1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

39 nguyen thi luyen GDMN sua lai 30 9

11 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 4,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC LỖI VỀ KĨ THUẬT LÀM THÍ NGHIỆM CHO TRẺ 5-6 TUỔI VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC Nguyễn Thị Luyến Khoa GDMN – Trường ĐHSPHN Điện thoại: 0914684753 Email: nguyenluyenhnue133@gmail.com Tóm tắt

Trang 1

CÁC LỖI VỀ KĨ THUẬT LÀM THÍ NGHIỆM CHO TRẺ 5-6 TUỔI

VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

Nguyễn Thị Luyến Khoa GDMN – Trường ĐHSPHN

Điện thoại: 0914684753 Email: nguyenluyenhnue133@gmail.com

Tóm tắt

Thí nghiệm ở trường mầm non là một hình thức tổ chức cho trẻ trải nghiệm nhằm nhận biết những đặc điểm bản chất bên trong của đối tượng dựa trên quá trình tác động có mục đích của giáo viên và trẻ tới đối tượng Hiện nay, việc thực hiện thí nghiệm đã được giáo viên quan tâm nhiều hơn nhưng hiệu quả của thí nghiệm chưa cao Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng tới hiệu quả của việc tổ chức

thí nghiệm là kĩ thuật làm thí nghiệm Vì vậy cần quan tâm nghiên cứu cách tổ chức

thí nghiệm và hướng dẫn giáo viên mầm non kĩ thuật làm thí nghiệm ở trường mầm non

Từ khóa: kĩ thuật, thí nghiệm, trẻ 5-6 tuổi, khám phá khoa học

1 Đặt vấn đề

Việt Nam bước vào thế kỉ 21 trong xu thế hội nhập diễn ra trên toàn thế giới Xu thế này đòi hỏi người lao động Việt Nam mới cần phải có những phẩm chất cần thiết,

đó là: hiểu biết, năng động và sáng tạo [3] Nhu cầu đào tạo những lớp người lao động như vậy đặt trách nhiệm lên toàn ngành giáo dục, trong đó có giáo dục mầm non Ngành giáo dục đã nêu cao chủ trương đổi mới giáo dục phát huy tính tích cực sáng tạo của người học, chú trọng dạy kĩ năng, tăng cường phương pháp thực hành trải nghiệm nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo người lao động mới trong tương lai [2]

Ở trường mầm non, phương pháp thực hành trải nghiệm được xem là có ưu thế

và hiệu quả trong việc giúp trẻ lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng và hình thành thái

độ tích cực với môi trường xung quanh, phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi nhỏ [9] Đặc biệt, với những đối tượng mà bản thân nó không bộc lộ rõ đặc điểm, tính chất bên trong như tự nhiên vô sinh, hiện tượng thiên nhiên, thế giới thực vật, thì thí nghiệm là phương pháp quan trọng giúp trẻ không chỉ biết được đặc điểm bên ngoài mà còn hiểu các mối liên hệ của đối tượng, bằng việc tác động lên đối tượng một cách có mục đích, có kế hoạch

Tuy nhiên, hiện nay, giáo viên mầm non còn lúng túng trong việc tổ chức thí nghiệm Bởi thực tế, thí nghiệm là một hoạt động khó, đòi hỏi sự hiểu biết, sáng tạo

và tư duy khoa học của người giáo viên Nhằm giải quyết vấn đề này của thực tiễn, nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu phương pháp tổ chức thí nghiệm cho học sinh

ở các cấp học từ phổ thông như: Nguyễn Ngọc Hưng [6], Lưu Thị Ban Mai [7], Phạm Thị Bình [1], Lê Văn Giáo, Phạm Thị Thanh Hương [4] cho đến bậc học mầm non: Hoàng Thị Phương [9], Hoàng Thanh Phương [8], Cù Thị Xuân Quỳnh [10], Lưu Thị

Trang 2

Thanh Hường [5] Dù nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau nhưng các tác giả đều gặp nhau ở điểm chung là muốn nâng cao hiệu quả thí nghiệm cần phải quan tâm đến: các bước thực hiện thí nghiệm, dụng cụ làm thí nghiệm, hệ thống câu hỏi hướng dẫn

học sinh Tuy vậy, chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào kĩ thuật làm thí nghiệm cho trẻ

