1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng địa lý kinh tế việt nam

196 18 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 5,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoa học địa lý nói chung đã có từ lâu đời, nhưng địa lý kinh tế là một môn khoa học mới thực sự hình thành và phát triển từ đầu thế kỷ thứ XVIII, khi cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Â

Trang 1

ThS TRẦN THỊ TUYẾT

Bài giảng

ĐỊA LÝ KINH TẾ VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP, 2013

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU Địa lý kinh tế Việt Nam là một trong những môn học đại cương, là nền tảng kiến thức cho sinh viên học các môn khoa học xã hội – nhân văn Môn học Địa lý kinh tế Việt Nam được giảng dạy cho sinh viên các ngành: Kinh tế, Quản

lý đất đai, Quản trị kinh doanh, Kế toán trong trường

Cho đến nay đã có một số giáo trình Địa lý kinh tế Việt Nam được xuất bản Song tùy theo từng trường, từng nội dung khung chương trình mà bài giảng được thay đổi cho phù hợp với mục tiêu và đối tượng đào tạo

Thông qua bài giảng này, sinh viên sẽ có được những kiến thức cơ bản về các nguồn lực chủ yếu để phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, hiện trạng và phương hướng tổ chức lãnh thổ các ngành kinh tế: công nghiệp, nông-lâm-ngư nghiệp, dịch vụ cũng như tổ chức lãnh thổ 7 vùng kinh tế của Việt Nam

Với môn học Địa lý Kinh tế Việt Nam, vấn đề tổ chức lãnh thổ có vai trò đặc biệt quan trọng và gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Vì vậy, tổ chức lãnh thổ là vấn đề xuyên suốt trong nội dung bài giảng này

Trong quá trình biên soạn mặc dù gặp phải không ít khó khăn nhưng tác giả đã cố gắng đến mức cao nhất để bài giảng đảm bảo tính khoa học hiện đại, cập nhật về thông tin kinh tế, xã hội của đất nước, của khu vực Đông Nam Á và trên thế giới Hy vọng rằng đây sẽ là tài liệu bổ ích đối với đông đảo sinh viên cũng như những người quan tâm tới vấn đề này ở Việt Nam

Bài giảng Địa lý kinh tế Việt Nam chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả chân thành cảm ơn các ý kiến đóng góp, phê bình của các nhà khoa học, các đồng nghiệp và bạn đọc để bài giảng này được hoàn thiện hơn

Trang 5

BÀI MỞ ĐẦU

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA

ĐỊA LÝ KINH TẾ 1.1 Đối tượng nghiên cứu của môn học Địa lý Kinh tế

1.1.1 Lịch sử phát triển của môn học

Địa lý kinh tế cũng như các môn khoa học khác, ra đời và phát triển do những nhu cầu của sản xuất và đời sống xã hội Khoa học địa lý nói chung đã có

từ lâu đời, nhưng địa lý kinh tế là một môn khoa học mới thực sự hình thành và phát triển từ đầu thế kỷ thứ XVIII, khi cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu, với sự phát triển mạnh mẽ và phong phú của các ngành sản xuất ở nhiều địa khu trên thế giới.Thuật ngữ “Địa lý kinh tế” xuất hiện vào năm 1760 ở Châu Âu,

theo gốc từ Hy Lạp, có nghĩa là môn học nghiên cứu sự “mô tả trái đất về mặt

kinh tế”

Đến giữa thế kỷ XX, Địa lý kinh tế được phần lớn các nhà khoa học coi là môn khoa học xã hội, nghiên cứu sự phân bố địa lý các lực lượng sản xuất, nghiên cứu những điều kiện và đặc điểm phát triển sản xuất ở các nước, các vùng

Phân bố sản xuất (Phân bố các lực lượng sản xuất theo lãnh thổ) là “một trạng thái động biểu thị sự phân chia, sắp xếp các lực lượng sản xuất theo lãnh thổ phù hợp với những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng và được xác định bởi những đặc điểm phân công lao động theo lãnh thổ tồn tại trong hệ thống kinh tế xã hội ấy” (E.B.Alaiev)

Phân bố sản xuất ngày nay không chỉ là sự lựa chọn địa điểm cho từng cơ

sở sản xuất kinh doanh mà còn là phân bố hàng loạt các cơ sở sản xuất, kinh doanh, cấu trúc hạ tầng và hệ thống cư dân có phối hợp với nhau trên những lãnh thổ nhất định Vì vậy ngày nay nhiệm vụ của địa lý không chỉ dừng lại ở sự

mô tả, lý giải các hiện tượng phân bố sản xuất của các nước, các vùng mà còn phải nghiên cứu lý luận, tìm ra các biện pháp để có thể cải tạo, xây dựng các hệ thống lãnh thổ kinh tế xã hội ngày càng hoàn thiện hơn Cũng do đó mà Địa lý kinh tế ngày nay được hiểu là môn học nghiên cứu các tổ chức lãnh thổ hoặc tổ chức không gian kinh tế xã hội các nước, các vùng

