Các môn học và HĐGD trong nhà trường áp dụng các phương pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho HS, tạo môi trường học
Trang 11
Đề Bài: Điểm mới của Chương trình GDPT 2018? Yêu cầu đối với quản lý
QTDH trong nhà trường?
BÀI LÀM:
1 Chương trình được xây dựng theo phương pháp phù hợp với định hướng tiếp cận năng lực
Khác với chương trình theo định hướng tiếp cận nội dung (thiên về truyền thụ kiến thức), quy trình xây dựng chương trình theo định hướng tiếp cận NL không bắt đầu bằng việc xác định nội dung dạy học mà bằng việc xác định những yêu cầu cần đạt về phẩm chất, NL của học sinh (HS), tức là chuẩn đầu ra của chương trình Căn cứ chuẩn đầu ra, chương trình mới xác định các lĩnh vực giáo dục, các môn học và hoạt động giáo dục (HĐGD), phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục phù hợp
Trong giáo dục, phương pháp xây dựng chương trình như trên được gọi là phương pháp sơ đồ ngược (back-mapping)
2 Chương trình đã xác định được các phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi cần hình thành, phát triển cho HS
Chương trình GDPT mới xác định mục tiêu hình thành, phát triển cho HS các phẩm chất chủ yếu sau: yêu đất nước, yêu con người, chăm học, chăm làm, trung thực, trách nhiệm
Căn cứ để xác định các phẩm chất chủ yếu nói trên là những đức tính của người Việt Nam được nêu ra trong các nghị quyết của Đảng CSVN về xây dựng văn hoá, con người Việt Nam, đặc biệt là Năm điều Bác Hồ dạy HS và yêu cầu giáo dục đạo đức, lối sống cho HS hiện nay
Chương trình GDPT hình thành, phát triển cho HS các NL cốt lõi sau:
- Những năng lực chung được tất cả các môn học và HĐGD góp phần hình thành, phát triển: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;
- Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông
Trang 22
qua một số môn học nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm
mỹ, năng lực thể chất
Bên cạnh việc hình thành, phát triển các NL cốt lõi, chương trình GDPT còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của HS
3 Chương trình thiết kế nội dung và kế hoạch giáo dục phù hợp với định hướng tiếp cận năng lực
- Chương trình GDPT mới mang tính mở, bảo đảm quyền lựa chọn của HS, quyền chủ động sắp xếp kế hoạch giáo dục của cơ sở
Hệ thống các môn học của chương trình giáo dục phổ thông được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc
Môn học bắt buộc là môn học mà mọi HS đều phải học Môn học bắt buộc
có phân hóa là môn học mà nội dung được thiết kế thành các chủ đề hoặc học phần (môđun), trong đó một số chủ đề hoặc học phần là bắt buộc đối với tất cả
HS, một số chủ đề hoặc học phần được tự chọn tùy theo nguyện vọng của HS và điều kiện đáp ứng của cơ sở giáo dục Môn học tự chọn là môn học không băt buộc, được HS tự nguyện lựa chọn, phù hợp với nguyện vọng, sở trường và định hướng nghề nghiệp của học sinh Môn học tự chọn bắt buộc là môn học mà HS bắt buộc phải lựa chọn trong số các môn học định hướng nghề nghiệp ở lớp 11, lớp 12 theo quy định của chương trình
Chương trình GDPT ở cả ba cấp học được thực hiện trong thời gian tương đương 37 tuần, gồm: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương
Chương trình chỉ quy định thời lượng học (số tiết) dành cho mỗi môn học hoặc HĐGD trong một năm Việc phân bổ thời lượng học từng tuần do cơ sở giáo dục quyết định phù hợp với điều kiện thực tế
- Chương trình thực hiện giáo dục toàn diện và tích hợp ở Tiểu học, THCS;
Trang 33
giáo dục phân hóa và tự chọn ở THPT
4 Chương trình áp dụng phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục giáo dục phù hợp với định hướng tiếp cận năng lực
4.1 Các môn học và HĐGD trong nhà trường áp dụng các phương pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho HS, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để khuyến khích HS tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kỹ năng đã tích lũy được để phát triển
Các hoạt động học tập của học sinh bao gồm hoạt động khám phá vấn đề, hoạt động luyện tập và hoạt động thực hành (ứng dụng những điều đã học để phát hiện và giải quyết những vấn đề có thực trong đời sống), được thực hiện với sự