ở trường mầm non Vì vậy, bài viết này với mục đích là một tài liệu tham khảo cho

giáo viên, sẽ tập trung làm rõ kĩ thuật làm thí nghiệm, những vướng mắc thường gặp

của giáo viên và biện pháp khắc phục, nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thí nghiệm cho trẻ ở trường mầm non

2 Nội dung

2.1 Thí nghiệm và đặc điểm thí nghiệm của trẻ mầm non

Thí nghiệm nói chung là quá trình tạo ra một hiện tượng, một sự biến đổi nào đó trong điều kiện xác định để quan sát, thu thập các thông tin về sự vật, hiện tượng cụ

thể Thí nghiệm cho trẻ mầm non là một loại hình quan sát diễn ra trong điều kiện nhất định, đòi hỏi sự tác động tích cực lên đối tượng làm thay đổi nó cho phù hợp với mục đích đặt ra [9] Thí nghiệm của trẻ mầm non có những đặc điểm sau đây:

(1) Đặc trưng nhất là tính quan sát được [8]: Tính quan sát được là khả năng bộc

lộ các đặc điểm tính chất của đối tượng ra bên ngoài thông qua quá trình tác động, giúp trẻ có thể tri giác trực tiếp bằng các giác quan Để trẻ có thể quan sát được diễn biến, kết quả thí nghiệm, giáo viên cần hướng dẫn cho trẻ cách quan sát, từ lựa chọn

vị trí quan sát, góc quan sát đến kĩ năng quan sát

(2) Đơn giản, dễ hiểu [8]: Sự phát triển tư duy, ngôn ngữ cũng như kinh nghiệm sống của trẻ chỉ cho phép trẻ tiếp nhận tri thức ở mức độ đơn giản, sơ đẳng, và có thể hiểu được những mối liên hệ cơ bản nhất của các sự vật hiện tượng xung quanh Vì vậy, thí nghiệm cho trẻ cần được đơn giản hóa về cả trình tự thao tác, dụng cụ thí nghiệm và cách giải thích

(3) Vật liệu, dụng cụ thí nghiệm dễ tìm kiếm, dễ sử dụng và an toàn [8]: Trẻ em còn nhỏ, chưa có nhiều khả năng ứng phó với những tình huống nguy hiểm xảy ra, nên cần giảm trừ các nguy cơ có thể gây tổn thương đến thân thể trẻ ngay từ những đối tượng trẻ tiếp xúc Bên cạnh đó, vật liệu phải dễ tìm kiếm, dễ sử dụng mới có thể được ứng dụng rộng rãi và thường xuyên ở trường mầm non bởi tính tiết kiệm và tiện ích của nó

(4) Có hệ thống câu hỏi hướng dẫn của giáo viên [1]: Thí nghiệm là một hoạt động tương đối khó với trẻ nhỏ, trong khi kiến thức, kĩ năng của trẻ còn hạn chế, vì vậy giáo viên cần có hệ thống câu hỏi định hướng cho trẻ làm thí nghiệm, nhằm giúp trẻ nhận biết được bản chất của đối tượng cũng như lĩnh hội những kiến thức, kĩ năng, hình thành thái độ cần thiết thông qua thí nghiệm

2.2 Các lỗi về kĩ thuật làm thí nghiệm cho trẻ 5-6 tuổi thường gặp ở trường mầm non

Trang 3

Kĩ thuật làm thí nghiệm là phương pháp, cách thức làm thí nghiệm theo một tiến trình nghiêm ngặt nhằm đảm bảo đối tượng bộc lộ tính chất của nó Dựa trên quy trình

tổ chức thí nghiệm, kĩ thuật làm thí nghiệm chủ yếu tập trung ở giai đoạn 2 - quá trình thí nghiệm Do vậy, kĩ thuật làm thí nghiệm cần được hiểu cụ thể là cách thức thực hiện từng bước thí nghiệm theo một tiến trình nhất định dựa vào ba thời điểm trước tác động, trong tác động và sau tác động [8] Dựa trên đặc trưng của thí nghiệm cho trẻ mầm non thì kĩ thuật làm thí nghiệm cho trẻ còn bao hàm cả cách thức cho trẻ quan sát và cách thức đặt câu hỏi Vì vậy, khi xem xét các lỗi về kĩ thuật làm thí nghiệm, chúng tôi tập trung vào các lỗi sau đây:

(1) Lỗi về trình tự thao tác làm thí nghiệm

(2) Lỗi về cách hướng dẫn quan sát

(3) Lỗi về cách đặt câu hỏi

Chúng tôi tiến hành điều tra việc tổ chức thí nghiệm cho trẻ 5-6 tuổi của giáo viên tại một số trường mầm non địa bàn Hà Nội: Việt Triều, Đống Đa, Trung Tự, BimBon, Lê Quý Đôn, Koolkid Mỹ Đình,…thông qua đàm thoại với giáo viên, quan sát dự giờ tiết học, nghiên cứu giáo án (thuộc chủ đề các hiện tượng thiên nhiên và thế giới thực vật) Kết quả cho thấy như sau:

Trong tổng số 100 giáo án và giờ dạy về hiện tượng thiên nhiên và thế giới thực vật được khảo sát, chỉ có 35 thí nghiệm Trong 35 thí nghiệm chỉ có 1 thí nghiệm đúng kĩ thuật, đó là thí nghiệm “gieo hạt” giúp trẻ tìm hiểu về sự phát triển của cây từ hạt Các thí nghiệm khác dù đơn giản hay phức tạp đều mắc những lỗi kĩ thuật về trình tự thao tác làm thí nghiệm, hoặc cách cho trẻ quan sát, hay cách đặt câu hỏi của giáo viên

(1) Lỗi về trình tự thao tác làm thí nghiệm: giáo viên thường lược bớt công đoạn

(thí nghiệm sức cản của không khí) hoặc làm cho thí nghiệm thêm rườm rà (thí nghiệm không khí cần cho sự cháy) Bên cạnh đó, giáo viên còn nhầm lẫn trong việc lựa chọn thí nghiệm để chứng minh cho một tính chất nào đó của đối tượng Chẳng hạn, giáo viên sử dụng thí nghiệm pha màu vào nước để cho trẻ tìm hiểu về tính chất: nước không màu, không mùi, không vị, không cầm nắm được

(2) Lỗi về cách tổ chức quan sát: Lỗi này thường thấy khi giáo viên chọn vị trí

cho trẻ quan sát (trẻ ngồi khi vật thí nghiệm ở trên cao, quá nhiều trẻ cùng quan sát một vật thí nghiệm một lúc); chọn phần nào, góc nào, lúc nào của đối tượng cần quan sát (cần quan sát không khí nhưng lại có cả yếu tố nước làm nhiễu, cần quan sát từ phía trên theo phương thẳng đứng để nhìn xuống đáy nước thì lại cho trẻ quan sát từ phía trước theo phương nằm ngang; cần quan sát lâu, kĩ thì lại làm nhanh chóng lấy lệ; cần quan sát trước, trong và sau thí nghiệm thì lại chỉ quan sát một giai đoạn nào

đó của thí nghiệm…)

(3) Lỗi về câu hỏi: Câu hỏi của giáo viên thường dài dòng, thiếu độ chính xác,

nhiều câu hỏi áp đặt trẻ công nhận kết quả và giải thích hiện tượng Đôi khi cô giáo

Trang 4

đặt câu hỏi không đúng lúc, và có những câu hỏi không liên quan đến thí nghiệm Có nhiều loại câu hỏi khác nhau hướng tới hình thành những kĩ năng nhận thức cho trẻ như: câu hỏi hình thành kĩ năng nhận thức cơ bản (quan sát, so sánh, phân loại, đo lường, giao tiếp); câu hỏi hình thành kĩ năng nhận thức bậc trung (suy luận, dự đoán); câu hỏi hình thành kĩ năng nhận thức bậc cao (đặt giả thuyết, xác định và kiểm soát điều kiện tác động) [9] Tuy nhiên hầu hết trong các thí nghiệm, giáo viên chưa khai thác hết được các kĩ năng nhận thức của trẻ bằng hệ thống câu hỏi Giáo viên làm tốt với những câu hỏi quan sát, so sánh, phân loại (Trên bàn cô có gì? Con thấy vật này như thế nào? Hai cốc nước có gì khác nhau? Những vật nào nổi trên mặt nước? ) Tuy nhiên, câu hỏi về đo lường và giao tiếp chưa xuất hiện nhiều, đôi khi thiếu độ chính xác (Để đo được mực nước con cần mấy ly nước? – nhầm lẫn giữa mực nước

và lượng nước; Vật nào nặng hơn? Vật nào nhẹ hơn? – không có đối tượng được so sánh) Giáo viên còn yếu trong việc đặt những câu hỏi kích thích trẻ đặt giả thiết, suy luận, câu hỏi về cách làm Câu hỏi về xác định và kiểm soát điều kiện tác động thì hầu như vắng bóng

