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học hoặc nơi cư trú của sinh vật có giá trị bảo tồn tự nhiên, phục vụ cho khoa học, văn hoá, giáo dục và phát triển kinh tế Kỳ quan địa chất là một phần xác định của địa quyển có giá trị địa chất học và địa mạo học nổi bật cần được bảo vệ để tránh huỷ hoại về vật chất, hình thể và sự phát triển tự nhiên của chúng
Vị thế, kỳ quan sinh thái và địa chất là các dạng tài nguyên đặc biệt ở vùng biển, ven bờ và các đảo Việt Nam, có tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội hết sức to lớn, còn là vấn đề rất mới ở nước ta và cũng chưa phải phổ biến trên thế giới và hiểu biết về chúng còn hết sức hạn chế Việc điều tra, đánh giá các dạng tài nguyên này là nhiệm vụ cấp bách đã được đặt ra trong
dự án số 14 “Điều tra cơ bản và đánh giá tài nguyên vị thế, kỳ quan sinh thái, địa chất vùng biển và các đảo Việt Nam” thuộc ”Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên – môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020”
Trang 41 Định dạng tài nguyên vị thế, kỳ quan sinh thái, địa chất vùng biển, ven bờ và các đảo Việt Nam
1.1.Tài nguyên thiên nhiên truyền thống
Tài nguyên là con người, tài sản, nguyên vật liệu, nguồn vốn có thể sử
dụng để đạt được một mục đích Tài nguyên thiên nhiên là tài nguyên xuất hiện trong tự nhiên có thể sử dụng để tạo ra lợi ích
Tài nguyên thiên nhiên là một đặc tính hoặc một hợp phần của môi
trường tự nhiên có giá trị phục vụ cho nhu cầu của con người như đất, nước, động vật, thực vật, v.v Tài nguyên thiên nhiên có giá trị kinh tế và giá trị phi kinh tế
Tài nguyên biển bao gồm các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật như
đất, nước, băng nằm trong hoặc nằm dưới một vùng biển và cả động vật hoang dã sống trong một vùng thường xuyên, tạm thời hoặc theo mùa vụ Tài nguyên biển là một phạm trù rộng để chỉ các tài nguyên sinh vật biển (động và thực vật), nước và dòng chảy, đáy biển và bờ biển có chủ thể Nó còn bao gồm các tài nguyên văn hoá có chủ thể, từ xác tàu đắm, đèn biển cho đến các di chỉ khảo cổ, lịch sử văn hoá của cộng đồng bản địa Chủ thể được xác lập để bảo vệ các vùng có một hoặc nhiều các đặc trưng tự nhiên và văn hoá Tài nguyên biển thường gắn liền với quyền tài phán quốc gia
Tài nguyên ven bờ biển là một khu vực hoặc đặc tính tự nhiên nằm
trong hoặc gần một vùng bờ biển mà sự tồn tại của nó phụ thuộc vào bờ biển, hoặc tài nguyên được coi là hàng hoá, có giá trị về kinh tế, môi trường, giải trí, văn hoá, thẩm mỹ hoặc các giá trị khác, được tăng lên nhờ nằm trong vùng bờ biển [22]
Tài nguyên biển, theo phương cách truyền thống, được phân theo các nhóm, loại khác nhau Theo bản chất tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên biển được chia thành tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật
Theo khả năng tái tạo, tài nguyên thiên nhiên biển được chia thành tài
nguyên tái tạo và không tái tạo, tài nguyên tiêu hao và không tiêu hao Tài nguyên tái tạo thường là tài nguyên sinh vật (tôm, cá, rừng ngập mặn, v.v ),
có thể tự tạo mới, phục hồi ở ngang mức chúng được lấy ra nếu không bị khai thác quá mức Tài nguyên tái tạo phi sinh vật bao gồm đất và các tài nguyên năng lượng như gió, thuỷ triều, sóng biển và bức xạ mặt trời Tài nguyên không tái tạo điển hình là đất ngập nước và khoáng sản
Trang 51.2.Tài nguyên vị thế
Ở Việt Nam, vị thế được nhắc nhiều trong các văn liệu kinh tế và quản
