1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Pháp luật: Phần 1 - CĐ Du lịch Hà Nội

258 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Pháp Luật
Tác giả Nguyễn Văn Lin, Cao Thị Thanh Loan, Nguyễn Thị Hoa
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Văn Lin
Trường học Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Chuyên ngành Pháp luật
Thể loại giáo trình
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 258
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(NB) Giáo trình pháp luật được biên soạn nhằm đáp ứng yêu cầu trang bị cho học sinh, sinh viên những kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật, các ngành luật cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam. Giáo trình pháp luật bao gồm 12 chương và được chia thành 2 phần, phần 1 đề cập đến một số vấn đề cơ bản của lý luận nhà nước và pháp luật, những nội dung về bộ máy nhà nước Việt Nam, những vấn đề có tính chất cơ bản, khái quát nhất về hệ thống pháp luật của nhà nước ta. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

T R Ư ỜN G C A O Đ Ẳ N G D U L ỊC H HÀ N Ộ I

ThS Nguyễn Văn Lin

Trang 2

1

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Đứng trước tình hình Đảng và Nhà nước ta đặt yêu cầu tăng cường giáo dục pháp luật trong các trường đại học, cao đẳng thông qua chương trình môn học, giáo trình, tài liệu giảng dạy pháp luật, đảm bảo đúng tinh thần và nội dung Hiến

pháp và pháp luật hiện hành Giáo trình pháp luật được biên

soạn nhằm đáp ứng yêu cầu trang bị cho học sinh, sinh viên những kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật, các ngành luật cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam

Giáo trình pháp luật là một giáo trình kế thừa những nội dung cơ bản của cuốn giáo trình pháp luật đại cương được

Bộ Giáo dục và Đào tạo, giáo trình pháp luật do Bộ Lao động thương binh và Xã hội ban hành Đồng thời giáo trình này tiếp tục cập nhật, bổ sung những kiến thức mới, lựa chọn những vấn đề gần gũi, từ ngữ thông dụng để diễn đạt về nhà nước và pháp luật

Giáo trình pháp luật do ThS Nguyễn Văn Lin - Trưởng Khoa Giáo dục cơ bản làm chủ biên và đồng biên soạn các chương (từ chương 1 đến chương 12) Ngoài ra, còn có sự tham gia của các giảng viên:

- ThS Nguyễn Văn Lin, biên soạn chương 1,12

- ThS Cao Thị Thanh Loan, đồng biên soạn chương 7, 8,

Trang 4

sử dụng cách thức trình bày, nội dung giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh, sinh viên và từng hệ đào tạo

Giáo trình pháp luật bao gồm 12 chương Năm chương đầu đề cập đến một số vấn đề cơ bản của lý luận nhà nước và pháp luật, những nội dung về bộ máy nhà nước Việt Nam, những vấn đề có tính chất cơ bản, khái quát nhất về hệ thống pháp luật của nhà nước ta Bảy chương sau là nội dung chủ yếu một số ngành luật có vị trí nền tảng trong hệ thống pháp luật của nhà nước Việt Nam, đó là: Luật Nhà nước (Hiến pháp 2013), Luật Dân sự, Luật Lao động, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Hình sự, Luật Du lịch và Luật Dạy nghề Bên cạnh

đó, giáo trình cũng biên soạn các bài đọc thêm như: Luật Hành chính, Luật Hôn nhân và Gia đình, Pháp luật Kinh doanh, Luật

Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hình sự nhằm giúp cho học sinh, sinh viên có thể tham khảo

Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng nhà nước và pháp luật

là hai hiện tượng xã hội hết sức phức tạp, nhất là trong giai đoạn hiện nay có rất nhiều văn bản pháp luật mới, các đạo luật mới được ban hành Vì vậy, mặc dù trong quá trình biên soạn rất cố gắng nhưng không thể tránh được khiếm khuyết Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp cho giáo trình này được hoàn thiện hơn trong những lần tái bản tiếp theo để áp dụng vào việc giảng dạy và học tập tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội

Xin trân trọng cảm ơn!

TM Nhóm biên soạn

ThS Nguyễn Văn Lin

Trang 5

MỤC LỤC

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

1.1 Quan điểm trước Mác - Lênin 20

3.1 Khái niệm chức năng của nhà nước 34

4.2 Sự thay thế các kiểu nhà nước 37

Trang 6

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

4.1 Pháp luật là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng

4.2 Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý

Trang 7

7 Ý thức pháp luật 55 7.1 Khái niệm về ý thức pháp luật 55 7.2 Phân loại ý thức pháp luật 56 7.3 Vấn đề nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta 58

Chương 3 NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1 Bản chất và đặc trưng cơ bản của Nhà nước

1.1 Nhân dân là chủ thể cao nhất của quyền lực

1.2 Nhà nước là biểu hiện tập trung của khối đại

đoàn kết các dân tộc anh em cùng sinh sống

1.3 Nhà nước Việt Nam là một nhà nước dân chủ

1.4 Nhà nước Việt Nam thể hiện tính xã hội rộng lớn 64 1.5 Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền

1.6 Nhà nước ta thực hiện đường lối đối ngoại hoà

bình, hợp tác hữu nghị với các nước trên thế giới 71

2 Chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ

2.1 Khái niệm chức năng của Nhà nước Cộng hòa

Trang 8

2.2 Các loại chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã

3 Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

3.1 Khái niệm bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội

3.2 Đặc điểm của bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam

87

3.3 Hệ thống các cơ quan trong bộ máy Nhà nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 91 3.4 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 105

2.1 Khái niệm quan hệ pháp luật 133 2.2 Đặc điểm của quan hệ pháp luật 134 2.3 Thành phần của quan hệ pháp luật 134

Trang 9

2.4 Điều kiện phát sinh, thay đổi chấm dứt quan hệ

2.1 Khái niệm trách nhiệm pháp lý 154 2.2 Các đặc điểm của trách nhiệm pháp lý 155 2.3 Các loại trách nhiệm pháp lý 156

3.1 Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa 158 3.2 Nguyên tắc cơ bản của pháp chế xã hội chủ nghĩa 161