hỗ trợ của đồ dùng học tập và công cụ khác, đặc biệt là công cụ tin học và các hệ thống tự động hóa của kỹ thuật số
Các hoạt động học tập nói trên được tổ chức trong và ngoài khuôn viên nhà trường thông qua một số hình thức chủ yếu sau: học lý thuyết; thực hiện bài tập, thí nghiệm, trò chơi, đóng vai, dự án nghiên cứu; tham gia xêmina, tham quan, cắm trại, đọc sách; sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ cộng đồng
Tùy theo mục tiêu cụ thể và mức độ phức tạp của hoạt động, học sinh được
tổ chức làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp Tuy nhiên, dù làm việc độc lập, theo nhóm hay theo đơn vị lớp, mỗi học sinh đều phải được tạo điều kiện để tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế
4.2 Kết quả giáo dục được đánh giá bằng các hình thức định tính và định lượng thông qua đánh giá thường xuyên, định kỳ ở cơ sở giáo dục, các kỳ đánh giá trên diện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương và các kỳ đánh giá quốc tế Kết quả các môn học tự chọn được sử dụng cho đánh giá kết quả học tập chung của học sinh trong từng năm học và trong cả quá trình học tập
Việc đánh giá thường xuyên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức, dựa trên kết quả đánh giá của giáo viên, của phụ huynh học sinh, của bản thân học
Trang 44
sinh được đánh giá và của các học sinh khác trong tổ, trong lớp
Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông Học sinh hoàn thành chương trình Tiếng dân tộc thiểu số được cấp Chứng chỉ Tiếng dân tộc thiểu số theo quy định Việc đánh giá trên diện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương do tổ chức kiểm định chất lượng cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chứcđể phục vụ công tác quản lý các hoạt động dạy học, phát triển chương trình và nâng cao chất lượng giáo dục
Một số Yêu cầu đối với quản lý QTDH trong nhà trường?
Xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường, kế hoạch dạy học tổ chuyên môn (tự chủ chương trình, nội dung giáo dục) và kế hoạch bài dạy của giáo viên
Xây dựng kế hoạch giáo dục của trường tiểu học
Căn cứ vào chương trình và kế hoạch giáo dục của cấp học được qui định trong chương trình giáo dục quốc gia, Hiệu trưởng tổ chức xây dựng kế hoạch giáo dục riêng cho trường mình Hiệu trưởng phải tập hợp được lực lượng tham gia xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường Tiến hành quá trình phân tích bối cảnh của trường để xác định rõ điểm mạnh, yếu, cơ hội, nguy cơ của nhà trường trong thực hiện chương trình giáo dục; xác định các định hướng triển khai, xác định các mục tiêu dạy học, giáo dục mong đợi cần đạt, lựa chọn các việc cần làm, cách làm, phân bổ các nguồn lực cho mỗi công việc và sắp xếp theo tiến độ hợp
lý để thực thi kế hoạch dạy học, giáo dục hiệu quả;
Trong chủ trì xây dựng kế hoạch giáo dục trường tiểu học, hiệu trưởng cần xác định đúng, đủ các căn cứ và những yêu cầu mới trong thực hiện CTGD để làm cơ sở cho việc hoạch định Chỉ đạo các tổ chuyên môn và giáo viên xây dựng
kế hoạch dạy học môn học, hoạt động giáo dục theo yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; phù hợp với đối tượng học sinh tiểu học, điều kiện nhà trường, địa phương, năng lực của đội ngũ giáo viên
Tổ chức, chỉ đạo triển khai kế hoạch giáo dục trường tiểu học
Trang 55
Hiệu trưởng phải tiến hành xây dựng cơ cấu tổ chức nhà trường, phân công, phân nhiệm cho từng cá nhân, tổ, nhóm, chuyên môn và các bộ phận khác để triển khai kế hoạch dạy học, giáo dục đã xây dựng; Giao quyền tự chủ cho tổ chuyên môn xây dựng và thực hiện chương trình giáo dục
Dựa vào kế hoạch giáo dục nhà trường, tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch dạy học của tổ, được tự chủ về chương trình, nội dung giáo dục Giáo viên dựa vào kế hoạch dạy học tổ chuyên môn để xây dựng kế hoạch bài dạy (giáo án)
