BÀI GIẢNG ĐỊA LÝ DU LỊCH VIỆT NAM LÀ BÀI GIẢNG DÀNH CHO SINH VIÊN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC CHUYÊN NGÀNH LIÊN QUAN ĐẾN DU LỊCH NHƯ DU LỊCH SINH THÁI, DU LỊCH HỌC, KINH TẾ DU LỊCH, VIỆT NAM HỌC, QUẢN TRỊ DU LỊCH, QUẢN TRỊ LỮ HÀNH, QUẢN TRỊ KHÁCH SẠN , HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH
Trang 1CHƯƠNG 1 ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC MÔN
ĐỊA LÝ DU LỊCH 1.1 KHÁI NIỆM
Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, Du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếuđược trong đời sống văn hóa – xã hội và hoạt động này đang được phát triển một cáchmạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế giới
Sự bùng nổ của hoạt động du lịch chỉ mới bắt đầu từ nữa sau thế kỷ XX từ nhữngnăm 50 trở lại đây
Có thể nói rằng, buổi ban đầu của sự bùng nổ du lịch là do những du khách nghỉbiển tạo nên Cho đến nay, du lịch biển vẫn là dòng du khách chính trên thế giới Chính vìvậy, có khái niệm du lịch 3S với các nghĩa: biển, vát, ánh nắng (tiếng Anh là Sea, Sand,Sun) Do những bất ổn về chính trị, kinh tế và xã hội, nên ở nhiều nơi, vấn đề an toàn đượcđặt lên hàng đầu Chữ S thứ tư ngày nay cần hiểu là an toàn hay anh ninh (tiếng anh làSafety, Security) Nó vừa là yêu cầu của khách, vừa là nhiệm vụ của nhà cung ứng du lịch
Hiện nay, biển không còn là địa chỉ duy nhất của các chuyến du lịch Có thể nóirằng, du lịch (tourism) bao gồm 4T là:
+ Di chuyển (Travel)
+ Phương tiện vận chuyển tốt, gây hứng khởi (Transport)
+ Yên tĩnh, thanh bình (Tranquillity)
+ Môi trường tự nhiên cũng như xã hội trong sạch (Transparency)
1.1.1 Khái niệm về du lịch:
Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến không chỉ ởcác nước phát triển mà còn ở cả các nước đang phát triển Thuật ngữ du lịch cũng đã trởnên rất thông dụng Nó bắt nguồn từ tiếng Pháp : ‘Tour’ nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạochơi, còn ‘ touriste ‘ là người đi dạo chơi Tuy nhiên, cho đến nay nhận thức về nội dung
du lịch vẫn chưa thống nhất
Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khácnhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau
Ví dụ:
Trang 2Trong cuốn “ Cơ sở Địa lý du lịch phục vụ tham quan” của I.Pirogiơnic, Minxk,
1999- Dịch sang tiếng Anh “ Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức- văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa ”
Viện sĩ Nguyên Khắc Viện đã khẳng định “ du lịch là sự mở rộng khônh gian văn hoá của con người”
Trong cuốn “Du lịch và kinh doanh du lịch”, TS Trần Nhạn cho rằng: du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền”.
Trong giáo trình “Thống kê du lịch”, các tác giả Nguyễn Cao Thường và Tô Đăng Hải lại đưa ra khái niệm: “du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ, có nhiệm vụ phục
vụ nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác”.
Khái niệm du lịch được thể hiện như sau:
Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp ởRoma (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đã đưa ra khái niệm về du lịch như sau:
“Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.”
Vậy có thể hiểu du lịch ở hai điểm chính sau đây:
- Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rãnh rỗi của cá nhân haytập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chổ nhận thức vềthế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế,văn hoá và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng
- Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quátrình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rãnh rỗi của cá nhân hay tập thểngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giớixung quanh
Trang 31.1.2 Đối tượng - nhiệm vụ nghiên cứu địa lý du lịch
1.1.2.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu địa lý du lịch ngày nay được thống nhất như sau:
* Địa lý du lịch nghiên cứu hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch
Trong hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi, du lịch bao gồm 5 thành phần (hay 5 phân hệ) cómối liên hệ chặt chẽ với nhau:
+ Phân hệ khách du lịch: là phân hệ trung tâm, quyết định những yêu cầu đối vớicác thành phần khác của hệ thống, bởi vì các thành phần này phụ thuộc vào đặc điểm (xãhội – nhân khẩu, dân tộc…) của khách du lịch Các đặc trưng của phân hệ khách là cấu trúc
và lượng nhu cầu, tính lựa chọn, tính mùa và tính đa dạng của các lượng khách du lịch
+ Phân hệ tổng thể tự nhiên, lịch sử - văn hoá tham gia hệ thống với tư cách là tàinguyên du lịch, là điều kiện để thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi – du lịch và là cơ sở lãnh thổcho việc hình thành hệ thống Phân hệ này có sức chứa, độ tin cậy, tính thích hợp, ổn định
và hấp dẫn Nó được đặc trưng bằng lượng nhu cầu, diện tích phân bố và thời gian khaithác
+ Phân hệ các công trình kỹ thuật: đảm bảo cuộc sống bình thường của khách dulịch, nhân viên phục vụ (ăn, ở, đi lại) và những nhu cầu giá trị đặc biệt như chữa bệnh.Toàn bộ công trình kỹ thuật tạo nên cơ sở hạ tầng của du lịch Nét đặc trưng của phân hệ làsức chứa, tính đa dạng, tính thích hợp, mức độ chuẩn bị khai thác
+ Phân hệ cán bộ nhân viên phục vụ : hoàn thành chức năng dịch vụ cho khách vàđảm bảo cho các xí nghịêp hoạt động bình thường Số lượng, trình độ chuyên môn - nghềnghịêp của đội ngũ cán bộ nhân viên và mức độ đảm bảo lực lượng lao động là những đặctrưng chủ yếu của phân hệ
+ Phân hệ cơ quan điều khiển có nhiệm vụ giữ cho cả hệ thống nói chung và từngphân hệ nói riêng hoạt động tối ưu
* Phát hiện quy luật hình thành, phát triển và phân bố của nó thuộc mọi kiểu, mọi cấp.
* Dự báo và nêu lên những biện pháp để hệ thống ấy hoạt động một cách tối ưu.
Như vậy, Địa lí du lịch nghiên cứu hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch, phát hiệnqui luật hình thành, phát triển và phân bố của nó thuộc mọi kiểu, mọi cấp; dự báo và nêulên các biện pháp để hệ thống ấy có thể hoạt động một cách tối ưu
Trang 41.1.2.2 Nhiệm vụ của địa lý du lịch
Nghiên cứu tổng hợp mọi loại tài nguyên du lịch Nghiên cứu nhu cầu du lịch
Xây dựng cơ cấu lãnh thổ tối ưu của vùng du lịch
1.1.2.3 Phương pháp nghiên cứu khoa học :
+ Phương pháp tiếp cận và thực địa
+ Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu
+ Phương pháp xã hội học
Trang 5Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 2.1 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật
- Du lịch gắn với sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định, vìvậy nó phụ thuộc vào mạng lưới đường xá và phương tiện giao thông Một đối tượng có thể
có sức hấp dẫn đối với khách du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được khi thiếu hệthống đường xá Việc phát triển giao thông, nhất là tăng nhanh phương tiện vận chuyểncho phép mau chóng khai thác nguồn tài nguyên du lịch mới Chỉ có thông qua mạng lướigiao thông thuận tiện, nhanh chóng thì du lịch mới trở thành hiện tượng phổ biến trong xãhội
- Thông tin liên lạc là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt động dulịch Nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo sự giao lưu cho khách du lịch trong nước vàquốc tế Nhu cầu thông tin liên lạc là những nhu cầu trao đổi các dòng tin tức của xã hội,được thỏa mãn bằng nhiều loại hình thông tin khác nhau
- Hệ thống các công trình cấp điện, nước Các sản phẩm của nó phục vụ trực tiếpcho việc nghỉ ngơi giải trí của khách
=> Như vậy, có sở hạ tầng là tiền đề, là đòn bẩy cho mọi hoạt động kinh tế, trong đó
có hoạt động du lịch
2.1.2 Cở sở vật chất - kỹ thuật
Cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo
ra và thực hiện sản phẩm du lịch, cũng như quyết địng mức độ khai thác tiềm năng du lịchnhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch.Chính vì có vai trò quan trọng như vậy nên sựphát triển ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vậtchất - kỹ thuật
Trang 6Du lịch là một ngành “Sản xuất”, nhiều và đa dạng về thể loại dịch vụ, hàng hoánhằm thoã mãn nhu cầu của khách du lịch Do vậy, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch gồmnhiều thành phần khác nhau Tài nguyên du lịch chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tiêudùng của khách du lịch Việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đòi hỏi phải xậy dựngmột hệ thống các công trình Căn cứ vào các đặc điểm trên, có thể hiểu cơ sở vật chất – kỹthuật du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo ra và thựchiện dịch vụ hàng hoá du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách.
Cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch bao gồm cơ sở vật chất - kỹ thuật của ngành du lịchnhư: các cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú; các cơ sở phục vụ dịch vụ bổ sung khác như cắttóc, giặt là, trạm xăng dầu, thiết bị cấp cứu, phòng chụp ảnh…;và cơ sở vật chất - kỹ thuậtcủa một số ngành kinh tế quốc dân tham gia phục vụ du lịch như thương nghiệp, dịch vụ…
Cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch bao gồm nhiều thành phần, mang những chức năngkhác nhau và có ý nghĩa nhất định đối với việc tạo ra, thực hiện sản phẩm du lịch Việcđánh giá cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch được căn cứ vào ba loại tiêu chuẩn chủ yếu:
+ Đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho nghỉ ngơi du lịch
+ Đạt hiệu quả kinh tế tối ưu trong quá trình xây dựng và khai thác cơ sở vật chất
sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình
Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đếnviệc hình thành chuyên môn hoá của vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động dịchvụ
Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch Thực tế chothấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệuquả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu
Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung Vậy tài nguyên dulịch được hiểu là:
Trang 7“Cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn
du lịch” (Luật du lịch Việt Nam).
b Vai trò của tài nguyên du lịch
- Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch
- Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch
- Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổ chức lãnh thổ du lịch
Tài nguyên du lịch vốn rất phong phú và đa dạng song vẫn có thể phân chia thành 2nhóm: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn
2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng, hiện tượng trong môi trường tự nhiênxung quanh chúng ta, được đưa vào sử dụng để phục vụ cho mục đích du lịch
Khi tìm hiểu nghiên cứu về tài nguyên du lịch tự nhiên, người ta thường nghiên cứutừng thành phần của tự nhiên, các thể tổng hợp tự nhiên và các hiện tượng đặc sắc của tựnhiên
Các loại tài nguyên du lịch tự nhiên gồm có:
a Địa hình
Địa hình hiện tại của bề mặt trái đất là sản phẩm của các quá trình địa chất lâu dài.Địa hình là một thành phần quan trọng của tự nhiên, là nơi diễn ra mọi hoạt động của conngười Đối với hoạt động du lịch, điều quan trọng hơn cả là đặc điểm hình thái địa hình, cónghĩa là các dấu hiệu bên ngoài của địa hình và các dạng địa hình đặc biệt, có sức hấp dẫnđối với du khách
a.1 Các đơn vị hình thái chính của địa hình là: núi, đồi (trung du) và đồng bằng, chúng được phân biệt bởi độ cao địa hình.
- Địa hình đồng bằng: tương đối đơn điệu về ngoại hình, do đó ít gây cảm hứng cho kháchtham quan du lịch Song đồng bằng là nơi thuận tiện cho hoạt động kinh tế và là nơi quần
cư đông đúc Thông qua các hoạt động nông nghiệp, văn hoá của con người nơi đây có ảnhhưởng gián tiếp đến du lịch
- Địa hình vùng đồi: thường tạo ra một không gian thoáng đảng và bao la Dạng địa hìnhnày tác động mạnh tới tâm lý của khách ưa thích dã ngoại, rất thích hợp với các loại hình
Trang 8cắm trại, tham quan Vùng đồi là nơi tập trung dân cư tương đối đông đúc, lại là nơi cónhững di tích khảo cổ và tài nguyên văn hoá, lịch sử độc đáo, tạo khả năng phát triển loạihình du lịch tham quan theo chuyên đề.
- Địa hình miền núi: có ý nghĩa lớn nhất đối với du lịch vì sự kết hợp của nhiều dạng địahình, vừa thể hiện được vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên, vừa có khí hậu mát
mẻ, không khí trong lành Ở miền núi có nhiều đối tượng thích hợp cho hoạt động du lịch
Đó là các sông, suối, thác nước, hang động, rừng cây với thế giới sinh vật tự nhiện vô cùngphong phú Miền núi còn là địa bàn cư trú của các đồng bào dân tộc ít người với đời sống
và nền văn hoá rất đa dạng và đặc sắc
a.2 Các đơn vị hình thái địa hình đặc biệt: có giá trị rất lớn cho tổ chức du lịch như kiểu
địa hình karstơ và kiểu địa hình bờ bãi biển
- Địa hình karstơ: là dạng địa hình được tạo thành do sự lưu thông của nước trong các đá dềhoà tan (đá vôi, đôlômít, thạch cao…) Ở Việt Nam chủ yếu là đá vôi, tập trung chủ yếu ởBắc Bộ, Bắc Trung Bộ và phần nhỏ ở Kiên Giang Một trong các dạng karstơ được quantâm nhất đối với du lịch là các hang động
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 650 hang động đã được sử dụng cho du lịch, hàngnăm thu hút hàng triệu khách tới tham quan
Hang động karstơ ở Việt Nam không dài, không sâu, nhưng rất đẹp Động PhongNha (ở Bố Trạch - Quảng Bình) dài gần 8km được coi là một trong nhiều hang nước đẹpnhất thế giới, được công nhận là di sản thiên nhiên của thế giới Một số hang động kháccũng là các điểm du lịch hấp dẫn như Bích Động (Ninh Bình), động Hương Tích (Hà Tây)
…
- Ngoài hang động karstơ, các dạng địa hình karstơ khác cũng có giá trị lớn đối với du lịch,chẳng hạn như karstơ ngập nước tiêu biểu là Vịnh Hạ Long, một trong những di sản củathế giới với khả năng du ngoạn bằng tàu, thuyền Kiểu karstơ đồng bằng ở vùng Ninh Bìnhđược mệnh danh là “Hạ Long cạn” cũng có giá trị đối với du lịch Kiểu karstơ núi ở cáckhối đá vôi Cao Bằng, Bắc Cạn, Quảng Bình
- Dạng địa hình ven bờ: Các kho chứa nước lớn (biển, sông, hồ) có ý nghĩa quan trọng đốivới du lịch Có thể khai thác các loại hình du lịch như: tham quan du lịch theo chuyên đề,nghỉ ngơi an dưỡng, tắm biểm, thể thao nước…
Trang 9Có rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá mức độ thuận lợi của các bãi biển đối với du lịchnhư: chiều dài, chiều rộng của bãi tắm, độ mịn của cát, độ dốc, độ trong của nước, độ mặn,
độ cao của sóng…
=> Nước ta có đường bờ biển dài hơn 3260km với nhiều cảnh quan phong phú, đadạng Nước ta có khoảng 125 bãi biển với nhiều bãi tắm tốt đang ở dạng sơ khai chưa bị ônhiễm, bãi cát bằng phẳng với độ dốc trung bình 2 – 3độ là một tiềm năng rất có giá trị cho
du lịch biển, nghỉ dưỡng và vui chơi, giải trí Điều lý thú là cả hai điểm đầu và cuối đường
bờ biển nước ta đều là hai bãi biển đẹp: bãi biển Trà Cổ ở Quảng Ninh có chiều dài gần17km với bãi cát rộng, bằng phẳng tới mức lý tưởng và bãi biển Hà Tiên với thắng cảnhhòn Phụ Tử nổi tiếng
=> Các bãi biển ở nước ta phân bố trải đều từ Bắc vào Nam, nổi tiếng nhất là các bãibiển Trà Cổ (Quảng Ninh), Sầm Sơn (Thanh Hoá), Cửu Lò (Nghệ An), Thuận An, Lăng
Cô (Huế), Non Nước (Đà Nẵng), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Văn Phong, Nha Trang (KhánhHoà), Ninh Chữ, Cà Ná (Ninh Thuân), …
Điều đặc biệt là vịnh biển Lăng Cô được thế giới công nhận là một trong nhữngvịnh biển đẹp nhất của thế giới và bãi biển Đà nẵng được công nhận là bãi biển đẹp nhấtthế giới Đó cũng là điều tự hào cũng như điều kiện để ngành Du lịch phát triển hơn
b Khí hậu
Khí hậu là thành phần của tự nhiên sớm được khai thác như một dạng tài nguyên dulịch quan trọng Các điều kiện khí hậu cũng rất đa dạng và đã được khai thác để phục vụcho các mục đích du lịch khác nhau
- Tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khoẻ con người
Tài nguyên khí hậu được xác định, trước hết là tổng hợp của các yếu tố nhiệt độ, độ