Chương 6

1.1 Khái niệm Luật Nhà nước 165 1.2 Đối tượng điều chỉnh của Luật Nhà nước 165 1.3 Phương pháp điều chỉnh Luật Nhà nước 167

Trang 10

1.4 Vị trí của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật

1.5 Khái quát lịch sử lập hiến của nhà nước ta 168

2.2 Về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản

2.4 Chính sách xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học

Chương 7

1 Khái niệm, đối tượng điều chỉnh, phương pháp

1.2 Đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự 186 1.3 Phương pháp điều chỉnh của Luật Dân sự 188

2.1 Khái niệm quan hệ pháp luật dân sự 189 2.2 Đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự 189 2.3 Thành phần của quan hệ pháp luật dân sự 190

Trang 11

3.3 Hợp đồng dân sự 224

Chương 8

1 Khái niệm, đối tượng điều chỉnh và phương

1.1 Khái niệm Luật Lao động 264 1.2 Đối tượng điều chỉnh của Luật Lao động 264 1.3 Phương pháp điều chỉnh của Luật Lao động 266

2.1 Khái niệm và đặc điểm của quan hệ pháp luật

2.2 Nội dung của quan hệ pháp luật lao động 269

4 Vai trò, quyền hạn của tổ chức Công đoàn

trong quan hệ với người lao động và người sử

4.3 Quyền hạn của tổ chức Công đoàn trong quan hệ

với người lao động và người sử dụng lao động 302

Trang 12

Chương 9

1.1 Định nghĩa và những đặc trưng cơ bản của

1.2 Các hành vi tham nhũng theo quy định của

2.1 Nguyên nhân và điều kiện khách quan 323 2.2 Nguyên nhân và điều kiện chủ quan 324

Trang 13

6.3 Tham gia phòng chống tham nhũng thông qua ban

thanh tra nhân dân tổ chức mà mình là thành viên 344

Chương 10 LUẬT HÌNH SỰ 345

1.2 Đối tượng điều chỉnh của Luật Hình Sự 347

2.2.Các đặc điểm (đặc trưng) của tội phạm 350

2.1.Về chính sách đối với phát triển du lịch 391

Trang 14

2.2 Về bảo vệ môi trường du lịch 392 2.3.Về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch 392 2.4.Về quản lý tài nguyên du lịch 393 2.5 Về vấn đề tài nguyên du lịch 394 2.6.Về vấn đề khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch 394

Trang 15

2.3 Dạy nghề trình độ cao đẳng 414

3.1 Nhiệm vụ của người học nghề 416 3.2 Quyền của người học nghề 416

4.1 Nhiệm vụ của cơ sở dạy nghề 418 4.2 Quyền của cơ sở dạy nghề 419

Trang 16

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC

Tên môn học: PHÁP LUẬT

Mã môn học:

Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:

- Vị trí: Là môn học thuộc nhóm kiến thức chung trong chương trình đào tạo hệ cao đẳng Trường Cao đẳng Du lịch

Mục tiêu của môn học:

- Về kiến thức: Trình bày được các kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nhận biết được một số ngành luật cơ bản : Luật Nhà nước, Luật Dân sự, Luật Hình sự, Luật Lao động, Luật Du lịch

- Về kỹ năng: Trình bày được nội dung cơ bản của một

số ngành luật có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam như Hiến Pháp, Luật Dân sự,…

- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế trong việc tôn trọng và thực hiện

Hiến pháp, pháp luật

Nội dung của môn học:

Trang 17

CHƯƠNG 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ NHÀ NƯỚC

Giới thiệu:

Chương này đề cập đến những vấn đề sau:

- Nguồn gốc ra đời của nhà nước

- Bản chất của Nhà nước

- Đặc trưng của Nhà nước

Mục tiêu:

- Nhận biết được được nguyên nhân chủ yếu dẫn đến

sự ra đời của Nhà nước

- Trình bày được bản chất, đặc trưng của Nhà nước

1.1 Quan điểm trước Mác - Lênin

1.1.1 Thuyết Thần học

Theo thuyết Thần học thì Thượng đế là người sắp đặt nên

trật tự xã hội, nhà nước là do Thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung, do vậy, nhà nước là lực lượng siêu nhiên và

Trang 18

đương nhiên quyền lực nhà nước là vĩnh cửu và sự phục tùng quyền lực là cần thiết và tất yếu

1.1.2 Thuyết Gia trưởng

Theo thuyết Gia trưởng thì nhà nước là kết quả phát triển

của gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người, vì vậy, nhà nước có trong mọi xã hội và quyền lực nhà nước về bản chất cũng giống như quyền gia trưởng của người đứng đầu gia đình Nói cách khác, nhà nước được quan niệm như là một gia tộc mở rộng và quyền lực nhà nước là quyền lực gia trưởng mở rộng

1.1.3 Thuyết Khế ước xã hội

Vào thế kỷ XVI, XVII, XVIII đã xuất hiện hàng loạt quan niệm mới về nguồn gốc nhà nước Điển hình nhất trong số những

quan niệm đó là thuyết Khế ước xã hội với những đại diện tiêu

biểu là các nhà tư tưởng tư sản như Jean Bordin (1530 - 1596), Thomas Hobben (1588 - 1679), John Locke (1632 - 1704), Charles Louis Montesquieu (1689 - 1775), Đeni Điđơrô (1713 - 1784), Jean - Jacques Rousseau (1712 - 1778)… Thuyết Khế ước

xã hội ra đời trong bối cảnh nền chuyên chế phong kiến đang ở giai đoạn suy tàn, tình thế trực tiếp của các cuộc cách mạng tư sản đã xuất hiện

Xuất phát từ mục đích chống lại sự chuyên quyền độc đoán của nhà nước phong kiến, đòi hỏi sự bình đẳng cho giai cấp tư sản trong việc tham gia nắm giữ quyền lực nhà nước nên đa số các học giả tư sản đều lấy lý thuyết về quyền tự nhiên làm tiền đề tư tưởng để luận giải rằng sự ra đời của nhà

