1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

bài tập lớn tâm lý hoạt động tự học

24 415 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 284 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHNGHIÊN CƯÚ " Tìm hiểu hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Vinh theo phương thức đào tạo tín chỉ" BÀI TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC HỌC PHẦN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGHIÊN CƯÚ

"

Tìm hiểu hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Vinh

theo phương thức đào tạo tín chỉ"

BÀI TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

HỌC PHẦN TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn: TS Dương Thị Linh

SV:LƯU THỊ NGỌC

MSV:155D1402121053 KHOA:HÓA HỌC

Phương pháp nghiên cứu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC

Trang 2

1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.1.1 Khái niệm hoạt động

1.1.2 Khái niệm hoạt động tự học

1.2 Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

1.2.1.Lý luận về hoạt động tự học

1.2.2 Một số đặc điểm của hoạt động tự học theo phương thức đào tạo tín chỉ

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

2.1 Thực trạng của hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Vinh

2.1.1 Nhận thức của sinh viên về hoạt động tự học

2.1.2 Thực trạng về hoạt động tự học của sinh viên (điều tra )

2.1.3.Các hình thức tự học,những khó khăn

2.2 Các yếu tố hưởng đến quá trình tự học

2.3.Giai pháp nâng cao hoạt động tự học của sinh viên

2.3.1.Phía giảng viên

2.3.2.Phía sinh viên

2.3.3.Các điều kiện phục vụ khác

III.KẾT LUẬN

MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài:

Trang 3

Thế giới hiện nay luôn vận động biến đổi với những cuộc cách mạng khoa học kĩthuật làm xã hội mang một diện mạo mới đòi hỏi cần có những con người mới với tầmhiểu biết sâu rộng và toàn diện nhằm đáp ứng những yêu cầu đó Vì vậy giáo dục đã, đang

và sẽ luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta, trong đó dạy học đượcxem là con đường cơ bản nhất để thực hiện mục đích của quá trình giáo dục tổng thể Hiệu quả của dạy và học chính là sự tương tác của tư duy, hành động và lời nói giữagiảng viên và sinh viên Nhờ sự trợ giúp của ngôn ngữ mà tư duy được củng cố và pháttriển Giao tiếp bằng lời cho phép người học nhận thức thế giới xung quanh, nhận ra mìnhtrong thế giới đó Tuy nhiên, phát triển tư duy chỉ với một hệ thống giao tiếp không thôithì chưa đủ, cần phải có biện pháp để sinh viên tự chủ động tìm tòi, sáng tạo nâng cao vàlàm chủ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo tạo điều kiện cho sự phát triển nhận thức và trí tuệhay nói cách khác chinh là phương pháp tự học Song song với đó để hệ thống giáo dụcđào tạo đại học ở Việt Nam hội nhập khu vực và quốc tế, một tất yếu khách quan là phảichuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ Điều đó có nghĩa sinhviên phải tự học, tự nghiên cứu, giảm sự nhồi nhét kiến thức của giảng viên trên giảngđường

Isaac Asimov từng nói: “Chỉ có thể bằng con đường tự học sinh viên mới có thể

học hỏi được điều gì đó Nhiệm vụ duy nhất của Nhà trường là tạo thuận lợi cho quá trình

tự học Nếu như không làm được điều này, Nhà trường sẽ đánh mất ý nghĩa tồn tại của mình”

Vậy nên có thể nói tự học là bước đầu tiên và quan trọng nhất trong cuộc cáchmạng về cách thức giáo dục cũng như đóng một vai trò định hướng to lớn trong cuộc sốnghiện nay

Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay , hoạt động tự học của sinh viên nói chung cũngnhư sinh viên trường Đại học Vinh nói riêng còn có nhiều hạn chế ,trong nhiều sinh viêncòn chưa dành nhiều thời gian cho việc tự học ,chưa xây dựng và rèn luyện kỹ năng tựhọc cho bản thân ,hình thức học chưa hợp lí,… Chính vì vậy việc nghiên cứu vấn đề tựhọc của sinh viên trường Đại học Vinh và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả học tập

và chất lượng đào tạo là có tính cấp thiết

Xuất phát từ những lí do nêu trên ,nên toi dã chọn đề tài :"Tìm hiểu hoạt động tự

học của sinh viên trường Đại học Vinh theo phương pháp đào tạo tín chỉ.