ẩm và một số yếu tố khác như áp suất không khí, gió, ánh nắng mặt trời thích hợp nhất vớisức khỏe con người, tạo cho con người các điều kiện cống thoải mái, dễ chịu nhất
Ví dụ: Khách du lịch thường tránh những nơi quá lạnh, quá ẩm, quá nóng, quá khô
Ở nước ta, khí hậu nhiệt đới gió mùa tương đối thích hợp với cuộc sống con người.Nhiệt độ trung bình/tháng của nước ta là 15 – 23 độ C => Như vậy, đây là điều kiện thuậnlợi để phát triển du lịch
- Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng:
Trang 10Một số bệnh về huyết áp, tim mạch, thần kinh, hô hấp rất cần thiết được điều trị có
sự kết hợp giữa các biện pháp y học với các điều kiện thiên nhiên Các điều kiện thuận lợi
về áp suất, không khí, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, lượng ôxy và độ trong lành của không khí
tỏ ra rất có hiệu quả trong việc chữa bệnh và an dưỡng, có tác dụng nhanh chóng làm lànhbệnh và phục hồi sức khoẻ của con người Phần lớn các nhà an dưỡng được xây dựng ở cácđiểm du lịch ven hồ nước, ven biển ở các vùng núi có khí hậu tốt, thích hợp
- Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các loại hình du lịch thể thao, vui chơigiải trí
Ví dụ: nhảy dù, tàu lượn, khí cầu, thả diều, thuyền buồm, lặn…rất cần thiết có điềukiện thích hợp như hướng gió, tôc độ gió, quang mây, không có sương mù
- Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các hoạt động du lịch
Ví dụ: Phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, hoạt động du lịch có thể diễn ra quanh nămhoặc trong một vài tháng
+ Mùa du lịch cả năm: thích hợp với loại hình du lịch chữa bệnh ở suối nước khoáng, dulịch trên núi (cả mùa đông và mùa hè)
+ Mùa đông là mùa du lịch trên núi Sự kéo dài mùa đông có khả năng phát triển du lịchthể thao mùa đông và các loại hình du lịch mùa đông khác
+ Mùa hè là loại hình du lịch quan trọng nhất, vì có thể phát triển nhiều loại hình du lịchnhư du lịch biển, các loại hình du lịch trên núi và ở khu vực đồng bằng - đồi Khả năng dulịch ngoài trời về mùa hè rất phong phú và đa dạng
c Tài nguyên nước
- Nước trên mặt và nước dưới đất
+ Nước trên mặt: có ý nghĩa ro lớn đối với du lịch, nó bao gồm: đại dương, biển, mạng lướisông ngòi, ao hồ…Tuỳ theo thành phần lý – hoá của nước người ta chia ra nước ngọt (lụcđịa) và nước mặn (biển, một số hồ nội địa) Bề mặt nước là mặt thoáng tạo nên phong cảnhđẹp, yên bình Bên cạnh hồ rộng thì các dòng sông lớn, cảnh núi non, rừng cây, mây trời,
và các công trình kiến trúc soi bóng nước là những phong cảnh hữu tình Các bãi biển vàcác bãi ven hồ thường được sử dụng để tắm mát, dạo chơi và là nơi diễn ra các hoạt độngthể thao nước như bơi lội, đua thuyền, lướt ván
Trang 11+ Tài nguyên nước không chỉ có tác dụng trong nghỉ ngơi, săn bắt mà còn ảnh hưởng đếnmôi trường sống, đặc biệt là làm dịu khí hậu xung quanh Tuy nhiên nước dưới đất có giátrị đối với du lịch còn hạn chế.
- Nước khoáng và suối nước nóng
Trong tài nguyên nước phải đề cập đến tài nguyên nước khoáng vì đây là nguồn tàinguyên có giá trị cho du lịch an dưỡng, chữa bệnh Các điểm nước khoáng, suối nước nóng
là tài nguyên thiên nhiên quý giá để phát triển các loại hình du lịch, tham quan, nghỉdưỡng, chữa bệnh
Khái niệm nước khoáng: nước khoáng là nước thiên nhiên (chủ yếu ở dưới đất), chữa một số thành phần vật chất đặc biệt (các nguyên tố hoá học, các khí, các nguyên tố phóng xạ…) hoặc ó một số tính chất vật lý (nhiệt độ, độ pH…) có tác dụng tốt đối với sức khoẻ con người.
Các nguồn nước khoáng tiêu biểu ở Việt Nam như Bang (Lệ Thuỷ - Quảng Bình) cónhiệt độ tới 105độ C, nước khoáng Mỹ Lâm (Tuyên Quang), Kim Bội (Hoà Bình), QuangHanh (Quảng Ninh), Hội Vân (Bình Định), Vĩnh Hảo (Bình Thuận)…
đ Sinh vật
Hiện nay, thị hiếu về du lịch ngày càng trở nên đa dạng Sau những ngày làm việccăng thẳng, con người muốn được thư giãn và hoà mình vào thiên nhiên Từ đó xuất hiệnmột loại hình du lịch mới đó là du lịch sinh thái, trong đó các khu bảo tồn thiên nhiên cóvai trò quan trọng Tài nguyên sinh vật không chỉ có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế, sinh thái,
mà còn có giá trị đối với du lịch, nhất là rừng nguyên sinh hoặc thuần chủng
Tài nguyên sinh vật có giá trị tạo nên phong cảnh làm cho thiên nhiên đẹp và sốngđộng hơn
Tài nguyên sinh vật ở nước ta phục vụ mục đích du lịch được tập trung khai thác ởcác vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên Hệ thống các vườn quốc gia là nơi tậptrung đa dạng sinh học cao, trong đó có nhiều loài đặc hữu, quý hiếm Theo kết quả điều tranghiên cứu thì hiện nay ở nước ta phát hiện được khoảng 11.000 loại thực vật và gần 2000loài động vật Tính đa dạng sinh học cao, đặc biệt là sự hiện diện của các loài động, thựcvật đặc hữu, quý hiếm là yếu tố quan trọng để hệ thống các vườn quốc gia Việt Nam trởthành những tài nguyên du lịch có giá trị
Trang 12Tính đến năm 2003, Việt Nam có 28 vườn quốc gia, 60 khu bảo tồn thiên nhiên, 4khu dự trữ sinh quyển và 39 khu bảo tồn cảnh quan.
Ngoài ra còn một số khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, môi trường khá tiêu biểu, cógiá trị du lịch như Hương Sơn (Hà Tây), Côn Sơn - Kiếp Bạc (Hải Dương), Đền Hùng (PhúThọ) Hoa Lư (Ninh Bình), rừng thông Đà Lạt (Lâm Đồng)…
- Một số hệ sinh thái đặc biệt
Ở nước ta có một số hệ sinh thái đặc biệt, rất tiêu biểu cho thiên nhiên của vùngnhiệt đới, đã được khai thác phục vụ cho mục đích du lịch như hệ sinh thái rừng ngập mặn
ở đồng bằng sông Cửu Long, hệ sinh thái rạn san hô ở Quảng Ninh, Hải Phòng, KhánhHoà, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu…Các hệ sinh thái vùng đất ướt và cửa sông mà điểmhình là khu vực Tràm Chim (Đồng Tháp), Xuân Thuỷ (Nam Định)
- Các điểm tham quan sinh vật
Ở nước ta có rất nhiều điểm tham quan sinh vật thu hút đông đảo khách du lịch nhưcác vườn thú, vườn bách thảo, các công viên vui chơi, giải trí ở TP Hồ Chí Minh, các việnbảo tàng sinh vật ở Hải Phòng, Nha Trang, sân chim, vườn chim và vườn hoa trái ở đồngbằng sông Cửu Long, các cơ sở thuần dưỡng voi ở Buôn Đôn (Đắc Lắc), nuôi trăn, cá sấu
ở đồng bằng sông Cửu Long
2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
- Quan niệm: Tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo,nghĩa là do con người tạo ra Theo quan điểm chung được chấp nhận hiện nay, toàn bộnhững sản phẩm có giá trị về vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra đềuđược coi là những sản phẩm văn hoá
Như vậy, tài nguyên du lịch nhân văn cũng được hiểu là tài nguyên du lịch văn hoá.Tuy nhiên, không phải sản phẩm văn hoá nào cũng đều là những tài nguyên du lịch nhânvăn Chỉ những sản phẩm văn hoá có giá trị phục vụ du lịch mới được coi là tài nguyên dulịch nhân văn, nói cách khác, những tài nguyên du lịch nhận văn cũng chính là những giátrị văn hoá tiêu biểu cho mối dân tộc, mỗi quốc gia Thông qua những hoạt động du lịchdựa trên việc khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn, khách du lịch có thể hiểu đượcnhững đặc trưng cơ bản về văn hoá của dân tộc, địa phương nơi mình đến
- Đặc trưng riêng của tài nguyên du lịch nhân văn:
+ Tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị nhận thức nhiều hơn là giải trí
Trang 13+ Ít bị phục thuộc vào các điều kiện tự nhiên.