Trang 19

nước là sản phầm của một khế ước (hợp đồng) được ký kết trước hết giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước dựa trên cơ sở mỗi người tự nguyện nhường một phần trong số quyền tự nhiên vốn có của mình giao cho một tổ chức đặc biệt là nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng Vì vậy, chủ quyền trong nhà nước thuộc về nhân dân, nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội và mỗi thành viên trong xã hội đều có quyền yêu cầu nhà nước phục vụ họ, bảo vệ lợi ích của họ Điđơrô, Spinoza, Rousseau đều cho rằng, trong trường hợp nhà nước không giữ được vai trò của mình, sử dụng quyền lực một cách không công minh khiến cho các quyền tự nhiên bị vi phạm thì khế ước sẽ mất hiệu lực và nhân dân có quyền lật đổ nhà nước

và ký kết khế ước mới Ở khía cạnh này, thuyết Khế ước xã hội có tính cách mạng và giá trị lịch sử to lớn Trên thực tế, thuyết Khế ước xã hội đã trở thành cơ sở cho thuyết Dân chủ cách mạng và là bệ đỡ tư tưởng cách mạng tư sản lật đổ ách thống trị phong kiến trong thời kỳ cận đại Tuy nhiên, thuyết Khế ước xã hội vẫn còn có những hạn chế rất cơ bản, nhất là ở phương pháp giải thích nguồn gốc nhà nước trên cơ sở chủ nghĩa duy tâm, xem nhà nước là do ý muốn, nguyện vọng chủ quan của các bên tham gia khế ước và từ đó đã không khẳng định được cội nguồn vật chất và bản chất giai cấp của nhà nước Nhìn chung, tất cả các quan điểm trên hoặc do nhận thức còn hạn chế nên không hiểu hoặc do bị chi phối bởi lợi ích giai cấp nên cố tình giải thích sai những nguyên nhân đích thực làm phát sinh nhà nước, nhằm che giấu bản chất sự vận động xã hội dẫn đến sản phẩm tất yếu là nhà nước Đa số họ

Trang 20

đều xem xét sự ra đời của nhà nước tách rời những điều kiện

vật chất của xã hội, tách rời những nguyên nhân kinh tế và

chứng minh rằng nhà nước là một thiết chế phải có của mọi xã

hội, một lực lượng cần thiết cho phép mọi người có thể tồn tại

được, một trọng tài công minh được áp đặt vào xã hội, đứng

trên xã hội để điều hòa các mâu thuẫn xã hội, giải quyết các

tranh chấp nhằm duy trì xã hội trong tình trạng ổn định và

phồn vinh

1.2 Học thuyết Mác - Lênin

Khác căn bản với các lý thuyết nêu trên, học thuyết Mác -

Lênin tiếp cận vấn đề nguồn gốc nhà nước trên cơ sở phương

pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Từ cách tiếp

cận đó, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra

rằng: Nhà nước không phải là hiện tượng vĩnh cửu và bất biến

Nhà nước là một phạm trù lịch sử, có quá trình phát sinh, phát

triển và tiêu vong Nhà nước là lực lượng nảy sinh từ xã hội,

là sản phẩm có điều kiện của xã hội loài người Nhà nước chỉ

xuất hiện khi xã hội loài người đã phát triển đến một giai đoạn

nhất định Chúng luôn vận động, phát triển và sẽ tiêu vong khi

những điều kiện khách quan cho sự tồn tại và phát triển của

chúng không còn nữa

1.2.1 Chế độ cộng sản nguyên thủy và tổ chức thị tộc bộ lạc

Chế độ cộng sản nguyên thủy là hình thái kinh tế - xã hội

đầu tiên của xã hội loài người, trong đó không tồn tại giai cấp

và nhà nước Nhưng những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời

của nhà nước và pháp luật lại nảy sinh chính trong lòng xã hội

Trang 21

đó Vì vậy, việc nghiên cứu về xã hội cộng sản nguyên thủy là

cơ sở để giải thích nguyên nhân làm phát sinh nhà nước và pháp luật, tạo điều kiện để hiểu rõ bản chất của chúng

Để tìm hiểu về xã hội cộng sản nguyên thủy, trước hết cần nghiên cứu cơ sở kinh tế của nó, bởi vì cơ sở kinh tế là yếu tố cơ bản quyết định đời sống xã hội

- Cơ sở kinh tế

Cơ sở kinh tế của xã hội cộng sản nguyên thủy là chế độ

sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động Trong

xã hội cộng sản nguyên thủy, do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thấp kém, công cụ lao động thô sơ, con người chưa có nhận thức đúng đắn về thiên nhiên và về bản thân mình, năng suất lao động thấp Mọi người đều bình đẳng trong lao động và hưởng thụ, không ai có tài sản riêng, không

có người giàu kẻ nghèo, không có tình trạng người này chiếm đoạt tài sản của người kia Xã hội chưa phân chia thành giai cấp và không có đấu tranh giai cấp

- Cơ sở xã hội

Chính những điều kiện kinh tế đó đã quyết định đời sống

xã hội của chế độ cộng sản nguyên thủy Tế bào cơ sở của xã hội không phải là gia đình mà là thị tộc Thị tộc là kết quả của một quá trình tiến hóa lâu dài Nó xuất hiện ở một giai đoạn khi xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định

Sự xuất hiện của tổ chức thị tộc là một bước tiến trong lịch sử phát triển của nhân loại, nó đặt nền móng cho việc hình thành kinh tế - xã hội đầu tiên trong lịch sử - hình thái

Trang 22

kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thủy Tổ chức thị tộc đã thực

sự là một tổ chức lao động và sản xuất, một bộ máy kinh tế -

xã hội

Thị tộc tổ chức theo huyết thống Ở giai đoạn đầu do những điều kiện về kinh tế - xã hội và hôn nhân, do phụ thuộc vào địa vị chủ đạo của người phụ nữ trong thị tộc, các thị tộc