Tổ chuyên môn và giáo viên chủ động cấu trúc, sắp xếp lại nội dung dạy học của từng môn học trong chương trình giáo dục hiện hành thành những chủ đề dạy học, có thể chuyển một số nội dung dạy học thành các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, thực hiện ngoài lớp học phù hợp với các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực được lựa chọn thay cho việc dạy học đang được thực hiện theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa như hiện nay nhằm giúp học sinh vận dụng kiến thức liên môn vào giải quyết các vấn đề thực tiễn Về lâu dài, căn cứ vào chuẩn đầu ra được quy định trong khung chương trình quốc gia, giao quyền chủ động cho giáo viên
và tổ chuyên môn trong việc lựa chọn tài liệu dạy học, tự xây dựng nội dung dạy học
và cam kết đảm bảo chuẩn đầu ra của chương trình đạt được mục tiêu giáo dục
Thực hiện quá trình giao việc, hướng dẫn thưc hiện nhiệm vụ; Đôn đốc, động viên giáo viên, nhân viên thực hiện các công việc đúng tiến độ; Giám sát, uốn nắn, hỗ trợ để giáo viên nhân viên thực hiện nhiệm vu dạy học, giáo dục học sinh đúng yêu cầu, đảm bảo chất lượng; Tạo động lực cho giáo viên, nhân viên, học sinh trong học tập và tham gia các hoạt động giáo dục;
Kiểm tra, đánh giá và điểu chỉnh kế hoạch giáo dục
Việc kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện ở tất cả các khâu: Từ kiểm tra đánh giá việc xây dựng kế hoạch đối với tất cả các môn học, hoạt động giáo dục, trong
đó có: mục tiêu, chỉ tiêu; thời lượng thực hiện; tiến trình thực hiện; các yêu cầu
về phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh; phương pháp và hình thức triển khai; các hoạt động của giáo viên, học sinh…
Sử dụng kế hoạch giáo dục nhà trường, kế hoạch dạy học, giáo dục của tổ
Trang 66
chuyên môn, kế hoạch dạy học, giáo dục của cá nhân giáo viên đã được phê duyệt triển khai để làm cơ sở cho kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học, giáo dục Theo
đó, xác định mức độ đạt được so với kế hoạch, phát hiện những sai lệch, xem xét những gì chưa đạt được hoặc đạt ở mức độ thấp cùng những nguyên nhân của chúng
và những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn để điều chỉnh cho kịp thời, phù hợp
Hoạt động kiểm tra, đánh giá cung cấp thông tin cho việc điều chỉnh kế hoạch trong thời gian thực hiện và làm căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch giáo dục trong những năm tiếp theo
Đổi mới quản lý phương pháp, hình thức tổ chức dạy học theo định hướng phát triển NL, PC người học
2.1 Xây dựng kế hoạch chiến lược đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học theo định hướng phát triển NL, PC
Để nhận diện chính xác vấn đề cần thay đổi trong nhà trường, cần đánh giá thực trạng của nhà trường Qua đó, sẽ giúp nhà trường đề ra được lộ trình đúng, xây dựng được kế hoạch chiến lược rõ ràng và có giải pháp phù hợp Việc xây dựng một kế hoạch chiến lược rõ ràng giúp định hướng các quyết định và hướng tất cả mọi người cùng hành động vì một mục đích chung
Nhà trường cần dựa trên những điều kiện cụ thể của mình, trước mắt cũng như trong tương lai, nhằm hoạch định cho mình một kế hoạch chiến lược phát triển lâu dài Kế hoạch đó bao gồm nhiều vấn đề như quá trình phát triển, mục tiêu, giải pháp v.v… Từ việc phân tích bối cảnh, đánh giá thực trạng về đổi mới phương pháp dạy học, nguồn lực cho sự đổi mới phương pháp dạy học cần lựa chọn lộ trình tối ưu đi tới đích với các điều kiện, nguồn lực cụ thể Thống nhất lộ trình đổi mới phương pháp dạy học và đề nghị cam kết từ những người liên quan đến nội dung thực hiện theo lộ trình đã thống nhất
Chọn bước đi cụ thể, thích hợp để đạt được kết quả phù hợp với các giai đoạn của quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học với các lưu ý về động lực và rào cản thực tế trong từng giai đoạn cụ thể: chuẩn bị, thực hiện, đánh giá, điều chỉnh và phát huy tác dụng của những đổi mới đã đạt được
Trang 77