Nguyên nhân của thực trạng trên có thể thấy như sau:

(1) Giáo viên chưa xác định rõ mục đích của thí nghiệm

(2) Giáo viên chưa tìm hiểu nghiêm túc, thấu đáo về đối tượng thí nghiệm, cách làm thí nghiệm và cách giải thích hiện tượng

(3) Nguyên vật liệu, thiết bị, dụng cụ thí nghiệm còn thiếu hoặc chuẩn bị chưa phù hợp với yêu cầu của thí nghiệm

(4) Nguồn tài liệu tham khảo về thí nghiệm tuy nhiều nhưng khó chọn lọc vì nó đòi hỏi sự hiểu biết nhất định và khả năng ứng dụng linh hoạt của giáo viên

(5) Nhiều thí nghiệm giáo viên thực hiện do học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau Việc học thông qua truyền miệng đôi khi dẫn đến những sai lầm liên tiếp mà người học không hề nghĩ đến

Dưới đây là bảng kết quả mà chúng tôi đã tổng hợp được:

Bảng 1: Đánh giá kĩ thuật làm thí nghiệm (tính theo số lượng)

Tổng số

Thí nghiệm

Thí nghiệm không đúng kĩ thuật Thí nghiệm

đúng kĩ thuật Trình tự

thao tác

Cách tổ chức quan sát

Cách đặt câu hỏi

Bảng 2: Một số lỗi kĩ thuật làm thí nghiệm thể hiện trong thí nghiệm cụ thể

1 Nước trong Lỗi về cách hướng dẫn quan sát: Cho trẻ quan sát bên

ngoài thành cốc Để biết được nước trong phải nhìn qua mặt nước, chứ không phải nhìn qua thành cốc

2 Sự hòa tan của các

chất trong nước

Lỗi về trình tự thao tác: Hòa tan dầu ăn, nước rửa bát,

muối vào cùng một cốc nước, tác động này khiến cho các

Trang 5

chất bị trộn lẫn với nhau và trẻ sẽ khó quan sát Cần hòa tan mỗi chất vào một cốc

3 Nước cần cho động

vật

Lỗi về thao tác: Thả cá vào chậu sau đó vớt cá lên Tác

động này vi phạm quy định về giáo dục môi trường cho trẻ, trẻ sẽ bắt chước và làm theo hành động của cô

4 Sức cản của không

khí

Lỗi về trình tự thao tác: Úp cốc xuống mặt nước sẽ thấy

trong cốc không có nước

Thao tác chưa rõ ràng, cần hướng dẫn cụ thể cách úp cốc như thế nào để nước không lọt vào trong cốc: Úp cốc theo phương thẳng đứng vuông góc với mặt nước, từ từ hạ cốc xuống mặt nước rồi ấn xuống đáy chậu Nếu không thấy

có bong bóng chứng tỏ đã làm đúng kĩ thuật Nếu thấy có bong bóng, chứng tỏ cốc đã bị nghiêng và không khí đã thoát ra ngoài, nước sẽ lọt vào trong cốc

5 Sự chuyển động của

không khí

Lỗi về thao tác: Treo dải lụa lên dây và dùng quạt để quạt.

Quan sát thấy dải lụa chuyển động Kết luận: không khí chuyển động làm cho dải lụa chuyển động

Tác động này chưa đủ làm bộc rõ tính chất chuyển động của không khí Nếu chỉ dùng quạt, trẻ có thể hiểu là dải lụa bay là do quạt tạo ra gió chứ không phải không khí

Có thể tác động nhiều chiều trong phòng, ngoài trời; trên nhiều đối tượng: lá cây, lá cờ, chong chóng; sợi tóc, váy, khăn quàng của trẻ

Lỗi về quan sát: chưa có quan sát trạng thái của đối tượng

trước tác động

Lỗi về câu hỏi: Giáo viên sử dụng hai câu hỏi như sau:

- Cô treo dải lụa lên dây và bật quạt lên, các con đoán xem hiện tượng gì sẽ xảy ra?

- Tại sao dải lụa lại bay?