2.Khách thể nghiên cứu ( đối tượng nghiên cứu )

Trang 4

Hoạt động tự học theo phương thức đào tạo tínchỉ của sinh viên trường Đại học Vinh

3.Nhiệm vụ

Nghiên cứu hoạt động tự học của sinh viên, thực trạng hoạt động tự học của sinhviên trường Đại học Vinh theo phương thức đào tạo tín chỉ từ đó đưa ra một số giải phápnhằm nâng cao hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Vinh

II.NỘI DUNG

Phương pháp nghiên cứu

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1Khái niệm hoạt động

Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo

ra sản phẩm cho cả thế giới và cả con người (chủ thể)

Trong mối quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau thống nhấtvới nhau :

+quá trình thứ nhất là quá trình đối tượng hóa , trong đó chủ thể chuyển năng lực củamình thành sản phẩm của hoạt động ,hay nói cách khác đi ,tâm lí của con người 9cuarchủ thể ) được bộc lộ ,được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm

Qúa trình đối tượng hóa (khách thể hóa ) còn gọi là quá trình xuất tâm

+Qúa trình thứ hai là quá trình chủ thể hóa ,có nghĩa là khi hoạt động con ngườichuyển từ phía khách thể vào bản thân mình những quy luật ,bản chất của thế giới để tạonên tâm lí ,ý thức nhân cách của bản thân , bằng cách chiếm lĩnh (lĩnh hội )thế giới

Qúa trình chủ thẻ hóa còn gọi là quá trình nhập tâm

1.1.2 Khái niệm hoạt động tự học

Hằng ngày xung quanh ta có biết bao nhiêu hoạt động và hoạt động tự học là mộttrong những hoạt động cơ bản của con người Hoạt động tự học là hoạt động làm tiêu haonăng lượng thần kinh và hướng vào làm thay đổi bản thân chủ thể Nhưng nó chỉ diễn rakhi chủ thể ý thức vai trò của nó và có một tinh thần tự giác cao Nhận thức đúng đắn sẽđưa ra kế hoạch hoạt động phù hợp với bản thân để mang lại hiệu quả cao nhất

Hoạt động tự học là quá trình độc lập, nỗ lực, tìm tòi, khám phá trí thức của sinhviên dưới sự tổ chức và dẫn dắt trên giảng đường của giảng viên nhằm củng cố, mở rộng,

Trang 5

đào sâu những tri thức đã lĩnh hội được ở trên lớp, sinh viên độc lập thực hiện các hànhđộng tự học do chính nhiệm vụ dạy học đặt ra.

- Hoạt động này không những diễn ra ở trường , ở lớp mà có thể diễn ra bất cứ nới đâunhư: ở lớp, ở trường, trong cuộc sống Chính vì vậy hoạt động “tự học “ diễn ra mộtcách phong phú dưới nhiều hình thức

=> Vì vậy chỉ có hiểu và ý thức tốt sinh viên mới có thể tích cực tham gia hoạt động tựhọc không chỉ trong sách vở mà trong chính những hoạt động khác như: gia sư, tiếp thị,tình nguyện Đó chính là môi trường thuận lợi giúp sinh viên có thêm những kiến thứcphong phú, những kinh nghiệm quý báu cho bản thân

Qủa đúng thật vậy!N-Rubakin đã từng nói :"Cộc sống đòi hỏi con người phải vũ trang

cho mình những kiến thức càn thiết."