+ Thường tập trung ở các khu vực quần cư
+ Thu hút khách có trình độ văn hoá, cũng như yêu cầu nhận thức cao hơn và mức thu nhậpkhá
- Tài nguyên du lịch nhân văn rất đa dạng, phong phú Chúng có thể được phân thành
những dạng chính sau đây: các di tích lịch sử, văn hoá, các lễ hội, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, các đối tượng văn hoá - thể thao và hoạt động nhận thức khác.
a Các di tích lịch sử văn hoá
Di tích lịch sử văn hoá là tài sản văn hoá quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc,mỗi đất nước và của cả nhân loại Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể về đặcđiểm văn hoá của mỗi nước, chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp,
những tinh hoa trí tuệ, tài năng, giá trị văn hoá nghệ thuật của mỗi quốc gia
=>Di tích lịch sử văn hoá được hiểu là: “…những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, cũng như có giá trị văn hoá khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá – xã hội” (Theo Luật di sản).
- Các di sản văn hoá thế giới
Trong thế giới cổ đại, người ta đã xác định được 7 kỳ quan do bàn tay con người tạonên, tập trung ở những chiếc nôi của nền văn minh nhân loại Đó là Kim tự tháp cổ Ai Cập,vườn treo Babilon (I Rắc), Tượng khổng lồ Heliốt trên đảo Rốt (Hy Lạp), lăng mộ vuaMôsôlut ở Halicacnas (Thổ Nhỉ Kỳ), Đền thờ nữ thần Actêmis ở Êphedơ (Thổ Nhĩ Kỳ),Tượng thần Dớt trong ngôi đền Olympia (Hy Lạp), Ngọn hải đăng cao nhất thế giới ởAlêcxandria (Ai Cập) Trong 7 kỳ quan nói trên, hiện nay chỉ có các kim tự tháp Ai Cập làvẫn còn là kỳ quan cổ đại duy nhất còn sót lại
Tuy nhiên, Đến nay, NOWC (Tổ chức Newopenworld ) đã chọn ra 21 công trìnhtrong danh sách các di sản thế giới để chính thức chọn ra bảy kỳ quan thế giới mới Danhsách chính thức của Bảy kỳ quan thế giới mới đã được công bố vào thứ 7, ngày 7 tháng 7năm 2007 (con số biểu tượng: 07.07.07.07) tại Lisboa, Bồ Đào Nha Các kỳ quan đó baogồm: Vạn lý trường thành ở Trung Quốc, Đấu trường Coloseum của La Mã cổ đại, đền TajMahal ở Ấn Độ , Thành cổ Petra của Jordan , Machu Picchu của Peru, tượng chúa Jesuscủa Brazil, và kim tự tháp Chichen Itza của Mexico
Trang 14Các di sản văn hoá là kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hoá của mỗi dân tộc.Bất cứ quốc gia nào nếu có được những di tích được công nhận là di sản văn hoá thế giớithì không những là một vinh dự lớn cho dân tộc đó, mà còn là nguồn tài nguyên vô giá, cósức hút khách du lịch cao, đặc biệt là khách du lịch quốc tế.
=> Việt Nam, chúng ta có các di dản văn hoá như Cố đô Huế, Nhã nhạc cung đìnhHuế (Thừa Thiên Huế), Thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An (Quảng Nam), Cồng chiêngTây Nguyên
- Các di tích lịch sử, văn hoá, thắng cảnh cấp quốc gia và địa phương
+ Các di tích khảo cổ học (hay còn gọi là “Di chỉ khảo cổ”) là những địa điểm ẩn dấu một
bộ phận giá trị văn hoá nghệ thuật về thời kỳ lịch sử xã hội loài người chưa có văn tự, vàothời gian nào đó trong lịch sử cổ đại
Các di tích khảo cổ học có thể bị vùi lấp trong lòng đất hoặc hiện diện trên mặt đất
Ở Việt Nam có các di tích khảo cổ học nổi tiếng như: Di tích khảo cổ Sa Huỳnh(Quảng Ngãi), di tích khảo cổ Hoàng Thành (Hà Nội), Đông Sơn (Thanh Hoá), Bàu Tró(Quảng Bình)…
+ Các di tích lịch sử
Di tích lịch sử là những di tích ghi nhận các sự kiện lịch sử hoặc các đặc điểm lịch
sử tiêu biểu của các dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử của mình, lịch sử của mỗiquốc gia là một quá trình lâu dài với nhiều sự kiện được ghi dấu lại Do vậy chỉ những ditích nào gắn với các sự kiện tiêu biểu mới được coi là những di tích lịch sử Các di tích lịch
sử nước ta bao gồm:
- Di tích ghi dấu về dân tộc học, ăn, ở của các dân tộc ít người
- Di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, có ý nghĩa quyết định hướng phát triểncủa đất nước, địa phương (Bến Bình Than (Quảng Ninh) – nơi diễn ra hội nghị DiênHồng, cây đa Tân Trào (Tuyên Quang)
- Di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược ( Ải Chi Lăng - Lạng Sơn), Bãi cọcBạch Đằng (Quảng Ninh)
- Di tích ghi dấu kỉ niệm (nhà sàn Bác Hồ)
- Di tích ghi dấu vinh quang trong lao động (hồ thuỷ điện Hoà Bình)
- Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc, phong kiến (Thành cổ Quảng Trị)
+ Các di tích văn hoá - nghệ thuật
Trang 15Các di tích văn hoá - nghệ thuật là dạng đặc biệt của các di tích lịch sử, văn hoá, baogồm các công trình kiến trúc có giá trị hoặc các tác phẩm nghệ thuật khác như tượng đài,các bích hoạ…
Ví dụ: Văn miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội), nhà thờ Phát Diệm (Ninh Bình), toàthánh Tây Ninh
b Các lễ hội
Trong các dạng tài nguyên du lịch nhân văn, lễ hội truyền thống là tài nguyên có giátrị phục vụ du lịch rất lớn Lễ hội là một hình thức văn hoá đặc sắc phản ánh đời sống tâmlinh của một dân tộc
Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa tập thể của nhân dân sau những ngày laođộng vất vả, hoặc là một dịp mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đấtnước hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hoặc đơn thuần lànhững hoạt động có tính chất vui chơi giải trí Do vậy, lễ hội có tính hấp dẫn cao đối với dukhách Việt Nam Bất cứ lễ hội nào cũng có 2 phần chính:
+ Phần lễ (phần nghi lễ): có những ghi thức trang nghiêm, trọng thể mở đầu ngàyhội Tuỳ vào tính chất của lễ hội mà nội dung của phần lễ sẽ mang ý nghĩa riêng Phần nghi
lễ có ý nghĩa quan trọng và thiêng liêng, chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống, giátrị thẩm mỹ và triết học sâu sắc của cộng đồng Nó mang trọn ý nghĩa hấp dẫn của cả lễ hộiđối với du khách Phần nghi lễ là phần hạt nhân của lễ hội
+ Phần hội diễn ra những hoạt động điển hình tượng trưng cho tâm lý cộng đồng,văn hoá dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với thực tế lịch sử, với xã hội
và thiên nhiên Trong hội thường tổ chức những trò chơi, thi đấu, biểu diễn…Mặc dù cũnghàm chứa những yếu tố văn hóa truyền thống, nhưng phạm vi nội dung của nó không khôcứng mà hết sức linh hoạt Tuy nhiên, kinh ngiệm cho thấy nơi nào bảo tồn và phát triểnđược những nét truyền thống trong phần hội với những trò chơi mang tính dân gian thì lễhội nơi đó có giá trị hơn, có sức hấp dẫn hơn Thông thường phần hội gắn với tình yêu,giao duyên nam nữ
Cũng có những lễ hội mà ở đó hai phần lễ và hội hòa quyện với nhau, trong đó trọngtâm là phần hội, nhưng bản thân phần hội đã mang trong mình ý nghĩa tâm linh của phần
lễ Hội chọi trâu ở Đồ Sơn là một ví dụ điển hình
Khi đánh giá các lễ hội phục vụ mục đích du lịch, cần lưu ý những đặc điểm sau:
Trang 16+ Tính thời gian của lễ hội: các lễ hội không phải diễn ra quanh năm mà chỉ tậptrung trong thời gian ngắn và thời gian diễn ra lễ hội thường khác nhau Ở nước ta, lễ hộitập trung nhiều vào mùa xuân, chỉ riêng tháng Giêng trong phạm vi cả nước đã có tới 91 lễhội.