1.1.2 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động kinh tế là bộ phận quan trọng nhất cấu thành nên xã hội loài người, hoạt động đó không thể xảy ra ngoài không gian sống của con người, đó chính là môi trường địa lý

Trang 6

Lãnh thổ và hoạt động kinh tế của con người luôn có mối quan hệ qua lại lẫn nhau Bởi vậy hoạt động kinh tế không thể thiếu sự hiểu biết và nghiên cứu lãnh thổ nơi diễn ra các hoạt động kinh tế đó

“Địa lý kinh tế" (ĐLKT) ra đời cùng với sự hình thành các ngành sản xuất nông nghiệp khi con người biết gieo trồng và thu hoạch

Kinh nghiệm mà con người tích luỹ được khi phân biệt hạt giống gieo ở lãnh thổ này thì tốt, lãnh thổ kia thì xấu chính là nền móng ban đầu của ĐLKT

Theo quan điểm ngày nay, ĐLKT là môn khoa học xã hội, nghiên cứu các

hệ thống lãnh thổ kinh tế xã hội nhằm rút ra những đặc điểm, quy luật hình thành và hoạt động của chúng để vận dụng vào tổ chức không gian (lãnh thổ) tối ưu các hoạt động kinh tế xã hội trong thực tiễn

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ hệ thống L.K.X (Lãnh thổ, kinh tế, xã hội)

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của ĐLKT là hệ thống Lãnh thổ - Kinh tế -

Xã hội (LKX) LKX là một hệ thống có cấu trúc phức tạp, bao gồm điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội của lãnh thổ liên quan tới hoạt động sản xuất, nghỉ ngơi của con người cùng với việc bảo vệ môi trường sống

Về thực chất LKX được xác định bởi các yếu tố tự nhiên, mức độ phát triển của các ngành kinh tế, phân bố kinh tế trên lãnh thổ cùng các điều kiện xã hội chính trị Vì thế nó sẽ khác biệt rất lớn giữa các quốc gia, các vùng hoặc các khu vực có đặc điểm tự nhiên, sự phát triển kinh tế, hình thái xã hội khác nhau 1.2 Nội dung nghiên cứu của địa lý kinh tế

Nghiên cứu Địa lý kinh tế nhằm thực hiện nhiệm vụ quan trọng về mặt lý luận - phương pháp luận, phương pháp cũng như thực tiễn tổ chức không gian kinh

Trang 7

tế xã hội Để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ĐLKT Việt Nam tập trung nghiên cứu các vấn đề chủ yếu sau:

- Thực trạng và định hướng phát triển của phân công lao động xã hội theo lãnh thổ của Việt Nam, khả năng hội nhập của Việt Nam vào tiến trình phân công lao động khu vực và quốc tế

- Phương pháp luận và phương pháp phân vùng kinh tế, quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội, phân bố lực lượng sản xuất

- Thực trạng và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của các vùng kinh

tế ở Việt Nam hiện nay

- Những đặc điểm, quy luật hình thành và hoạt động các hệ thống lãnh thổ chức năng (các ngành và lĩnh vực kinh tế), các hệ thống lãnh thổ tổng hợp đa chức năng (các vùng kinh tế, các địa bàn kinh tế trọng điểm …)

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Để xứng đáng với vị trí của môn học và hoàn thành tốt các nhiệm vụ trên, Địa lý kinh tế sử dụng rộng rãi các quan điểm, các phương pháp nghiên cứu truyền thống cũng như hiện đại

Địa lý kinh tế nghiên cứu các lãnh thổ kinh tế xã hội, các LKX thường khá rộng lớn có liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh, có quy mô và bản chất khác nhau nhưng lại tương tác chặt chẽ với nhau Vì vậy để nghiên cứu tốt vấn đề đó, các nhà Địa lý kinh tế phải sử dụng thường xuyên nhất quán các quan điểm tiếp cận, hệ thống và tổng hợp Hơn nữa các L.K.X không ngừng vận động trong không gian và biến đổi theo thời gian vì vậy để định hướng đúng đắn sự phát triển tương lai của chúng cần phải có quan điểm động và quan điểm lịch sử

Địa lý kinh tế ngoài các phương pháp nghiên cứu chung như nhiều môn khoa học khác thì còn có một số phương pháp đặc trưng sau:

1.3.1 Phương pháp khảo sát thực địa

Khảo sát thực địa là phương pháp truyền thống đặc trưng của Địa lý kinh

tế Điều căn bản của Địa lý kinh tế là việc nghiên cứu L.K.X muốn vậy phải đến địa điểm cụ thể để nghiên cứu Vì vậy việc xem xét, cảm nhận, mô tả trên thực địa là không thể thiếu

Sử dụng phương pháp này giúp các nhà Địa lý kinh tế tránh được những kết luận, quyết định chủ quan, vội vàng, thiếu cơ sở thực tiễn