1.1 Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

1.11 Lý luận về hoạt động tự học

Người đặt nền móng cho ý thức về hoạt động tự học là nhà giáo dục người Tiệp Khắc J.A Comenxki Các nhà giáo dục học như Rutxô, Pestalogi, Dixtecvec, Usinxki ở thế kỷ 18, 19 đã quan tâm nhiều đến sự phát triển trí tuệ, tính tích cực và tính độc lập sáng tạo của học sinh Bàn về tự học các nhà giáo dục học Việt Nam như Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Cảnh Toàn đã coi tự học như chìa khóa vàng của giáo dục trong thời đại bùng nổ thông tin

Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ rất lâu Ngay từ thời phong kiến, giáo dục chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất Những nhân tài đó bên cạnh được những ông đồ giỏi dạy dỗ thì yếu tố quyết định đều là tự học của bản thân Vì vậy mà người ta coi trọng việc tự học,nêu cao những tấm gương tự học thành tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tự học Quan niệm về tự học Người cho rằng: “ Tự học là cách học tự động” và “ phải biết tự động học tập” Theo Người: “Tự động học tập” tức là tự học một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi

ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch ra kế hoạch học tập cho mình, ròi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình”

GS – TSKH Thái Duy Tuyên khẳng định: “Tự học là một hoạt động độc lập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ ( quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, ) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”( Chuyên đề Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao Đẳng, Đại học)

Trang 6

Thông thường khái niệm “ tự học” được hiểu là “ tự học lấy một mình trong sách chứ không có thầy dạy” (Theo Thanh Nghị, trong Việt Nam tân từ điển) cũng có thể hiểu là “Tự đi tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học”.Tuy nhiên, theo tác giả Nguyễn Hiến Lê, trong quyển “ tự học- một nhu cầu thời đại” ông lại cho rằng khái niệm “Tự học” nếu được hiểu là “ không ai bắt buộc mà mình tự tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm và có thầy hay không, ta không cần biết.Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được,đó mới là điều kiện quan

trọng”, ông cũng trích dẫn để làm rõ hơn về khái niệm và tầm quan trọng của tự học

“Mỗi người đều nhận hai thứ giáo dục: “Một thứ, do người khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn nhiều, do mình tự kiếm lấy” (7 Tr 39)

- Theo tác giả Lê Khánh Bằng: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định” (1,Tr.13) Quan điểm này, tác giả cho rằng tự học là việc học của chính bản thân người học, chính

họ phải huy động năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiễm lĩnh những trí thức khoa học của loài người và biến những tri thức đó thành vốn kinh nghiệm của bản thân

- Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,sử dụng các năng lực trí tuệ và có cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình,cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan,thế giới quan để chiếm một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại,biếnlĩnh vực đó thành sở hữu của mình Việc tự học sẽ được tiến hành khi người học có nhucầu muốn hiểu biết một kiến thức nào đó và bằng nỗ lực của bản thân cố gắng chiếm lĩnh được kiến thức đó”.(2,Tr.59)

Như vậy, tự học là hình thức hoạt động nhận thức của người học nhằm chiếm lĩnh trithức, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo tương ứng Tự học giúp con người tìm ra tri thứcmới bằng chính sự tìm tòi, sáng tạo, nỗ lực vươn lên của bản thân Vì thế hoạt động tựhọc là vô cùng quan trọng đối với mỗi sinh viên

1.2.2.Một số đặc điểm của hoạt động tự học theo phương thức đào tạo tín chỉ

Có thể khẳng định rằng: hoạt động tự học của sinh viên là một hoạt động không thể thiếu và đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình học tập ở bậc đại học Tuy nhiên, trong các phương thức đào tạo khác nhau, hoạt động này lại có những nét đặcthù riêng Sự khác biệt giữa hoạt động tự học trong học chế niên chế so với học chế tín chỉ được thể hiện ở một số điểm sau:

Trước hết, trong phương thức đào tạo theo niên chế, sinh viên tuân thủ theo một chương trình do nhà trường định sẵn của từng học kỳ, từng năm học, từng khóa học căn cứ vào thời khóa biểu Khi chuyển sang phương thức đào tạo theo tín chỉ, kế hoạch học tập cụ thể phụ thuộc vào chính bản thân người học Sinh viên có nhiệm vụ và quyền được lựa chọn môn học, thời gian học, tiến trình học tập nhanh, chậm phù hợp với điều kiện của mình Phương thức này tạo cho sinh viên năng lực chủ động trong việc lập kế hoạch học tập khoa học, xác định thời gian, phương tiện, biện pháp để thực hiện các mục tiêu đề ra trong kế hoạch học tập đó Khi đó người sinh viên phải ý thức xây dựng kế hoạch tự học,

tự nghiên cứu sao cho quá trình học tập hiệu quả nhất

Thứ hai, hình thức tổ chức dạy học trong phương thức tín chỉ qui định hoạt động tự học của sinh viên như là một thành phần bắt buộc trong thời khóa biểu và là một nội dung

Trang 7

quan trọng của đánh giá kết quả học tập Hoạt động dạy - học theo tín chỉ được tổ chức theo ba hình thức: lên lớp, thực hành và tự học Trong ba hình thức tổ chức dạy học này, hai hình thức đầu được tổ chức có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên (giảng viên giảng bài, hướng dẫn; sinh viên nghe giảng, thực hành, thực tập dưới sự hướng dẫn của giảng viên, ), hình thức thứ ba có thể không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên (giảng viên giao nội dung để sinh viên tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành và sẵn sàng tư vấn khi được yêu cầu) Ba hình thức tổ chức dạy học tương ứngvới ba kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lên lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học Hình thức tổ chức thực hiện một giờ tín chỉ

Lý thuyết Thực hành,

thí nghiệm, thảo luận

Cách tổ chức thực hiện một giờ tín chỉ cho chúng ta thấy một đặc điểm rất quan trọng góp phần tạo nên sự khác biệt với phương thức đào tạo truyền thống Nếu hoạt động tự học trong học chế niên chế chỉ mang tính chất tự nguyện thì phương thức đào tạotheo học chế tín chỉ coi tự học là một thành phần hợp pháp và bắt buộc phải có trong hoạt động học tập của sinh viên Để học được 1 giờ lý thuyết hay 2 giờ thực hành, thực tập trên lớp sinh viên cần phải có 2 hay 1 giờ chuẩn bị ở nhà Đó là yêu cầu bắt buộc trong cơ cấu giờ học của sinh viên

Thứ ba, nội dung một bài giảng trong hệ thống tín chỉ thường gồm 3 thành phần chính:

- Phần nội dung bắt buộc phải biết (N1) được giảng trực tiếp trên lớp

- Phần nội dung nên biết (N2) có thể không được giảng trực tiếp trên lớp mà giáo viên cótrách nhiệm hướng dẫn cụ thể sinh viên tự học, tự nghiên cứu ở ngoài lớp

- Phần nội dung có thể biết (N3) dành riêng cho tự học, chuẩn bị bài, làm bài tập, thảo luận nhóm, làm thí nghiệm… và các hoạt động khác có liên quan đến môn học

Như vây, kiến thức của mỗi môn học được phát triển thông qua những tìm tòi của người học dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của giảng viên Nếu sinh viên không tự học thì họmới chỉ lĩnh hội được 1/3 khối lượng kiến thức của môn học và như vậy đồng nghĩa với việc họ không đạt được yêu cầu của môn học đó

Ngoài ra, một điểm rất quan trọng, khác biệt với học chế niên chế là trong học chế tín chỉ, hoạt động tự học được kiểm tra, đánh giá thường xuyên thông qua các bài kiểm tra, bài tập, các buổi thảo luận …trong suốt cả quá trình học

Qua các phân tích trên đây, rõ ràng rằng trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, hoạt động tự học của sinh viên trở thành hoạt động bắt buộc với các chế tài cụ thể qui định cho hình thức học tập này