+ Quy mô của lễ hội: Các lễ hội có quy mô lớn, nhỏ khác nhau Có lễ hội diễn ratrên địa bàn rộng và có những lễ hội chỉ bó gọn trong những địa phương nhỏ hẹp Điều nàyảnh hưởng đến hoạt động du lịch và nhất là khả năng thu hút khách
Ví dụ: Hội Lim, Hội Chùa Dâu (Bắc Ninh), Lễ hội Đền Hùng (Phú Thọ), hội Pháo(Đồng Kị - Bắc Ninh)…
c Các đối tượng gắn du lịch gắn với dân tộc học
Mỗi dân tộc có những điều kiện sống, những đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán,hoạt động sản xuất mang sắc thái riêng của mình và có địa bàn cư trú nhất định Những đặc
thù của từng dân tộc có sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch, như tạp chí Người đưa tin UNESCO đã viết: “ Cuộc phiêu lưu giờ đây không còn chân trời địa lý, không còn những lục địa trinh bạch, không còn những đại dương chưa ai biết tới, không còn những hòn đảo
bí ẩn Vậy mà về nhiều mặt, các dân tộc vẫn còn xa lạ với nhau và những phong tục, những niềm niềm hi vọng ẩn dấu, những xác tin sâu kín của mỗi dân tộc vẫn tiếp tục là những thứ mà các dân tộc khác chẳng mấy ai biết đến…”(12- 1989).
Các đối tượng dân tộc gắn với dân tộc học có ý nghĩa với du lịch là các tập tục lạ về
cư trú, về tổ chức xã hội, về kiến trúc cổ, về thói quen trong ăn uống, sinh hoạt, các néttruyền thống trong quy hoạch truyền thống cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc, trongcác làng nghề truyền thống…
Việt Nam có 54 dân tộc anh em, trong đó có tới 53 dân tộc thiểu số, chủ yếu sinhsống và cư trú ở các vùng miền núi xa xôi Nhiều tộc người vẫn còn giữ nguyên đượcnhững nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của mình, đặc biệt là các dân tộc Tày, Nùng,Dao, Mường ở miền Bắc; các dân tộc Chăm, Giarai, Êđê, Bana ở miền Trung và TâyNguyên; Các dân tộc Khơme, Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long đã lưu giữ được nhữngtruyền thống văn hoá giá trị cao, có thể khai thác để phục vụ việc phát triển du lịch
Ở Việt Nam còn có hàng trăm làng nghề truyền thống với những sản phẩm nổi tiếngmang tính nghệ thuật cao, có sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch Thông thường, nghềthủ công truyền thống với những sản phẩm độc đáo khhong chỉ thể hiện tài khéo léo của
Trang 17nhân dân lao động mà còn thể hiện những tư duy triết học, những tâm tư tình cảm của conngười Đây cũng chính là những đặc tính riêng của các nền văn hóa và là sức hấp dẫn củacác nghề và làng nghề thủ công truyền thống.
Nước ta là nước có nhiều nghề thủ công truyền thống, đặc biệt là các nghề chạmkhắc đá, nghề đúc đồng, nghề kim hoàn, nghề gốm, nghề mộc, nghề mây tre đan, nghềdệt… mỗi nghề đều có lịch sử phát triển lâu dài và khá độc đáo
đ Các đối tượng văn hoá, thể thao và hoạt động nhận thức khác
Các đối tượng văn hóa Các trung tâm khoa học, các trường đại học, các thư việnlớn, các bảo tàng…cũng thu hút khách du lịch đến với mục đích tham quan, nghiên cứu
Những hoạt động mang tính sự kiện như các cuộc thi đấu thể thao lớn, các cuộctriển lãm những thành tựu kinh tế quốc dân, các cuộc thi hoa hậu, biểu diễn ba lê, các liênhoan âm nhạc, điện ảnh, thi giọng hát hay…
Các đối tượng văn hóa thường tập trung ở các thủ đô và các thành phố lớnnhư LuânĐôn, Paris, Trung Quốc, Rome (Ý)…Các đối tượng văn hóa – thể thao thu hút không chỉkhách du lịch đến tham quan , ngiên cứu, mà còn lôi cuốn nhiều khách đi du lịch với cácmục đích khác nhau
2.3 Các nhân tố khác:
2.3.1 Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu, làm xuất hiệnnhu cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực Không thể nói tới nhu cầuhoặc hoạt động du lịch của xã hội nếu như lực lượng sản xuất xã hội còn ở trong tình trạngthấp kém
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội đẻ ra nhu cầu nghỉ ngơi – du lịch
Các nước có nền kinh tế chậm phát triển, nhìn chung nhu cầu nghỉ ngơi du lịch cònhạn chế Ngược lại, nhu cầu nghỉ ngơi – du lịch ở các nước kinh tế phát triển rất đa dạng
Nhu cầu nghỉ ngơi – du lịch và sự thay đổi của nó theo thời gian và không gian trởthành một trong những nhân tố quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình ra đời và phát triển dulịch
Nhu cầu nghỉ ngơi – du lịch mang tính chất kinh tế - xã hội là sản phẩm của sự pháttriển xã hội Nó được hình thành trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội dưới sự tácđộng của các yếu tố khách quan thuộc môi trường bên ngoài và phụ thuộc trước hết vào
Trang 18phương thức sản xuất Cụ thể hơn, đó là nhu cầu của con người về khôi phục sức khoẻ, khảnăng lao động, thể chất và tinh thần bị hao phí trong quá trình sinh sống và lao động.
Rõ ràng, hoà bình đẩy mạnh hoạt động du lịch và ngược lại: chính hoạt động du lịchlại có tác dụng trở lại đến việc cùng tồn tại hoà bình Thông qua du lịch quốc tế, con ngườithể hiện nguyện vọng nóng bỏng của mình là được sống, lao động trong hoà bình và hữunghị
=> Bên cạnh đó còn rất nhiều nhân tố khác cũng ảnh hưởng đến sự hình thành và
phát triển du lịch như:
+ Điều kiện sống: Điều kiện sống của nhân dân là nhân tố quan trọng để phát triển
du lịch Nó được hình thành nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh hoạt,nâng cao khẩu phần ăn, uống, phát triển đầy đủ mạng lưới y tế, văn hoá, giáo dục…
+ Thời gian nhàn rỗi: Du lịch trong nước và quốc tế không thể phát triển được nếucon người thiếu thời gian rỗi Nó thực sự trở thành một trong những nhân tố quan trọngthức đẩy hoạt động du lịch
Trang 19Quan niệm về tố chức lãnh thổ du lịch:
“Tổ chức lãnh thổ du lịch là phân chia lãnh thổ quốc gia thành các vùng kinh tế du lịch, dựa trên các tiêu chí phân vùng du lịch, nhằm phát huy lợi thế của mỗi vùng và của cả nước, tổ chức và kinh doanh du lịch đạt hiệu quả."
3.2 Hệ phân vị trong thống phân vùng du lịch
3.2.1 Điểm du lịch
- Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị Về mặt lãnh thổ, điểm du lịch cóquy mô nhỏ Trên bản đồ du lịch, người ta thể hiện điểm du lịch là những điểm riêng biệt.Tuy nhiên, trong thực tế dù quy mô rất nhỏ, điểm du lịch cũng chiếm một diện tích nhấtđịnh trong không gian
- Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó hay một công trình riêng biệtphục vụ cho du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ Vì thế, điểm du lịch có thể được
phân thành hai loại: điểm tài nguyên và điểm chức năng
- Thời gian lưu lại của khách du lịch ở điểm du lịch tương đối ngắn (không quá 1 – 2 ngày)
vì sự hạn chế của đối tượng du lịch, trừ một số trường hợp ngoại lệ (điểm du lịch với chứcnăng chữa bệnh, nhà nghỉ của cơ quan…)
- Các điểm du lịch được nối với nhau bằng tuyến du lịch Trong trườnh hợp cụ thể, cáctuyến du lịch cơ thể là tuyến nội vùng hoặc liên vùng
3.2.2 Trung tâm du lịch
- Là một cấp rất quan trọng trong hệ thống phân vị phân vùng du lịch Đó là sự kết hợplãnh thổ của các điểm du lịch cùng loại hay khác loại Trên lãnh thổ của trung tâm du lịchtập trung rất nhiều điểm du lịch Mặt khác, trung tâm du lịch gồm các điểm chức năng,được đặc trưng bởi sự gắn kết lãnh thổ về mặt kinh tế - kỹ thuật và tổ chức Nó có khả năngthu hút khách du lịch rất lớn
- Nguồn tài nguyên du lịch ở đây tương đối tập trung và được khai thác một cách cao độ
Trang 20- Cơ ở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối phong phú đủ để đón, phục vụ và lưukhách lại trong thời gian dài.
