2.1 Tổng quan đất nước Thái lan 2.1.1 Khái quát 2.1.2 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 2.1.3 Lịch sử 2.1.4 Thể chế chính trị 2.1.5 Kinh tế 2.1.6 Đối ngoại 2.2 Phát triển kinh t
Trang 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1 Những thách thức về môi trường, kinh tế - xã hội và phát triển
1.2 Quá trình nhận thức và lý thuyết về phát triển bền vững
1.2.1 Khái niệm phát triển
1.2.2.Quá trình phát triển bền vững
1.2.3 Lý thuyết về phát triển bền vững
1.2.3.1 Các thành phần cơ bản
1.2.3.2 Thước đo về phát triển bền vững
1.3 Phát triển bền vững trong giai đoạn hiện nay
1.3.1 Xã hội cacbon thấp( Kỷ nguyên năng lượng – khí hậu)
1.3.2 Xã hội tái tạo tài nguyên
1.3.3 Xã hội hài hòa với tự nhiên
CHƯƠNG 2: PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG Ở THÁI LAN
2.1 Tổng quan đất nước Thái lan
2.1.1 Khái quát
2.1.2 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
2.1.3 Lịch sử
2.1.4 Thể chế chính trị
2.1.5 Kinh tế
2.1.6 Đối ngoại
2.2 Phát triển kinh tế bền vững ở Thái Lan
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1 Những thách thức về môi trường,kinh tế - xã hội và phát triển
Ngay nay vấn đề phát triển kinh tế luôn là tâm điểm được các Tổ chức quốc tế (IMF, WB, UNDP, WEF…) và các quốc gia, trông đó nổi trội lên là mục tiêu phát triển kinh tế bền vững Nhưng con đường tiến đến phát triển kinh tế bền vững lại không dễ dàng, vì điều này yêu cầu quốc gia phải có được một chiến lược phát triển đúng đắn dựa trên các nguồn lực có thể sử dụng, đồng thời một cơ chế quản trị vận hành, phản hồi và giám sát hiệu quả sự thực thi chiến lược, nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng đều trong dài hạn, tránh được các cú
“sốc” của môi trường toàn cầu, bảo vệ được môi trường tài nguyên thiên nhiên phát triển ổn định, cũng như chi phí nguồn lực bỏ ra cho phát triển ở mức cho phép, điều này đòi hỏi năng suất chung của nền kinh tế ngày càng cao (hệ số ICOR hợp lý, yếu tố năng suất tổng hợp cao (TFP)), đồng thời thành quả của sự phát triển đất nước được phân phối càng công bằng càng tốt cho mọi phân vùng của đất nước, tầng lớp nhân dân (hiệu quả phân phối, sự phát triển công bằng thể hiện bởi chỉ số GINI…), đồng thời sự tăng trưởng kinh tế phải đem lại mức sống tinh thần, vật chất, phúc lợi ngày càng cao cho nhân dân (chỉ số phát triển con người HDI…) Hiện nay với cuộc cách mạng khoa học – công nghệ (KHCN)hiện đại của thế giới (đặc biệt là 4 cuộc cách mạng: Công nghệ sinh học, Tự động hóa,Công nghệ thông tin và Công nghệ nano) đang tiếp tục phát triển với nhịp điệu ngày một nhanh, tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, làm thay đổi nhanh chóng, sâu sắc và quyết định đối với sự phát triển của kinh tế, xã hội và bản thân con người, thì loài người cũng đang đối mặt với những thách thức to lớn về chính trị, văn hóa, xã hội và đặc biệt là môi trường
1.2 Quá trình nhận thức phát triển bền vững và lý thuyết về phát triển bền vững
1.2.1 Khái niệm phát triển
Phát triển được định nghĩa khái quát trong Từ điển Oxford là: “Sự gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn ” (The gradual grow of sth so that it becomes more advanced, stronger ) Trong
Trang 2Từ điển Bách khoa của Việt Nam, phát triển được định nghĩa là: “Phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới” Con người và mọi sự vật đều thay đổi theo thời gian, nhưng sự phát triển được bao hàm cả khía cạnh thay đổi theo hướng đi lên, hướng tốt hơn tương đối (Sự phát triển theo hướng đi lên như vậy, trong Sinh học được gọi đó là phát triển tiến bộ hay tiến hóa, và ngược lại là phát triển thoái bộ - thoái hóa).Phát triển học hay Khoa học phát triển là một khoa học mới, ra đời khoảng những năm40-50 và phát triển mạnh trong thập kỷ 60 Trong quá trình phát triển, Phát triển học có những thay đổi về nội hàm
