1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

GIÁO TRÌNH địa lý DU LỊCH VIỆT NAM

197 44 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 333,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình địa lý du lịch Việt Nam là tài liệu cần thiết cho giáo viên và sinh viên nghiên cứu ngành Việt Nam học, Quản trị kinh doanh lữ hành, hướng dẫn du lịch. Giáo trình là tài liệu quý giúp sinh viên có tài liệu tham khảo chính thống. Tài liệu là cơ sở giúp giáo viên có thể tham khảo để xây dựng sản phẩm du lịch, chương trình du lịch, thiết kế tuyến điểm du lịch.

Trang 1

MỤC LỤC

Contents

BÀI MỞ ĐẦU 1

1 ĐỐI TƯỢNG 1

2 NHIỆM VỤ CỦA ĐỊA LÝ DU LỊCH 2

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

CHƯƠNG 1:TÀI NGUYÊN DU LỊCH 3

1.1.KHÁI NIỆM CHUNG: 3

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA TÀI NGUYÊN DU LỊCH 5

1.2.1 Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc và độc đáo có sức hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch 6

1.2.2 Tài nguyên du lịch thường dễ khai thác 7

1.2.3 Tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau 7

1.2.4.Tài nguyên du lịch được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch 8

1.2.5.Tài nguyên du lịch có thể sử dụng được nhiều lần 9

1.3 VAI TRÒ, Ý NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN DU LỊCH: 9

1.3.1.Vai trò: 9

1.3.1.1.Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch 9

1.3.1.2.Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổ chức lãnh thổ du lịch 10

1.3.2 Ý nghĩa: 11

1.3.3 Phân loại: 11

1.4.PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 11

1.4.1.Khái niệm về phát triển và mối quan hệ với tài nguyên, môi trường: .11

1.4.2.Khái niệm về phát triển du lịch bền vững: 14

1.4.3.Các nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững: 17

1.4.3.1.Khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý 18

1.4.3.2.Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải: 21 1.4.3.3.Phát triển gắn liền với việc bảo tồn tính đa dạng 22

1.4.3.4.Phát triển phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội 24

1

Trang 2

1.4.3.5.Chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương 26

1.4.3.6.Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương 28

1.4.3.7.Thường xuyên trao đổi tham khảo ý kiến với cộng đồng địa phương và các đối tượng có liên quan 29

1.4.3.8.Chú trọng việc đào tạo nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường: 31

1.4.3.9.Tăng cường tiếp thị một cách có trách nhiệm 32

1.4.3.10.Thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu 33

CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 1 34

CHƯƠNG 2:TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN VIỆT NAM 35

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN 35

2.2 CÁC LOẠI TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN VIỆT NAM 35

2.2.1.Địa hình: 35

2.2.1.1 Các vùng núi có phong cảnh đẹp 36

2.2.1.2 Các hang động 36

2.2.1.3.Các bãi biển 38

2.2.1.4 Các di tích tự nhiên 38

2.2.2.Khí hậu 39

2.2.2.1.Tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khoẻ con người 39

2.2.2.2.Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng 40

2.2.2.3.Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các loại hình du lịch thể thao, vui chơi giải trí 40

2.2.2.4.Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các hoạt động du lịch 40

2.2.3.Thuỷ văn: 41

2.2.3.1 Bề mặt nước và các bãi nông ven bờ 41

2.2.3.2 Các điểm nước khoáng, suối nước nóng 41

2.2.4.Sinh vật: 42

2.2.4.1 Các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên và các khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, môi trường 43

2.2.4.2 Một số hệ sinh thái đặc biệt 44

2.2.4.3 Các điểm tham quan sinh vật 44

2.2.4.4 Các cảnh quan du lịch tự nhiên: 44

2.2.5 Các di sản thiên nhiên thế giới ở Việt Nam 45

CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 2 47

CHƯƠNG 3: 48

2

Trang 3

3.1.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN 48

3.2 CÁC LOẠI TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN: 50

3.2.1.Các di tích lịch sử văn hoá 50

3.2.1.1.Các di tích lịch sử 50

3.2.1.2.Các di tích văn hoá nghệ thuật: 51

3.2.2 Lễ hội 52

3.2.3 Nghề và làng nghề thủ công truyền thống 53

3.2.4 Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học: 56

3.2.5.Các đối tượng văn hoá, thể thao hay những hoạt động khác có tính sự kiện .57

3.2.6 Các di sản văn hóa thế giới: 57

CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 3 69

CHƯƠNG 4 TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH 70

4.1 QUAN NIỆM VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH 70

4.2 HỆ PHAN VỊ TRONG HỆ THỐNG PHAN VUNG DU LỊCH 70

4.2.1 Điểm du lịch 70

4.2.2 Trung tâm du lịch 71

4.2.3 Tiểu vùng du lịch 71

4.2.4 Á vùng du lịch 72

4.2.5 Vùng du lịch 72

4.2.6.Khu du lịch, đô thị du lịch và tuyến điểm du lịch 73

4.2.6.1.Khu du lịch : 73

4.2.6.2 Đô thị du lịch 77

4.2.6.3 Tuyến điểm du lịch 78

4.3 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CHÍNH TRONG PHÂN VÙNG DU LỊCH 78

4.3.1 Số lượng, chất lượng tài nguyên và sự kết hợp các dạng tài nguyên theo lãnh thổ 78

4.3.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch 79

4.3.3 Trung tâm tạo vùng 80

CHƯƠNG 5CÁC VÙNG DU LỊCH VIỆT NAM 82

5.1 VÙNG DU LỊCH TRUNG DU MIỀN NÚI BẮC BỘ 82

5.1.1 Khái quát vùng du lịch trung du miền núi Bắc Bộ 82

5.1.2.Tài nguyên du lịch 82

5.1.2.1 Tiểu Vùng du lịch miền núi Đông Bắc 82

5.1.2.2 Tiểu Vùng du lịch miền núi Tây Bắc (Hòa Bình, Phú Thọ, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La) 86

3

Trang 4

5.1.3.Hướng khai thác sản phẩm đặc trưng: 91

5.1.4.Các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch: 92

5.1.5.Các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia và quốc tế 92

5.2.VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ DUYÊN HẢI ĐÔNG BẮC 96

5.2.1 Khái quát về vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc 96

5.2.2.Tài Nguyên du lịch 97

5.2.2.1.Tiểu Vùng du lịch trung tâm 97

5.2.2.2-Tiểu Vùng du lịch duyên hải Đông Bắc 105

1.2.3 Thuỷ văn: 108

1.2.4.Tài nguyên động thực vật: 110

5.2.3.Các sản phẩm du lịch đặc trưng và địa bàn hoạt động du lịch chủ yếu 113

5.2.4.Các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch: 114

5.2.5.Điểm du lịch quốc gia thuộc vùng du lịch Bắc Bộ 115

5.2.5.1.Hoàng thành Thăng Long 115

5.2.5.2.Điểm du lịch Yên Tử 116

5.2.5.3.Điểm du lịch thành phố Bắc Ninh 117

5.2.5.4.Điểm du lịch chùa Hương 118

5.2.5.5.Điểm du lịch Vân Long 120

5.2.5.6 Điểm du lịch Phố Hiến 122

5.2.5.7.Điểm du lịch đền Trần - Phủ Giầy 122

5.3.VÙNG DU LỊCH BẮC TRUNG BỘ 123

5.3.1 Khái quát vùng du lịch Bắc Trung Bộ 123

5.3.2 Tài nguyên du lịch 123

5.3.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 123

5.3.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 127

5.3.3.Sản phẩm du lịch đặc trưng: 129

5.3.4 Các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch 130

5.3.5 điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia và quôc tế 130

5.3.5.1 Các điểm, tuyến vùng du lịch Bắc Trung Bộ 130

5.3.5.2.Tuyến du lịch 134

5.3.5.Điểm du lịch quốc gia thuộc vùng du lịch Bắc Trung Bộ 135

5.3.5.1.Điểm du lịch Thành nhà Hồ 135

5.3.5.2.Điểm du lịch Lưu niệm Nguyễn Du 137

5.3.5.3.Điểm du lịch Ngã Ba Đồng Lộc 138

5.3.5.4.Điểm du lịch Thành Phố Đồng Hới 138

4

Trang 5

5.3.5.5.Điểm du lịch Thành cổ Quảng Trị 141

5.3.5.6.Điểm du lịch Bạch Mã 142

5.4.VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ 144

5.4.1.Khái quát vùng Duyên hải Nam Trung Bộ 144

5.4.2.Điều kiện tài nguyên du lịch 145

5.4.2.1.Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 145

5.4.2.2.Tài nguyên nhân văn 146

5.4.3 Hướng khai thác sản phẩm đặc trưng: 148

5.4.4 Các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch 148

5.4.5 Các điểm du lịch quốc gia thuộc vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ149 5.4.5.1.Điểm du lịch Ngũ Hành Sơn 149

5.4.5.1.Điểm du lịch Mỹ Sơn 150

5.4.5.5.Điểm du lịch Lý Sơn 152

5.4.5.6.Điểm du lịch Trường Sa 154

5.4.5.7.Điểm du lịch Phú Quý 154

5.5 VÙNG TÂY NGUYÊN 155

5.5.1.Khái quát về vùng du lịch Tây Nguyên: 155

5.5.2 Tài nguyên du lịch 155

5.5.2.1.Tài nguyên du lịch tự nhiên 156

5.5.2.2.Tài nguyên du lịch nhân văn 156

5.5.3.Hướng khai thác sản phẩm đặc trưng: 156

5.5.4.Các địa bàn hoạt động du lịch chủ yếu: 157

5.5.5.Điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia thuộc vùng du lịch Tây Nguyên 158

5.6.VÙNG ĐÔNG NAM BỘ 160

5.6.1.Khái quát về vùng du lịch Đông Nam Bộ 160

5.6.2.Tài nguyên du lịch 161

5.6.2.1.Tài nguyên du lịch tự nhiên 161

5.6.2.1.Tài nguyên du lịch nhân văn 161

5.6.3 Các sản phẩm du lịch đặc trưng: 162

5.6.4 Các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch 163

5.6.5 Các điểm du lịch quốc gia thuộc vùng du lịch Đông Nam Bộ 163

5.6.5.1.Điểm du lịch TW cục Miền Nam 163

5.6.5.2.Điểm du lịch Cát Tiên 165

5.6.5.3 Địa đạo Củ Chi 166

5.7.VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 167

5

Trang 6

5.7.1 Khái quát vùng Đồng bằng sông Cửu Long 167

5.7.2 Điều kiện tài nguyên 168

5.7.2.1.Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 168

5.7.3 Các sản phẩm du lịch đặc trưng 170

5.7.4.Các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch 170

5.7.5 Các điểm du lịch quốc gia thuộc vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 172

5.7.5.1.Vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp) 172

5.7.5.2.Điểm du lịch Láng Sen 172

5.7.5.4.Điểm du lịch Núi Sam 174

5.7.5.5.Thành phố Cần Thơ 175

5.7.5.6.Điểm du lịch thị xã Hà Tiên 176

5.7.5.7.Điểm du lịch lưu niệm Cao Văn Lầu 178

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 5 181

TÀI LIỆU THAM KHẢO 182

BÀI MỞ ĐẦU

1 ĐỐI TƯỢNG

Đối tượng nghiên cứu địa lý du lịch ngày nay được thống nhất như sau:

- Địa lý du lịch nghiên cứu hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch

Trong hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi, du lịch bao gồm 5 thành phần (hay 5 phân hệ)

có mối liên hệ chặt chẽ với nhau:

+ Phân hệ khách du lịch: là phân hệ trung tâm, quyết định những yêu cầu đối với các

thành phần khác của hệ thống, bởi vì các thành phần này phụ thuộc vào đặc điểm (xã hội – nhân khẩu, dân tộc…) của khách du lịch Các đặc trưng của phân hệ khách là cấu trúc và lượng nhu cầu, tính lựa chọn, tính mùa và tính đa dạng của các lượng khách du lịch

+ Phân hệ tổng thể tự nhiên, lịch sử - văn hoá tham gia hệ thống với tư cách là tài nguyên du lịch, là điều kiện để thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi – du lịch và là cơ sở lãnh thổ cho việc hình thành hệ thống Phân hệ này có sức chứa, độ tin cậy, tích thích hợp, ổn định và hấp dẫn Nó được đặc trưng bằng lượng nhu cầu, diện tích phân bố và thời gian khai thác

6

Trang 7

7+ Phân hệ các công trình kỹ thuật: đảm bảo cuộc sống bình thường của khách

du lịch, nhân viên phục vụ (ăn, ở, đi lại) và những nhu cầu giá trị đặc biệt như chữabệnh Toàn bộ công trình kỹ thuật tạo nên cơ sở hạ tầng của du lịch Nét đặc trưngcủa phân hệ là sức chứa, tính đa dạng, tính thích hợp, mức độ chuẩn bị khai thác.+ Phân hệ cán bộ nhân viên phục vụ : hoàn thành chức năng dịch vụ chokhách và đảm bảo cho các xí nghịêp hoạt động bình thường Sô lượng, trình độchuyên môn - nghề nghịêp của đội ngũ cán bộ nhân viên và mức độ đảm bảo lựclượng lao động là những đặc trưng chủ yếu của phân hệ

+ Phân hệ cơ quan điều khiển có nhiệm vụ giữ cho cả hệ thống nói chung vàtừng phân hệ nói riêng hoạt động tối ưu

- Phát hiện quy luật hình thành, phát triển và phân bố của nó thuộc mọi kiểu, mọicấp

- Dự báo và nêu lên những biện pháp để hệ thống ấy hoạt động một cách tối ưu

2 NHIỆM VỤ CỦA ĐỊA LÝ DU LỊCH

- Nghiên cứu tổng hợp mọi loại tài nguyên du lịch

- Nghiên cứu nhu cầu du lịch

- Xây dựng cơ cấu lãnh thổ tối ưu của vùng du lịch

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống

- Phương pháp nghiên cứu thực địa

- Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin Địa lý (GIS)

- Phương pháp toán học

- Phương pháp xã hội học

- Phương pháp dự báo

7

Trang 8

1.1.KHÁI NIỆM CHUNG:

Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, nănglượng và thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan mà conngười có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình

Tài nguyên được phân loại theo tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các nhân

tố tự nhiên, và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố về con người và xãhội

Dựa vào khả năng tái tạo, tài nguyên được phân thành tài nguyên tái tạo được

và tài nguyên không tái tạo được Tài nguyên tái tạo được là những tài nguyên dựavào nguồn năng lượng được cung cấp hầu như liên tục và vô tận từ vũ trụ tới tráiđất, dựa vào các quy luật tự nhiên đã hình thành để tiếp tục tồn tại, phát triển và chỉmất đi khi không còn nguồn năng lượng và thông tin Tài nguyên tái tạo được cũng

có thể được định nghĩa một cách đơn giản hơn, là những tài nguyên có thể tự duy

8

Trang 9

9trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục nếu được khai thác và quản lý tốt (Jorgensen.

Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung Khái niệmtài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch

Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác

-có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch (Luật du lịch, 2005) Như vậy,

tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch Thực tế cho thấy, tàinguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệuquả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu

Tài nguyên du lịch bao gồm các yếu tố liên quan đến các điều kiện tự nhiên,điều kiện lịch sử - văn hoá, kinh tế - xã hội vốn có trong tự nhiên hoặc do conngười tạo dựng nên Các yếu tố này luôn luôn tồn tại và gắn liền với môi trường tựnhiên và môi trường xã hội đặc thù của mỗi địa phương, mỗi quốc gia tạo nênnhững điểm đặc sắc cho mỗi địa phương, mỗi quốc gia đó Khi các yếu tố nàyđược phát hiện, được khai thác và sử dụng cho mục đích phát triển du lịch thìchúng sẽ trở thành tài nguyên du lịch Cách đây hơn 30 năm khu rừng nguyên sinhCúc Phương đã được phát hiện Năm 1962 Chính phủ ra quyết định cho phép xâydựng thành vườn quốc gia và đến năm 1966, Cúc Phương đã chính thức trở thànhvườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam Cũng từ thời điểm này khi tính đa dạng sinhhọc của vườn quốc gia được khai thác phục vụ mục đích du lịch, khu rừng nguyênsinh này trở thành một điểm tài nguyên du lịch đặc sắc, một điểm du lịch có sứchấp dẫn cao đối với khách du lịch trong nước và quốc tế Tương tự như vậy, cũng

9

Trang 10

10chỉ mới cách đây hơn 5 năm, năm 1993, động Thiên Cung, một động đá vôinguyên sơ, kỳ ảo ở vịnh Hạ Long được phát hiện, khai thá sử dụng để trở thànhmột điểm du lịch mới hấp dẫn đã làm phong phú và tăng thêm giá trị của tàinguyên du lịch của khu du lịch nổi tiếng này.

Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch đang khai thác, tài nguyên du lịch chưakhai thác

Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch phụ thuộc vào:

- Khả năng nghiên cứu phát hiện và đánh giá các tiềm năng tài nguyên vốn còntiềm ẩn

- Yêu cầu phát triển các sản phẩm du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách dulịch Các nhu cầu này ngày một lớn và đa dạng phụ thuộc vào mức sống và trình độdân trí Ví dụ, vào những năm 60, du lịch biển ở nước ta chủ yếu là tắm và nghỉdưỡng biển thì ngày nay các sản phẩm du lịch biển đã đa dạng hơn bao gồm cả lặnbiển, lướt ván, tham quan các hệ sinh thái biển v.v

- Trình độ phát triển khoa học công nghệ nhằm tạo ra các phương tiện để khaithác các tiềm năng tài nguyên Ví dụ nếu như trước đây du lịch thám hiểm đáy biểnchỉ là ước mơ thì ngày nay với các tàu ngầm chuyên dụng khách du lịch có thểtham quan khám phá những điều kỳ diệu của đại dương một cách dễ dàng Trongtương lai, với sự phát triển nhanh chóng về khoa học và công nghệ, du khách sẽ có

cơ hội đi du lịch ở những hành tinh xa xôi ngoài trái đất

Như vậy cũng giống như các dạng tài nguyên khác, tài nguyên du lịch có phạm trùlịch sử và có xu hướng ngày càng được mở rộng Sự mở rộng của tài nguyên dulịch thường tuỳ thuộc rất nhiều vào yêu cầu phát triển du lịch, vào những tiến bộkhoa học kỹ thuật, vào sự đầu tư, vào các sáng kiến và sở thích của con người.Bên cạnh những tài nguyên đã và đang được khai thác, nhiều tài nguyên du lịchcòn tồn tại dưới dạng tiềm năng do:

- Chưa được nghiên cứu điều tra và đánh giá đầy đủ

- Chưa có nhu cầu khai thác do khả năng "cầu" còn thấp

- Tính đặc sắc của tài nguyên thấp hoặc chưa đủ tiêu chuẩn cần thiết để khaithác hình thành các sản phẩm du lịch

10

Trang 11

- Các điều kiện để tiếp cận hoặc các phương tiện để khai thác hạn chế do đóchưa có khả năng hoặc gặp nhiều khó khăn trong khai thác

- Chưa đủ khả năng đầu tư để khai thác

Trong thực tế, ở nước ta, nhiều di tích lịch sử văn hoá, lịch sử cách mạng mặc dù

đã được xếp hạng song chưa được khai thác phục vụ du lịch; nhiều khu rừngnguyên sinh với tính đa dạng sinh học cao, nhiều bãi biển đep ở miền Trung, nhiều

lễ hội v.v vẫn còn tồn tại ở dạng tiềm năng du lịch do chưa hội đủ các điều kiện

để khai thác đưa vào sử dụng

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA TÀI NGUYÊN DU LỊCH

Để có thể khai thác và sử dụng tốt nhất các tài nguyên du lịch trước hết cầnphải tìm hiểu và nghiên cứu các đặc điểm của nguồn tài nguyên này Tài nguyên dulịch có các đặc điểm chính sau đây:

1.2.1 Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc và độc đáo có sức hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch.

Khác với nhiều loại tài nguyên khác, tài nguyên du lịch rất phong phú và đadạng Đặc điểm này của tài nguyên du lịch là cơ sở để tạo nên sự phong phú củacác sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch Thí dụđối với loại hình tham quan, nghiên cứu phục vụ cho mục đích nâng cao nhận thứccủa khách du lịch thì tài nguyên du lịch có thể là các lễ hội, những sinh hoạt truyềnthống của một vùng quê, các di tích lịch sử - văn hoá, các bản làng dân tộc ít người

ở miền núi, các viện bảo tàng, các thành phố, các thác nước, hang động hay cáccánh rừng nguyên sinh có tính đa dạng sinh học cao Đối với loại hình du lịchnghỉ mát, chữa bệnh nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ thì tài nguyên du lịch cầnkhai thác lại là các bãi biển, các vùng núi cao khí hậu trong lành, có phong cảnhđẹp, các suối khoáng Đặc biệt, nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc và độc đáo cósức hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch Ví dụ Kim tự tháp ở Ai Cập, Vạn lýTrường thành ở Trung Quốc, Thủ đô Pari của Pháp, vùng núi Anpơ ở Châu Âu, cácvườn quốc gia ở Châu Phi, vùng biển Caribê ở Trung Mỹ là những địa danh dulịch lý tưởng hàng năm thu hút hàng chục triệu khách du lịch

Ở Việt Nam, vịnh Hạ Long và cố đô Huế là những tài nguyên du lịch đặc sắc càngtrở nên hấp dẫn hơn đối với khách du lịch khi được UNESCO công nhận là di sản

11

Trang 12

12thiên nhiên và di sản văn hoá thế giới Chắc chắn đây sẽ là những địa danh thu hútngày càng đông khách du lịch tới thăm.