lý gần đây Cơ sở khoa học của tài nguyên vị thế cho phát triển kinh tế xã hội còn là vấn đề mới mẻ ở nước ta và cũng chưa phải phổ biến trên thế giới Tuy nhiên, đây là hướng rất quan trọng mà việc nhận thức đúng đắn sẽ tạo ra một cách nhìn mới về sử dụng hợp lý tài nguyên, tổ chức không gian và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội hợp lý và bền vững
Tài nguyên biển Việt Nam bao gồm các nhóm tài nguyên sinh vật, phi sinh vật và tài nguyên vị thế Tài nguyên vị thế biển được hiểu là các lợi ích
có được từ một khu vực, một nơi ở biển hoặc ven bờ biển, được đặt trong mối quan hệ không gian của khu vực ấy, nơi ấy Tài nguyên vị thế biển bao hàm cả các hợp phần tài nguyên sinh vật và phi sinh vật có trong khu vực ấy, nơi ấy, nhưng chủ đạo là các lợi ích có được từ gía trị hình thể và vị trí không gian của nó
Có thể xác định các dạng tài nguyên vị thế cơ bản ở biển Việt Nam là các hệ thống thuỷ vực hoặc địa hệ nằm trong phạm vi chủ quyền quốc gia, bao gồm các vùng bờ, các đảo, các thuỷ vực ven bờ và các vùng nước ngoài khơi với cả ba hợp phần nền đất (hoặc đáy), nước và không khí (không gian) Trên thực tế, việc vận dụng cơ sở tài nguyên vị thế ngày càng mở rộng
và có định hướng rõ ràng, nhưng cơ sở lý luận của vấn đề tài nguyên không gian hoặc vị thế chưa được định hình, còn nhiều bàn luận Theo Cộng đồng Châu Âu, tài nguyên thiên nhiên được chia thành 5 dạng:
- Tài nguyên tái tạo không tiêu hao (Renewable resources - non-extinguishable) như năng lượng mặt trời, gió, sóng, nước mưa, các nguồn không khí (Oxy, CO2), nước biển
- Tài nguyên tái tạo có tiêu hao (Renewable resources - extinguishable) như tài nguyên sinh vật (rừng, cá, sinh khối v.v.), các nguồn nước mặt, nước ngầm, đất mầu v.v
- Tài nguyên không tái tạo và không tiêu hao (Non-renewable resources - non-extinguishable): có thể tái chế hoặc thu hồi như kim loại, khoáng sản, đất v.v
- Tài nguyên không tái tạo, tiêu hao (Non-renewable resources - extinguishable) và không thu hồi gồm các loại nhiên liệu hoá thạch như khí, dầu, than v.v
Trang 6- Tài nguyên vị thế (không gian - space) bao gồm đất, mặt biển và khoảng không
Tương tự cách chia này, Sien Chia Lin (1992) chia tài nguyên ven bờ Singapor thành ba nhóm: đất ven bờ và không gian biển, tài nguyên tái tạo
và tài nguyên không tái tạo
Cách phân loại trên là theo động thái tài nguyên khả năng tái tạo – tiêu hao tài nguyên Nếu phân theo nguồn gốc thì tài nguyên thiên nhiên gồm có
ba nhóm chủ cơ bản: tài nguyên sinh vật; tài nguyên phi sinh vật và tài nguyên vị thế (không gian)
Theo cách chia này, trong hệ thống tài nguyên biển, tài nguyên vị thế biển cũng đóng vai trò then chốt Đó là không gian biển và ven bờ, nổi và ngầm gồm luồng lạch, bến bãi, đất đai ven bờ, bán đảo và hải đảo, bãi cát biển, thềm đá, hang động v.v Ví dụ, một vịnh nước sâu, kín không có phong phú tài nguyên truyền thống, nhưng có thể sử dụng thành một cảng nước sâu mang lại những lợi ích kinh tế to lớn Tài nguyên vị thế (không gian) biển không chỉ đơn thuần là nguồn gốc tự nhiên, mà còn mang các yếu
tố tài nguyên nhân văn, bao gồm: các di tích lịch sử, khảo cổ, văn hóa, cấu trúc cộng đồng v.v
Tài nguyên vị thế dùng theo cách nói tiếng Việt trong nhiều văn bản quản lý hiện nay có lẽ mang hàm ý rộng hơn tài nguyên vị thế (space) trong các tài liệu nước ngoài, bao hàm cả giá trị đưa lại của không gian trong mối quan hệ về vị trí địa lý của nó với các trung tâm, đầu mối kinh tế chính trị khu vực, quan hệ với các vành đai, hành lang kinh tế trên biển, ven biển v.v