Có thể thấy trong thí nghiệm này, giáo viên mới có câu hỏi về kĩ năng đặt giả thiết và suy luận, còn thiếu câu hỏi

về kĩ năng quan sát, giao tiếp, tưởng tượng Có thể đặt thêm những câu hỏi sau:

Trước tác động: Các con quan sát xem dải lụa đang ở trạng thái như thế nào? Đứng im hay chuyển động? Nếu

cô bật quạt, cho quay vào dải lụa, các con đoán xem chuyện gì sẽ xảy ra với dải lụa? Tại sao con nghĩ như vậy?

Trong quá trình tác động: Các con thấy dải lụa có gì khác

Trang 6

so với trước khi bật quạt? Tại sao dải lụa bay được? Nếu cô bật quạt số mạnh hơn thì chuyện gì sẽ xảy ra? Tại sao? Bây giờ một bạn lên tắt quạt, cả lớp cùng quan sát xem dải lụa sẽ như thế nào nhé! Chuyện gì đã xảy ra? Tại sao?

Sau tác động: Bạn nào nghĩ ra cách không dùng quạt vẫn làm cho dải lụa bay được? Các con thử nghĩ xem không khí có thể làm cho những vật nào chuyển động nữa?

6 Cây xanh và môi

trường sống:

- Cây cần không khí

- Cây cần ánh sáng

Lỗi thao tác: Cho trẻ làm thí nghiệm:

+ một cây bọc túi nilon + một cây đặt trong bóng tối + một cây để ngoài ánh sáng Sau một tuần, quan sát kết quả và rút ra kết luận: cây cần ánh sáng và không khí

Lỗi này thể hiện ở điều kiện tác động không nghiêm ngặt:

ví dụ một cây bọc túi nilon nhưng không nói rõ vẫn phải đảm bảo các nhu cầu khác của cây (ánh sáng, nước) Cần làm ba thí nghiệm độc lập với nhau

7 Sự đổi màu của hoa Lỗi đặt câu hỏi: Nếu cô cho bông hoa này vào bình nước

màu đỏ, chuyện gì sẽ xảy ra? – Câu hỏi chưa chính xác Giáo viên mới đặt câu hỏi một chiều, nên có câu hỏi ngược lại: Muốn có hoa màu vàng con sẽ làm thế nào?

8 Bóng người thay

đổi theo ánh nắng

Lỗi về thao tác: Giáo viên cho trẻ đứng dưới ánh nắng ba

lần theo ba thời điểm trong ngày Mỗi lần trẻ đều dùng phấn đánh dấu vị trí bóng của mình trên sân

Việc để cho trẻ tự đánh dấu bóng của mình khiến kết quả không chính xác vì trẻ phải ngồi xuống làm cho bóng bị

xê dịch Giáo viên nên cho trẻ làm theo cặp, một bạn đứng

và bạn khác đánh dấu, sau đó đổi lại cho nhau Lưu ý là phải đánh dấu vị trí đứng của trẻ để ba lần làm thí nghiệm, trẻ đều đứng ở một vị trí duy nhất

Một vài hình ảnh minh họa

Trang 7

Ảnh 1: Thí nghiệm pha màu nước

(Mỗi trẻ chỉ được pha một màu Thí nghiệm

này được tổ chức với mục đích chứng minh

tính chất của nước: không màu, không mùi,

không vị, không cầm nắm được.)

Ảnh 2: Thí nghiệm nước trong

(Giáo viên sử dụng chiếc thìa rất dài cho vào một cái cốc rất nhỏ và đặt câu hỏi: Các con có nhìn thấy chiếc thìa không?)

Ảnh 3: Thí nghiệm khám phá tính chất

nước không thể cầm nắm được

(Giáo viên yêu cầu trẻ chỉ được dùng một

ngón tay vì sợ trẻ nghịch nước làm bắn nước

ra quần áo, sàn nhà)

Ảnh 4: Thí nghiệm khám phá tính chất nước không thể cầm nắm được

(Chỉ một nhóm trẻ được làm Chậu nước quá nhỏ)

2.3 Một số biện pháp khắc phục các lỗi về kĩ thuật làm thí nghiệm cho trẻ 5-6 tuổi

Để có kĩ thuật tốt khi làm bất cứ một thí nghiệm nào cho trẻ, giáo viên cần thực hiện các yêu cầu sau:

Một là xác định mục đích của thí nghiệm Giáo viên cần biết rõ mục đích của thí nghiệm nhằm bộc lộ tính chất nào của đối tượng để từ đó lựa chọn thí nghiệm và cách

thức thực hiện Một tính chất của đối tượng có thể được làm rõ thông qua một thí nghiệm nhưng cũng có khi cần vài thí nghiệm liên hoàn thì mới giúp trẻ nhận biết được chính xác Do vậy, khi lựa chọn nhiều thí nghiệm chứng minh cho một tính chất