đã được tổ chức theo chế độ mẫu hệ Dần dần, sự phát triển của kinh tế - xã hội đã tác động làm thay đổi quan hệ trong hôn nhân; mặt khác địa vị của người phụ nữ trong thị tộc cũng thay đổi Người đàn ông đã giữ vai trò chủ đạo trong đời sống thị tộc và chế độ mẫu hệ đã chuyển sang chế độ phụ hệ

1.2.2 Sự tan rã của tổ chức thị tộc và nhà nước xuất hiện

Xã hội cộng sản nguyên thủy không hề biết đến nhà nước, nhưng chính trong lòng của xã hội đó đã phát sinh những tiền đề vật chất cho sự ra đời của nhà nước, đóng vai trò quan trọng trong việc làm tan rã chế độ cộng sản nguyên thủy đồng thời cũng là những nguyên nhân xuất hiện nhà nước Sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất với công cụ lao động được cải tiến, con người được phát triển về thể lực và trí lực, ngày càng nhận thức đúng đắn hơn về thế giới và tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong lao động, năng suất lao động cao đã tạo tiền đề làm thay đổi phương thức sản xuất cộng sản nguyên thủy và đòi hỏi sự phân công lao động tự nhiên phải được thay thế bằng sự phân công lao động

xã hội Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh có ba lần phân công lao động xã hội lớn, mỗi lần phân công lao động xã

Trang 23

hội lại có những bước tiến mới làm sâu sắc thêm quá trình tan

rã của chế độ cộng sản nguyên thủy

Trong lao động và cùng với lao động con người được phát triển cả về thể lực và trí lực, hoạt động của con người ngày càng phong phú, chủ động và tự giác hơn Việc con người thuần dưỡng được động vật đã mở ra một kỷ nguyên mới trong sự phát triển của xã hội loài người Chính những đàn gia súc được thuần dưỡng đã trở thành nguồn tích lũy tài sản quan trọng, là mầm sống sinh ra chế độ tư hữu Nghề chăn nuôi phát triển rất mạnh làm xuất hiện ngày càng nhiều những gia đình chuyên làm nghề chăn nuôi và dần dần: “chăn nuôi

đã trở thành một ngành kinh tế độc lập tách ra khỏi ngành trồng trọt” Đó là lần phân công lao động xã hội lớn đầu tiên Sau lần phân công lao động xã hội lớn thứ nhất, xã hội đã

có những biến đổi sâu sắc Con người đã tạo ra nhiều của cải hơn mức cần thiết để duy trì cuộc sống của chính bản thân họ

Do đó, đã xuất hiện những sản phẩm lao động dư thừa và đã phát sinh khả năng chiếm đoạt những sản phẩm dư thừa ấy Gia súc đã trở thành nguồn tài sản cơ bản để tích luỹ và trao đổi giữa các tù trưởng, thủ lĩnh quân sự của thị tộc và bộ lạc

Do sự phát triển mạnh mẽ của nghề chăn nuôi và trồng trọt, một nhu cầu mới đã nảy sinh, nhu cầu về sức lao động Vì vậy, nếu như trước kia, những tù binh bị bắt trong các cuộc xung đột thường bị giết chết, thì nay đã được giữ lại làm nô lệ

để bóc lột sức lao động Mầm mống của chế độ tư hữu đã xuất hiện, xã hội đã phân chia thành kẻ giàu, người nghèo Chế độ

tư hữu xuất hiện đã làm thay đổi quan hệ hôn nhân, chế độ

Trang 24

hôn nhân một vợ một chồng đã thay thế cho chế độ quần hôn Đồng thời với sự thay đổi đó đã xuất hiện chế độ gia trưởng đặc trưng bằng vai trò tuyệt đối và quyền lực vô hạn của người chồng trong gia đình, gia đình cá thể đã trở thành một lực lượng đang đe dọa thị tộc

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của chăn nuôi và trồng trọt thì thủ công nghiệp cũng phát triển Việc con người tìm ra kim loại, đặc biệt là sắt đã tạo ra khả năng có thể trồng trọt trên những diện tích rộng lớn hơn, có thể khai hoang cả những miền rừng núi Sắt mang lại cho người thợ thủ công nghiệp những công cụ lao động có giá trị Nghề dệt, nghề chế tạo đồ kim loại và những nghề thủ công khác ngày càng được chuyên môn hóa đã làm cho sản phẩm được làm ra ngày càng nhiều loại và hoàn hảo hơn

Bên cạnh đó, ngoài ngũ cốc, các loại đỗ và hoa quả, nông nghiệp còn cung cấp cả dầu thực vật và rượu vang Một hoạt động nhiều mặt như thế đã dẫn đến sự phân công lao động lớn lần thứ hai là “Thủ công nghiệp đã tách ra khỏi nông nghiệp”

Sự tăng trưởng không ngừng của sản phẩm lao động đã nâng cao giá trị sức lao động của con người Sau lần phân công lao động xã hội đầu tiên, nô lệ đã ra đời nhưng còn có tính chất lẻ

tẻ, thì nay đã trở thành bộ phận cấu thành chủ yếu của hệ thống xã hội; nô lệ không còn là kẻ phụ giúp đơn thuần nữa

mà đã trở thành một lực lượng xã hội với số lượng ngày càng tăng, họ đã bị đẩy đi làm việc ở ngoài đồng ruộng và trong xưởng thợ, thành từng đoàn 10 - 12 người một

Trang 25

Sự phân công lao động xã hội lớn lần thứ hai đã đẩy nhanh quá trình phân hóa xã hội làm cho sự phân biệt giữa kẻ giàu và người nghèo, giữa chủ nô và nô lệ ngày càng sâu sắc, mâu thuẫn giai cấp ngày càng tăng