Ở giai đoạn đầu, nội dung chủ yếu là Kinh tế học phát triển và sau đó càng ngày càng phát triển theo hướng liên ngành Ở mức cao hơn, môn Xã hội học phát triển và Quản trị học phát triển ra đời, nhấn mạnh sự hài hòa giữa sự tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội có phần can thiệp của thể chế, chính trị
Ở giai đoạn cao hơn nữa hiện nay, với sự bùng nổ của dân số và sự phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế, con người đã khai thác tài nguyên và hủy hoại môi trường một cách tàn bạo, đe dọa sự tồn tại của Trái đất, của nhân loại Hàng loạt các vấn đề môi trường bức xúc như biến đổi khí hậu, suy thoái đa dạng sinh học (ĐDSH), suy thoái tài nguyên nước ngọt, suy thoái tầng ôzôn, suy thoái đất và hoang mạc hóa và ô nhiễm các chất hữu cơ độc hại khó phân hủy, v.v đang thách thức sự phát triển trên phạm vi toàn thế giới Chiến lược Phát triển bền vững ra đời (1992) và trở thành Chiến lượcphát triển của toàn cầu trong thế kỷ XXI
1.2.3 Lý thuyết về phát triển bền vững
1.2.3.1 Các định nghĩa
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển bền vững tuỳ theo cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu sử dụng khác nhau mà khái niệm này được hiểu theo nhiều cách khác nhau
Thuật ngữ Phát triển bền vững (PTBV – Sustainable Development) lần đầu tiên đượcsử dụng trong bản “Chiến lược bảo tồn thế giới” do IUCN đề xuất năm 1980 Mục tiêu tổng thể của Chiến lược là “đạt được sự PTBV bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” và thuật ngữ PTBV ở đây được đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật Năm
1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban Quốc tế vềMôi trường và Phát triển (WCED) của
Liên hợp quốc, "phát triển bền vững" được định nghĩa là “Sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ”
Quan niệm này chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển
Nội hàm về PTBV được tái khẳng định ở Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức
ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: "Phát triển bền vững" là quá trình phát
triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi
trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) Phát triển bền vững (Sustainable Development - viết tắt là SD) hay nói một cách khoa học hơn là lý thuyết SD hiện nay, chính là sự phát triển một cách bền vững của trái đất này Hiện nay trái đất đang phải đối mặt với rất nhiều khủng hoảng: khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng dân số, khủng hoảng đói nghèo… Vì vậy, SD là việc mà chúng ta phải làm, vì sự tồn tại của tất cả mọi người SD không còn là việc của một quốc gia
.3.3 Thước đo về phát triển bền vững
Đây là vần đề rất phức tạp mà con người phải vượt qua rất nhiều khó khăn để chấp nhận và thực hiện Xã hội loài người gồm nhiều dân tộc khác nhau về văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng, chính trị, giáo dục và truyền thống, họ cũng rất khác nhau về mức độ phồn vinh, về chất lượng cuộc sống và điều kiện môi trường mà sự nhận thức về
Trang 3sự khác biệt đó cũng rất khác nhau Hơn nữa, sự cách biệt đó lại thường xuyên vận động, khi tăng khi giảm Bởi vậy, đánh giá thế nào là phát triển bền vững mang tính tùy thuộc khá lớn Tuy nhiên, chúng ta có thể đề cập đến tiêu chí để đánh giá tổng quát gồm sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống
1.3 Phát triển bền vững trong giai đoạn hiện nay
Thực tiễn cho thấy, số đông các nước vẫn dừng ở mức những nước đang phát triển với mức thu nhập thấp;
tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng xã hội, năng suất thấp, ô nhiễm môi trường, nguồn tài nguyên quốc gia khai thác cạn kiệt; chất lượng tăng trưởng, chất lượng sống của người dân thấp, lạc hậu Một số quốc gia do điều kiện lịch sử, có điểm xuất phát cao và đã trải qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, những mâu thuẫn và bất ổn xã hội vẫn thường xuyên diễn ra Bên cạnh đó, nhiều quốc gia vẫn đang loay hoay lựa chọn mô hình phát triển, chỉ có số ít nước phát triển đạt được một số tiêu chí cơ bản về chất lượng cuộc sống, chất lượng tăng trưởng, nhưng cũng phải trả giá không nhỏ trong quá trình phát triển Bởi vậy, phát triển nhanh gắn với PTBV sẽ là mô hình mà nhiều quốc gia lựa chọn trong bối cảnh thế giới ngày nay, nhất là những nước đang phát triển