Trang 8

của đối tượng cần luôn luôn hướng tới tính chất đó, tránh việc ôm đồm, lạm dụng thí nghiệm, làm rối quá trình nhận thức của trẻ

Hai là chuẩn bị thí nghiệm, bao gồm: các dụng cụ, vật liệu, nơi thí nghiệm, cách

bố trí thí nghiệm Việc chuẩn bị thí nghiệm căn cứ trên mục đích của thí nghiệm Thí nghiệm đó nhằm giúp trẻ nhận biết tính chất nào của đối tượng, để bộc lộ tính chất đó cần có những gì để tác động Trên cơ sở đó, giáo viên lên kế hoạch cho việc chuẩn bị (danh sách các đối tượng, vật liệu, đồ dùng, dụng cụ) và ghi chú những thông tin yêu cầu cần thiết về đối tượng, dụng cụ nhằm đảm bảo thí nghiệm thành công Ví dụ, để làm thí nghiệm hoa đổi màu cần có: hoa cúc tươi, màu trắng; màu thực phẩm loại đảm bảo chất lượng – ít nhất hai màu khác nhau; nước ấm, kéo, bình trong suốt Kèm theo yêu cầu về chất lượng là yêu cầu về số lượng Những vật liệu đó cần chuẩn bị với số lượng là bao nhiêu, đảm bảo đủ cho số trẻ hoặc số nhóm trẻ

Ba là nắm vững trình tự các bước làm thí nghiệm (thao tác) Trình tự này đòi

hỏi sự tuân thủ chặt chẽ của giáo viên hoặc trẻ khi thực hiện thí nghiệm cần đúng thứ

tự thao tác nào làm trước, thao tác nào làm sau Mỗi thao tác lại có những yêu cầu về

kĩ thuật riêng, và nếu không đảm bảo yêu cầu đó thì thí nghiệm sẽ không thành công

Ví dụ: trong thí nghiệm về lực cản của không khí, thao tác úp cốc xuống mặt nước phải úp vuông góc với mặt nước và từ từ ấn xuống đáy chậu nước, nếu hơi nghiêng cốc sẽ thấy có bong bóng xuất hiện, như vậy nước sẽ vẫn lọt vào bên trong cốc

Bốn là chú ý lựa chọn cách thức cho trẻ quan sát Việc cho trẻ quan sát thật sự

quan trọng bởi nếu đúng thời điểm, đúng góc nhìn thì trẻ mới thấy rõ kết quả thí nghiệm Để thực hiện tốt yêu cầu này, giáo viên nên làm thử thí nghiệm trước khi tiến hành trên trẻ để chọn được những điểm nhấn của thí nghiệm Bên cạnh đó cần hiểu rõ tính chất của đối tượng thì mới lựa chọn được thời điểm hay góc nhìn để quan sát Ví dụ: với thí nghiệm sự bốc hơi và ngưng tụ của nước, cần dành thời gian cho trẻ quan sát thấy nước bốc hơi lên như thế nào trước khi đậy nắp ca lại và có thể liên tưởng xem con đã nhìn thấy hơi nước bốc lên như vậy ở đâu Lưu ý là cần dành thời gian cho trẻ tập trung quan sát, không làm phiền trẻ khi trẻ đang quan sát

Năm là thiết kế câu hỏi theo tiến trình thí nghiệm Hệ thống câu hỏi sử dụng

trong thí nghiệm đòi hỏi phải ngắn gọn, đúng lúc, đúng cách và trúng mục tiêu Để tránh các lỗi về câu hỏi, giáo viên nên liệt kê và sắp xếp câu hỏi theo các giai đoạn: trước tác động, trong quá trình tác động và sau tác động Trước tác động thường là các câu hỏi yêu cầu trẻ quan sát các vật liệu làm thí nghiệm, trạng thái của đối tượng khi chưa có tác động, và câu hỏi đặt giả thiết dạng “nếu tác động như thế này thì chuyện gì sẽ xảy ra với đối tượng” Trong quá trình tác động thường là các câu hỏi định hướng trẻ đến sự thay đổi trạng thái của đối tượng, đồng thời kích thích trẻ đặt ra những câu hỏi về thí nghiệm Sau tác động chủ yếu là câu hỏi quan sát, so sánh hai trạng thái, giải thích tại sao và câu hỏi cách làm nhằm củng cố lại kiến thức cho trẻ về thí nghiệm