Sự ra đời và bành trướng của thương mại đã kéo theo sự xuất hiện của đồng tiền, nạn cho vay nặng lãi, quyền tư hữu

về ruộng đất và chế độ cầm cố Tất cả những yếu tố đó tạo nên lần phân công lao động thứ ba “Tầng lớp thương nhân xuất hiện”, làm cho sự tích tụ và tập trung của cải vào trong tay của số ít người giàu có diễn ra nhanh chóng, đồng thời thúc đẩy sự bần cùng hóa của quần chúng và sự tăng nhanh của đám đông dân nghèo Số nô lệ tăng lên rất đông cùng với

sự cưỡng bức và bóc lột ngày càng nặng nề của giai cấp chủ

nô đối với họ

Những yếu tố mới xuất hiện đã làm đảo lộn đời sống thị tộc, chế độ thị tộc đã tỏ ra bất lực Những hoạt động thương nghiệp, sự thay đổi nghề nghiệp và sự nhượng quyền sở hữu đất đai đã đòi hỏi phải di động và thay đổi chỗ ở, phá vỡ cuộc sống định cư của thị tộc, làm mất đi điều kiện tiên quyết cho

sự tồn tại của chế độ thị tộc (đó là các thành viên của một thị tộc hoặc bộ lạc phải chung sống trên cùng một lãnh thổ mà chỉ mình họ cư trú mà thôi) thì nay khi một xã hội mới ra đời, một xã hội mà toàn bộ những điều kiện kinh tế của sự tồn tại của nó đã phân chia xã hội thành các giai cấp đối lập nhau, luôn luôn mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt với nhau để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình, tổ chức thị tộc trở thành bất lực, không thể phù hợp được nữa Xã hội đó đòi hỏi phải có một tổ

Trang 26

chức mới đủ sức để dập tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp ấy hoặc cùng lắm là để cho cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, dưới một hình thức gọi là hợp pháp Tổ chức đó là nhà nước và nhà nước đã xuất hiện Như vậy, nhà nước đã xuất hiện một cách khách quan và là sản phẩm của một xã hội đã phát triển đến một giai đoạn lịch

sử nhất định Nhà nước “không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội mà là “một lực lượng nảy sinh từ xã

hội”, một lực lượng “ tựa hồ như đứng trên xã hội” có nhiệm

vụ làm dịu bớt những xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng “trật tự” (Ănghen - tác phẩm Chống Đuy Rinh)

2 Bản chất và đặc trưng của nhà nước

2.1 Bản chất của nhà nước

Xuất phát từ việc nghiên cứu nguồn gốc của nhà nước, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đi đến kết luận

“Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn

giai cấp không thể điều hòa được” Nghĩa là, nhà nước chỉ

sinh ra và tồn tại trong xã hội có giai cấp và bao giờ cũng thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc Bản chất đó thể hiện trước hết

ở chỗ nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay của giai cấp cầm quyền, là công cụ sắc bén nhất để thực hiện sự thống trị giai cấp, thiết lập và duy trì trật tự xã hội Trong xã hội có giai cấp, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác đều thể hiện dưới ba loại quyền lực là quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế và quyền lực tư tưởng Trong đó, quyền lực kinh tế giữ vai trò quyết định, là cơ sở để đảm bảo cho sự thống trị giai cấp Quyền lực kinh tế có ý

Trang 27

nghĩa quan trọng vì nó tạo ra cho người chủ sở hữu khả năng

có thể bắt những người bóc lột phải phụ thuộc về mặt kinh tế Nhưng bản thân quyền lực kinh tế không thể duy trì được các quan hệ bóc lột Vì vậy, cần phải có nhà nước, một bộ máy cưỡng chế đặc biệt để củng cố quyền lực của giai cấp thống trị

về kinh tế và để đàn áp sự phản kháng của các giai cấp bị bóc lột Nhờ có nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế trở thành chủ thể của quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị

Quyền lực chính trị là “bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác” Nhà nước là một bộ máy bạo lực do giai cấp thống trị tổ chức ra để trấn áp các giai cấp đối địch Với ý nghĩa đó nhà nước chính là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị Giai cấp thống trị sử dụng nhà nước

để tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp mình

2.1.1 Bản chất giai cấp của nhà nước

Xuất phát từ việc nghiên cứu nguồn gốc của nhà nước, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đi đến kết luận

“Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn

giai cấp không thể điều hòa được” Nghĩa là, nhà nước chỉ

sinh ra và tồn tại trong xã hội có giai cấp và bao giờ cũng thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc Bản chất đó thể hiện trước hết

ở chỗ nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay của giai cấp cầm quyền, là công cụ sắc bén nhất để thực hiện sự thống trị giai cấp, thiết lập và duy trì trật tự xã hội Trong xã hội có giai cấp, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác đều thể hiện dưới ba loại quyền lực là quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế và quyền lực tư tưởng Trong

Trang 28

đó, quyền lực kinh tế giữ vai trò quyết định, là cơ sở để đảm bảo cho sự thống trị giai cấp Quyền lực kinh tế có ý nghĩa quan trọng vì nó tạo ra cho người chủ sở hữu khả năng áp đặt đối với những người nghèo phải phụ thuộc về mặt kinh tế Nhưng bản thân quyền lực kinh tế không thể duy trì được các quan hệ bóc lột Vì vậy, cần phải có nhà nước, một bộ máy cưỡng chế đặc biệt để củng cố quyền lực của giai cấp thống trị

về kinh tế và để đàn áp sự phản kháng của các giai cấp bị bóc lột Nhờ có nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế trở thành chủ thể của quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị

Quyền lực chính trị là “bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác” Nhà nước là một bộ máy bạo lực do giai cấp thống trị tổ chức ra để trấn áp các giai cấp đối địch Với ý nghĩa đó nhà nước chính là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị Giai cấp thống trị sử dụng nhà nước

để tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp mình

2.1.2 Bản chất xã hội của nhà nước

Bản chất nhà nước thể hiện không chỉ thông qua bản chất giai cấp của nó mà còn thể hiện thông qua vai trò, giá trị xã hội của nó Vai trò xã hội và giá trị xã hội của nhà nước thể hiện ở chỗ: Nhà nước giải quyết các công việc mang tính xã hội phục vụ lợi ích chung của xã hội, đặc biệt trong thời đại ngày nay như: Xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, trường học, bệnh viện, công viên, đường sá, bảo vệ môi trường, phòng và chống các dịch bệnh… Do vậy, nhà nước là

tổ chức quyền lực công, là phương thức tổ chức và bảo đảm các lợi ích chung của xã hội Vai trò xã hội và giá trị xã hội của nhà nước tùy thuộc vào bản chất giai cấp của nhà nước