- Trung tâm du lịch có khả năng tạo vùng du lịch Về cơ bản, trung tâm du lịch là một hệthống lãnh thổ du lịch đặc biệt, là hạt nhân của vùng du lịch
- Về phương diện lãnh thổ: trung tâm du lịch có diện tích tương đương với diện tích củamột vài tỉnh hay thành phố, trong đó bao gồm các điểm du lịch kết hợp với các điểm dân
cư và môi trường xung quanh
3.2.3 Tiểu vùng du lịch
- Tiểu vùng du lịch là một tập hợp các điểm du lịch và các trung tâm du lịch (nếu có) Vềquy mô, tiểu vùng du lịch là vùng lãnh thổ bao trùm lãnh thổ của vài tĩnh Tuy vậy, sự daođộng về diện tích giữa các tiểu vùng cũng khá lớn
- Tiểu vùng du lịch có nguồn tài nguyên tương đối phong phú về số lượng, đa dạng vềchủng loại
- Trọng thực tế ở nước ta, có thể có hai loại hình tiểu vùng du lịch: tiểu vùng du lịch đãhình thành (hay còn gọi tiểu vùng du lịch thực tế) và tiểu vùng du lịch đang hình thành(tiểu vùng du lịch tiềm năng)
3.2.4 Á vùng du lịch
- Á vùng du lịch là tập hợp các điểm du lịch, các trung tâm (nếu có) và các tiểu vùng dulịch thành một thể thống nhất với mức tổng hợp cao hơn, vai trò của cơ sở hạ tầng lớn hơn,các thông số hoạt động và lãnh thổ du lịch rộng hơn Xét về các mối quan hệ dân cư, quần
cư và cung cấp những nhu cầu vật chất cho khách du lịch thì Á vùng du lịch bao gồm cảnhững địa phương không có các điểm tài nguyên du lịch Các mối liên hệ bên trong lãnhthổ cũng đa dạng hơn
- Trong Á vùng du lịch có nhiều loại tài nguyên du lịch.Ở chừng mực nhất định, chuyênmôn hoá đã bắt đầu được thể hiện, mặc dù có thể chưa đậm nét
3.2.5 Vùng du lịch
- Vùng du lịch là cấp cao nhất trong hệ thống phân vị Đó là một kết hợp lãnh thổ của các
Á vùng (Nếu có), tiểu vùng, trung tâm, và điểm du lịch, có những đặc trưng riêng về sốlượng và chất lượng Nói cách khác, vùng du lịch là một thể thống nhất của các đối tượng
và hiện tượng tự nhiên, nhân văn, xã hội…bao gồm hệ thống lãnh thổ du lịch và môitrường kinh tế - xã hội xung quanh với chuyên môn hoá nhất định trong lĩnh vực du lịch
Trang 21- Vùng du lịch mang tính chuyên môn hoá cao Nó chính là bản sắc của vùng, làm chovùng này khác hẳn vùng kia.
- Các mối liên hệ nội, ngoại vùng rất đa dạng, dựa trên nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng và
cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có của vùng
- Về phương diện lãnh thổ, vùng du lịch có diện tích rất lớn, bao gồm nhiều tỉnh Ngoài ra,với hoạt động du lịch mạnh mẽ, nó bao chiếm cả các khu vực không du lịch (điểm dân cư,các không vực không có tài nguyên và cơ sở du lịch), nhưng có mối liên hệ chặt chẽ vớikinh tế du lịch
- Cũng như các tiểu vùng, người ta chia ra thành vùng du lịch đang hình thành (vùng dulịch tiền năng) và vùng du lịch đã hình thành (vùng du lịch thực tế) Trên thực tế nước ta
chưa có vùng du lịch đã hình thành, mà vùng du lịch của ta đang ở dạng đang hình thành 3.3 Hệ thống chỉ tiêu chính
3.3.1 Số lượng, chất lượng tài nguyên và sự kết hợp các dạng tài nguyên theo lãnh thổ
- Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ riệt Tài nguyên du lịchảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức lãnh thổ du lịch, đến việc hình thành chuyên môn hoácủa vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch Do vị trí đặc biệt của nó, tàinguyên du lịch được tách thành một hệ riêng biệt trong hệ thống lãnh thổ du lịch
=> Sự hấp dẫn của vùng du lịch phụ thuộc nhiều vào tài nguyên du lịch
- Khi đề cập tới chỉ tiêu về tài nguyên, trước hết cần xem xét về mặt số lượng tài nguyênvốn có Tất nhiên, việc xác định số lượng tài nguyên chỉ có tính chất tương đối, bởi vì nóphụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Hơn nữa, nếu chỉ tính số lượngđơn thuần thì nhiều khi không phản ánh hết
- Ngay đối với từng loại tài nguyên thì không phải bất cứ đặc điểm nào của nó cũng đều có
ý nghĩa với du lịch Thông thường chỉ có một số đặc điểm nhất định tham gia vào quá trìnhtạo vùng và ít nhiều chịu tác động của chất lượng tài nguyên
- Mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc tạo vùng.Vai trò tạo vùng của tài nguyên du lịch không chỉ dừng lại ở số lượng và chất lượng màcòn ở sự kết hợp các loại tài nguyên Mức độ kết hợp tài nguyên càng phong phú, sức thuhút khách du lịch càng mạnh, tác dụng tạo vùng của nó càng cao
3.3.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch
Trang 22- Nếu như tài nguyên là một trong những yếu tố cơ sở để tạo nên vùng du lịch thì cơ sở hạtầng và cơ sở vật chất kỹ thuật tạo điều kiện biến tiềm năng của tài nguyên trở thành hiệnthực Giữa hai chỉ tiêu này có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung và hỗ trợ nhau Không
có cơ sở hạ tầng và nhất là cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, thì tài nguyên mãi mãichỉ ở dạng tiềm năng Ngược lại, nếu thiếu tài nguyên sẽ chẳng khi nào có cơ sở vật chất
kỹ thuật cho du lịch Vì thế, giáo sự người Đức Hunziker đã phân biệt ba nhóm yếu tố:
+ Nhóm tạo nên sự hấp dẫn du lịch (các loại tài nguyên du lịch)
+ Nhóm đảm bảo việc đi lại, tham quan du lịch của khách (chủ yếu là giao thông)+ Nhóm đảo bảo việc lưu lại của khách (cơ sở vật chất kỹ thuật)
- Cơ sở hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc hình thành và phát triển vùng dulịch
+ Ví dụ: mạng lưới và phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, nguồn cung cấpđiện, nước
- Để đảm bảo cho vùng du lịch hoạt động bình thường, phải có hệ thống cơ sở vật chất kỹthuật cần thiết như các khách sạn, nhà hàng, nhà nghỉ, của hàng, nơi vui chơi giải trí…
- Cần phải xem xét, đánh giá số lượng, chất lượng của cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹthuật phục vụ du lịch, để thấy trước được sự phát triển tương lai của vùng nhằm đáp ứngkịp thời nhu cầu du lịch
3.3.3 Trung tâm tạo vùng
- Mỗi vùng du lịch ít nhất phải có một trung tâm tạo vùng Một lãnh thổ có thể có nhiều tàinguyên du lịch, song nếu thiếu sức hút của một trung tâm tạo vùng thì lãnh thổ ấy không cókhả năng lôi kéo quanh mình các lãnh thổ lân cận để tạo thành một vùng du lịch Vì thế, cóthể coi trung tâm tạo vùng là một trong những chỉ tiêu để phân vùng du lịch
- Trung tâm tạo vùng phải có nguồn tài nguyên phong phú, được sử dụng ở mức rất cao, có
cơ sở hạ tầng cũng như cơ sở vật chất kỹ thuật tương ứng để thoã mãn nhu cầu của đôngđảo khách du lịch Hơn nữa, trung tâm tạo vùng phải có sức thu hút mạnh mẽ các lãnh thổxunh quanh Sức hút ấy đến đâu còn tuỳ thuộc vào quy mô và sức mạnh của trung tâm.Trung tâm tạo vùng càng lớn, sức hút của nó càng mạnh
- Ý nghĩa đặc biệt của trung tâm tạo vùng được thể hiện rõ nét trong quá trình xác địnhranh giới các vùng du lịch Nhiều người cho rằng, ranh giới của vùng du lịch được xác định
ở nơi mà sức hút của trung tâm tạo vùng vừa mới chấm dứt Lãnh thổ càng nằm gần trung
Trang 23tâm tạo vùng thì càng bị hút mạnh, Ngược lại, càng xa trung tâm, sức hút càng yếu đi Tớimột khảng cách nào đó, sức hút của trung tâm yếu dần và chấm dứt Nơi đó là ranh giớicủa vùng du lịch Vượt qua ranh giới này là lãnh thổ của vùng du lịch khác, với trung tâmtạo vùng khác.