1.3.2 Hệ thống thông tin địa lý (GIS)

GIS là một cơ sở dữ liệu trên máy tính, hiện được sử dụng rộng rãi để lưu giữ, phân tích, xử lý và hiển thị các thông tin về không gian lãnh thổ GIS đánh

Trang 8

giá được hiện trạng của tự nhiên, kinh tế - xã hội thông qua các chức năng thu thập, quản lý, phân tích và tích hợp các thông tin được gắn với một nền hình học (bản đồ) nhất quán trên cơ sở toạ độ của các dữ liệu đầu vào

Theo cách tiếp cận truyền thống, sử dụng GIS để lập bản đồ và phân tích các sự vật, hiện tượng thực trên Trái đất Công nghệ GIS kết hợp các thao tác cơ

sở dữ liệu thông thường và các phép phân tích thống kê, phân tích không gian Những khả năng này phân biệt GIS với các hệ thống thông tin khác và khiến cho GIS có phạm vi ứng dụng rộng trong nhiều lĩnh vực khác nhau (phân tích các sự kiện, dự đoán tác động và hoạch định chiến lược)

1.3.3 Phương pháp bản đồ

Phương pháp bản đồ là phương pháp truyền thống được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu địa lý tự nhiên, địa lý nhân văn, địa lý kinh tế và nhiều môn học khác Lãnh thổ cần phải nghiên cứu của Địa lý kinh tế thường rất lớn: Thành phố, tỉnh, miền, quốc gia Vì thế nếu không sử dụng bản đồ thì chúng ta không thể có một tầm nhìn bao quát lãnh thổ trong sự nghiên cứu của mình

Bởi vậy các nghiên cứu Địa lý kinh tế được khởi đầu bằng bản đồ và kết thúc bằng bản đồ, nó chính là “ngôn ngữ” tổng hợp, ngắn gọn, súc tích, trực quan của đối tượng nghiên cứu

1.3.4 Phương pháp viễn thám

Viễn thám là phương pháp ngày càng được sử dụng rộng rãi trong nhiều môn khoa học đặc biệt là các môn khoa học về trái đất Nó cho ta một cách nhìn tổng quát nhanh chóng hiện trạng của đối tượng nghiên cứu, phát hiện ra những hiện tượng, những mối liên hệ khó nhìn thấy trong khảo sát thực địa

1.3.5 Phương pháp dự báo

Phương pháp dự báo giúp người nghiên cứu định hướng chiến lược, xác định các mục tiêu và kịch bản phát triển trước mắt và lâu dài của các đối tượng nghiên cứu một cách khách quan, có cơ sở khoa học phù hợp với các điều kiện

và xu thế phát triển của hiện thực

1.3.6 Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích

Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích giúp các nhà nghiên cứu ra quyết định ở mọi cấp (quốc tế, quốc gia, vùng…) một cách hợp lý, sử dụng bền vững

và có hiệu quả các nguồn lực, lựa chọn các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển trên cơ sở so sánh chi phí với lợi ích

Trang 9

Chương 1 KHÁI QUÁT VIỆT NAM TRONG HỆ THỐNG KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Đặc điểm và xu hướng hiện đại của nền kinh tế thế giới

1.1.1 Khái quát về thế giới

Diện tích toàn bộ bề mặt trên trái đất là 510triệu km2 , nhưng diện tích các lục địa chỉ chiếm 148,9 triệu km2 (chiếm khoảng 29,2% tổng diện tích trái đất), còn lại là đại dương Cư dân trên thế giới đến cuối năm 2009 khoảng 6,7 tỷ người với mật độ trung bình là 48 người/km2 nhưng đến 31/10/2011 là 7 tỷ người với mật độ khoảng 50 người/km2 Theo số liệu thống kê một số quốc gia

có dân số đông như: Trung Quốc 1,3 tỷ người (2010), Ấn Độ 1,2 tỷ người (2011), dân số Việt Nam năm 2011 là 87,84 triệu người (2011-Tổng cục thống kê)… Bên cạnh những quốc gia đông dân thì có một số quốc gia, vùng lãnh thổ

có số dân ít như Vatican 800 người; Tokelau 1.411 (2011) người; Cocos 550 người(2011) Hiện nay trên thế giới có khoảng 220 quốc gia và vùng lãnh thổ

Tổng thể thế giới ngày nay vẫn còn nhiều khác biệt Đó là do môi trường thiên nhiên muôn màu muôn vẻ trên trái đất, do lịch sử bước đi của các nước khác nhau trên những lãnh thổ khác nhau, do quan hệ xã hội phức tạp và tư duy phong phú của con người Điều đó dẫn đến trình độ phát triển lực lượng sản xuất, quy mô nền kinh tế, tổng sản phẩm quốc dân…giữa các quốc gia khác nhau và chênh lệch nhau rất nhiều