Tài nguyên vị thế biển bao hàm cả các yếu tố tài nguyên sinh vật và phi sinh vật, tái tạo và không tái tạo Tuy nhiên, nó có những nội hàm riêng, mang tính bản chất, là các yếu tố hình thể và vị trí trong không gian Đó cũng chính là các giá trị cơ bản của dạng tài nguyên này mà nhờ đó Singapore đã biết phát huy để trở thành một quốc đảo giàu có Sử dụng hợp
lý tài nguyên vị thế biển là một định hướng cơ bản cho phát triển bền vững
1.3 Kỳ quan sinh thái và địa chất
1.3.1.Kỳ quan và kỳ quan thiên nhiên
Theo từ điển Từ điển Webster’s New World, kỳ quan (wonders) là các
sự vật, hiện tượng kỳ diệu, tuyệt vời gây nên sự ngạc nhiên, thán phục
“Kỳ quan” là một vật bất kỳ do thiên nhiên hoặc con người tạo ra
nhưng khác xa với những đặc điểm thông thường của chúng mà nhân loại có
Trang 7thể chiêm ngưỡng, thưởng thức và khâm phục bằng tất cả cảm quan của con người
- Kỳ quan nhân tạo (hay kỳ quan văn hoá): là các công trình xây dựng, kiến
trúc, nghệ thuật độc đáo và kỳ vỹ do con người tạo ra trong quá trình xây dựng và phát triển từ xưa cho đến nay
Bẩy kỳ quan của thế giới cổ đại ( Kim tự tháp Giza ở Ai Cập; Vườn treo
thần A–te–mís ở E-phe-sus; Lăng mộ của Mô-sô-lôs ở Ha-li-ca-na-sus; Tượng thần mặt trời Rhodes; Ngọn Hải đăng ở A-lexan-dria ) đều là các
công trình kiến trúc nằm quanh Địa Trung hải, đến nay chỉ còn tồn tại Kim
tự tháp Giza ở Ai Cập
Tổ chức phi chính phủ của Thuỵ Sỹ NOWC do nhà thám hiểm và là đạo diễn phim người Thuỵ Sỹ Bernard Weber bảo trợ đã phát động cuộc bình chọn 7 kỳ quan thế giới mới vào năm 1999 Kết quả bình chọn, bao gồm:
Vạn lý trường thành của Trung Quốc; Khu Thành cổ bằng đá Pe-tra của Jo-da-ni; Tượng chúa Giê-xu ở Rio-Ja-ne-ro, Bra-xin; Thành cổ Ma-chu Pi-chu
ở Pê-ru; Kim tự tháp Chi-chen It za ở Mê-xi-cô; Đấu trường Cô-lô-se-um, Rô-ma, ý; Đền Taj Ma-hal, ấn Độ Kim tự tháp Gi-za của Ai cập, kiến trúc
duy nhất còn tồn tại của 7 kỳ quan thế giới cổ đại, vẫn được giữ nguyên
“danh hiệu” song song cùng với 7 kỳ quan mới của thế giới
- Kỳ quan thiên nhiên: là những vật thể được tạo hoá tạo ra trong quá trình
tồn tại và phát triển của trái đất Đây là sản phẩm của các hoạt động tổng hợp của 4 quyển là: địa quyển, thuỷ quyển, sinh quyển và khí quyển Ngoài ra còn cần phải kể đến tác động rất lớn của vũ trụ như mặt trăng, mặt trời, các chòm sao trong thiên hà,
Theo nguồn gốc sinh thành, các kỳ quan thiên nhiên lại được chia thành
các kiểu loại: Kỳ quan địa chất: được tạo ra bởi các quá trình địa chất và Kỳ
quan sinh thái: được tạo ra bởi các nhóm sinh vật
Tổ chức NOWC (2007) đang tiến hành bình chọn Bảy kỳ quan Thiên nhiên thế giới, dành cho các danh thắng tự nhiên, không phải do con người tạo ra và không bị con người can thiệp vào một cách đáng kể
Ba tiêu chí (Criteria) do tổ chức này đưa ra khá đơn giản: Một khu vực tự nhiên; Một danh thắng tự nhiên; Một cảnh quan
Các kiểu loại (Categories) kỳ quan quy tụ về hai nhóm Nhóm kỳ quan sinh thái gồm: Khu dự trữ động vật; Rừng, cây; Công viên bảo tồn tự nhiên;
Trang 8Ốc đảo; Thế giới dưới nước, rạn; Di chỉ tiền thiên nhiên thời tiền sử và Loại khác Nhóm kỳ quan địa chất bao gồm: Hẻm núi; Hang động; Bờ biển, vách đá; Khu vực địa chất; Sông băng; Núi, núi lửa, đá; Thuỷ vực, biển, hồ, sông; Thác nước và loại khác