Nếu chỉ đơn thuần tính toán dưới góc độ kinh tế thì hiệu quả thu được từ việc khaithác các tài nguyên du lịch là rất to lớn, có khi vượt trội hơn rất nhiều lần so vớiviệc khai thác các tài nguyên khác

- Tài nguyên du lịch là những tài nguyên không chỉ có giá trị hữu hình mà còn cónhững giá trị vô hình Đây có thể được xem là một trong những đặc điểm quantrọng của tài nguyên du lịch khác với những loại tài nguyên khác

Trong thực tế, tài nguyên du lịch là phương tiện vật chất trực tiếp tham giavào việc hình thành các sản phẩm du lịch Đây chính là những giá trị hữu hình củatài nguyên du lịch Ví dụ tắm biển là sản phẩm du lịch biển điển hình quan trọngđược hình thành trên cơ sở sự tồn tại hữu hình của các bãi cát biển, nước biển vớinhững đặc điểm tự nhiên cụ thể Tuy nhiên nếu chỉ hiểu ở khía cạnh vật chất nàycủa tài nguyên du lịch thì chưa đầy đủ bởi không phải bãi biển vào cũng được khaithác phát triển thành điểm du lịch Nguyên nhân của thực trạng trên ngoài yếu tốhạn chế của các điều kiện để khai thác thì quan trọng hơn cả là do sự hạn chế về

"giá trị vô hình" của tài nguyên Giá trị vô hình này của tài nguyên du lịch đượckhách du lịch cảm nhận thông qua những cảm xúc tâm lý; làm thoả mãn nhu cầutinh thần (thẩm mỹ, văn hoá) - một nhu cầu đặc biệt của khách du lịch Giá trị vôhình của tài nguyên du lịch nhiều khi còn được thể hiện thông qua những thông tin(nghe kể lại, qua báo chí, truyền hình, quảng cáo ) mà khách du lịch cảm nhậnđược, ngưỡng mộ và mong muốn được đến tận nơi để thưởng thức Ở Trung Quốc

có câu "Bất đáo Trường thành phi hảo hán" để nói về Vạn lý Trường thành, ở ViệtNam có "Nam thiên Đệ nhất Động" ca ngợi vẻ đẹp động Hương Tích hoặc các disản, kỳ quan thế giới đều là những giá trị vô hình đã làm tăng thêm giá trị của tàinguyên du lịch lên rất nhiều

1.2.2 Tài nguyên du lịch thường dễ khai thác.

Hầu hết các tài nguyên du lịch được khai hác để phục vụ du lịch là các tàinguyên vốn đã sẵn có trong tự nhiên do tạo hoá sinh ra hoặc do con người tạo dựngnên và thường dễ khai thác Trên thực tế một cánh rừng nguyên sinh, một thácnước, một bãi biển, một hồ nước (tự nhiên hoặc nhân tạo) đều có thể trở thành mộtđiểm du lịch Đây là những tài nguyên vô giá cả về nghĩa đen và nghĩa bóng Con

12

Trang 13

13người khó lòng có thể tạo nên các tài nguyên du lịch bởi vô cùng tốn kém và dù có

mô phỏng lại được thì cũng không thể lột tả hết được sức sáng tạo phi thường củatạo hoá và vì thế sẽ giảm đi rất nhiều về giá trị và độ hấp dẫn

Với tất cả những gì đã sẵn có của tài nguyên du lịch, chỉ cần đầu tư không lớnnhằm tôn tạo, để vừa tôn thêm vẻ đẹp và giá trị của tài nguyên, vừa tạo ra nhữngđiều kiện thuận lợi để khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên này

1.2.3 Tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau.

Trong số các tài nguyên du lịch, có những tài nguyên có khả năng khai thácquanh năm, có những tài nguyên lệ thuộc nhiều vào thời gian khai thác và cũng cónhững tài nguyên ít lệ thuộc vào thời gian hơn Sự lệ thuộc này chủ yếu dựa theoquy luật diễn biến của khí hậu

Đối với các tài nguyên du lịch biển, thời gian khai thác thích hợp nhất là vàothời kỳ có khí hậu ấm áp trong năm Điều này giải thích vì sao du lịch biển thườngchỉ tổ chức vào mùa hè ở khu vực phía Bắc Ở khu vực từ Đà Nẵng trở vào, nơi ítchịu ảnh hưởng của không khí lạnh, hoạt động du lịch biển có thể tổ chức quanhnăm Ngược lại tài nguyên du lịch vùng núi ôn đới thường được khai thác vào mùađông phục vụ khách du lịch nghỉ đông, trượt tuyết và chơi các môn thể thao mùađông Đối với các lễ hội, bên cạnh các tập quán là các nghi lễ tôn giáo cũng đãđược ấn định vào các thời kỳ khác nhau trong năm và vì thế các hoạt động du lịch

lệ thuộc vào thời gian diễn ra các lễ hội đó Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nước ta,mùa xuân là mùa của lễ hội với các lễ hội nổi tiếng như Hội Lim, Hội Gióng, HộiChùa Hương, Hội Đền Hùng

Đối với nhiều loại hình du lịch, thời kỳ mùa khô, ít mưa, có tiết trời ấm áp và

có thời tiết tốt là thời kỳ thuận lợi cho hoạt động du lịch

Tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau đã quyết định tính chấtmùa vụ của hoạt động du lịch Các địa phương, những người quản lý, điều hành và

tổ chức các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch và cả các khách du lịch nữa đềuphải quan tâm đến tính chất này để có các biện pháp chủ động điều tiết thích hợpnhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc của mình

1.2.4.Tài nguyên du lịch được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch

13

Trang 14

14Các tài nguyên du lịch thường được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm.Các sản phẩm du lịch này được khách du lịch đến tận nơi để thưởng thức Đâycũng là đặc điểm mà tài nguyên du lịch khác với một số tài nguyên khác Đối vớinhiều loại tài nguyên khác, sau khi khai thác có thể được vận chuyển đi nơi khác

để được chế biến thành sản phẩm rồi được đưa đến tận nơi người tiêu thụ

Chính vì khách du lịch phải đến tận các điểm du lịch, nơi có các tài nguyên dulịch và thưởng thức các sản phẩm du lịch nên muốn khai thác các tài nguyên nàyđiều đầu tiên cần quan tâm là phải chuẩn bị tốt các cơ sở hạ tầng, các cơ sở vật chất

kỹ thuật du lịch và vận chuyển khách du lịch Đây cũng là một lợi thế của các điểm

du lịch có nguồn tài nguyên du lịch đặc sắc để Nhà nước quan tâm xây dựng cơ sở

hạ tầng và thu hút các nguồn vốn đầu tư nhằm thu hút và phục vụ khách du lịchđến các địa phương đó Đồng thời cũng đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ củacác ngành, các cấp nhằm tạo những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch Thực

tế cho thấy những điểm du lịch có vị trí địa lý thuận lợi, thuận tiện đường giaothông và có các cơ sở dịch vụ du lịch tốt thì hoạt động du lịch ở đó sẽ đạt đượchiệu quả cao Ngược lại có những điểm du lịch có nguồn tài nguyên du lịch rất đặcsắc như Ghềnh Đá Đĩa ( Phú Yên), Đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), Bạch Mã (ThừThiên Huế) nhưng vì ở vị trí quá xa xôi, cách trở đường đi lối lại và phương tiệngiao thông gặp nhiều khó khăn nên đã ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng thu hútkhách du lịch Nếu được đầu tư tốt hơn về cơ sở hạ tầng và phương tiện vậnchuyển khách, chắc chắn chẳng bao lâu nữa các điểm du lịch này sẽ trở nên sầmuất

1.2.5.Tài nguyên du lịch có thể sử dụng được nhiều lần.

Đây cũng là một đặc điểm quan trọng của tài nguyên du lịch khác với nhiềutài nguyên khác không có khả năng tái tạo chỉ sử dụng được một lần và ngày càngcạn kiệt Các tài nguyên du lịch được xếp vào loại tài nguyên có khả năng tái tạo

và sử dụng lâu dài Vấn đề chính là phải nắm được quy luật của tự nhiên, lườngtrước được sự thử thách khắc nghiệt của thời gian và những biến động, đổi thay docon người gây nên để có những định hướng lâu dài và các biện pháp cụ thể để khaithác sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên này, đảm bảo cho nguồn tài nguyên đượckhai thác dưới mức chịu đựng của nó, không ngừng được bảo vệ, tôn tạo và hoànthiện hơn để đáp ứng các nhu cầu phát triển du lịch

14

Trang 15

15Đây cũng là lẽ sống còn của mỗi điểm du lịch, mỗi khu du lịch nhằm thựchiện phương hướng chiến lược phát triển du lịch bền vững Chỉ có phát triển dulịch bền vững mới đảm bảo để nguồn tài nguyên du lịch ít bị tổn hại, để mỗi điểm

du lịch, mỗi khu du lịch ngày càng trở nên hấp dẫn hơn, không ngừng thoả mãn cácnhu cầu phát triển du lịch hiện tại, mà còn sẵn sàng để đáp ứng yêu cầu phát triển

du lịch trong tương lai

1.3 VAI TRÒ, Ý NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN DU LỊCH:

1.3.1.Vai trò:

Vai trò của tài nguyên du lịch đối với các hoạt động du lịch được thể

hiện cụ thể trên các mặt sau đây:

1.3.1.1.Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch được tạo bởi nhiều yếu tố, song trước hết phải kể đến tàinguyên du lịch Để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của khách du lịch, các sản phẩm dulịch không thể đơn điệu, nghèo nàn, kém hấp dẫn dễ gây nhàm chán, mà cần phảiphong phú, đa dạng, đặc sắc và mới mẻ Chính sự phong phú và đa dạng của tàinguyên du lịch đã tạo nên sự phong phú và đa dạng của sản phẩm du lịch

Tài nguyên du lịch càng đặc sắc, độc đáo thì giá trị của sản phẩm du lịch và

độ hấp dẫn khách du lịch càng tăng Có thể nói chất lượng của tài nguyên du lịch

sẽ là yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng sản phẩm du lịch hiệu quả của hoạt động dulịch

- Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch

Trong quá trình phát triển du lịch, để không ngừng đáp ứng các yêu cầu và thoảmãn các mục đích của khách du lịch, các loại hình du lịch mới cũng không ngừngxuất hiện và phát triển

Các loại hình du lịch ra đời đều phải dựa trên cơ sở của tài nguyên du lịch Vàchính sự xuất hiện của các loại hình du lịch đã làm cho nhiều yếu tố của điều kiện

tự nhiên và xã hội trở thành tài nguyên du lịch Không có những hang động ngầm

bí ẩn, những đỉnh núi cao hiểm trở, những cánh rừng nguyên sinh âm u, hoangvắng thì không thể xuất hiện loại hình du lịch thám hiểm Không có những bãi san

15

Trang 16

Hệ thống lãnh thổ du lịch thể hiện mối quan hệ về mặt không gian của các yếu

tố có quan hệ mật thiết với nhau cấu tạo nên nó Các yếu tố đó là khách du lịch, tàinguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đội ngũ cán bộcông nhân viên và tổ chức điều hành, quản lý du lịch

Hệ thống lãnh thổ du lịch có nhiều cấp phân vị khác nhau từ điểm du lịch tớitrung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á vùng và vùng du lịch Dù ở cấp phân vị nàothì tài nguyên du lịch cũng đều đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức lãnh thổ

du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sựhấp dẫn du lịch, tạo điều kiện để có thể khai thác một cách có hiệu quả nhất cáctiềm năng của nó