1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá các nước trên thế giới

Để phân biệt các nước phát triển, đang phát triển ta dựa vào các chỉ tiêu: GDP (Gross Domestic Product) tổng sản phẩm quốc nội: tổng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia, không phân biệt do người trong nước hay người nước ngoài làm

ra, ở một thời kỳ nhất định, thường là một năm

GNP (Gross National Product) Tổng sản phẩm quốc dân: Là tổng giá trị toàn bộ các sản phẩm cuối cùng và các hoạt động dịch vụ được tạo ra hàng năm của mỗi nước, không kể các sản phẩm trung gian và các phần giá trị phải chi trả cho người nước ngoài, nhưng lại bao gồm cả phần giá trị được tạo ra ở nước ngoài mà thuộc quyền sở hữu của người trong nước

Như vậy ta thấy GDP không bao gồm những phần giá trị của người trong nước được tạo ra ở nước ngoài, nhưng lại bao gồm cả phần giá trị của người nước ngoài được tạo ra trong lãnh thổ quốc gia GNP nhấn mạnh khía cạnh chủ

Trang 10

sở hữu của các giá trị được tạo ra, bất kể được tạo ra ở đâu, về quốc gia nào

Chỉ số phát triển con người HDI (Human Development Index): phản ánh những thành tựu về những năng lực cơ bản nhất của con người Có 3 biến số được chọn làm đại diện cho những khía cạnh đó: tuổi thọ bình quân, giáo dục, thu nhập bình quân đầu người Chỉ số HDI là tiêu thức bổ sung và làm sáng tỏ

sự chênh lệch về trình độ phát triển sức sản xuất và mức sống vật chất cũng như văn hóa giữa các nước Chỉ số này không chỉ phản ánh qui mô sản xuất, tiêu dùng theo đầu người về giá trị vật chất mà còn phản ánh về giáo dục, y tế, …

Bảng 1.1 Chỉ số về HDI chia theo các nhóm

Theo báo cáo quốc gia về phát triển con người năm 2011, HDI của Việt Nam là 0,728 Theo đó Việt Nam thuộc nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình Xếp thứ 128/187 về chỉ số HDI

Bảng 1.2 Chỉ số HDI của 10 nước đầu năm 2011

Nguồn: báo cáo về chỉ số HDI của UNDP

GNI/người/năm: Chỉ số thu nhập bình quân theo đầu người phản ánh trình

độ phát triển kinh tế của các quốc gia và được coi là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng cuộc sống

Cơ cấu kinh tế (% GDP): Đây cũng là một tiêu thức phản ánh đặc trưng

Trang 11

trình độ phát triển và sức mạnh kinh tế của một nước, một vùng Đó là tỷ trọng tương quan giữa 3 nhóm ngành kinh tế: nông nghiệp (kể cả lâm, ngư nghiệp), công nghiệp và dịch vụ Những nước có dịch vụ, công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn

là những nước phát triển mạnh, thu nhập cao

Ngoài các tiêu thức trên, để xác định rõ thực chất sức mạnh kinh tế, trình

độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, mức sống trung bình của người dân một nước, một vùng lãnh thổ, ta còn có thể sử dụng nhiều tiêu chí và chỉ số

bổ sung khác mới tránh khỏi sự đánh giá và so sánh một chiều Đó là các chỉ số

về cơ cấu dân cư, xuất nhập khẩu, về mức độ giàu có của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường, vốn nhân lực, vốn sản xuất Khả năng phát triển ổn định, bền vững nền kinh tế và vai trò của nó trong tổng thể kinh tế thế giới cũng được xem là sức mạnh kinh tế của một quốc gia

1.1.3 Các nhóm nước trên thế giới

Hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới có những đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên, quá trình phát triển, trình độ

về khoa học kỹ thuật… nên quy mô nền kinh tế và tổng sản phẩm quốc dân cũng rất chênh lệch nhau Dựa vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới được chia làm hai nhóm nước: các nước phát triển và các nước đang phát triển Đó là hai bức tranh tương phản, đặc điểm phát triển kinh tế-xã hội của hai nhóm nước này có sự khác biệt lớn Các nước phát triển là các nước có sức mạnh về kinh tế lớn, nền công nghiệp phát triển cao Ngược lại, các nước đang phát triển phần lớn là những nước nghèo, hiện nay vẫn đang ở trong thời kỳ phát triển nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu

Bên cạnh chỉ tiêu tổng hợp nếu xét về kinh tế (thu nhập bình quân đầu người) thì các nước trên thế giới được phân chia thành ba nhóm nước: nhóm thu nhập thấp, nhóm thu nhập trung bình và nhóm thu nhập cao

1.1.3.1 Phân chia các nhóm nước trên thế giới theo chỉ tiêu tổng hợp

Theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Liên hiệp quốc (LHQ) chia thế giới thành hai nhóm nước: nhóm phát triển

và nhóm đang phát triển Các nhóm nước có đặc điểm cụ thể như sau:

Nhóm nước đang phát triển

Về số lượng các quốc gia thuộc nhóm đang phát triển chiếm phần đông (khoảng 180 quốc gia chủ yếu là ở Châu Á, Châu Phi) là những quốc gia có mức sống còn khiêm tốn, nền tảng công nghiệp chưa phát triển và có chỉ số phát triển con người (HDI) không cao Các quốc gia thuộc nhóm nước này thu nhập đầu người thấp, số dân có thu nhập thấp chiếm phổ biến