Trong số 77 kỳ quan thế giới đang được đề xuất để lựa chọn 7 kỳ quan hàng đầu, có kỳ quan 16 sinh thái và 62 kỳ quan địa chất; 55 lục địa và 22 biển, đảo và bờ biển
Trong số 22 kỳ quan biển, đảo và bờ, nhóm kỳ quan sinh thái gồm có 6 (Rạn san hô: 3; Vườn Quốc gia: 01; Hồ nước mặn: 1); nhóm kỳ quan Địa chất
có 16( Đảo núi lửa: 1; Đảo: 5; Quần đảo: 4; Vịnh biển: 2; Đầm phá: 1; Bãi biển: 2; Hố biển : 1 và Tổ hợp đá: 01)
1.3.2.Kỳ quan sinh thái
Đến nay chưa có một định nghĩa về “Kỳ quan sinh thái” trong các văn liệu Việt Nam và thế giới Dựa theo các định nghĩa về kỳ quan nhân tạo, kỳ quan thiên nhiên (NOWC), kỳ quan địa chất (UNESCO), chúng tôi đã đưa ra
định nghĩa như sau: “Kỳ quan sinh thái là các loài sinh vật có hình thù kỳ dị,
khác thường; các quần thể, quần xã sinh vật có quy mô lớn và tổ chức chặt chẽ; các hệ sinh thái điển hình hoặc tổ hợp của chúng có diện tích đủ rộng
để duy trì ổn định sự tồn tại trong thời gian dài Chúng có những giá trị đặc biệt về tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học hoặc nơi cư trú của sinh vật có giá trị bảo tồn tự nhiên, phục vụ cho nghiên cứu khoa học, giáo dục, lịch sử, văn hoá và phát triển kinh tế”
Theo định nghĩa này, đối tượng lựa chọn bao gồm
- Các loài sinh vật hiếm, có hình thù đẹp, kỳ dị khác thường;
- Các quần thể sinh vật có cấu trúc phức tạp, nhạy cảm, có giá trị đa dạng sinh học cao;
- Các hệ sinh thái đặc trưng cho vùng biển và ven biển Việt Nam có quy
mô rộng lớn, có cấu trúc phức tạp, có đa dạng sinh học cao và bền vững tương đối với thời gian
Với quy mô như trên đối tượng lựa chọn của kỳ quan sinh thái rất phong phú Chúng có thể là các loài động thực vật quý, hiếm, có hình thù kỳ
dị, có tuổi thọ cao, các hệ sinh thái đặc trưng có quy mô rộng lớn ở vùng biển và ven biển như hệ sinh thái rừng trên đảo và vùng ven bờ, hệ sinh thái các khu rừng ngập mặn, hệ sinh thái các thảm cỏ biển, hệ sinh thái các vùng đất ngập nước, hệ sinh thái các hồ nước mặn, hệ sinh thái vùng triều rạn đá,
Trang 9các dải bãi cát biển, các sân chim, hệ sinh thái rạn san hô (kiểu rạn vòng, viền bờ, chắn bờ, dạng tháp, cao nguyên ngầm, v.v.), v.v Trong điều kiện thực tế hiện nay của Việt Nam, có thể coi một số loài thú biển (Bò biển, cá Voi), các Di sản thiên nhiên, các khu dự trữ sinh quyển, các vườn Quốc gia ven biển và trên đảo đã được công nhận và các khu bảo tồn biển là các dạng
kỳ quan sinh thái
Một khía cạnh đáng chú ý là các đối tượng sinh vật được coi là kỳ quan thường tồn tại trong một môi trường sinh thái nhất định Vì vậy trong khi lựa chọn các kỳ quan sinh thái cần phải bao hàm thêm các giá trị về điều kiện tự nhiên và môi trường mà đối tượng đó tồn tại trong một thời gian dài
để tạo nên giá trị kỳ quan đó Trong mối quan hệ mật thiết đó thì mỗi kỳ quan sinh thái phải được coi là một kỳ quan thiên nhiên của khu vực
1 3.3.Kỳ quan địa chất
Những vấn đề về di sản, kỳ quan và bảo tồn địa chất mới được thế giới quan tâm điều tra, đánh giá gần đây, nhưng đã đạt được những thành công to lớn về cả lý luận và thực tiễn Việc bảo vệ và phát triển bền vững các di sản địa chất và kỳ địa chất và công viên địa chất là một đóng góp cho Agenda 21 (UNCED, Rio de Janeiro, 1992) và được Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg về phát triển bền vững năm 2002 khẳng định
Một kỳ quan địa chất có những giá trị di sản địa chất quý giá và nhận
biết được bằng trực quan
Di sản thế giới là những khu có ý nghĩa toàn cầu về tự nhiên hoặc văn