Do đặc điểm phân bố của tài nguyên du lịch, trong tổ chức lãnh thổ du lịch đãhình thành nên các điểm du lịch, các cụm du lịch, các trung tâm du lịch và cáctuyến du lịch Từ các tuyến điểm du lịch này trong quá trình khai thác sẽ được lựachọn, sắp xếp thành các tour du lịch tức là các sản phẩm du lịch cụ thể cung cấpcho khách du lịch Tổ chức lãnh thổ du lịch hợp lý sẽ góp phần tạo nên hiệu quảcao trong việc khai thác các tài nguyên du lịch nói riêng cũng như trong mọi hoạtđộng du lịch nói chung

1.3.2 Ý nghĩa:

Tài nguyên du lịch là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển dulịch Thật khó hình dung nếu không có tài nguyên du lịch hoặc tài nguyên du lịchquá nghèo nàn mà hoạt động du lịch lại có thể phát triển mạnh mẽ được

1.3.3 Phân loại:

Tài nguyên du lịch rất phong phú đa đạng song có thể phân chia làm ba dạng cơbản là +Tài nguyên tự nhiên

16

Trang 17

17+ Tài nguyên nhân văn

Phát triển nói chung là quá trình vận động tự hoàn thiện và nâng lên

ở mức cao hơn về qui mô và chất lượng của một thực thể Phát triển là xu

hướng tự nhiên của vật chất nói chung, của xã hội loài người nói riêng

Phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về

vật chất và tinh thần của con người bằng phát triển lực lượng sản xuất,

quan hệ sản xuất, nâng cao các giá trị văn hóa cộng đồng

Đối với mỗi quốc gia quá trình phát triển phải nhằm đạt tới một

mục tiêu nhất định tiêu biểu cho mức sống vật chất và tinh thần của mỗi

người dân ở quốc gia đó

Các mục tiêu phát triển thường được cụ thể hoá bằng những chỉ

tiêu về đời sống vật chất như lương thực, nhà ở, điều kiện đảm bảo sức

khoẻ và đời sống tinh thần như giáo dục, mức hưởng thụ văn hoá, nghệ

thuật, sự bình đẳng xã hội, tự do chính trị, truyền thống lịch sử của từng

quốc gia

Sự phát triển của mỗi quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào sự phát

triển của các ngành kinh tế trên cơ sở khai thác các tiềm năng về tài

nguyên và thế mạnh của mình Mỗi quốc gia hiện nay đều có những

đường lối, chính sách, mục tiêu và chiến lược phát triển riêng, đem lại

những hiệu quả khác nhau

trong quá trình phát triển Song có một điều chung mà tất cả các quốc

gia đều hướng tới là đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội

nói chung và của từng ngành kinh tế nói riêng trong mối quan hệ với

tài nguyên và môi trường

Giữa phát triển với tài nguyên và môi trường có một mối quan hệ

rất chặt chẽ Tài nguyên là cơ sở nền tảng cho sự phát triển, môi trường

là tổng hợp các điều kiện và là đối tượng của phát triển

17

Trang 18

18Trong phạm vi một quốc gia cũng như xét trên phạm vi toàn thếgiới luôn song song tồn tại hai hệ thống: hệ thống kinh tế - xã hội và hệthống tài nguyên môi trường Hệ thống kinh tế - xã hội được xác lập bởicộng đồng dân cư, các hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế, tiêu dùng

và tích luỹ với một dòng nguyên liệu, năng lượng, hàng hoá, phế thảiđược lưu thông - phân phối - giữa các phần tử cấu thành hệ

Hệ thống tài nguyên và môi trường với các thành phần bao gồmtài nguyên tự nhiên và môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội nhânvăn

Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của loài người nói chung vàcủa mỗi quốc gia nói riêng được thực hiện ở nơi giao nhau của 2 hệ thốngnói trên Đây có thể coi là kết quả tích luỹ của những hoạt động tích cựchoặc tiêu cực của con người trong quá trình phát triển đối với tài nguyên

và môi trường

Hệ thống tài nguyên - môi trường cung cấp tài nguyên cho hệ kinh

tế - xã hội, đồng thời tiếp nhận chất thải từ hệ này Các chất thải có thể

ở lại vĩnh viễn trong môi trường thiên nhiên, hoặc qua chế biến lại quaytrở lại hệ kinh tế - xã hội Một hoạt động sản xuất mà chất phế thải từ đókhông thể sử dụng trở lại được vào hệ kinh tế - xã hội được xem là hoạtđộng gây tổn hại đến môi trường Lãng phí tài nguyên không tái tạođược, sử dụng tài nguyên tái tạo được một cách quá mức khiến cho nókhông thể phục hồi được, hoặc phục hồi lại sau một thời gian quá dài,tạo ra những chất độc hại đối với con người và môi trường sống của nóđều là những hoạt động gây tổn hại đến môi trường Những hành độnggây nên những tác động như vậy là những hành động tiêu cực về tàinguyên và môi trường trong quá trình phát triển Các hoạt động phát triểnluôn luôn có 2 mặt lợi và hại Một mặt thúc đẩy sự phát triển lên một tầmmới cao hơn song mặt khác cũng tạo ra những tiền đề để kìm hãm sự pháttriển thông qua sự cạn kiệt về tài nguyên và sự xuống cấp về môi trườngnếu như các hoạt động tiêu cực không được kiểm soát

Khoa học kinh tế cổ điển không thể giải quyết thành công mối quan

hệ phức tạp giữa phát triển và tài nguyên, môi trường Từ đó nảy sinh

18

Trang 19

lý thuyết không tưởng về "đình chỉ phát triển" (Zero or NegativeGrowth), cụ thể là cho tốc độ phát triển bằng không hoặc âm để bảo vệnguồn tài nguyên vật lý vốn hữu hạn của Trái Đất Đối với tài nguyênsinh học cũng có "chủ nghĩa bảo vệ" chủ trương không can thiệp, độngchạm vào thiên nhiên, nhất là trên các địa bàn chưa được điều tranghiên cứu đầy đủ Chủ nghĩa bảo tồn (Conservationism) cũng là mộtđiều không tưởng, đặc biệt trong điều kiện của các nước đang phát triển,nơi tài nguyên thiên nhiên là nguồn vốn cơ bản cho mọi hoạt động pháttriển của xã hội

Hiện nay trên thế giới có một nghịch lý tồn tại trong sự phát triển

là các nước giàu và phát triển lại càng giàu và phát triển hơn mà ít cónhững tác động đến nguồn tài nguyên của mình do một phần đáng kểnguyên liệu, năng lượng được sử dụng ở các nước này được khai thác từcác nước nghèo, chậm hoặc đang phát triển Bên cạnh hiện tượng "ônhiễm do giàu có" (Pollution of Affluence) xảy ra tại các nước côngnghiệp phát triển, trong những thập kỷ gần đây, tại hầu hết các nước đangphát triển, thu nhập thấp đã xuất hiện hiện tượng "ô nhiễm do nghèo đói"(Pollution of Poverty) mà một trong những nguyên nhân là do hiệntượng trên Thiếu lương thực, nước sạch sinh hoạt, nghèo đói,

thất học là nguồn gốc cơ bản của những tác động tiêu cực đối với tàinguyên, môi trường trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đang lànhững vấn đề nghiêm trọng đặt ra trước các nước đang phát triển

Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về môi trường họp năm 1972 ở Thuỵ

Sĩ đã đi đến kết luận rằng nguyên nhân của nhiều vấn đề quan trọng vềmôi trường không phải là do phát triển mà chính là hiệu quả của kémphát triển Tư tưởng đó đã được thể hiện trong chiến lược phát triển 10năm lần thứ ba của Liên Hiệp Quốc Chiến lược đã đề cập tới mốiquan hệ giữa phát triển với môi trường, dân số, tài nguyên thiên nhiên,bảo vệ rừng, vệ sinh các khu "ổ chuột" trong các thành phố Những tưtưởng về "tiếp cận tổng hợp về môi trường và phát triển", "Phát triểnmột cách có thể duy trì và phù hợp với môi trường", đã được nêu ra mộtcách rõ ràng Đối với tất cả các nước, nhất là các nước đang phát triển,

19

Trang 20

20các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường phảiđược gắn bó với nhau trong xây dựng mục tiêu, xác định chiến lược, kếhoạch hoá, cũng như điều hành và quản lý thực hiện các mục tiêu đó.Hội nghị Thượng đỉnh toàn cầu về môi trường và phát triển bền vững doLiên Hiệp Quốc tổ chức năm 1992 tại Rio de Janiero (Brazin), với nhữngquyết định về chương trình hành động toàn cầu tới thế kỷ 21, với cáccông ước về bảo vệ đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu trái đất là mốclịch sử quan trọng trong cuộc đấu tranh bảo vệ môi trường của nhân dântoàn thế giới.

1.4.2.Khái niệm về phát triển du lịch bền vững:

Sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội nói chung và của bất

kỳ ngành kinh tế nào cũng cần đạt được 3 mục tiêu cơ bản:

-Bền vững về kinh tế

-Bền vững về tài nguyên và môi trường

-Bền vững về văn hoá xã hội

Đối với tính bền vững về kinh tế, sự phát triển bền vững thể hiện ởquá trình tăng trưởng liên tục theo thời gian hoặc không có sự đi xuốngxét về chỉ tiêu kinh tế

Sự phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường đòi hỏi trongquá trình khai thác sử dụng tài nguyên để đáp ứng nhu cầu hiện tạikhông làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tươnglai Điều này được thể hiện ở việc sử dụng tài nguyên một cách hợp lý,đảm bảo sự bảo tồn đa dạng sinh học, không có những tác động tiêu cựcđến môi trường

Đối với mục tiêu bền vững về văn hoá xã hội thì sự phát triểnbền vững cần đảm bảo đem lại những lợi ích lâu dài cho xã hội như tạocông ăn việc làm cho người lao động góp phần nâng cao mức sống củangười dân và sự ổn định xã hội đồng thời bảo tồn các giá trị văn hoá

Du lịch được coi là ngành công nghiệp lớn nhất trên phạm vi toànthế giới, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế, vào sự bảo tồn cácgiá trị văn hoá có tính toàn cầu cũng như có tác động đến mọi khía cạnh

20

Trang 21

tế nào đó nói riêng Điều đó có nghĩa là sự phát triển du lịch bền vững

"là sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hạiđến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của các thế hệ tương lai" Điềunày cũng đòi hỏi trong quá trình phát triển đảm bảo được sự bền vững vềkinh tế, về tài nguyên môi trường du lịch và về văn hoá xã hội

Bền vững về kinh tế trong trường hợp này là "sự phát triển ổn địnhlâu dài" của du lịch, tạo ra nguồn thu đáng kể, góp phần tích cực vào

sự tăng trưởng kinh tế của xã hội, đem lại lơi ích cho cộng đồng, đặc biệt

là người dân địa phương Điều này rất quan trọng bởi vì nếu không quantâm đến lợi ích của cộng đồng địa phương thì sẽ không có lý do khiến họbảo vệ những gì mà du khách muốn được hưởng lợi từ du lịch, mức sốngcủa họ được cải thiện nhờ du lịch thì họ sẽ có mọi lý do để bảo vệ nguồnthu nhập này bằng cách bảo vệ tài nguyên và môi trường, bảo vệ các giátrị văn hoá truyền thống để khách du lịch tiếp tục tới Chia sẻ lợi ích dulịch cũng là phương cách tích cực trong cuộc sống xoá đói giảm nghèo,đem lại cơ hội nâng cao mức sống cho người dân địa phương, góp phầntăng trưởng kinh tế ở những vùng còn khó khăn