Trong bối cảnh như vậy, chiến lược dài hạn của thế giới cũng như của các nước cần tập trung theo 3 hướng phát triển: (1) Xã hội cacbon thấp/tăng trưởng xanh; (2) Xã hội
tái tạo tài nguyên; và (3) Xã hội hài hòa với thiên nhiên
1.3.1 Xã hội cacbon thấp( Kỷ nguyên năng lượng – khí hậu)
Như trên đã phân tích, thế giới hiện nay đang đứng trước những thách thức lớn lao về môi trường và chúng ta phải nhanh chóng giải quyết vấn đề, nếu không, sẽ quá muộn Biến đổi khí hậu là một thảm họa đối với nhân loại và chúng ta đang bế tắc chưa tìm được cách giải quyết, nhất là sau “Hội nghị Copenhagen COP15” về biến đổi khí hậu do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Đan Mạch Tuy nhiên, một số người lại cho rằng, có
“một loạt cơ hội ẩn sau những vấn đề tưởng như không giải quyết nổi” này và dự đoán rằng Kỷ nguyên mới trước mắt sẽ là một trong những kỷ nguyên thay đổi lớn nhất về xã hội, chính trị và kinh tế Kỷ nguyên, trong
đó có những đột phá lớn trong các lĩnh vực năng lượng sạch và thái độ trân trọng đối với tự nhiên,với tài nguyên rừng, biển, những điểm nóng về đa dạng sinh học, sẽ hướng tới một xã hội cacbon thấp và hài hòa với
tự nhiên Phải nhìn nhận rằng đây là một cơ hội lớn cho những ai có tầm nhìn xa Rất đơn giản,vì con người không thể tiếp tục cung cấp năng lượng cho sự phát triển bằng hệ thống dựa trên nhiên liệu hóa thạch tồn tại suốt thời Cách mạnh Công nghiệp đến nay và bắt buộc chúng ta phải chuyển sang một Kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên năng lượng – khí hậu Xã hội cacbon thấp gồm 3 nội dung: (i) duy trì hoạt động kinh tế hiệu quả trong khi tối thiểu hóa sử dụng năng lượng và tài nguyên; (ii) tối thiểu hóa áp lực về môi trường vớiviệc sử dụng mỗi nguồn năng lượng và tài nguyên; và (iii) đầu tư vào môi trường, một công cụ để phát triển kinh tế
1.3.2 Xã hội tái tạo tài nguyên
Tài nguyên tái tạo (nước ngọt, đất, sinh vật v.v ) là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý Tuy nhiên, nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo có thể
bị suy thoái không thể tái tạo được Ví dụ: tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên đất có thể bị mặn hoá, bạc màu, xói mòn v.v
Xã hội tái tạo tài nguyên nhằm tiết kiệm và sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả nhất
1.3.3 Xã hội hài hòa với tự nhiên
Nội dung này đã được khẳng định trong Hội nghị các bên tham gia Công ước Đa dạng sinh học( ĐDSH) lần thứ 10 (COP10) tại Nagoya, Nhật Bản năm 2010 Theo đó, Liên Hợp Quốc phát động “Năm quốc tế về rừng” (2011) và “Thập kỷ Đa dạng sinh học” (2011-2020), nhằm nâng cao nhận thức về đa dạng sinh học, đẩy mạnh các hoạt động bảo tồn ĐDSH và sống thân thiện, hài hòa với thiên nhiên trên phạm vi toàn cầu
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG CỦA VIỆT NAM TỪ NHỮNG BÀI HỌC TỪ THÁI LAN VÀ THẾ GIỚI
3.1.PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIÊT NAM
a.Những thành tựu trong việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010
Trong mười năm qua, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng
Trang 4Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7,3%/năm, thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 1.200 USD, vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Kinh tế vĩ mô
cơ bản ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế được giữ vững, thâm hụt ngân sách và nợ quốc gia được kiểm soát trong giới hạn an toàn Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện tốt hơn Thu nhập thực