Từ kế hoạch chiến lược chia thành các giai đoạn trung hạn và ngắn hạn, có thể chia theo các năm học, theo học kỳ Xác định mục tiêu dài hạn, trung hạn và ngắn hạn từng năm học, đề ra các biện pháp cụ thể cho từng năm Xác định các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học cần hoàn thành của nhà trường đáp ứng các mục tiêu ngắn hạn, từng bước thực hiện mục tiêu trung hạn tiến tới hoàn thành mục tiêu dài hạn
2.2 Thành lập nhóm tiên phong đổi mới
Hiệu trưởng cần tìm hiểu và phân loại các nhóm đối tượng: nhóm sẵn sàng đổi mới; nhóm phản đối đổi mới; nhóm không ủng hộ ngay nhưng cũng không phản đối Thành lập một đội tiên phong (cốt cán) gồm những người tin cậy, có kỹ năng, kinh nghiệm, có nhiều mối quan hệ và có thẩm quyền sẽ làm cho sự thay đổi dễ thành công hơn
Trong quản lý đổi mới phương pháp dạy học, việc phải chọn được đúng người để thành lập được nhóm tiên phong rất quan trọng Cần tạo một nhóm tiên phong dẫn đường đủ mạnh để có thể dẫn dắt đổi mới phương pháp dạy học thành công Nhóm tiên phong phải đảm bảo 4 yếu tố: Quyền hạn (có nhiều cá nhân chủ chốt, đặc biệt là các nhà quản lý chính để cho nhóm bảo thủ không thể dễ dàng phá bỏ sự đổi mới tiến bộ); Chuyên môn (nhóm phải là những người có kinh nghiệm, năng lực cao về chuyên môn để có thể ra những quyết định thông minh
và đúng đắn); Sự tin cậy (gồm những người đủ uy tín và có được lòng tin cao từ những người khác trong nhà trường để đảm bảo rằng những tuyên bố của nhóm
sẽ được mọi người lắng nghe nghiêm túc); Có khả năng lãnh đạo (nhóm hội tụ được cả những nhà lãnh đạo có khả năng dẫn dắt công cuộc đổi mới)
Việc thành lập nhóm tiên phong cần thực hiện ngay khi bắt đầu xây dựng
kế hoạch Đội ngũ này sẽ cùng với hiệu trưởng tham gia vào đánh giá thực trạng nhà trường, phân tích bối cảnh để cùng xây dựng kế hoạch chiến lược Đồng thời nhóm cũng sẽ là những người đầu tiên thực thi kế hoạch đổi mới phương pháp dạy học của nhà trường Khi tạo ra những thành công đầu tiên sẽ tạo động lực và thu hút những người còn đang lưỡng lự đi theo, dần dần sẽ làm giảm dần những
Trang 88
đối tượng phản đối kế hoạch đổi mới phương pháp dạy học của nhà trường
Như vậy, trong nhà trường nhóm này thường bao gồm Ban giám hiệu, các
tổ trưởng chuyên môn, trưởng các tổ chức, bộ phận liên quan, các giáo viên có năng lực và sẵn sàng đổi mới Nhóm cần có thêm những thành phần bên ngoài nhà trường là những người có hiểu biết, ủng hộ sự đổi mới và có uy tín đối với lãnh đạo các cấp chính quyền địa phương hoặc cộng đồng, đồng thời có uy tín đối với các thành viên khác trong nhà trường
2.3 Tuyên truyền, phổ biến kế hoạch đổi mới
Việc tuyên truyền, phổ biến kế hoạch đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao nhận thức, tạo tính cấp bách về đổi mới phương pháp dạy học đối với các thành viên trong nhà trường Cần tạo ra sự đồng thuận, ủng hộ của những người liên quan và của toàn xã hội, lôi kéo mọi thành viên trong nhà trường, mọi lực lượng trong và ngoài trường cùng tham gia quá trình đổi mới phương pháp dạy học của nhà trường
Để tạo ra sự đồng thuận cần làm tốt công tác truyền thông bằng việc cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tuyên truyền cho mọi người cùng thấy được sự cần thiết và lợi ích của việc đổi mới phương pháp dạy học
Hình thức tuyên truyền: Sử dụng nhiều diễn đàn khác nhau theo nguyên tắc ”Lặp lại, lặp lại và lặp lại”; Thuyết phục bằng sự làm gương của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn và thành công bước đầu của đội tiên phong trong thực hiện đổi mới phương pháp dạy học
Đối tượng tuyên truyền: Trong nhà trường: Đối tượng cần được tuyên truyền, phổ biến về đổi mới phương pháp dạy học bao gồm cả giáo viên, tất cả nhân viên trong nhà trường và học sinh Ngoài nhà trường: Cha mẹ học sinh, các
tổ chức đoàn thể, chính quyền địa phương trên địa bàn nơi trường đóng, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, dịch vụ
2.4 Nhận diện, xóa bỏ các rào cản của đổi mới
Qua thực tế đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ học có một số rào cản cơ bản về tâm lý, động cơ; rào cản về các nguồn lực; rào cản về chuyên môn:
Trang 99