Bền vững về tài nguyên và môi trường là "việc sử dụng các tàinguyên không vượt quá khả năng tự phục hồi của nó sao cho đáp ứngđược nhu cầu phát triển hiện tại song không làm suy yếu khả năng táitạo trong tương lai để đáp ứng được nhu cầu của thế hệ mai sau"

Hiện nay tài nguyên và môi trường nói chung và tài nguyênmôi trường du lịch nói riêng ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có ViệtNam đang phải chịu những tác động tiêu cực của sự phát triển kinh tế -

xã hội và đang trong quá trình cạn kiệt và suy thoái Đây là nguy cơ ảnhhưởng đến tính bền vững trong phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt là du

21

Trang 22

22lịch bởi du lịch là ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt và có mối quan

hệ mật thiết với môi trường Nếu tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệtkhông còn khả năng phục hồi, các giá trị văn hoá bị huỷ hoại, môitrường bị suy thoái thì chắc chắn sẽ không còn du lịch Trên thế giớinói chung và ở Việt Nam nói riêng đã có nhiêu bài học kinh nghiệmthực tiễn về vấn đề này

Lấy ví dụ ở Sầm Sơn, cùng với sự phát triển về các hoạt động dulịch và sự gia tăng nhanh chóng lượng khách, môi trường tự nhiên vànhân văn ở Sầm Sơn lại có chiều hướng xấu đi nhiều Bãi tắm bị ô nhiễm

do chất thải sinh hoạt khu vực dân cư lân cận và của khách thải ra, các ditích thắng cảnh nổi tiếng ở khu vực này như hòn Trống Mái, đền ĐộcCước, đền Cô Tiên bị hàng quán lấn chiếm, không được bảo vệ tôn tạonên đã xuống cấp nghiêm trọng, tình trạng ăn xin, ép khách mua hàng, ngày một gia tăng Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển dulịch của Sầm Sơn và hậu quả là khách du lịch đến Sầm Sơn trongnhững năm gần đây giảm xuống rõ rệt Nhận thức được vấn đề này,Nhà nước đã chỉ đạo Tổng cục Du lịch tiến hành qui hoạch lại khu dulịch Sầm Sơn và có những giải pháp bảo vệ tài nguyên môi trường,nhằm đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững ở khu vực này Đây thực

sự là bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch trong mối quan hệ với tàinguyên môi trường đối với nhiều địa phương trong cả nước

Sự bền vững về văn hoá là "việc khai thác đáp ứng các nhu cầuphát triển du lịch hiện tại không làm tổn hại, suy thoái các giá trị vănhoá truyền thống để lại cho các thế hệ tiếp sau:"

Theo số liệu điều tra của Tổ chức Du lịch Thế giới thì hiện cótrên 80% số du khách đi du lịch với mục đích để hưởng thụ các giá trịvăn hoá độc đáo và khác biệt với nền văn hoá của dân tộc họ Họ bị hấpdẫn bởi các điểm du lịch có sự bổ sung giữa cảnh đẹp thiên nhiên và nềnvăn hoá truyền thống, gây ấn tượng mạnh và độc đáo Du khách muốnđược xem và hưởng thụ những giá trị văn hoá đích thực, sống độngtrong cuộc sống hàng ngày của người dân Điều này hấp dẫn hơn rấtnhiều so với nhưng gì tái tạo lại trong một viện bảo tàng hay một cuộc

22

Trang 23

23triển lãm hoặc trình diễn Vì vậy nếu các giá trị văn hoá bị huỷ hoại, bịbiến đổi và chỉ còn tồn tại dưới dạng mô phỏng thì sẽ không còn khảnăng hấp dẫn du khách và như vậy sẽ không tồn tại sự phát triển của dulịch.

Một thí dụ điển hình về vấn đề này ở Việt Nam là tính hấp dẫncủa văn hoá dân tộc Sa Pa Đó là nguyên nhân để số lượng khách dulịch quốc tế đến Sapa ngày một tăng Họ đến đây để được xem cuộcsống đích thực, sinh hoạt đời thường của người dân thiểu số, các phiênchợ, các sinh hoạt văn hoá, vì chính cuộc sống của họ, chứ không phải

vì du khách Tuy nhiên trong thời gian gần đây những nét văn hoá đíchthực đó của người dân địa phương đang bị ảnh hưởng dưới tác động tiêucực của hoạt động du lịch đem lại thể hiện qua sự thương mại hoá mộtcách quá mức những sinh hoạt của họ như bắt khách trả tiền để đượcchụp ảnh, tranh giành bán hàng lưu niệm v.v Những thay đổi về vănhoá này nếu không được quan tâm ngăn chặn, chắc chắn sẽ là nguyênnhân làm giảm tính hấp dẫn của du lịch Sa Pa và lượng khách tới đây

sẽ giảm, sự phát triển du lịch sẽ không còn mang tính bền vững nữa

1.4.3.Các nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững:

Là một ngành kinh tế tổng hợp có nội dung văn hoá sâu sắc, cótính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Chính vì vậy sự phát triểnbền vững của du lịch đòi hỏi sự đồng bộ và nỗ lực chung của toàn xã hội.Tuy nhiên một trong những đặc thù cơ bản của du lịch là hơn bất cứ mộthoạt động nào khác, sự phát triển của du lịch rất phụ thuộc vào chấtlượng môi trường và tài nguyên tự nhiên cũng như nhân văn Chính vìvậy bên cạnh những nỗ lực chung của toàn xã hội, của các ngành kinh

tế khác, ngành du lịch trước hết phải có trách nhiệm với tài nguyên vàmôi trường Để thực hiện được mục tiêu đó, hoạt động phát triển du lịchtrong mối quan hệ với tài nguyên - môi trường cần tuân thủ một sốnguyên tắc cơ bản sau:

1.4.3.1.Khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý

Mọi hoạt động phát triển kinh tế đều liên quan đến việc sử dụng

23

Trang 24

24nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn Trong đó có nhiều nguồn tàinguyên không thể tái tạo hay thay thế được hoặc khả năng tái tạo phảitrải qua một thời gian rất dài hàng triệu năm.

Chính vì vậy đối với các ngành kinh tế nói chung và du lịch nóiriêng, việc khai thác sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên là nguyên tắcquan trọng hàng đầu mặc dù phần lớn các tài nguyên du lịch được xem

là loại tài nguyên có khả năng tái tạo hoặc ít biến đổi Nếu các tàinguyên du lịch được khai thác một cách hợp lý, bảo tồn và sử dụng bềnvững đảm bảo quá trình tự duy trì hoặc tự bổ sung được diễn ra theonhững quy luật tự nhiên hoặc thuận lợi hơn do có sự tác động của conngười thông qua việc đầu tư, tôn tạo thì sự tồn tại của các tài nguyên đó

sẽ lâu dài đáp ứng được nhu cầu phát triển của du lịch qua nhiều thế hệ.Việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên cần dựa trên cơ sở các nghiêncứu đánh giá kiểm kê, quy hoạch sử dụng các mục tiêu phát triển cụ thể

Sự phát triển bền vững nói chung và phát triển du lịch bền vữngnói riêng cần đảm bảo việc lưu lại cho thế hệ tương lai nguồn tàinguyên không kém hơn so với những gì mà các thế hệ trước được hưởng.Điều này có nghĩa là trong quá trình khai thác sử dụng các nguồn tàinguyên cần phải tính đến các giải pháp nhằm ngăn chặn sự mất đi củacác loại sinh vật, sự phá hoại những chức năng thiết yếu của các hệsinh thái có giá trị du lịch như các khu rừng nguyên sinh, các vùng đấtngập nước, các rạn san hô và khả năng bảo tồn các giá trị văn hoá,truyền thống dân tộc Điều này cũng còn có nghĩa là tài nguyên và môitrường du lịch cần được hiểu đó không phải là "hàng hoá cho không"

mà phải được tính vào chi phí đầu vào của sản phẩm du lịch để có đượcnguồn đầu tư cần thiết cho việc bảo tồn và tái tạo tài nguyên, kiểm soát

và ngăn chặn sự xuống cấp môi trường

- Ngăn chặn sự phá hoại các nguồn tài nguyên tự nhiên, các giátrị văn hoá lịch sử, truyền thống dân tộc

- Phát triển và thực thi các chính sách môi trường hợp lý trongmọi lĩnh vực của du lịch

24

Trang 25

- Gắn liền với "nguyên tắc phòng ngừa" trong tất cả các hoạtđộng và phát triển mới

- Bảo vệ và ủng hộ việc thừa hưởng các di sản văn hoá và lịch

sử của các dân tộc cũng như tôn trọng các quyền lợi của người dân địaphương trong việc khai thác các tài nguyên du lịch

-Duy trì trong giới hạn "sức chứa" (Carrying Capacity) được xác định

Khái niệm "Sức chứa" ở đây được hiểu từ 4 khía cạnh: vật lý,sinh học, tâm lý và xã hội

Trên quan điểm bảo vệ tài nguyên và môi trường, khái niệm

"sức chứa" cần được hiểu từ khía cạnh sinh học và xã hội

Về khía cạnh sinh học, sức chứa sinh thái tự nhiên được hiểu làgiới hạn về lượng khách đến một khu vực mà nếu vượt nó sẽ xuất hiệncác tác động của du khách với các tiện nghi do họ sử dụng tới môitrường, tới tập tục sinh hoạt của các loài thú hoang dã và làm cho các hệsinh thái xuống cấp (Ví dụ làm phá vỡ tập quán kết bầy của thú, làm đất

bị xói mòn )

Về khía cạnh xã hội, "sức chứa" văn hoá xã hội được hiểu là giớihạn về lượng khách mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cựccủa hoạt động du lịch đến đời sống văn hoá - xã hội, đến những tập tục

và truyền thống sinh hoạt của người dân bản địa

Trong thực tế đối với một điểm du lịch cụ thể, "sức chứa"thường được xác định dưới góc độ vật lý Trong trường hợp này "sứcchứa" được hiểu là lượng khách tối đa mà không gian của điểm du lịch

có thể tiếp nhận Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu vềkhông gian đối với mỗi du khách cùng những hoạt động tương ứng loạihình du lịch mà họ tham gia

Công thức chung tính "sức chứa" trong trường hợp này sẽ là:

Cpi = S/a

Trong đó:

Cpi: Sức chứa tức thời (Instantaneous Carrying Capacity)

25

Trang 26

S : Diện tích của điểm du lịch (Size of area)

a : Diện tích tiểu chuẩn tối thiểu cần cho một du khách Như vậy khái niệm "Sức chứa" bao gồm cả tính định tính và định

lượng Vì vậy khó có thể xác định một giới hạn đúng hoàn toàn cho

những khu vực khác nhau Một điểm cần lưu ý trong quá trình xác định

"sức chứa" là quan niệm về trạng thái "đông đúc" của các nhà nghiên

cứu sẽ khác nhau, đặc biệt trong những điều kiện phát triển xã hội khác nhau như giữa các nước Châu Á và Châu Âu, giữa các nước phát triển

và đang phát triển Rõ ràng là để làm căn cứ cho các quyết định về

quản lý trên quan điểm bảo tồn tài nguyên và môi trường cần phải tiến

hành nghiên cứu xác định "sức chứa" cho mỗi mục đích và địa điểm cụ thể Điều này cũng cần được tiến hành đối với các nhóm đối tượng, thị

trường khác nhau phù hợp với tâm lý và quan điểm của họ

Để đơn giản trong việc xác định "sức chứa" của một khu dulịch Boullon (1985) đề xuất một công thức chung, theo đó:

Sức chứa = Khu vực do du khách sử dụng/ Tiêu chuẩn trung bình cho mỗi cá nhân

Tiêu chuẩn không gian trung bình cho mỗi khách thường được xác

định bằng thực nghiệm và thay đổi phụ thuộc vào hình thức hoạt động du lịch

Ví dụ: Hoạt động giải trí ở các khu du lịch

-Nghỉ dưỡng biển* : 30 - 40 m2/người

-Picnic* : 50 - 60 m2/người

-Thể thao*: 200 - 400 m2/người

-Hoạt động cắm trại ngoài trời : 100 - 200 m2/người

* Bao gồm cả không gian các hoạt động cần thiết: cảnh quan, tắm

Và do đó tổng số khách có thể tham quan mỗi ngày được tính bằngcông thức:

Số lượng khách tham quan hàng ngày = Sức chứa x Hệ số luân chuyển

26

Trang 27

1.4.3.2.Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải:

Việc khai thác sử dụng quá mức tài nguyên và không kiểm soátđược lượng chất thải từ hoạt động du lịch sẽ góp phần dẫn đến sự suythoái môi trường mà hậu quả của nó là sự phát triển không bền vững của

du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung

Đối với một số loại tài nguyên như nước, rừng hoạt động du lịchđòi hỏi nhu cầu cao Ví dụ nhu cầu nước sinh hoạt cho một người dântrung bình là 50 lít/ngày, song nhu cầu này đối với khách du lịch trungbình gấp 4 lần, thậm chí là 10 lần Mỗi sân golf trung bình tiêu thụ 1lượng nước ngầm để tưới cỏ là 3000m3/ngày Chính vì vậy ở nhiều khu dulịch ở Gam bia, Thái Lan v.v Tình

trạng thiếu nước sinh hoạt là nghiêm trọng, trong khi nguồn nước thải từ các khu du lịch đó lại rất lớn gây ô nhiễm đất và nguồn nước

Ở Nêpan mỗi năm có 4000ha rừng bị chặt phá Theo báo cáo củaChính phủ Nêpan, năm 1997 do phải đáp ứng nhu cầu về củi đốt củakhách du lịch nên tỷ lệ phá rừng tăng hơn 10% (Tổng số củi tiêu thụ mộtngày của mỗi khách du lịch bằng số củi đốt cần thiết cho một gia đình 5người dùng trong 1 tuần) Bên cạnh đó hàng năm diện tích rừng của nướcnày còn bị thu hẹp đáng kể do việc xây dựng khách sạn và các cơ sở dịch

vụ, cung cấp chất đốt và đốt lửa trại Điều này đã dẫn đến việc tăng nguy

cơ sạt lở đất và lũ lụt, đặc biệt ở những khu vực có hoạt động du lịch

Tất nhiên những ví dụ trên hoàn toàn không khẳng định sự suythoái môi trường được gây ra chỉ bởi việc sử dụng quá mức tài nguyên dohoạt động du lịch Ở những khu vực có sự phát triển đồng thời của nhiềungành kinh tế thì hoạt động du lịch chỉ là một trong nhiều hoạt động có tácđộng đến môi trường Sự xuống cấp của môi trường Hạ Long, Vũng Tàu

có thể được coi là ví dụ điển hình về vấn đề này Tuy nhiên ở những nơi

mà hoạt động du lịch là chủ yếu thì việc hạn chế sự tiêu thụ quá mức tàinguyên và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việcphục hồi những tổn hại về môi trường và góp phần vào sự phát triển bềnvững của du lịch

27

Trang 28

28-Để thực hiện nguyên tắc trên đây hoạt động du lịch cần:Đượcquản lý tốt để đảm bảo việc sử dụng tiết kiệm nhất tài nguyên, có giảipháp nhằm giám sát và ngăn chặn việc tiêu thụ quá mức tài nguyên củakhách hàng.

-Khuyến khích việc sử dụng công nghệ mới nhằm giảm mứctiêu thụ tài nguyên và hạn chế chất thải

-Khuyến khích việc tái sử dụng rác thải phục vụ cho lợi ích của ngành

du lịch và cộng đồng địa phương ở những nơi không thể giảm bớtlượng rác thải Điều này sẽ làm giảm sức ép đối với việc sử dụng tàinguyên cũng như tác động đến môi trường

-Có trách nhiệm phục hồi đối với những tổn thất về tài nguyên và môitrường

-Phát triển trên cơ sở qui hoạch và tuân thủ các qui định nhằm hạn chếchất thải ra môi trường

1.4.3.3.Phát triển gắn liền với việc bảo tồn tính đa dạng.

Tính đa dạng về thiên nhiên, về văn hoá và xã hội là nhân tố đặcbiệt quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của du lịch, làm thoả mãn nhu cầu đadạng của khách du lịch, tăng cường sự phong phú về sản phẩm du lịch.Nơi nào có tính đa dạng cao về tự nhiên, văn hoá và xã hội, nơi đó sẽ cókhả năng cạnh tranh cao về du lịch và có sức hấp dẫn lớn, đảm bảo cho sựphát triển Chính vì vậy việc duy trì và tăng cường tính đa dạng thiênnhiên, văn hoá và xã hội là hết sức quan trọng cho sự phát triển bền vữnglâu dài của du lịch và cũng là chỗ dựa sinh tồn của ngành du lịch

Trong thực tế, hoạt động du lịch là một động lực để duy trì sự đadạng của thiên nhiên Ví dụ điển hình là ở các vườn quốc gia, các khubảo tồn tự nhiên và các khu cư trú của động vật ở nhiều nơi trên thế giớiđều được sự hỗ trợ to lớn từ nguồn thu du lịch đóng góp cho việc bảo tồn

đa dạng sinh học

Du lịch cũng góp phần bảo tồn các giá trị văn hoá bằng việc khích

lệ các hoạt động văn hoá dân gian, thúc đẩy việc sản xuất các hàng truyềnthống, chia sẻ lợi ích từ nguồn thu cho việc tôn tạo, bảo vệ các di tíchlịch sử văn hoá Du lịch còn tạo thêm công ăn việc làm, góp phần làm đadạng hoá xã hội

28

Trang 29

29Tuy nhiên trong quá trình phát triển của mình, bên cạnh nhữngđóng góp tích cực vào quá trình bảo tồn tính đa dạng, hoạt động du lịchcũng dễ làm tổn hại đến nó nếu không được quản lý và giám sát có hiệuquả.

Ví dụ quần đảo Glapagos của Ecuado được UNESCO công nhận là

di sản thiên nhiên thế giới là nơi hấp dẫn khách du lịch bởi cảnh quan vàtính đa dạng sinh học cao ở khu vực này Tuy nhiên các loài sinh vật quíhiếm như loài hải âu lớn, sư tử biển, rùa biển, san hô đen đang bị đe dọanghiêm trọng bởi là nạn nhân của rác thải, đặc biệt là túi nilon từ hoạtđộng du lịch hoặc bị khai thác để bán cho khách du lịch Việc xây dựngcác công trình du lịch ở quần đảo Caribe làm mất nơi cư trú của ít nhất 7loài rùa, ở Cuba thuộc Philipin làm mất đi 5 đảo san hô

Sự đa dạng văn hoá bản địa cũng bị đe dọa khi ngừơi dân bản địabiến nó thành hàng hoá bán cho khách du lịch Việc tiêu chuẩn hoá cácsản phẩm văn hoá để phục vụ khách đang cướp đi những nét đặc sắcriêng độc đáo của văn hoá địa phương Tính đa dạng văn hoá cũng sẽ bịthoái hoá khi cộng đồng địa phương chỉnh hoá văn hoá bản địa riêng củamình để đáp ứng nhu cầu của khách và điều này còn thường dẫn tới sựđiểu chỉnh về tinh thần "phục vụ"

Sự đa dạng của hệ thống xã hội và hệ thống sinh thái của mộtvùng hay ở một địa phương cũng sẽ bị ảnh hưởng khi các ngành nghềtruyền thống ít thu nhập như đánh bắt cá, canh tác nông nghiệp bịnhững công việc dịch vụ du lịch có thu nhập cao hơn lấn át và theo thờigian những nghề này sẽ dần bị mất đi nhường chỗ cho một số nghề "độctôn"

Du lịch cũng góp phần và quá trình đô thị hoá gây ra sự dịchchuyển xã hội của cộng đồng dân cư vùng nông thôn hoặc ven biển

Để có thể thực hiện tốt nguyên tắc trên đây góp phần vào sự pháttriển bền vững, hoạt động du lịch cần phải:

- Tôn trọng tính đa dạng của thiên nhiên, văn hoá và xã hội nơidiễn ra hoạt động phát triển du lịch

29

Trang 30

30-Đảm bảo rằng sự phát triển về nhịp độ, quy mô và loại hình không ảnhhưởng đến sự nhạy cảm của tính đa dạng tự nhiên, văn hoá và xã hộibản địa Điều này đòi hỏi cần có những nghiên cứu kỹ lưỡng và nhữngphương án quy hoạch tốt có tính khả thi cao phù hợp với đặc điểm cụthể của khu vực.

- Đảm bảo không phá huỷ đa dạng sinh thái tự nhiên thông quaviệc tuân thủ thực hiện nguyên tắc "sức chứa" được nghiên cứu xác địnhcho mỗi vùng cụ thể

- Khuyến khích đa dạng kinh tế - xã hội bằng việc lồng ghép dulịch vào các hoạt động của cộng đồng địa phương

- Không khuyến khích việc thay thế các ngành nghề truyền thống lâu

đời bằng một nghề chuyên môn hoá phục vụ du lịch

- Chia sẻ những lợi ích thu được góp phần vào việc bảo tồn tính

đa dạng thiên nhiên, đa dạng sinh thái, đa dạng văn hoá và xã hội

Nguyên tắc phát triển trên đây hoàn toàn phù hợp với quan điểm pháttriển du lịch phải gắn với việc bảo tồn các giá trị về văn hoá truyền thống,bảo vệ cảnh quan, sinh thái môi trường vốn rất đa dạng và phong phú ởViệt Nam

1.4.3.4.Phát triển phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng cao

vì vậy mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển phải phù hợp vớicác quy hoạch chuyên ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể kinh tế - xãhội nói chung ở phạm vi quốc gia, vùng và địa phương Ngoài ra, đối vớimỗi phương án phát triển cần tiến hành đánh giá tác động môi trườngnhằm hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường Điềunày sẽ góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững của du lịch trongmối quan hệ với các ngành kinh tế khác cũng như với việc sử dụng có hiệuquả tài nguyên, đảm bảo môi trường