3.4 Sự phân hoá lãnh thổ
3.4.1 Vùng du lịch Bắc Bộ
Gồm 29 tỉnh, và thành phố
a Tiểu vùng du lịch trung tâm bao gồm 14 tỉnh và thành phố
Trung tâm du lịch Hà Nội
Hải Dương, Hưng Yên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Hà Nam,Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Hà Tây, Hà Bình
b Tiểu vùng du lịch duyên hải Đông Bắc gồm 2 tỉnh và thành phố
Thành phố Hải Phòng và Quảng Ninh
c Tiểu vùng du lịch miền núi Đông Bắc gồm 6 tỉnh
Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên
d Tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc gồm 5 tỉnh
Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La
b Tiểu vùng du lịch phía Nam gồm 4 tỉnh và thành phố
Trung tâm du lịch gồm Huế và Đà Nẵng
Quảng Nam và Quảng Ngãi
2.4.3 Vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ
Bao gồm 29 tỉnh và thành phố, có hai Á vùng
A Á vùng du lịch Nam Trung Bộ gồm 10 tỉnh
a Tiểu vùng du lịch Duyên hải gồm 5 tỉnh
Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận
Trang 24b Tiểu vùng du lịch Tây Nguyên gồm 5 tỉnh
Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng
B Á vùng du lịch Nam Bộ gồm 19 tỉnh và thành phố
a Tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh
Trung tâm du lịch thành phố Hồ Chí Minh
Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh
b Tiểu vùng du lịch đống bằng sông Cửu Long gồm 13 tỉnh thành phố
Tiền Giang, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Cần Thơ,Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang
Câu hỏi ôn tập
1 Trình bày quan niệm về tổ chức lãnh thổ du lịch? Nêu hệ thống phân vị trong phân vùng
du lịch? Cho ví dụ thực tế Việt Nam?
2 Trình bày hệ thống chỉ tiêu phân vùng du lịch và ý nghĩa của từng nhóm chỉ tiêu cụ thể?
3 Hãy nêu hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch của Việt Nam (các vùng du lịch, trungtâm du lịch và tiểu vùng du lịch)?
Trang 25CHƯƠNG 4:
VÙNG DU LỊCH BẮC BỘ 4.1 Khái quát
Vùng du lịch Bắc Bộ có 29 tỉnh từ Hà Giang (tỉnh cực Bắc) vào đến Hà Tĩnh, vớithủ đô Hà Nội là trung tâm của vùng và có tam giác động lực tăng trưởng du lịch Hà Nội -Hải Phòng - Quảng Ninh
Vùng có diện tích 149.432 km2 , dân số 37.1 triệu người (năm 2003) chiếm 45,4 %diện tích và 45,9% số dân của Việt Nam Mật độ bình quân 249 người/km2
Vùng du lịch Bắc Bộ gồm 7 tỉnh ở phía Bắc là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng,
Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên, tiếp giáp vơi 3 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây
và Vân Nam của Trung Quốc Có 6 tỉnh phía Tây: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, ThanhHoá, Nghệ An, Hà Tĩnh giáp với 5 tỉnh của Lào là Phong Xa Lỳ, Luông Phra Băng, XiêngKhoảng, Hùa Phăn, Khăm Muộn Đặc biệt toàn bộ phía Đông của vùng này tiếp giáp vìnhBắc Bộ với bờ biển dài gần 1000km vơi hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ
Vùng Bắc Bộ biểu hiện đầy đủ và tập trung nhất các đặc điểm về đất nước và conngười Việt Nam
- Trên lãnh thổ của vùng này có nhiều vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên vớinhững khu rừng nhiệt đới nguyên sinh phong phú về số lượng loài động, thực vật, trong đó
có nhiều loại được xếp vào loại quí, hiếm của thế giới
- Nơi đây còn có cả một vùng đồng bằng tam giác châu thổ được bồi đắp bởi phù samàu mở của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, tạo nên một trong hai vựa lúa lơn củaViệt Nam
- Có biển rộng với nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, có nhiều hải cảng tốt vàbãi biển đẹp
4.1.2 Về khí hậu
Trang 26- Vùng này có khí hậu rất đặc sắc, quanh năm có ánh nắng mặt trời chan hoà Cácvùng núi cao bị rét lạnh vào mấy thàng mùa đông nhưng lại mát mẻ vào nùa hạ.
- Những vùng thấp và ven biển khí hậu khá ôn hoà, dồi dào nhiệt ẩm, thích nghi với
sự phát triển của các loài động - thực vật nhiệt đới
4.1.3 Về con người
- Cảnh quan nông nghiệp trồng lúa là nét đặc trưng của vùng du lịch Bắc Bộ
- Dân tộc Việt Nam thuở ban đầu khai thiên lập địa cũng từ vùng này Cùng chungsống trong một đại gia đình gồm hàng chục dân tộc anh em, người vm đã sáng tạo nên lịch
sử và nền văn hoá của mình.Hàng năm từ khắp nơi trong cả nước vào tháng 3(âm lịch),nhân dân hành hương về giỗ tổ Hùng Vương, tại núi Hy Cương tỉnh Phú Thọ
- Vùng này đã diễn ra những sự kiện lớn trong suốt quá trình lịch sử hơn 4000 nămcủa dân tộc Việt Nam Vì thế, nơi đây còn tồn tại rất nhiều di tích lịch sử, lưu truyền biếtbao truyền thuyết dân gian, để lại cho hậu thế nhiều công trình văn hoá nghệ thuật có giá trịvới các danh nhân kệt xuất, nổi tiếng như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, HồChí Minh…
- Cư trú trong nhiều vùng tự nhiên, kinh tế khác nhau, con người nơi đây có nhiềuphong tục tập quán, nếp sống sinh hoạt và lao động, tín ngưỡng và tôn giáo không giốngnhau Điều đó tạo nên những đặc trưng đa dạng, kỳ thú, có sức hấp dẫn lớn không nhữngđối với người nước ngoài mà ngay cả với những người trong nước
4.1.4 Về điều kiện kinh tế - văn hoá
- Bên cạnh dạng quần cư nông thôn phổ biến ở đồng bằng và miền núi Bắc Bộ, ngàynay các độ thị đã được hình thành và phát triển nhanh chóng cùng với quá trình côngnghiệp hoá đất nước
- Vùng du lịch Bắc Bộ có nhiều thành phố, nhiều trung tâm công nghiệp (Hà Nội,Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương, Thái Bình…), nơi tập trung dân cư đông đúc Hà Nội làthủ đô và là thành phố đông dân thứ hai trong cả nước, sau thành phố Hồ Chí Minh Đây làtrung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học quan trọng bậc nhất của cả nước Nhờ vị tríhết sức thuận lợi, Hà Nội còn là đầu mối giao thông quan trọng cả về đường ô tô, đườngsắt, đường sông và đường hàng không
4.2.1 Tiềm năng du lịch
4.2.1.1 Tài nguyên du lịch
Trang 27a Về mặt tự nhiên
Vùng du lịch Bắc Bộ có nhiều cảnh đẹp Cảnh thiên nhiên ở đây có những nét hùng
vĩ, thơ mộng của núi rừng Đôi khi lại ồn ào sôi động như ở các thác nước Hoặc cảnh tĩnhmịch trong các cánh rừng già nguyên sinh như:
- Núi:
+ Hàm Rồng (Lào Cai)
+ Cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang)
+ Núi Tô Thị, núi Mẫu Sơn, núi Ải Chi Lăng (Lạng Sơn),
+ Núi Phượmg Hoàng (Thái Nguyên)
+ Núi Yên Tử (Quảng Ninh)
+ Núi Bài Thơ (Hạ Long)
+ Núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc)
+ Núi Vôi (Hải Phòng)
Nguồn nước khoáng:
+ Kim Bôi (Hoà Bình) nhiệt độ 37 độ C, thành phần chứa SiO2 (Silic) Công dụng chữa cácbệnh thấp khớp, dạ dày và đại tràng
+ Quang Hanh (Quảng Ninh) nhiệt độ 45 độ C, thành phần gồm Brôm, Iốt và Bo Côngdụng chống mất nước cho cơ thể, đau dạ dày, táo bón, gan
+ Tiền Hải (Thái Bình) – xây dựng nhà máy nước khoáng đóng chai
+ Tiên Lãng (Hải Phòng), thành phần chứa Br (Brôm chất phi kim), I (Iốt chất phi kim), Bo(Bo), có nhiệt độ là 45 độ C, chữa bệnh nấm kinh niên, dị ứng da theo mùa, lở loét toànthân
Trang 28+ Mỹ Lâm (Tuyên Quang), nhiệt độ 34 độ C, thành phần chính Si (Silic), công dụng lớnnhất là điều hoà chức năng tiêu hoá, xương cơ, các bệnh thấp khớp, viêm đại tràng, cộtsống.