Tâm lý ngại thay đổi, thói quen, sức ỳ lớn của một bộ phận cán bộ quản lý
và giáo viên, chưa có động lực đổi mới Hiểu chưa đúng bản chất của các phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học tích cực nên vận dụng máy móc;
Tâm lý dạy học đáp ứng kiểu kiểm tra, thi cử theo hướng nặng về ghi nhớ nội dung kiến thức;
Chương trình và nội dung dạy học hiện hành thiết kế theo định hướng nội dung gây khó khăn khi đổi mới phương pháp dạy học;
Dự giờ đánh giá giờ dạy chủ yếu thiên về đánh giá các hoạt động dạy của giáo viên, chưa quan tâm các hoạt động học của học sinh;
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học còn nhiều hạn chế
2.5 Đổi mới việc dự giờ, đánh giá giờ dạy của giáo viên
Bên cạnh việc quản lý giờ lên lớp của giáo viên qua việc dự giờ thăm lớp, Hiệu trưởng cần hướng dẫn việc đổi mới cách đánh giá giờ dạy Đây là hoạt động
có tác dụng quyết định đến việc thực hiện thường xuyên và hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên
Cách đánh giá giờ dạy truyền thống thường tập trung vào hoạt động của giáo viên, ít quan tâm đến phân tích hoạt động học của học sinh Vì vậy, các giờ dạy thường được luyện tập kỹ trước khi dạy, dẫn tới giờ dạy thao giảng mang tính chất hình thức, đối phó Giáo viên chỉ chăm chú vào việc sao cho dạy hết bài quy định nên không chú ý nhiều đến hoạt động học của học sinh
Việc nhận xét đánh giá giờ dạy theo hướng đổi mới hiện nay cần căn cứ vào hiệu quả hoạt động học cho học sinh, vì vậy các tiêu chí xây dựng cần dựa trên việc quan sát hoạt động học của học sinh và việc tổ chức hoạt động học cho học sinh của giáo viên
Đối với các giờ dạy thử nghiệm, giờ dạy minh họa để nghiên cứu bài học thì không đánh giá giờ dạy, không xếp loại giáo viên Tuy nhiên, vẫn cần có những giờ dạy có đánh giá để giáo viên biết mình đang ở đâu, đạt được mức độ nào để tiếp tục phấn đấu Việc này cũng rất cần thiết đối với người quản lý Có đánh giá
Trang 1010
và đánh giá đúng thì mới thúc đẩy phát triển Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ chuyên môn thảo luận xây dựng các tiêu chí đánh giá giờ dạy, cụ thể hóa từng tiêu chí thành các mức độ khác nhau để dễ đánh giá và có sự thống nhất Việc đánh giá giáo viên nói chung cần đánh giá toàn diện: đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm
vụ chuyên môn được giao; đánh giá sự cống hiến của giáo viên với sự phát triển của nhà trường; đánh giá tiềm năng và khả năng thích ứng của đội ngũ
2.6 Đánh giá việc thực hiện đổi mới, điều chỉnh kế hoạch khi cần thiết Quá trình đổi mới trong nhà trường phổ thông không có điểm dừng Điểm kết thúc của giai đoạn này sẽ tiếp tục là điểm khởi đầu của giai đoạn thay đổi tiếp theo Đánh giá thường xuyên xác nhận tính đúng đắn của lộ trình, đánh giá theo giai đoạn để điều chỉnh và duy trì kết quả Đánh giá nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, mặt hạn chế để điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo chỉ đạo thực hiện Lấy thông tin phản hồi từ học sinh để điều chỉnh hoạt động giảng dạy và quản lý khi cần thiết
Các tiêu chí đánh giá tập trung vào một số nội dung:
Đánh giá sự thay đổi nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học của cán
bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong nhà trường, của học sinh, cha mẹ học sinh
và cộng đồng đạt được mức độ nào, ủng hộ hay phản đối;…
Thay đổi cách chuẩn bị giờ dạy của giáo viên;
Thay đổi cách tổ chức hoạt động học của học sinh;
Thay đổi cách đánh giá học sinh;
Thay đổi cách đánh giá giờ dạy;
Thay đổi về phương pháp học của học sinh
Thông qua đánh giá các mặt, phân tích kết quả đạt được, những mặt chưa đạt, xác định nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm cho chu kỳ đổi mới tiếp theo Việc đánh giá không phải chỉ thực hiện khi kết thúc một giai đoạn mà phải được đặt ra cả trong quá trình thực hiện đổi mới để kịp thời có những điều chỉnh khi cần thiết, vì quản lý sự thay đổi mang tính “động” Việc xây dựng một kế hoạch cần đảm bảo cả 2 yếu tố là ổn định và linh hoạt, điều này phù hợp với quy