Trang 8

CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỂ TÀI

2.1 Thực trạng hoạt đông tự học của sinh viên trường Đại học Vinh

2.1.1.Nhận thức của sinh viên về hoạt động tự học

Chương trình dào tạo học theo hình thức học chế tín chỉ đã được trường Đại họcVinh áp dụng từ khoá K48 đòi hỏi mỗi sinh viên cần phải có nhận thức đúng về hoạtđông tự học

Chương trình học theo tín chỉ một tiết học trên giảng đường bằng ba tiết học ở nhà.Giảng viên đóng vai trò là người hướng dẫn chỉ đường cho sinh viên Do khối lượng kiếnthức áp dụng cho chương trình học theo tín chỉ rất nặng mà mỗi tiết chỉ có 50 phút không

đủ để cho giáo viên truyền đạt tỉ mỉ mà chỉ có thể cung cấp kiến thức cơ bản giúp sinhviên nắm bắt được ý chính, nếu chỉ dựa vào bài học đó thì chắc kết quả sẽ không cao chonên trên tinh thần tự giác yêu cầu mỗi sinh viên cần phải tự tìm hiểu tài liệu, cần phải cóthái độ đúng đắn trong việc học tập cũng như trong những vấn đề mà giảng viên đã nóitrên lớp hơn thế chúng ta cần phải tìm hiểu những kiến thức mở rộng có liên quan đếnmôn học

Theo thực tế cho thấy có nhiều sinh viên đã xác định được vai trò của hoạt động tựhọc đối với không chỉ cuộc sống thực tại mà còn có ý nghĩa đối với tương lai sau này Từ

đó những sinh viên ấy đã đưa hoạt động tự học trở thành một kỹ năng cấn thiết cho bảnthân Tuy nhiên một số trong đó họ không đủ bản lĩnh và ý chí để biến suy nghĩ thànhhành động chỉ khi có một kích thích mạnh mang tính bắt buộc hoặc là liên quan tới lợiích cá nhân họ mới nảy sinh

Điều tồi tệ hơn nữa là có một số sinh viên chưa ý thức được hoạt động tự học có vai trònhư thế nào hoặc là có nhận thức được nó nhưng do những tác động bên ngoài ảnhhưởng tới cách nhìn nhận về hoạt động ấy Từ đó dẫn tới tình trạng buông xuôi và bị kỹnăng khác thu hút và chiếm chỗ

Tại trường Đại Học Vinh tình trạng sinh viên lười biếng học tập còn nhiều, kết quả từcác kỳ thi cho thấy họ chưa có năng lực và kiến thức chuyên sâu, khả năng nắm bắt, tưduy còn hạn chế, không ít thầy cô phản ánh về vấn đề này, và thực sự thất vọng khi hoạtđộng tự học của sinh viên hầu như rất ít

Nhận thức về vấn đề tự học sinh viên cũng có sự khác nhau giữa các khóa, nghĩa là có sựkhác nhau giữa sinh viên năm thứ nhất (Sv năm 1), sinh viên năm thứ hai (SV năm 2),

Trang 9

sinh viên năm thứ ba (SV năm 3) và sinh viên năm thứ tư (SV năm 4 ), từ đó cũng ảnhhưởng tới kết quả học tập của sinh viên Có thể xét qua việc thống kê một yếu tố chínhnhư sau:

Kết quả : Mức độ quan trọng của việc tự học đối với sinh viên

Hình 2.2.1a: Biểu đồ biểu diễn mức độ quan trọng của việc tự học

Qua kết quả trên có thể thấy :

-Nhận thức của sinh viên về sự quan trọng của việc tự học là khác nhau giữa các khóa -Đối với sinh viên năm nhất là những người mới bước chân vào giảng đường Đạihọc,còn bị ảnh hưởng của cách học phổ thông nên còn chưa coi trọng vai trò của việc tựhọc

-Sinh viên năm hai đã quen với cách học ở đại học bắt đầu ý thức được sự quan trọng củaviệc tự học đối với kết quả học của mình vì vậy nhận thức về sự quan trọng của việc tựhọc chiếm tỷ lệ cao hơn so với sinh viên năm nhất