Các quốc gia thuộc nhóm đang phát triển lĩnh vực sản xuất tạo ra giá trị

Trang 12

gia tăng thấp như nông nghiệp và chủ yếu là khai thác tài nguyên tự nhiên

Sự phát triển của một đất nước được đo bằng các chỉ số thống kê như tổng sản phẩm quốc nội, thu nhập bình quân đầu người (GNI/người), tuổi thọ trung bình, tỷ lệ người biết chữ, v.v Liên hiệp quốc xây dựng Chỉ số phát triển con người, một chỉ số tổng hợp của các thống kê trên để xác định mức độ phát triển con người ở mỗi quốc gia Nhóm nước đang phát triển, nói chung là các quốc gia ngoài mức sống thấp thì chưa đạt được trình độ công nghiệp hóa tương xứng với quy mô dân số Có một sự tương quan chặt chẽ giữa mức thu nhập bình quân đầu người thấp với sự gia tăng dân số nhanh chóng, kể cả giữa các quốc gia và giữa các nhóm dân cư trong một quốc gia

Phần lớn các nước này trước kia là thuộc địa, phụ thuộc, ảnh hưởng của chiến tranh Bên cạnh đó, cơ cấu kinh tế bất hợp lý (tỷ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ không hợp lý, bất cân đối), tỷ trọng nông nghiệp cao

Trình độ đô thị hóa thấp, tự phát, dân số phát triển nhanh gây bùng nổ dân số GDP bình quân đầu người thấp, thất nghiệp, lạm phát

Nhóm các nước phát triển

Về số lượng, các nước phát triển có khoảng trên 40 nước gồm G8 ( gồm 8 nước công nghiệp đứng hàng đầu thế giới: Mỹ, Nhật, Anh, Đức, Pháp, Italia, Canada, Nga) và các nước công nghiệp phát triển khác (chủ yếu là ở Châu Âu)

Các quốc gia phát triển, hệ thống kinh tế dựa trên sự tăng trưởng mạnh mẽ

và bền vững ở những lĩnh vực dịch vụ, giáo dục, nghiên cứu phát triển, thông tin, v.v Đa phần các nước này tham gia vào Tổ chức hợp tác và phát triển kinh

tế (OECD) Các nước thuộc nhóm phát triển là những quốc gia có qui mô GNI lớn trên thế giới (trên 500 tỷ USD) và GNI/người cao (trên 20.000USD/người/năm) Trong số các quốc gia thuộc nhóm nước phát triển thì G8 chiếm 75% tổng giá trị công nghiệp toàn thế giới Ngoài ra các nước này cũng có tỷ trọng công nghiệp cao trong nền kinh tế

Theo thông tin từ Tạp chí Forbes công bố mới đây, 10 nước giàu nhất thế giới trong năm 2011 tính theo GDP bình quân đầu người, đó là:

Bảng 1.3 Một số quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao năm 2011

Nguồn: Tạp chí Forbes

1.1.3.2 Phân chia các nhóm nước theo thu nhập bình quân đầu người

Trang 13

Ngoài cách phân chia theo liên hiệp quốc về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Các nước trên thế giới còn có thể phân chia theo tiêu chí về thu nhập bình quân đầu người Theo chỉ tiêu về thu nhập bình quân đầu người thì tuỳ theo mức thu nhập và sự biến động kinh tế hàng năm mà ngân hàng thế giới (WB) chia thế giới thành các nhóm nước theo từng năm và cụ thể như sau:

Bảng 1.4 Các nhóm nước theo thu nhập bình quân đầu người

(USD/ng/năm)

2010 (USD/ng/năm)

2011 (USD/ng/năm)

1.2 Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam hiện nay

là 3-5%, thì trong khu vực đã đạt được tốc độ bình quân là 6-9% Các nước và lãnh thổ: Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapo, sau thời gian phát triển nhanh đã trở thành những con rồng của Châu Á Với vị trí địa lý như trên và với thực trạng nền kinh tế đó của các nước trong khu vực đã và đang tạo ra cho nước

ta những lợi thế quan trọng và cơ hội lớn trong việc hợp tác và tiếp thu những kinh nghiệm quý báu về phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời nước ta còn có thể

Trang 14

tranh thủ tối đa nguồn vốn, kỹ thuật - công nghệ tiên tiến và hiện đại từ các nước trong khu vực; mặt khác, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương còn là thị trường quan trọng và rộng lớn nhập khẩu nhiều loại hàng hoá của nước ta Đó là những thuận lợi cơ bản và cơ hội lớn để Việt Nam giao lưu và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế - xã hội với các nước trong khu vực và sớm hội nhập vào thị trường kinh

tế thế giới

Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, có nhiều loại có giá trị kinh tế lớn Qua kết quả điều tra địa chất, thăm dò khoáng sản đã phát hiện gần 5000 mỏ và điểm quặng với 60 loại khoáng sản khác nhau đây chính là nguồn lực bên trong để phát triển kinh tế, đối tượng đầu tư của nước ngoài