+ Kênh Gà (Ninh Bình) nhiệt độ 53 độ C, chứa NaCl (nát ri clorua), KCl, CaCl2 , MgO.Chữa bệnh khớp, viêm dây thần kinh, dạ dày, kích thích hoạt động của gan, mật
- Bãi biển: Trà Cổ; Đồ Sơn; Sầm Sơn; Cửa Lò có sức thu hút đặc biệt
- Kỳ quan thế giới: Vịnh Hạ Long
- Khí hậu: mùa hè từ tháng 5- tháng 9 Mùa thu từ tháng 9- tháng 11.Mùa đông có gió mùa
đông Bắc Nhiệt độ có lúc đạt 13 – 15 độ C Các vùng núi cao như Sa Pa, Hà Giang nhiệt
độ có lúc dưới 0 độ C
- Đặc sản biển: cua biển, cá, tôm hùm, sò huyết, bào ngư.
- Đặc sản núi rừng: Măng, nấm hương, thịt chim, thú rừng được phép săn bắn.
- Dược liệu quý: sâm, nhung, tam thất, nấm Linh Chi…
b Về mặt lịch sử - văn hoá
Vùng này chứa đựng toàn bộ bề dày lịch sử Việt Nam Những di chỉ khảo cổ họcminh chứng cho nền văn hoá Đông Sơn, Hoà Bình nổi tiếng từ thời tiền sử là những di tíchlịch sử còn được bảo tồn, rất có giá trị về mặt khoa học và giáo dục truyền thống cũng như
về du lịch như:
- Các di tích lịch sử: Đền Hùng, Thành Cổ Loa, Ải Chi Lăng, Pắc Bó, Điện Biên…
- Những lễ hội truyền thống: hội Đền Hùng, Hội Lim, Hội Gióng (Hà Nội ), Hội pháoĐồng Kị (Bắc Ninh), Hội Chùa Hương (Hà Tây) đậm đà bản sắc dân tộc…
- Về nghệ thuật: vùng có những làn điệu quan họ, điệu chèo, hát ví dặm, nghệ thuật tuồng,múa rối nước, âm nhạc, và các điệu múa cổ truyền của các dân tộc trong vùng
- Về mặt kiến trúc: vùng có 1 kho tàng kiến trúc nghệ thuật độc đáo như chùa: Chùa TâyPhương (Hà Tây), chùa Keo (Thái Bình), chùa Một cột (Hà Nội)
- Về Bảo tàng: vùng tập trung hầu hết các viện bảo tàng lớn, có giá trị cao nhất ở Việt Namnhư: viện bảo tàng lịch sử quân đội, viện bảo tàng cách mạng, viện bảo tàng mỹ thuật, việnbảo tàng Hồ Chí Minh ở Hà Nội Bảo tàng các dân tộc miền núi (Thái Nguyên)
- Hàng thủ công mỹ nghệ: Mây tre, sơn mài, gốm sứ, thêu ren, đan, chạm, khắc, các sảnphẩm từ cói
4.2.2 Kinh tế - xã hội
Trang 29- Vùng du lịch Bắc Bộ có truyền thống về sản xuất nông nghiệp, hiện đang tiếp cận vớinhững thành tựu kinh tế, khoa học - kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, từng bước đi lên xâydựng nền kinh tế mới có cơ cấu hợp lý và nhiều thành phần nhằm đặt được hiệu quả cao đểkhông ngừng cải thiện và nâng cao mức sống của người dân Những nông sản nhiệt đớitiêu biểu có chất lượng ít nhiều tác động đến hoạt động du lịch như gạo tám thơm, nếp cái,các loại hoa quả thơm ngon nổi tiếng như đào Sa Pa, cam Bắc Hà, bưởi Đoan Hùng, cam
Bố Hạ, nhãn Hưng Yên, vải Thanh Hà, Lục Ngạn, chè Thái Nguyên…
- Hàng thủ công mỹ nghệ sử dụng hầu hết nguyên liệu trong nước gồm các mặt hàngtruyền thống như mây tre đan, sơn mài, gốm sứ, thêu ren, chạm khắc, đúc đồng, mỹ nghệvàng bạc, chê biến các sản phẩm từ cói…với trình độ thẫm mỹ cao, hoàn toàn có thể thoãmãn nhu cầu của các loại khach du lịch và xuất khẩu
=> Vùng này nổi tiếng bao đời là “đất lành chim đậu” nhân dân cần cù lao động,thông minh, sáng tạo và giàu lòng mến khách tạo những điều kiện xã hội rất thuận lợi chohoạt động du lịch
4.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
a Cơ sở hạ tầng du lịch
- Hệ thống đường giao thông tương đối tốt, ngày càng hoàn thiện và đã được nâng cấp với
các trục đường chính từ Hà Nội toả đi khắp nơi tỏng vùng
Ví dụ: Từ Hà Nội đi các tỉnh miền núi phía Bắc có các quốc lộ 1,2 và 3; lên Tây Bắc
có quốc lộ 6, ra biển có quốc lộ 5, 18, 10, tới các tỉnh phía nam có quốc lộ 1 và đường HồChí Minh, đi sang Lào có quốc lộ 7, 8
+ Các trực đường sắt chính cũng hầu như chạy song song với các trục đường ô tô,bảo đảm khả năng vận chuyển khách du lịch với số lượng lớn, có thể đi tới các điểm dulịch co ý nghĩa quốc gia và quốc tế bằng các phương tiện giao thông khác nhau
+ Vùng này có nhiều cửa khẩu quan trọng để đưa đón khách du lịch nước ngoài.Như sân bay quốc tế Nội Bài (Hà Nội), Cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân (Quảng Ninh), cửakhẩu Hữu Nghị ở Lào Cai và cửa khẩu Móng Cái nối Việt Nam với Trung Quốc; cửa khẩuNậm Căn, Cầu Treo nối liền Việt Nam, Lào và các nước trong khu vực Đông Nam Á
=> Tuy nhiên, việc đi lại các điểm du lịch xa như Trà Cổ, Sa Pa, Ba Bể, Điện Biên,Pắc Bó hiện nay vẫn còn khá vất vả vì chất lượng đường sá chưa thật tốt
- Hệ thống điện năng:
Trang 30Đây là vùng tập trung các nhà máy điện lớn nhất Việt Nam cả về nhiệt điện cũngnhư thuỷ điện như: nhiệt điện Phả Lại, Uông Bí (Quảng Ninh), thuỷ điện Hoà Bình Ngoài
ra còn có nhà máy thuỷ điện Thác Bà (Yên Bái) Những năm gần đây sản lượng điện tănglên không ngừng, khả năng cung cấp điện tốt hơn, cùng với việc phát triển mạng lưới điệnrộng khắp, đảm bảo vững chắc nguồn điện phục vụ cho các ngành và các địa phương trongvùng, trong đó có hoạt động du lịch
- Hệ thống thông tin liên lạc
Đặc biệt trong những năm gần đây có nhiều tiến bộ đáng kể Ở đây đã xây dựngđược các trạm viễn thông và lắp đặt những phương tiện thông tin hiện đại Do đó, về cơbản đã bảo đảm được việc thông tin liện lạc trong nước và quốc tế một cahchs thuận tiện,nhanh chóng, đáp ứng ngày càng tốt hơn mọi yêu cầu của hoạt động du lịch
- Hệ thống cung cấp nước
Vùng này có điều kiện và khả năng giải quyết tốt nhu cầu nước phục vụ du lịch, trên
cơ sở có nguồn cung cấp nước dồi dào, cả nước mưa, nước trên mặt và nước ngầm
b Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Trên cơ sở kế thừa điều kiện vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch đã được xây dựng từnhững năm trước đây, vùng du lịch Bắc Bộ còn cần phải tiếp tục cải tạo, xây dựng và từngbước hoàn thành các điều kiện này thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao củakhách du lịch
Gần đây, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An đã được nâng cấp
và xây dựng mới nhiều khách sạn Cũng cần phải cân nhắc, tính toán cụ thể để giải “bàitoán” vừa thiếu, vừa thừa chỗ ăn, ở cho khách du lịch một cách hợp lý Tránh xây dựngkhách sạn một cách tràn lan, không đúng chỗ, không đạt hiệu quả kinh tế, vì hệ số sử dụngquá thấp, chưa kể đến việc làm ảnh hưởng xấu tới cảnh quan du lịch vốn rất đẹp của vùng.CÁC KHÁCH SẠN ĐƯỢC XẾP HẠNG TỪ 3 ĐẾN 5 SAO TRONG VÙNG DU LỊCH BẮC BỘVùng tỉnh, thành phố Phân theo hạng sao