Trang 9

Có thể mô hình hóa yêu cầu về kĩ thuật làm thí nghiệm cho trẻ 5-6 tuổi như sau:

Sơ đồ trên hướng dẫn cho giáo viên cách thức để thực hiện tốt kĩ thuật làm thí nghiệm Trước tiên, khi lựa chọn đề tài, giáo viên cần xác định mục đích của thí nghiệm Từ đó lên kế hoạch chuẩn bị đối tượng, dụng cụ thí nghiệm Công đoạn ba là nghiên cứu quá trình làm thí nghiệm theo trình tự ba thời điểm trước tác động, trong quá trình tác động và sau tác động Cả ba thời điểm này đều có các yêu cầu về thao tác, cách hướng dẫn trẻ quan sát và câu hỏi Vì vậy, giáo viên nên lập kế hoạch theo trình tự đó và chú ý thực hiện ba yêu cầu trên

III Kết luận

Kĩ thuật làm thí nghiệm là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của thí nghiệm Giáo viên chưa ý thức được tầm quan trọng của kĩ thuật làm thí nghiệm nên hiệu quả việc tổ chức thí nghiệm cho trẻ chưa cao Biết được những lỗi kĩ thuật thường gặp cũng như các yêu cầu về kĩ thuật làm thí nghiệm, chúng tôi tin rằng giáo viên sẽ có những thay đổi trong cách nhìn nhận và tiến hành thí nghiệm ở trường mầm non với sự nghiêm túc và cẩn trọng hơn nữa, để thí nghiệm thực sự là môi trường cho trẻ được trải nghiệm thực tế, tạo cơ hội cho trẻ không những khám phá thế giới xung quanh mà còn trau dồi những phẩm chất của nhà khoa học tương lai

MỤC ĐÍCH CỦA THÍ NGHIỆM

CHUẨN BỊ

TRƯỚC TÁC ĐỘNG TRONG QT TÁC ĐỘNG SAU TÁC ĐỘNG

YÊU CẦU KĨ THUẬT LÀM THÍ NGHIỆM

QUÁ TRÌNH THÍ NGHIỆM

Trình tự thao tác Cách hướng dẫn trẻ quan sát Cách đặt câu hỏi

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Phạm Thị Bình (2011), Kĩ thuật thiết kế và sử dụng câu hỏi khi sử dụng phương pháp đàm thoại và thí nghiệm nhằm phát huy tính tích cực cho học sinh trong dạy học phần hóa học hữu cơ ở trường phổ thông (Vận dụng vào việc rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ cho sinh viên sư phạm hóa học), Báo cáo

tổng kết đề tài NCKH&CN cấp trường, Đề tài hỗ trợ NCKH của NCS, Mã

số SPHN-10-590-NCS, Đại học Sư phạm Hà Nội

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Chương trình giáo dục mầm non, Ban hành

kèm theo thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT, ngày 25/7/2009

3 Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011), Quyết định phê duyệt chiến lược phát triển nhân lực thời kỳ 2011-2020, số

579/QĐ-TTg, ngày 19/4/2011

4 Lê Văn Giáo, Phạm Thị Thanh Hương (2009), Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh thông qua thí nghiệm vật lý vui, Tạp chí Thiết bị

giáo dục số 52, tr 15-16

5 Lưu Thị Thanh Hường (2012), Một số biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua tổ chức cho trẻ làm các thí nghiệm đơn giản, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học Sư Phạm, Hà

Nội

6 Nguyễn Ngọc Hưng (2009), Thí nghiệm vật lí với dụng cụ tự làm từ chai nhựa, vỏ lon- Tập 2: Cơ học chất lỏng và khí, Đại học Sư phạm Hà Nội

7 Lưu Thị Ban Mai (2011), Tích cực hóa hoạt động quan sát, thí nghiệm trong dạy học về các nhóm thực vật- chương trình sinh học lớp 6 THCS,