Bên cạnh những lợi thế trên thì tài nguyên nhân văn cũng là một trong những lợi thế Nguồn tài nguyên nhân văn bao gồm bản thân con người và hệ thống giá trị do con người tạo ra trong quá trình phát triển là đối tượng đầu tư phát triển rất quan trọng của nước ngoài (Theo tổng cục thống kê 2009: số dân 85.789.573 người trong đó lực lượng lao động có số lượng là 45,2 triệu người chiếm 52,2% tổng dân số)

Là một nước đang phát triển, Việt Nam là một thị trường tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ rộng lớn đây chính là tiền đề, yếu tố thu hút vốn đầu tư nước ngoài và mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại

Đường lối đổi mới toàn diện đúng đắn của Đảng tạo ra môi trường thuận lợi cho Việt Nam tham gia ngày càng tích cực vào phân công lao động quốc tế, nhanh chóng hội nhập vào khu vực và thế giới

Đại hội lần thứ 6 của Đảng năm 1986 là bước ngoặt lớn trong đời sống kinh tế và chính trị của nước ta

Đại hội lần thứ VIII của Đảng năm 1996 đánh dấu bước ngoặt chuyển nước ta sang thời ký mới- thời kỳ thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.2.2 Những khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi thì nước ta còn gặp một số khó khăn đó là: Chính sách, qui định chưa hợp lý: Ví dụ như Thông tư số 33 của bộ NN&PTNT 3/9/2012 quy định chỉ được bày bán thịt và phụ phẩm bảo quản ở nhiệt độ thường trong vòng 8 giờ kể từ khi giết mổ

Chính sách ngừng xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2008 với lý do đảm bảo an ninh lương thực trong khi thời điểm giá gạo xuất khẩu đang tăng cao đã làm thiệt hại không nhỏ đến nền kinh tế và kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam…

Điều kiện tự nhiên: thường xuyên xảy ra thiên tai, lũ lụt, hạn hán ảnh hưởng đến kinh tế; ngoài ra do việc khai thác tài nguyên không hợp lý nên nảy sinh ra nhiều vấn đề dẫn tới các tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, môi

Trang 15

- Sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực đã được huy động

- Thu hút và sử dụng các nguồn lực góp phần tăng trưởng kinh tế nhưng phải đảm bảo công bằng xã hội, an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường

Giải pháp:

Huy động, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư

Chính sách, giải pháp huy động vốn cho đầu tư phát triển phải đứng trên quan điểm thực sự coi trọng vấn đề huy động vốn cho đầu tư phát triển, trong đó phải tuân thủ quan điểm vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng Nguồn vốn trong nước không chỉ có vai trò quyết định ở ý nghĩa lâu dài

mà còn là điều kiện không thể thiếu để thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn bên ngoài

Phát triển khoa học và công nghệ, thúc đẩy việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, kỹ thuật vào tăng trưởng kinh tế

Nhà nước cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách phát triển khoa học-công nghệ, tạo môi trường thể chế thuận lợi cho hoạt động đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ:

+ Các cơ quan quản lý Nhà nước về khoa học-công nghệ cần cụ thể hóa, thể chế hóa chiến lược phát triển khoa học công nghệ Xây dựng hành lang pháp lý phù hợp với yêu cầu phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của khoa học công nghệ;

+ Cần nhanh chóng hoàn thiện cơ chế, chính sách để khuyến khích các tổ chức khoa học-công nghệ sang chế độ tự chủ

+ Cần có chính sách hỗ trợ cho ứng dụng công nghệ cao, cho công tác

Trang 16

nghiên cứu ứng dụng góp phần phát triển kinh tế-xã hội

+ Nhà nước cần tạo điều kiện rộng rãi hơn nữa cho các doanh nghiệp chủ động hoạt động, đổi mới công nghệ Đồng thời các cơ quan quản lý Nhà nước cần tạo áp lực cần thiết để các doanh nghiệp nhanh chóng tiếp cận và đổi mới công nghệ

+ Nhanh chóng phát triển thị trường công nghệ Cần sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật về thị trường khoa học-công nghệ, hệ thống pháp luật kinh tế…

+ Cần hết sức ,chú trọng ưu tiên thu hút đầu tư trực tiếp từ các công ty lớn, cần coi đó là một chủ trương có tính chiến lược để nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Tăng cường công tác dự báo: Về nhu cầu đầu tư, nhu cầu nhân lực, khả năng đáp ứng của lực lượng lao động hiện có, tính toán số lượng, cơ cấu ngành nghề cần đào tạo…để có chính sách định hướng và hỗ trợ đào tạo

Tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục đào tạo theo hướng gắn chặt với thị trường lao động, với nhu cầu phát triển của sản xuất

và kinh doanh Nhà nước cần có chính sách và biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả chủ trương xã hội hóa hoạt động giáo dục, đào tạo; Cải cách hoạt động đào tạo nghề theo hướng đa dạng hóa các loại hình đào tạo nghề Tăng nguồn ngân sách và khuyến khích mọi tầng lớp dân cư đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho đào tạo nghề Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trực tiếp đào tạo nghề cho người lao động

Ngoài ra cần hết sức chú trọng khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững Đồng thời phát triển đồng bộ, toàn diện và mạnh

mẽ nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Phát triển văn hóa

xã hội, phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc, tôn trọng tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân

Câu hỏi

Câu 1: Hãy trình bày khái quát đặc điểm của thế giới ngày nay?