Thực tế cho thấy ở những nơi vị trí của du lịch chưa được xác

30

Trang 31

31định đúng mức trong một chiến lược phát triển tổng thể kinh tế - xã hội,nơi du lịch không được hợp nhất và cân đối với các ngành khác trongkhuôn khổ một quy hoạch tổng thể thì sự phát triển quá mức của cácngành khác sẽ làm tổn hại tới tài nguyên và làm suy thoái môi trường,ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển bền vững của du lịch Có thể coi sựphát triển kinh tế - xã hội của vùng Hạ Long là ví dụ điển hình về vấn đềnày Song ngược lại tình trạng trên cũng sẽ là nguyên nhân của việc "bungra" một cách nhanh chóng không thể kiểm soát của hoạt động du lịch.Điều này cũng sẽ gây những tác động tiêu cực đến tài nguyên và môitrường Sự suy thoái tài nguyên rừng, cảnh quan sinh thái và môi trường

ở một số điểm du lịch như Cát Bà, Sầm Sơn, v.v do thiếu quy hoạch,

có thể coi là những ví dụ cụ thể minh chứng cho tình trạng trên

Việc đánh giá tác động môi trường đối với mỗi phương án quyhoạch phát triển đảm bảo sự nhìn nhận toàn diện về những tác động của dulịch tới tài nguyên, môi trường tự nhiên, văn hoá và xã hội Nó còn đánhgiá được các lợi ích cũng như sự bất lợi về kinh tế trong mối quan hệvới tài nguyên và môi trường Bên cạnh đó, các đánh giá tác động còntính tới những mâu thuẫn quyền lợi có thể xảy ra giữa các thành phầnkinh tế khác nhau: Các cộng đồng địa phương, du khách, chính quyềnTrung ương và địa phương, các doanh nghiệp v.v Điều này là rất cầnthiết làm căn cứ cho việc điều hoà quyền lợi, tránh những xung đột tiêucực, đảm bảo sự phát triển lâu dài bền vững của mọi ngành kinh tế, trong

- Giảm thiểu các tổn hại về môi trường, xã hội và văn hoá đối vớicộng đồng địa phương thông qua việc thực hiện đánh giá tác động môitrường toàn diện với sự tham gia của cộng đồng địa phương và các cấp

31

Trang 32

32chính quyền.

- Thường xuyên giám sát các tác động của mình trong quá trìnhphát triển để có những điều chỉnh phù hợp đảm bảo việc hạn chế tối đanhững tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường khu vực

1.4.3.5.Chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương

Để phát triển kinh tế - xã hội nói chung và từng ngành kinh tế nóiriêng việc khai thác các tiềm năng tài nguyên là điều tất yếu Tuy nhiên,thực tế cho thấy trên một địa bàn lãnh thổ nếu mỗi ngành chỉ biết đến lợiích của mình không có sự hỗ trợ đối với sự phát triển kinh tế và chia sẻquyền lợi với cộng đồng địa phương thì sẽ làm cho kinh tế và cuộc sốngngười dân địa phương gặp nhiều khó khăn, kém phát triển Điều này buộccộng đồng địa phương phải khai thác tối đa các tiềm năng tài nguyên củamình làm đẩy nhanh quá trình cạn kiệt tài nguyên và tổn hại đến môitrường sinh thái Kết quả các quá trình đó sẽ gây những tác động tiêu cựcđến sự phát triển bền vững của ngành du lịch nói riêng và kinh tế - xã hộinói chung

Chính vì vậy việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương là mộtnguyên tắc quan trọng trong phát triển bền vững

Bên cạnh đó, việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương cònđược thể hiện thông qua những chi phí cần thiết từ nguồn thu du lịch choviệc bảo tồn tài nguyên và duy trì môi trường Điều này sẽ góp phầnđảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói riêng và sựphát triển bền vững nói chung của lãnh thổ

Thực tế ở một số quốc gia cho thấy sự phát triển bền vững, mộtmặt, nhằm thoả mãn nhu cầu và phúc lợi của con người nói chung trongkhi đó vẫn duy trì và cải thiện môi trường Điều này có nghĩa là trongphát triển cần lưu tâm đến các mục tiêu kinh tế quan trọng và hợp nhất cácgiá trị môi trường vào các quyết định đầu tư Nói một cách khác là hợpnhất các giá trị môi trường vào quá trình phân tích truyền thống về chi phí

- lợi ích Sự phát triển du lịch phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của môitrường do vậy bản thân ngành du lịch cần có sự quan tâm thỏa đáng đến

32

Trang 33

33việc duy trì và nâng cao các chuẩn mực môi trường, sinh thái Nhiều dự ánphát triển các khu du lịch biển ở Mỹ, các khu du lịch sinh thái ở Zambia,Zimbabuê, Kenya đã dành một phần đáng kể từ nguồn thu cho mụcđích bảo tồn sinh thái, môi trường và tăng nguồn thu nhập của cộng đồngđịa phương nhằm gắn cuộc sống của họ với công tác bảo tồn và duy trì cácnguồn tài nguyên, môi trường du lịch.

Thu nhập du lịch cũng cần được điều hoà thông qua các kế hoạchđầu tư phát triển các hoạt động kinh doanh dịch vụ nhỏ với sự tham giacủa cộng đồng địa phương các hoạt động này ngược lại sẽ góp phần làm

đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Nguyên tắc nàycũng cần được xem xét áp dụng đối với các hoạt động du lịch ở quy môkhu vực và quốc tế Điều khác ở đây là thay vì cộng đồng địa phương,quốc gia có điểm du lịch sẽ được hưởng sự điều hoá lợi ích từ nguồn thucủa các công ty du lịch xuyên quốc gia cho mục đích tạo công ăn việclàm, nâng cao mức sống của người dân và bảo tồn duy trì các nguồn tàinguyên, môi trường sinh thái góp phần vào quá trình phát triển bền vững.Như vậy để thực hiện được nguyên tắc trên, ngành du lịch cần:

- Chịu trách nhiệm chủ yếu đối với việc duy trì và cải thiện môitrường nơi môi trường được xem là đối tượng kinh doanh chủ yếu củahoạt động du lịch

- Đảm bảo rằng các chi phí về môi trường được tính đến đầy đủtrong các dự án phát triển du lịch Trong quá trình thực hiện dự án cần có

sự kiểm soát thường xuyên các hoạt động để giảm thiểu các tác độngtiêu cực tới tài nguyên và môi trường

- Đảm bảo cho sự phát triển đa dạng các hoạt động kinh doanhdịch vụ với sự tham gia đầy đủ nhất của cộng đồng địa phương

- Hỗ trợ nền kinh tế của các quốc gia có điểm du lịch bằng cáchhợp lý hoá phần để lại từ doanh thu du lịch cho nền kinh tế của nước này

sử dụng cho các mục đích phúc lợi, tạo thêm việc làm cho người dân ởnơi trực tiếp có tài nguyên du lịch đồng thời góp phần cho những nỗ lựcbảo tồn tài nguyên, môi trường

33

Trang 34

Sự đầu tư thoả đáng vào các công nghệ bảo vệ môi trường và phụchồi các tổn thất về tài nguyên và môi trường có liên quan trực tiếp đếnhoạt động phát triển du lịch

1.4.3.6.Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương

Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịchkhông chỉ giúp họ tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống mà còn làm cho

họ có trách nhiệm hơn với tài nguyên, môi trường du lịch, cùng ngành dulịch chăm lo đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Điều này rất

có ý nghĩa, góp phần quan trọng đối với sự phát triển bền vững của du lịch

Kinh nghiệm thực tế về phát triển du lịch ở nhiều nước cho thấy

sự tham gia của địa phương là cần thiết bởi bản thân người dân địaphương, nền văn hoá, môi trường, lối sống và truyền thống của họ lànhững nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch

Bên cạnh đó, có thể thấy việc phát triển du lịch đã mang lại lợi íchkinh tế, môi trường và văn hoá cho cộng đồng, song ngược lại sự tham giathực sự của cộng đồng sẽ làm phong phú thêm tài nguyên và sản phẩm dulịch Hơn thế nữa khi cộng đồng địa phương được tham gia chỉ đạo pháttriển du lịch thì sẽ tạo ra được những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho dulịch bởi cộng đồng là chủ nhân và là người có trách nhiệm chính với tàinguyên và môi trường khu vực Điều này sẽ tạo ra khả năng phát triển lâudài của du lịch sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động dulịch được thực hiện thông qua việc khuyến khích họ sử dụng các phươngtiện, cơ sở vật chất của mình để phục vụ khách như chuyên chở, cho thuênhà để ở, nấu ăn cho khách, sản xuất các hàng thủ công mỹ nghệ làm đồlưu niệm v.v

Ngoài ra họ còn được khuyến khích tham gia trực tiếp vào cáchoạt động nghiệp vụ trong khách sạn, hướng dẫn khách du lịch, quản lýkinh doanh dịch vụ v.v

Như vậy để đảm bảo thực hiện nguyên tắc trên đây ngành du lịchcần:

- Tôn trọng nhu cầu và nguyện vọng của cộng đồng địa phương

34

Trang 35

35được cùng điều hành và tham gia hoạt động du lịch.

- Khuyến khích sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phươngvào việc triển khai thực hiện các dự án phát triển du lịch trên địa bàn củahọ

- Huy động tối đa khả năng về con người và cơ sở vật chất kỹthuật của cộng đồng địa phương phục vụ hoạt động phát triển du lịch

1.4.3.7.Thường xuyên trao đổi tham khảo ý kiến với cộng đồng địa

phương và các đối tượng có liên quan.

Trao đổi tham khảo ý kiến quần chúng là một quá trình nhằmdung hoà giữa phát triển kinh tế với những mối quan tâm lớn hơn của cộngđồng địa phương, với những tác động tiềm ẩn của sự phát triển đó lênmôi trường tự nhiên, văn hoá - xã hội Sự tham khảo ý kiến của cácngành kinh tế với cộng đồng địa phương là cần thiết để có thể đánh giáđược tính khả thi của một dự án phát triển, các biện pháp để giảm thiểucác tác động tiêu cực và tối đa hoá sự đóng góp tích cực của quần chúngđịa phương

Trong một số trường hợp dự án phát triển có thể được áp đặt từbên ngoài hoặc từ trên xuống và thường không tính thấu đáo đến nguồn tàinguyên tự nhiên và nhân văn cũng như mối quan tâm của cộng đồng địaphương Trong những trường hợp như vậy thường nảy sinh mâu thuẫnthậm chí đối kháng về quyền lợi của cộng đồng địa phương với tổ chứcđầu tư Kết quả là sự phát triển của dự án sẽ không thuận lợi, thậm chíkhông thể thực hiện được

Bản chất của sự phát triển bền vững là được tính đến các nhu cầuhiện tại, tương lai và phúc lợi của con người cần dựa trên sự lựa chọn vàhiểu biết về những chi phí phát triển môi trường, xã hội và văn hoá Quátrình tham khảo ý kiến trong trường hợp này có ý nghĩa đặc biệt quantrọng bởi nó bao hàm việc trao đổi thông tin, ý kiến, đánh giá và hànhđộng dựa vào kỹ năng, kiến thức và các nguồn lực địa phương

Trong lĩnh vực du lịch, thiếu sự tham khảo ý kiến thường lànguyên nhân làm tăng sự khó khăn về đời sống vật chất, tinh thần của