- Sinh viên năm ba áp lực gần năm cuối bắt đầu lao đầu vào học ,là những người ý thứcđược sự quan trọng của việc tự học cao

-Sinh viên năm cuối cần phải cố gắng để tốt nghiệp ,đã trải qua ba năm học trước đó nên

là những người ý thức được rõ nhất sự quan trọng của việc tự học

2.1.2.Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Vinh

Để tìm hiểu thực trạng hoạt động học tập trên lớp của sinh viên tôi khảo sát sinh viênkhoa Hóa qua các câu hỏi với mức điểm: “Chưa bao giờ’ 1 điểm, “Thỉnh thoảng” 2

Trang 10

điểm, “thường xuyên” 3 điểm, “ Rất thường xuyên” 4 điểm Và tôi phân ra 4 nhóm điểmkhác nhau Cụ thể: Điểm thấp: 0<ĐTB<=1,5; Điểm trung bình: 1,5<ĐTB<=3; Điểm cao:3<ĐTB<=3,5; Điểm tốt: 3,5<ĐTB<=4 Sau đây là kết quả khảo sát thực tế trên 50 sinhviên khoa Hóa nhận thấy:

+ Thực trạng hoạt động học tập trên lớp được trình bày ở bảng 1

Bảng 1: “Thực trạng hoạt động học tập của sinh viên khoa HÓA”

Mức độ

Hoạt động

Mức độ cần thiết Mức độ thực hiện Mức độ thànhthạoĐTB % sinhviên ĐTB % sinhviên ĐTB % sinhviênHoạt động chuẩn

Tôi nhận thấy hoạt động thích ứng với phương pháp dạy học tích cực được các bạnđánh giá cao nhất (38,88%) Thứ hai là hoạt động sắp xếp nội dung bài ghi (37,92%),tiếp theo là hoạt động chuẩn bị học trên lớp (35,89%) và cuối cùng là hoạt động ghichép có chọn lọc (18,01%) Trong nhóm các hoạt động học tập trên lớp về mặt nhậnthức, các sinh viên khoa hóa đã nhận thấy được sự cần thiết nhất của hoạt động thíchứng với phương pháp dạy học tích cực đối với hiệu quả học tập trên lớp

Số liệu được hiển thị ở bảng 1 cho thấy rằng, chỉ có hoạt động ghi chép có chọn lọc làđược các sinh viên đánh giá ở mức độ trung bình, 3 hoạt động còn lại đánh giá ở mức độ

Trang 11

cao Trong khi đó, ở mức độ thực hiện và mức độ thành thạo, tất cả các hoạt động đóđều chỉ được họ nhìn nhận ở mức độ trung bình Khi thực hiện, hoạt động chuẩn bị họctrên lớp được sinh viên sử dụng ở mức cao nhất (33,71%) và hoạt động ghi chép có chọnlọc được thực hiện ở mức thấp nhất(18,45%) Còn trong mức độ thành thạo, đứng ở vị trícao nhất là hoạt động sắp xếp nội dung bài ghi (32,94%) và cuối cùng là hoạt động ghichép có chọn lọc (31,47%).

Mặc dù hoạt động thích ứng với phương pháp dạy học tích cực hiệu quả được sinh viênđánh giá là cần thiết nhất so với ba hoạt động khác trong nhóm, nhưng việc áp dụng hoạtđộng này lại đứng vị trí thứ hai sau việc sử dụng hoạt động chuẩn bị học trên lớp (chiếm38,88% và 33,71% số sinh viên) và đứng thứ ba trong mức độ thành thạo các hoạt độngchỉ cao hơn có duy nhấthoạt động ghi chép có chọn lọc

+ Thực trạng hoạt động tự học ở nhà của sinh viên khao Hóa bảng 2

Bảng 2: “Hoạt động tự học ở nhà của sinh viên khoa hóa ”