Câu 2: Hãy phân tích các tiêu chí để đánh giá sự phát triển kinh tế của các quốc gia?

Câu 3: Vì sao có sự chênh lệch về kinh tế giữa các quốc gia?

Câu 4: Phân tích những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam trong quá trình hội nhập?

Câu 5: Phân tích các đặc trưng của các nhóm nước trên thế giới?

Câu 6: Trình bày quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển kinh tế ở nước ta?

Trang 17

Nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú và đa dạng, tồn tại trong tự nhiên ở nhiều thể loại (thể rắn, thể lỏng, thể khí), ở nhiều dạng (vô cơ, hữu cơ…) khác nhau

- Phân loại nguồn tài nguyên thiên nhiên

Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, sử dụng, có nhiều cách phân nhóm, phân loại tài nguyên thiên nhiên khác nhau

Căn cứ vào nguồn gốc:

Tài nguyên sinh vật (Biotic Resources): rừng và các sản phẩm rừng, động vật, cá và các nguồn lợi thủy sản, dầu mỏ

Tài nguyên phi sinh vật (Abiotic Resources): đất, nước, không khí, các loại khoáng sản

Căn cứ vào giai đoạn phát triển:

Tài nguyên tiềm năng (Potential Resources): là những tài nguyên đã được xác định là tồn tại và có thể sẽ được sử dụng trong tương lai

Trang 18

Tài nguyên hiện thời (Actual Resources): là những tài nguyên đã được khảo sát, số lượng và chất lượng của chúng đã được xác định, và chúng đang được sử dụng trong hiện tại

Căn cứ vào đặc thù:

Tài nguyên thiên nhiên có khả năng cạn kiệt (Exhaustible Resources/Stocks Resources): tồn tại ở một địa điểm xác định và với trữ lượng xác định (các loại khoáng sản)

Tài nguyên dòng (Flow Resources): năng lượng mặt trời

Tài nguyên sinh học (Biological Resources): cây trồng, rừng, động vật Dưới góc độ kinh tế theo quan điểm tổ chức và quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý, lâu dài thì nguồn tài nguyên thiên nhiên được phân chia làm 2 loại:

Tài nguyên thiên nhiên vô hạn: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng

lượng thuỷ triều, nhiệt năng trong lòng đất

Tài nguyên thiên nhiên hữu hạn

Tài nguyên thiên nhiên hữu hạn có thể phục hồi được: đất, nước, sinh vật

tư nghiên cứu để tiến hành khai thác, đưa vào sử dụng loại tài nguyên phong phú này khi có điều kiện về vốn, trang thiết bị kỹ thuật và quy trình công nghệ thích hợp

2.1.2 Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên

Ngày nay hoạt động sống, cư trú của xã hội loài người đã chiếm những phần rất lớn trên diện tích bề mặt các lục địa Mọi nơi, mọi chỗ đều thấy dấu vết

Trang 19

hoạt động của con người Con người xây lên thành phố, làng mạc, ruộng đồng, ngay cả những đồng cỏ, những cánh rừng cũng được trồng bởi con người Con người đã tạo ra các vật nuôi cây trồng chúng chiếm lĩnh những diện tích rất lớn trên bề mặt trái đất Vấn đề đặt ra ở đây là tác động của con người tới tự nhiên ở mức độ nào?

Theo nhà địa lý Liên Xô (cũ) Jirmum ski (1966): “ Tác động của con người tới tự nhiên về nguyên tắc có thể vượt qua và thực tế đã vượt qua khỏi giới hạn thông thường Con người mở những chuyến bay vào vũ trụ, đã đặt chân lên mặt trăng.” Tuy nhiên, trên thực tế dù có thế nào thì con người cũng vẫn chịu sự ràng buộc của tự nhiên Vì vậy, chúng ta phải biết sống cho tự nhiên, không được làm chủ tự nhiên một cách thiếu hiểu biết, điều đó sẽ dẫn tới hậu quả thảm khốc Ví dụ việc phá rừng, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá giới hạn, xả nước thải, khí ô nhiễm ra môi trường…điều này làm thay đổi theo hướng bất lợi cho sự phát triển của xã hội Các hiện tượng tự nhiên: bão, lũ lụt, động đất, núi lửa, sóng thần ngày nay đã xảy ra ngày càng theo chiều hướng xấu