35

Trang 36

36người dân địa phương nơi có sự phát triển du lịch Đó là việc tăng giá đất,thay đổi cơ cấu sử dụng đất theo chiều hướng thu hẹp đáng kể đất canhtác, thổ cư dẫn đến việc di cư, mất đi nghề truyền thống canh tác nôngnghiệp, làm thay đổi lối sống theo hướng đô thị hoá, làm thay đổi cảnhquan, tổn hại đến tài nguyên và môi trường

Thực tế cho thấy, ở những mức độ khác nhau luôn tồn tại nhữngmâu thuẫn xung đột về quyền lợi trong khai thác tài nguyên phục vụ sựphát triển giữa du lịch với cộng đồng địa phương, giữa du lịch với cácngành kinh tế khác Kết quả là sự thiếu trách nhiệm với tài nguyên và môitrường và sự phát triển thiếu tính bền vững đối với kinh tế - xã hội của địaphương cũng như đối với mỗi ngành kinh tế trong đó có du lịch Chính

vì vậy, việc thường xuyên trao đổi ý kiến với cộng đồng địa phương vàcác đối tượng có liên quan để cùng nhau giải quyết các mâu thuẫn nảy sinhtrong quá trình phát triển là hết sức cần thiết Điều này sẽ đảm bảo sự gắnkết và có trách nhiệm hơn giữa các ngành kinh tế với địa phương và giữacác ngành với nhau góp phần tích cực cho sự phát triển bền vững của mỗingành, trong đó có du lịch

Như vậy để đám bảo việc thực hiện nguyên tắc trên , ngành du lịch cần:-Tham khảo ý kiến và thông báo cho cộng đồng địa phương về những lợi ích tiềm tàng cũng như những thay đổi tiềm ẩn do hoạt động phát triển du lịch Qua đó cùng cộng đồng địa phương xác định những phương án phát triển phù hợp đảm bảo việc khai thác có hiệu quả những tiềm năng về tài nguyên, đem lại lợi ích cho người dân đồng thời đảm bảo việc phát triển bền vững của du lịch

- Trao đổi thường xuyên với cộng đồng địa phương, với các cấpchính quyền và các ngành có liên quan bằng nhiều hình thức như: hộithảo, gặp gỡ ngay trong quá trình quy hoạch, lập dự án phát triển dulịch để đảm bảo rằng phương án chọn sẽ đem lại quyền lợi cho các bêntham gia cũng như gắn trách nhiệm của họ đối với sự phát triển du lịch

1.4.3.8.Chú trọng việc đào tạo nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường:

36

Trang 37

37Đối với bất kỳ sự phát triển nào, con người luôn đóng vai tròquyết định Một lực lượng lao động được đào tạo có trình độ nghiệp vụkhông những đem lại lợi ích về kinh tế cho ngành mà còn nâng cao chấtlượng sản phẩm du lịch Sự phát triển bền vững đòi hỏi ở đội ngũ nhữngngười thực hiện không chỉ trình độ nghiệp vụ mà còn nhận thức đúng đắn

về tính cần thiết của việc bảo vệ tài nguyên và môi trường

Đưa nhận thức về quản lý môi trường vào chương trình đào tạocủa ngành du lịch sẽ đảm bảo cho việc thực hiện những chính sách và luậtpháp về môi trường tại các cơ sở du lịch

Một nhân viên được trang bị tốt những kiến thức về môi trường,văn hoá sẽ có thể làm cho du khách có ý thức trách nhiệm và nhận thứcđúng về môi trường, về những giá trị văn hoá truyền thống Điều này sẽgóp phần tích cực vào việc đảm bảo cho sự phát triển bền vững về dulịch.Việc đào tạo đúng hướng sẽ tạo cho đội ngũ cán bộ nhân viên thái độchăm lo, có trách nhiệm hơn với đất nước, văn hoá truyền thống, tôn giáo

và lối sống cũng như với tài nguyên môi trường Để đảm bảo lợi ích lâu dàicủa ngành du lịch việc sử dụng và đào tạo cán bộ nhân viên người địaphương là cần thiết bởi họ có những hiểu biết sâu sắc hơn về tự nhiên,văn hoá bản địa cũng như mối quan tâm nhiều hơn tới cộng động địaphương

Trong bối cảnh Việt Nam đang từng bước hội nhập với sự pháttriển của du lịch khu vực và quốc tế việc nâng cao chất lượng sản phẩm

du lịch để đảm bảo tính cạnh tranh là hết sức quan trọng Một đội ngũ cán

bộ nhân viên có trình độ nghiệp vụ, có hiểu biết cao về văn hoá, môitrường là yếu tố quan trọng nếu không nói là quyết định để đảm bảo chochất lượng của sản phẩm du lịch

Chính vì vậy việc chú trọng đào tạo phát triển nguồn nhân lực cótrình độ là một trong những nguyên tắc then chốt đối với sự phát triển bềnvững của du lịch

Để đảm bảo việc thực hiện tốt nguyên tắc trên, ngành du lịch cần:

-Đưa những vấn đề về tài nguyên, môi trường, văn hoá và xã hội

37

Trang 38

38vào các chương trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực của ngành.

- Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên là người địa phương

- Trong quá trình đào tạo cần chú trọng nâng cao hiểu biết về bảnchất phức tạp của du lịch hiện đại trong mối quan hệ với tài nguyên vàmôi trường, đề cao ý thức trách nhiệm và tự hào trong công việc để đảmbảo họ sẽ là nhân tố tích cực bảo vệ tài nguyên, môi trường và quyềnlợi của cộng đồng địa phương

- Dành một tỷ lệ thỏa đáng từ nguồn thu du lịch cho các chươngtrình giáo dục nâng cao hiểu biết của cộng đồng, xã hội đối với các disản và môi trường

1.4.3.9.Tăng cường tiếp thị một cách có trách nhiệm

Tiếp thị luôn là một hoạt động quan trọng đối với phát triển dulịch, đảm bảo sự thu hút khách, tăng cường khả năng cạnh tranh của cácsản phẩm du lịch

Chiến lược tiếp thị đối với du lịch bền vững bao gồm việc xácđịnh đánh giá và luôn rà soát xác định đúng khả năng cung của nguồn tàinguyên tự nhiên và nhân văn, cũng như khía cạnh cân đối với các sản phẩm

Để thực hiện có kết quả nguyên tắc trên, ngành du lịch cần:

38

Trang 39

- Đảm bảo việc tiếp thị du lịch "xanh" không là một mánh khoékinh doanh mà phản ánh đúng chính sách và những hoạt động có lợi chomôi trường

- Hướng dẫn khách những điều "cần làm" và những điều "khôngnên làm" về phương diện môi trường ở những điểm tham quan du lịch.Làm cho khách du lịch nhận thức được những tác động tiềm tàng và tráchnhiệm của họ đối với cộng đồng địa phương nơi họ đến du lịch

- Cung cấp cho khách du lịch những thông tin đầy đủ nhất vàkhông thiên lệch để họ có thể hiểu mọi khiá cạnh môi trường có liên quanđến chuyến du lịch, giúp họ có được sự lựa chọn thích hợp

- Cung cấp đầy đủ thông tin cho du khách về việc tôn trọngnhững di sản văn hoá và thiên nhiên ở những nơi mà họ sẽ tới tham quan

du lịch

- Phát triển du lịch thích hợp với tiềm năng tài nguyên và khảnăng tiếp nhận môi trường của lãnh thổ về quy mô, số lượng và loạikhách du lịch Không khuyến khích hoạt động du lịch đến những nơi cónền văn hoá hoặc môi trường nhậy cảm dễ bị tổn hại

1.4.3.10.Thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu.

Công tác nghiên cứu là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với sự pháttriển của bất cứ ngành kinh tế nào, đặc biệt là những ngành có nhiều mốiquan hệ phức tạp và phụ thuộc vào nhiều điều kiện về tự nhiên, môitrường, văn hoá - xã hội như ngành du lịch

Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững cần có những căn cứ khoahọc vững chắc dựa trên việc nghiên cứu các vấn dề có liên quan Hơn thếnữa, trong quá trình phát triển nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nảysinh sẽ có những tác động cần phải nghiên cứu để có những giải phápphù hợp điều chỉnh sự phát triển Như vậy việc thường xuyên cập nhậtcác thông tin, nghiên cứu và phân tích chúng là cần thiết, không chỉ đảmbảo cho hiệu quả của hoạt động kinh doanh mà còn đảm bảo cho sự pháttriển bền vững trong mối quan hệ với cơ chế chính sách, với việc bảo vệtài nguyên và môi trường

39

Trang 40

Để đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc trên, ngành du lịch cần:

- Khuyến khích và hỗ trợ công tác nghiên cứu làm cơ sở chonhững định hướng phát triển chiến lược cũng như việc thực hiện các dự

án phát triển cụ thể

- Đẩy mạnh hướng nghiên cứu đánh giá tác động môi trường(EIA) đối với các dự án phát triển du lịch cũng như các dự án khá có liênquan đến du lịch

- Tiến hành và hỗ trợ những nghiên cứu dự báo, nghiên cứu khoahọc cơ bản trong lĩnh vực du lịch như đánh giá tài nguyên, thị trường,môi trường văn hoá du lịch v.v

Đảm bảo rằng các kết quả nghiên cứu và bất cứ thông tin có liênquan nào sẽ được cung cấp cho các tổ chức và cá nhân có trách nhiệmtrong việc đề ra các chính sách, chiến lược phát triển và những quyết định

cụ thể đối với hoạt động du lịch

Khuyến khícn việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới đặc biệttrong lĩnh vực điều tra khảo sát tài nguyên và môi trường du lịch Quan tâmtiến hành các nghiên cứu có sử dụng kỹ năng, kinh nghiệm và ý kiến củacộng đồng địa phương nơi có hoạt động du lịch

Những nguyên tắc cơ bản trên đây nếu được thực hiện đầy đủ sẽ

là đảm bảo chắc chắn cho sự phát triển bền vững của hoạt động du lịch,đặc biệt trong mối quan hệ với tài nguyên môi trường

Phát triển bền vững chính là chìa khoá cho sự thành công lâu dài của ngành du lịch

CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 1

1.Nêu và phân tích khái niệm tài nguyên du lịch

2.Nêu đặc điểm của tài nguyên du lịch, cho các ví dụ minh họa

3.Quan niệm về phát triển du lịch bền vững

40

Ngày đăng: 02/12/2021, 15:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Giáo trình “Địa lý du lịch” của Vũ Triệu Quân, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý du lịch
Nhà XB: NXB Hà Nội
1. Nguyễn Minh Tuệ, Địa lý du lịch, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
2. Mai Quốc Tuấn, Giáo trình Địa lý & Tài nguyên du lịch. Trường Cao đẳng Nghề Du lịch Hà Nội, NXB: Lao Động Khác
3. Tổng cục Du lịch, Non nước Việt Nam, NXB Văn hoá thông tin, 2003 Khác
7. Quyết định:“ Phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam Pa ge186 Khác
8. Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, Tổ chức lãnh thổ du lịch, 2001 Khác
9. Phạm Trung Lương (chủ biên), Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục Khác
10. Lê Bá Thảo, Việt Nam-lãnh thổ và các vùng địa lý, NXB Thế giới Khác
11. Lê Thông (chủ biên), Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam (3 phần), NXB Giáo dục Khác
13. Tuyến điểm du lịch Việt Nam” của Bùi Thị Hải Yến, NXB giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w