hoá do một quốc gia có chủ quyền đề xuất, được UNESCO công nhận và được bảo vệ nghiêm ngặt Đó là các thành tạo tự nhiên và sinh học, hoặc các nơi sinh sống của sinh vật có các giá trị tổng hợp nổi bật về mặt mỹ học và khoa học Để được công nhận là một di sản thiên nhiên thế giới, phải đạt được một trong bốn tiêu chí về mỹ học, địa chất học, đa dạng sinh học và văn hoá Nhiều khu di sản địa chất rất có giá trị cho du lịch, đặc biệt là du lịch kết hợp giáo dục, hoặc thích hợp cho hoạt động giải trí có thể mang lại lợi ích kinh tế cao, đồng thời đảm bảo tính bền vững cho sự nghiệp bảo tồn Một di sản địa chất thế giới, theo UNESCO, phải đảm bảo được một trong số 13 chủ đề cơ bản là: đặc điểm cấu trúc và kiến tạo; núi lửa và hệ thống núi lửa; hệ thống sơn văn; địa tầng; hoá thạch; hệ thống sông, hồ và châu thổ; hang động và hệ thống karstơơ; hệ thống bờ biển; các rạn, ám tiêu vòng và các đảo ngoài đại dương; băng hà và mũ băng; tuổi băng hà; hệ
Trang 10thống sa mạc khô hạn và bán khô hạn; tác động thiên thạch Trong số các di sản đã được công nhận, có 70 di sản liên quan đến địa chất Những di sản có liên quan nhiều đến kỳ quan địa chất là sông- hồ - châu thổ (20), rạn, ám tiêu vòng và đảo đại dương (11), hệ thống bờ (10), băng hà và mũ băng (7), hang động và karstơ (6) Di sản Hạ Long được xếp vào nhóm hệ thống bờ và Phong Nha - Kẻ Bàng thuộc nhóm hang động và hệ thống karstơ
Nhiệm vụ bảo tồn địa chất là bảo vệ các đặc tính địa chất và cảnh quan
có ý nghĩa vì những giá trị khoa học, giáo dục, nghiên cứu và giá trị tinh thần cho con người, một hệ thống điều tra và đánh giá di sản và kỳ quan địa chất
đã hình thành nhanh chóng với cơ sở lý thuyết khá hoàn thiện về đa dạng địa chất, di sản địa chất, danh thắng địa chất, kỳ quan địa chất và công viên địa chất
Đa dạng địa chất chỉ mức độ đa dạng các thuộc tính, tổ hợp, hệ thống
và các quá trình địa chất và địa mạo, bao gồm đặc trưng về khoáng vật, thạch học, hoá thạch, cấu trúc, địa hình và cả các yếu tố quan trọng khác về thời gian, môi trường địa chất và các quá trình địa chất
Giá trị di sản địa chất bao gồm yếu tố đa dạng địa chất và thêm các đặc
điểm quan trọng khác khác như mức độ kết tinh khoáng vật, mức độ bảo tồn hoá thạch, kích cỡ và vẻ đẹp của cấu trúc, thạch học, cảnh quan địa hình v.v Các giá trị di sản địa chất thường đi kèm với các giá trị văn hoá (giáo dục, khoa học, lịch sử và khảo cổ), mỹ học (vẻ đẹp tự nhiên, tính độc đáo, kỳ vĩ) hoặc giải trí (vui chơi, thưởng thức)
Danh thắng địa chất (geosite) là một khu vực địa chất hoặc địa hình có
một hợp phần đa dạng địa chất cói ý nghĩa và giá trị di sản địa chất cao
Công viên địa chất (geopark) theo UNESCO là: “vùng có một hoặc một
vài tầm quan trọng khoa học, không chỉ riêng về địa chất, mà còn cả các giá trị tuyệt vời về văn hoá, sinh thái và khảo cổ học” Một khu vực có giá trị di sản địa chất nằm ở vùng phát triển đô thị hoá với các hoạt động kinh tế tích cực khó có thể bảo tồn nguyên vẹn khu di sản, mà cần hoà nhập bảo tồn địa chất với khuôn khổ quản lý đã có Quan niệm công viên địa chất của UNESCO thừa nhận mối quan hệ giữa con người - môi trường địa chất và khả năng sử dụng khu di sản cho phát triển kinh tế
Việc nhất thể hoá bảo tồn địa chất với du lịch sẽ bảo vệ được các giá trị
di sản độc đáo phục vụ cho nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và
tăng cường phát triển kinh tế dựa trên du lịch địa chất (geotourism)