tế bình quân đầu người 10 năm qua tăng khoảng 2,3 lần Công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt nhiều thành tựu nổi bật, được quốc tế đánh giá cao Chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn giảm từ 2,3 lần năm 1999 xuống còn 2 lần năm 2008 Trẻ em được quan tâm bảo vệ, chăm sóc; tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm
từ 33,8% xuống còn dưới 18% Tuổi thọ bình quân tăng từ 67 lên 72 tuổi Cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở Chỉ số phát triển con người (HDI) không ngừng tăng lên, năm 2008 là 0,733, thuộc nhóm nước trung bình cao trên thế giới Mức hưởng thụ văn hoá, điều kiện tiếp cận thông tin của người dân được nâng lên rõ rệt Hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội được coi trọng và từng bước mở rộng Cùng với những kết quả to lớn trong việc xã hội hoá phát triển các lĩnh vực xã hội, ngân sách nhà nước chi cho các lĩnh vực này không ngừng tăng lên; bảo hiểm y tế được mở rộng từ 13,4% dân số năm 2000 lên khoảng 62% năm 2010 Bình đẳng giới có nhiều tiến bộ, tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội và giữ các trọng trách trong hệ thống chính trị ngày càng cao Năm 2008, nước ta đã hoàn thành hầu hết các Mục tiêu Thiên niên kỷ đặt ra cho năm 2015
Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm và có mặt được cải thiện Dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng, xã hội cởi mở và đồng thuận hơn Quốc phòng, an ninh được giữ vững Chính trị - xã hội ổn định Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi; thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; tạo ra những tiền đề quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân
b .Những hạn chế trong việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010:
Bên cạnh những kết quả nêu trên, trong sự phát triển cũng còn nhiều yếu kém, bất cập Những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng Chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp Tăng trưởng kinh tế còn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn hạn chế; lãng phí, thất thoát còn nhiều; hiệu quả đầu tư thấp Tiêu hao nguyên liệu, năng lượng còn rất lớn Việc khai thác và sử dụng tài nguyên chưa thật hợp
lý và tiết kiệm Các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc, bội chi ngân sách, thâm hụt cán cân thương mại còn lớn, lạm phát còn cao Môi trường sinh thái nhiều nơi bị ô nhiễm nặng
Các lĩnh vực văn hoá, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt vẫn còn bức xúc; tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng; ùn tắc và tai nạn giao thông còn nghiêm trọng; tham nhũng chưa bị đẩy lùi; chất lượng giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo đại học và dạy nghề còn yếu kém và chậm được cải thiện; các bệnh viện bị quá tải, chất lượng dịch vụ y tế còn thấp
Những hạn chế, yếu kém trên đây có phần do nguyên nhân khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, nổi lên là: Quan điểm phát triển bền vững chưa được nhận thức sâu sắc và thể hiện một cách cụ thể, nhất quán trong hệ thống chính sách, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết Trong quản lý, điều hành còn thiên về tốc độ tăng trưởng mà chưa coi trọng đúng mức đến chất lượng tăng trưởng và tính bền vững của
sự phát triển; chưa tạo được chuyển biến mạnh trong việc giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc Quá trình lập quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng, thực hiện chính sách bảo vệ môi trường chưa có sự kết hợp chặt chẽ, lồng ghép hợp lý Cơ chế quản lý và giám sát sự phát triển bền vững chưa được thiết lập rõ ràng và có hiệu quả Quyền làm chủ của nhân dân, nhất là dân chủ trực tiếp chưa được phát huy đầy
đủ
3.2.MỘT SỐ BÀI HOC CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