Trang 29

Vì vậy, sẽ sai lầm trong nhận thức và hành động nếu chỉ nhấn mạnh một chiều bản chất giai cấp của nhà nước mà không thấy vai trò xã hội và giá trị xã hội của nhà nước

2.2 Đặc trưng của nhà nước

So với cơ cấu tổ chức, thực hiện quyền lực và quản lý của thị tộc, bộ lạc, liên minh trong xã hội cộng sản nguyên thủy cũng như so với các tổ chức khác trong xã hội có giai cấp, nhà nước có các đặc trưng cơ bản sau đây:

2.2.1 Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt

Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, quyền lực chưa tách khỏi xã hội mà gắn liền với xã hội, hòa nhập với xã hội chưa

có giai cấp nên chưa có nhà nước Quyền lực đó do toàn xã hội tổ chức ra, chưa mang tính giai cấp, phục vụ vì lợi ích chung của cả cộng đồng Khi xuất hiện nhà nước, quyền lực công cộng đặc biệt được thiết lập Chủ thể của quyền lực này

là giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị Để thực hiện quyền lực này và quản lý xã hội, nhà nước có một lớp người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý Họ tham gia vào các

cơ quan nhà nước và hình thành một bộ máy cưỡng chế để duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích chung của giai cấp thống trị, bắt các giai cấp khác phải phục vụ theo ý chí của giai cấp thống trị Như vậy, quyền lực công cộng đặc biệt này đã tách

ra khỏi xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc và chỉ phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị

2.2.2 Nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ

Trang 30

Nếu trong xã hội công xã nguyên thủy tổ chức thị tộc tập hợp các thành viên của mình theo huyết thống thì nhà nước lại phân chia dân cư theo lãnh thổ thành các đơn vị hành chính, không phụ thuộc vào chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính Việc phân chia này dẫn đến việc hình thành các cơ quan quản lý trên từng đơn vị hành chính lãnh thổ, đảm bảo cho hoạt động quản lý của nhà nước tập trung, thống nhất Người dân có mối quan hệ với nhà nước bằng chế định quốc tịch, chế định này xác lập sự phụ thuộc của công dân vào một nhà nước nhất định và ngược lại nhà nước phải có những nghĩa vụ nhất định đối với công dân của mình

2.2.3 Nhà nước có chủ quyền quốc gia

Chủ quyền quốc gia là quyền tối cao của nhà nước về đối nội và độc lập về đối ngoại Chủ quyền quốc gia mang nội dung chính trị, pháp lý, nó thể hiện quyền độc lập tự quyết của nhà nước về những chính sách đối nội và đối ngoại không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài Chủ quyền quốc gia là thuộc tính không thể chia cắt của nhà nước Chủ quyền quốc gia có tính tối cao, thể hiện ở chỗ quyền lực của nhà nước phổ biến trên toàn bộ đất nước với tất cả các dân cư và các tổ chức xã hội Tất cả mọi cá nhân, tổ chức sống trên lãnh thổ của nước

sở tại đều phải tuân thủ theo luật pháp của nhà nước Dấu hiệu của chủ quyền quốc gia thể hiện sự độc lập, bình đẳng giữa các quốc gia với nhau không phân biệt quốc gia lớn hay nhỏ

2.2.4 Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật

Trang 31

Với tư cách là người đại diện chính thức của toàn bộ xã hội, là người thực thi quyền lực công cộng, duy trì trật tự xã hội, nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật

và áp dụng pháp luật để quản lý xã hội Pháp luật do nhà nước ban hành nên có tính bắt buộc chung, mọi người (công dân) đều phải tôn trọng pháp luật Nhà nước và pháp luật có mối quan

hệ chặt chẽ, tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau Nhà nước không thể thực hiện vai trò quản lý xã hội nếu không có pháp luật và ngược lại pháp luật phải thông qua nhà nước để ra đời

2.2.5 Nhà nước có quyền quy định và thực hiện việc thu các loại thuế dưới các hình thức bắt buộc, với số lượng và thời hạn ấn định trước

Để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước và tiến hành quản lý nhà nước Nhà nước quy định và thực hiện việc thu các loại thuế dưới các hình thức bắt buộc, với số lượng và thời hạn ấn định trước đối với công dân của mình Trong xã hội có nhà nước, không một thiết chế chính trị nào ngoài nhà nước có quyền quy định về thuế và thu các loại thuế

Những đặc điểm trên nói lên sự khác nhau giữa nhà nước với các tổ chức chính trị xã hội khác, đồng thời cũng phản ánh

vị trí và vai trò của nhà nước trong xã hội có giai cấp

Từ những phân tích về nguồn gốc, bản chất và đặc trưng của nhà nước, có thể đi đến một định nghĩa chung như sau: Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị,

có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội nhằm thể hiện và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng (của

Trang 32

giai cấp công nhân và nông dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với nhà nước Xã hội chủ nghĩa)

3 Chức năng của nhà nước

3.1 Khái niệm chức năng của nhà nước

Chức năng của nhà nước là những phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước, phản ánh bản chất nhà nước, được xác định tùy thuộc vào đặc điểm, tình hình trong nước và quốc tế,

để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước trong từng giai đoạn

Chức năng của nhà nước được xác định xuất phát từ bản chất của nhà nước, do cơ sở kinh tế và cơ cấu giai cấp của xã hội quyết định Các nhà nước bóc lột được xây dựng trên cơ

sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và bóc lột nhân dân lao động Cho nên, chúng có những chức năng cơ bản như bảo vệ chế độ tư hữu, đàn áp sự phản kháng và phong trào cách mạng của nhân dân lao động, tổ chức tiến hành chiến tranh xâm lược để mở rộng ảnh hưởng và nô dịch các dân tộc khác… Nhà nước xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở kinh tế là chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa và bảo vệ lợi ích của đông đảo quần chúng lao động, vì vậy chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa khác với chức năng của các nhà nước bóc lột

cả về nội dung và phương thức thực hiện

3.2 Chức năng đối nội

Chức năng đối nội là những phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội bộ đất nước như:

Trang 33

- Chức năng bảo đảm trật tự xã hội, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

- Trấn áp những phần tử phản cách mạng

- Bảo vệ và phát triển chế độ kinh tế, văn hóa v.v

3.3 Chức năng đối ngoại

Thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ với các nhà nước và dân tộc khác như:

- Phòng thủ đất nước, chống sự xâm lược từ bên ngoài

- Thiết lập các mối quan hệ bang giao với các quốc gia khác Các chức năng đối nội và đối ngoại có quan hệ mật thiết với nhau, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau Việc thực hiện tốt các chức năng đối nội tạo ra những điều kiện thuận lợi cho cho việc thực hiện các chức năng đối ngoại và ngược lại, việc thực hiện chức năng đối ngoại phải phục vụ cho việc thực hiện các chức năng đối nội Để thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại nhà nước sử dụng nhiều hình thức, phương pháp hoạt động khác nhau, trong đó có ba hình thức hoạt động chính đó là: Xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật

và bảo vệ pháp luật Trong mỗi nhà nước, việc sử dụng ba hình thức hoạt động này cũng có những đặc điểm khác nhau Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nước, các phương pháp hoạt động để thực hiện các chức năng của nhà nước cũng rất đa dạng, nhưng nhìn chung có hai phương pháp chính

là giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế Trong các nhà nước bóc lột, cưỡng chế được sử dụng rộng rãi và là phương pháp chủ yếu để thực hiện các chức năng nhà nước Ngược lại,

Trang 34

trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, giáo dục, thuyết phục là phương pháp chủ yếu, còn cưỡng chế được sử dụng kết hợp ở mức độ nhất định và lấy giáo dục, thuyết phục làm nền tảng Mỗi kiểu nhà nước có bản chất riêng, nên chức năng của các nhà nước và việc tổ chức bộ máy để thực hiện các chức năng

đó có những đặc điểm riêng

4 Các kiểu nhà nước

4.1 Khái niệm kiểu nhà nước

Bản chất của nhà nước trong những thời kỳ lịch sử khác nhau là rất khác nhau Để phân biệt chúng, khoa học lý luận chung về nhà nước và pháp luật đưa ra khái niệm kiểu nhà nước Kiểu nhà nước là tổng thể các dấu hiệu cơ bản đặc thù của nhà nước, thể hiện bản chất và những điều kiện tồn tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định

Trong lịch sử xã hội loài người đã tồn tại bốn hình thái kinh tế - xã hội: Chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Tương ứng với bốn hình thái kinh

tế - xã hội đó là bốn kiểu nhà nước: Kiểu nhà nước chủ nô, kiểu nhà nước phong kiến, kiểu nhà nước tư sản, kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa

Các kiểu nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản tuy có những đặc điểm riêng về bản chất, nhiệm vụ, chức năng, nhưng đều mang một đặc điểm chung - kiểu nhà nước bóc lột Kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa có sứ mệnh lịch sử là xóa bỏ

Trang 35

chế độ người bóc lột người, xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội

4.2 Sự thay thế các kiểu nhà nước

Sự thay thế kiểu nhà nước này bằng một kiểu nhà nước mới tiến bộ hơn là một quy luật tất yếu Quy luật về sự thay thế các kiểu nhà nước phù hợp với quy luật về sự phát triển và thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội Cách mạng là con đường dẫn đến sự thay thế đó Một kiểu nhà nước mới xuất hiện trong quá trình cách mạng khi giai cấp cầm quyền cũ bị lật đổ và giai cấp thống trị mới giành được chính quyền Các cuộc cách mạng khác nhau diễn ra trong lịch sử đều tuân theo quy luật đó: Nhà nước phong kiến thay thế nhà nước chủ nô, nhà nước tư sản thay thế nhà nước phong kiến, nhà nước xã hội chủ nghĩa thay thế nhà nước tư sản

Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước mới tiến

bộ nhất và cũng là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử Sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ tiêu vong và sau đó sẽ không còn một kiểu nhà nước nào khác nữa

Câu hỏi ôn tập và thảo luận

1 Anh (chị) hãy cho biết có mấy quan điểm giải thích nguồn gốc ra đời của nhà nước? Quan điểm nào đúng đắn nhất? Giải thích vì sao?

2 Anh (chị) hãy trình bày bản chất của nhà nước?

Trang 36

Chương 2

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ PHÁP LUẬT

Giới thiệu:

Chương này đề cập đến những vấn đề sau:

- Nguồn gốc của Pháp luật

- Bản chất của Pháp luật

- Thuộc tính của Pháp luật

- Vai trò của Pháp luật

Mục tiêu:

- Nhận thức được những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến

sự ra đời của Pháp luật

- Trình bày được bản chất cũng như các đặc trưng, vai trò của Pháp luật

Nội dung chính:

1 Nguồn gốc của pháp luật

Pháp luật là một hiện tượng xã hội, nó chỉ xuất hiện và tồn tại ở những giai đoạn phát triển nhất định của xã hội như một yếu tố tất yếu của lịch sử nhân loại

Xã hội là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, vì vậy bất kỳ

xã hội nào cũng cần tới sự quản lý để tạo lập trật tự xã hội Để thiết lập ổn định, trật tự cho xã hội cần phải có sự điều chỉnh đối với các quan hệ xã hội Sự điều chỉnh này là nhân tố bảo đảm cho những nhu cầu của các thành viên trong xã hội Nói cách khác, sự điều chỉnh là phương tiện cần thiết để bảo đảm tính tổ chức của xã hội