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học Sư Phạm Hà Nội

8 Hoàng Thanh Phương (2012), Quy trình tổ chức thí nghiệm nhằm hình thành kĩ năng nhận thức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, Luận văn thạc sĩ khoa

học giáo dục, Đại học Sư phạm, Hà Nội

9 Hoàng Thị Phương (2013), Giáo trình Lí luận và phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội

10 Cù Thị Xuân Quỳnh (2010), Một số biện pháp hình thành kĩ năng nhận thức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua thí nghiệm, Luận văn thạc sĩ khoa học

giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội

THE MISTAKES OF EXPERIMENTAL TECHNIQUES WHEN GUIDING 5-6 YEAR-OLD CHILDREN IN EXPERIMENT PRACTICES AND

SOLUTIONS

Nguyen Thi Luyen Faculty of Early Childhood Education Hanoi National University of Education

Ngày đăng: 06/12/2021, 16:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thị Bình (2011), Kĩ thuật thiết kế và sử dụng câu hỏi khi sử dụng phương pháp đàm thoại và thí nghiệm nhằm phát huy tính tích cực cho học sinh trong dạy học phần hóa học hữu cơ ở trường phổ thông (Vận dụng vào việc rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ cho sinh viên sư phạm hóa học), Báo cáo tổng kết đề tài NCKH&CN cấp trường, Đề tài hỗ trợ NCKH của NCS, Mã số SPHN-10-590-NCS, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ thuật thiết kế và sử dụng câu hỏi khi sử dụngphương pháp đàm thoại và thí nghiệm nhằm phát huy tính tích cực cho họcsinh trong dạy học phần hóa học hữu cơ ở trường phổ thông (Vận dụng vàoviệc rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ cho sinh viên sư phạm hóa học)
Tác giả: Phạm Thị Bình
Năm: 2011
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Chương trình giáo dục mầm non, Ban hành kèm theo thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT, ngày 25/7/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục mầm non
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2009
3. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011), Quyết định phê duyệt chiến lược phát triển nhân lực thời kỳ 2011-2020, số 579/QĐ- TTg, ngày 19/4/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết địnhphê duyệt chiến lược phát triển nhân lực thời kỳ 2011-2020
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2011
4. Lê Văn Giáo, Phạm Thị Thanh Hương (2009), Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh thông qua thí nghiệm vật lý vui, Tạp chí Thiết bị giáo dục số 52, tr 15-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích cực hóa hoạt độngnhận thức của học sinh thông qua thí nghiệm vật lý vui
Tác giả: Lê Văn Giáo, Phạm Thị Thanh Hương
Năm: 2009
5. Lưu Thị Thanh Hường (2012), Một số biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua tổ chức cho trẻ làm các thí nghiệm đơn giản, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp phát huy tính tích cựcnhận thức của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua tổ chức cho trẻ làm các thínghiệm đơn giản
Tác giả: Lưu Thị Thanh Hường
Năm: 2012
6. Nguyễn Ngọc Hưng (2009), Thí nghiệm vật lí với dụng cụ tự làm từ chai nhựa, vỏ lon- Tập 2: Cơ học chất lỏng và khí, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thí nghiệm vật lí với dụng cụ tự làm từ chainhựa, vỏ lon- Tập 2: Cơ học chất lỏng và khí
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hưng
Năm: 2009
7. Lưu Thị Ban Mai (2011), Tích cực hóa hoạt động quan sát, thí nghiệm trong dạy học về các nhóm thực vật- chương trình sinh học lớp 6 THCS, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích cực hóa hoạt động quan sát, thí nghiệmtrong dạy học về các nhóm thực vật- chương trình sinh học lớp 6 THCS
Tác giả: Lưu Thị Ban Mai
Năm: 2011
8. Hoàng Thanh Phương (2012), Quy trình tổ chức thí nghiệm nhằm hình thành kĩ năng nhận thức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình tổ chức thí nghiệm nhằm hìnhthành kĩ năng nhận thức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Tác giả: Hoàng Thanh Phương
Năm: 2012
9. Hoàng Thị Phương (2013), Giáo trình Lí luận và phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội 10. Cù Thị Xuân Quỳnh (2010), Một số biện pháp hình thành kĩ năng nhận thứccho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua thí nghiệm, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và phương pháp hướng dẫntrẻ làm quen với môi trường xung quanh", NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội10. Cù Thị Xuân Quỳnh (2010), "Một số biện pháp hình thành kĩ năng nhận thức"cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua thí nghiệm
Tác giả: Hoàng Thị Phương (2013), Giáo trình Lí luận và phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội 10. Cù Thị Xuân Quỳnh
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2010

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w