Các hoạt động tự học ở nhà đều ảnh hưởng đến thành tích học tập của sinh viên Khảosát chi tiết từng hoạt động tôi thấy sinh viên đánh giá cao về tầm quan trọng của việc

“lập kế hoạch tự học”, là hoạt động ảnh hưởng nhiều nhất tới kết quả học tập của mình.Hoạt động “lập kế hoạch tự học” chiếm 86,52% bởi nó định hướng rõ ràng và biết rõcông việc của mình “Ôn tập” – hoạt động giúp ích nhiều cho sinh viên vào kỳ thi cuối

kỳ và điểm số, nó chiếm tới hơn 85% sinh viên đều có ý thức tập trung ôn, kế tiếp là

“Ghi chép tài liệu ngoài”(60,75%) và “Làm bài tập về nhà”(61,33%) theo sau là “đọc tàiliệu ở nhà”(36,91%)

+ Thực trạng hoạt động xây dựng kế hoạch tự học của sinh viên khoa Hóa

Bảng 3: “Thực trạng hoạt động xây dựng kế hoạch tự học ở nhà của sinh viên khoa

Hóa”

1 Xác định các chương cho từng buổi học 3,00 Thỉnh thoảng

Trang 12

3 Xác định thời gian hoàn thành cho từng

4 Điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp để đạt

Bảng 3 cho thấy hầu hết các hành động cụ thể khi lập kế hoạch tự học ngoài lớp sinhviên đều tiến hành ở mức độ “thỉnh thoảng”( ĐTB dao động trong khoảng từ 3-3,42chiếm hơn 80% sinh viên) Đối chiếu với kết quả ở bảng 2, sinh viên mặc dù đánh giácao sự ảnh hưởng của hoạt động tự học nhưng lại lúng túng khi tiến hành nó và thựchiện thường xuyên Việc lập kế hoạch tự học phải bao gồm nhiều hành động cụ thể thìmới đạt hiệu quả nhưng sinh viên chủ yếu chỉ lên kế hoạch mà chưa quan tâm thực hiện.+ Thực trạng hoạt động đọc giáo trình, tài liệu tham khảo của sinh viên

Kết quả khảo sát chứng tỏ việc đọc giáo trình, tài liệu chưa thực sự được sinh viêntiến hành đều đặn như yêu cầu của bậc đại học ĐTB phản ánh mức độ “thường xuyên”dao động trong khoảng từ 3,5-3,8 chỉ chiếm 18% số sinh viên trong lớp Ở mức độ

“thỉnh thoảng” (ĐTB từ 2,7-3,47) với 66,82% số sinh viên; Với 15,18% số sinh viên cònlại việc đọc giáo trình, tài liệu tại thư viện và cách đọc có suy nghĩ, hệ thống, chọn lọc,ghi nhớ thì “ít khi”, chỉ ở mức độ thấp

Đáng lưu ý hơn là sinh viên thường đọc sách ở nhà mà ít khi đến thư viện hay nhàsách Về kỹ thuật đọc, các sinh viên tham gia khảo sát cũng thừa nhận chưa tốt; với tốc

độ đọc 300 từ/phút mới chỉ ở mức độ trung bình; còn ê a, ngắt ngứ chưa đúng chỗ

+ Thực trạng hoạt động chọn lọc, sử dụng vốn kiến thức cũ để học kiến thức mới của sinh viên

Muốn nhận kiến thức mới có hiệu quả bắt buộc phải liên hệ các kiến thức cũ, các kiếnthức khoa học liên nghành khác làm cơ sở cho hoạt động tư duy của sinh viên Vì vậyhoạt động này thúc đẩy gần 90% số sinh viên khoa Hóa nhận thức tốt quá trình tái hiện,lồng ghép vốn kiến thức cũ với kiến thức mới có liên quan để làm sáng tỏ các kiến thứcmới 85% số sinh viên dùng kiến thức có trước kết hợp với các kiến thức mới tiếp theo

để hình thành những vấn đề nghiên cứu và giải quyết chúng

Ngày đăng: 17/04/2017, 10:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w