Trang 37

Việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong xã hội cộng sản nguyên thủy được thực hiện dưới sự tác động của hệ thống các quy phạm xã hội tồn tại dưới dạng các quy phạm tập quán, tín điều tôn giáo trong xã hội ban đầu này Quy phạm xã hội

là quy tắc về hành vi của con người, nói cách khác đó là mô hình, hành vi cho cách xử sự của con người Các quy phạm xã hội này vẫn tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp Trong xã hội có giai cấp, có nhà nước, ngoài các quy phạm tập quán, đạo đức, tôn giáo, quy phạm về tổ chức xã hội pháp luật nổi bật lên như là nhân tố hàng đầu, có vai trò đặc biệt trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội

Trong lịch sử phát triển của loài người đã có thời kỳ không

có pháp luật đó là thời kỳ xã hội cộng sản nguyên thủy Trong

xã hội này, để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo lập trật tự, ổn định cho xã hội, người nguyên thủy sử dụng các quy phạm xã hội, đó là các tập quán và tín điều tôn giáo Các quy phạm xã hội trong chế độ cộng sản nguyên thủy có những đặc điểm:

- Thể hiện ý chí chung của các thành viên trong xã hội, bảo vệ lợi ích cho tất cả thành viên trong xã hội

- Là quy tắc xử sự chung của cả cộng đồng, là khuôn mẫu của hành vi

- Được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, dựa trên tinh thần hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, mặc dù trong xã hội cộng sản nguyên thủy cũng đã tồn tại sự cưỡng chế nhưng không phải

do một bộ máy quyền lực đặc biệt tổ chức nên, mà do cả cộng đồng tổ chức nên

Những tập quán và tín điều tôn giáo lúc bấy giờ là những quy tắc xử sự rất phù hợp để điều chỉnh các quan hệ xã hội,

Trang 38

bởi vì nó phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế - xã hội của chế độ cộng sản nguyên thủy, phù hợp với tính chất khép kín của tổ chức thị tộc, bào tộc, bộ lạc

Khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội phân chia thành giai cấp những quy phạm xã hội đó trở nên không còn phù hợp Trong điều kiện xã hội mới xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng, tính chất khép kín trong xã hội bị phá vỡ, các quy phạm phản ánh ý chí và bảo

vệ lợi ích chung không còn phù hợp Trong điều kiện lịch sử mới xã hội đòi hỏi phải có những quy tắc xã hội mới để thiết lập cho xã hội một “trật tự”, loại quy phạm mới này phải thể hiện được ý chí của giai cấp thống trị, đáp ứng nhu cầu đó pháp luật đã ra đời

Giai đoạn đầu giai cấp thống trị tìm cách vận dụng những tập quán có nội dung phù hợp với lợi ích của giai cấp mình, biến đổi chúng và bằng con đường nhà nước nâng chúng lên thành các quy phạm pháp luật Ví dụ: Nhà nước Việt Nam suốt thời kỳ Hùng vương - An Dương Vương chưa có pháp luật thành văn, hình thức của pháp luật lúc bấy giờ chủ yếu là tập quán pháp

Bên cạnh đó các nhà nước đã nhanh chóng ban hành các văn bản pháp luật Bởi lẽ, nếu chỉ dùng các tập quán đã chuyển hóa để điều chỉnh các quan hệ xã hội thì sẽ có rất nhiều các quan hệ xã hội mới phát sinh trong xã hội không được điều chỉnh, vì vậy để đáp ứng nhu cầu này hoạt động xây dựng pháp luật của các nhà nước đã ra đời Hoạt động này lúc đầu còn đơn giản, nhiều khi chỉ là các quyết định của các

Trang 39

cơ quan tư pháp, hành chính, sau dần trở nên hoàn thiện cùng với sự phát triển và hoàn hiện của bộ máy nhà nước

Như vậy pháp luật được hình thành bằng hai con đường: Thứ nhất nhà nước thừa nhận các quy phạm xã hội - phong tục, tập quán chuyển chúng thành pháp luật; thứ hai, bằng hoạt động sáng tạo của nhà nước để xây dựng pháp luật, tạo ra những quy phạm mới

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và nhu cầu tồn tại của xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo lập trật tự, ổn định cho sự phát triển xã hội

2 Bản chất của pháp luật

Bản chất của pháp luật cũng giống như nhà nước là tính giai cấp của nó, không có Ępháp luật tự nhiênę hay pháp luật không có tính giai cấp

2.1 Bản chất giai cấp của pháp luật

Tính giai cấp của pháp luật trước hết ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị, nội dung của ý chí đó được quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp thống trị Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập chung thống nhất, hợp pháp hóa ý chí của nhà nước, được nhà nước bảo hộ thực hiện bằng sức mạnh của nhà nước

Trang 40

Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh của pháp luật Khi xem xét về mục đích của pháp luật, trước hết pháp luật nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Vì vậy, pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ củng cố địa vị của giai cấp thống trị Với ý nghĩa đó, pháp luật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp

2.2 Bản chất xã hội của pháp luật

Bản chất của pháp luật còn thể hiện thông qua tính xã hội của pháp luật Tính xã hội của pháp luật thể hiện thực tiễn pháp luật là kết quả của sự Ęchọn lọc tự nhiênę trong xã hội Các quy phạm pháp luật mặc dù do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, tuy nhiên trong thực tiễn chỉ những quy phạm nào phù hợp với thực tiễn mới được thực tiễn giữ lại thông qua nhà nước, đó là những quy phạm Ęhợp lýę, Ękhách quanę được số đông trong xã hội chấp nhận, phù hợp với lợi ích của đa số trong xã hội

Giá trị xã hội của pháp luật còn thể hiện ở chỗ, quy phạm pháp luật vừa là thước đo của hành vi con người, vừa là công

cụ kiểm nghiệm các quá trình, các hiện tượng xã hội, là công

cụ để nhận thức xã hội và điều chỉnh các quan hệ xã hội, hướng chúng vận động, phát triển phù hợp với các quy luật

khách quan

Để nhận thức đầy đủ về bản chất của pháp luật cần phải xem xét các mối liên hệ của pháp luật với kinh tế, chính trị

Ngày đăng: 14/12/2021, 08:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w