Qua việc phân tích phát triển bền vũng ở Thái Lan và thực tế phát triển bền vững ở nước ta hiện,chúng em rút ra một số bài học cho Việt Nam
- lựa chọn mô hình phát triển kinh tế phù hợp với hoàn cảnh đất nước như mô hình kinh tế vừa đủ của Thái Lan
- khả năng phản ứng trước các cuộc khủng hoảng :cơ cấu lại nền kinh tế,khuyến khích đầu tư…
-Nên áp dụng cơ chế tỷ giá linh hoạt :Cơ chế tỷ giá của Việt Nam rất tiếc đã không đảm nhiệm được chức năng điều hoà cán cân thương mại Do tỷ giá chính thức về cơ bản là cố định nên trong hầu hết quãng thời gian các năm 2006, 2007 và 2009 tốc độ nhập siêu ngày càng tăng mạnh nhưng tỷ giá thì hầu như không thay đổi; ngược lại, trong giai đoạn nửa cuối năm 2008, bất chấp tốc độ nhập siêu giảm dần, VND lại vẫn mất giá rất nhanh
Trang 5(hình 4) Có thể nói, cơ chế tỷ giá chính thức áp đặt cho nền kinh tế đã làm cho các chủ thể kinh tế “tê liệt cảm giác” về giá trị tương đối của hàng hoá trong nước và ngoài nước cũng như giá trị tương đối của ngoại tệ và bản
tệ Nó là tác nhân chính gây ra tình trạng nhập siêu ngày càng nghiêm trọng của Việt Nam khi Thái Lan có xu hướng xuất siêu lớn, giá trị đồng baht đã tăng rất nhanh, khi nền kinh tế Thái Lan có xu hướng nhập siêu, đồng baht mất giá trở lại Chính nhờ cơ chế tỷ giá thả nổi như vậy nên cán cân thương mại hàng tháng của Thái Lan luôn dao động trong trạng thái khá cân bằng trong biên độ +/– 2 tỉ
- Việt Nam nên sử dụng khoa học công nghệ vào phát triển nông nghiệp,Thái lan là một nước nông nghiệp nên đã chú trọng phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp Qua nhiều báo cáo, giai đoạn những năm
50 – 60, Thái Lan cùng một số quốc gia Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia,…đã đạt được những thành tựu đáng kể trong sản xuất nông nghiệp Đây là một tiền đề quan trọng, là bước đệm để các nước tiến vào giai đoạn CNH-HĐH sau đó nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước một cách vượt trội Để đạt được những thành quả ấy, chính sách phù hợp của nhà nước để điều tiết nền kinh tế, chú trọng phát triển nông nghiệp đã có tác động tích cực, hiệu quả Đây là những bài học kinh nghiệm giá quý giá mà Việt Nam đã và
đang học ứng dụng vào nền kinh tế nông nghiệp nước nhà
- Kết hợp giữa chiến lược thay thế nhập khẩu với chiến lược hướng vào xuất khẩu
Bài học kinh nghiệm quan trọng nhất của các nước trên đối với Việt Nam là ở chỗ biết kết hợp khéo léo, thay thế lẫn nhau giữa các chiến lược công nghiệp hóa bằng chính sách bổ sung, tương hỗ nhau giữa hướng vào xuất khẩu và thay thế nhập khẩu, trong đó hướng về xuất khẩu là trọng tâm; Công nghiệp hóa đi từ bước nhỏ đến bước lớn; từ thị trường trong nước đến thị trường khu vực rồi ra thị trường thế giới
- Tìm kiếm và sử dụng có hiệu quả các nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA)
- Xúc tiến một loạt biện pháp điều chỉnh cơ cấu nhằm lành mạnh hóa các thể chế tài chính, bao gồm: thanh lọc, sắp xếp và loại bỏ những doanh nghiệp tài chính đang “có vấn đề”, hỗ trợ để làm tăng năng lực tài chính của một số doanh nghiệp đang hoạt động bằng cách bảo lãnh thanh toán, mua cổ phần, giảm nợ, quản lý nợ nước ngoài đi đôi với việc tự do hóa tài chính hơn nữa đối với tư bản nước ngoài bảo đảm độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước
- Phát huy dân chủ, khơi dậy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước
- Đặc biệt coi trọng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng
-Bảo đảm gắn kết chặt chẽ, hiệu quả giữa tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân
-Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn đi cùng với bảo vệ và cải thiện môi trường phủ đã khuyến khích các công
ty tư nhân phát triển các sản phẩm thân thiện với môi trường như nhiên liệu sinh học, nhiên liệu thay thế và hoàn toàn không chất thải, phát triển bển vững đòi hỏi sự quán triệt và thực thi của toàn bộ người dân cho đến mọi tầng lớp trong xã hội