là do có sự liên quan tác động xấu tới tự nhiên

Hiện tại các nguồn năng lượng có khả năng tái sinh: năng lượng mặt trời, sức gió, thủy triều,…đang tạo ra khả năng chuyển hướng sử dụng nguồn năng lượng xanh thay vì những nguồn năng lượng có ảnh hưởng tới môi trường và gây nguy hiểm tới cuộc sống của con người như năng lượng hạt nhân Do đó, con người hãy sống hòa hợp với tự nhiên điều đó sẽ thuận lợi cho sự phát triển của xã hội loài người Giữa tự nhiên và con người có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau, đó là mối quan hệ tương tác, thường xuyên và lâu dài Sản xuất xã hội là một quá trình liên tục con người sử dụng công cụ lao động tác động vào

tự nhiên để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của mình và xã hội Môi trường tự nhiên, đặc biệt là các nguồn tài nguyên là các yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát triển sản xuất của xã hội loài người Bản thân các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tự nó không thể tạo ra của cải vật chất cho xã hội, nhưng không có các nguồn tài nguyên thiên nhiên thì sẽ không có bất kỳ quá trình sản xuất xã hội nào để tạo ra của cải vật chất cả Ngay cả sự sống của con người sẽ không thể tồn tại được nếu như không có môi trường tự nhiên Có thể khẳng định rằng, quy mô và tốc độ phát triển của sản xuất xã hội phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên đó

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, khi lực lượng sản xuất càng phát triển thì mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và con người cũng ngày càng được mở rộng Khi loài người mới xuất hiện thì quan hệ giữa con người

Trang 20

(lúc đó chưa có quan hệ sản xuất) với tự nhiên rất giản đơn Khi đó, con người chỉ bằng sức lao động của mình hái lượm, săn bắt những sản phẩm của tự nhiên ban tặng để sinh sống Cuộc sống của con người thời kỳ đó hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên, hay nói cách khác là các điều kiện, các nguồn tài nguyên thiên nhiên quyết định đến sự tồn tại và phát triển của con người Song mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên không chỉ dừng lại ở đó Theo sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự tiến bộ của tri thức loài người thì quan hệ tương tác đó đã thay đổi vị trí của nó Con người không phải lệ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên nữa mà họ đã biết khai thác, thuần phục, chế biến và sử dụng các điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho mục đích của mình Điều đó được thể hiện qua sự phát triển và thay thế của các hình thái kinh

tế - xã hội, mỗi bước tiến của hình thái kinh tế - xã hội là một bước tiến về trình

độ và nghệ thuật trong việc chinh phục, khai thác và sử dụng các yếu tố tự nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên Việc con người chặt phá rừng đặc biệt

là rừng đầu nguồn, hậu quả mang lại là lũ lụt xảy ra vào mùa mưa và sẽ kéo theo hạn hán về mùa khô Ngược lại, nếu con người biết sử dụng hợp lý sẽ mang lại nhiều lợi ích như: cung cấp điện năng, khắc phục và hạn chế lũ lụt xảy ra; phát triển ngành nuôi trồng và khai thác thuỷ sản, tạo điều kiện cho giao thông đường thuỷ phát triển…

2.1.3 Điều kiện tự nhiên của Việt Nam

Trang 21

Toàn bộ diện tích tự nhiên của phần lục địa của ta là 33.095,7 nghìn ha thuộc nước có quy mô diện tích trung bình trên thế giới Biên giới trên đất liền tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc; phía Tây và Tây Nam tiếp giáp với Lào, tiếp giáp với Campuchia; còn lại toàn bộ phía Đông và Nam được bao bọc bởi 3.260 km bờ biển Nhìn chung biên giới trên đất liền của Việt Nam với các nước láng giềng hầu hết là dựa theo núi, sông tự nhiên, với những dải núi, hẻm núi hiểm trở, chỉ có một phần biên giới với Campuchia là vùng đồi thấp và đồng bằng Điều đó tạo ra một số thuận lợi nhưng cũng gây ra những khó khăn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ đất nước

Vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải,

vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác định theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 Việt Nam có vùng thềm lục địa rộng khoảng 1,0 triệu km2 cùng hệ thống các đảo – quần đảo Vùng biển của nước ta khá rộng lớn Phía ngoài lãnh thổ đất liền, Việt Nam có phần thềm lục địa khá rộng và có nhiều đảo, quần đảo lớn nhỏ khác nhau, gần đất liền nhất có các đảo ở vịnh Hạ Long, ra xa hơn là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong vùng biển Đông, cùng với các đảo Phú Quốc và Thổ Chu ở vịnh Thái Lan

Căn cứ vào Công ước Quốc tế về luật biển và Luật Biển Việt Nam được Quốc hội của Việt Nam thông qua vào ngày 21/6/2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2013 có thể khẳng định một số điểm sau:

Đường cơ sở (để xác định vùng nội thủy; lãnh hải; tiếp giáp lãnh hải)

Được xác định dựa trên cơ sở các điểm chuẩn của các mũi đất và các đảo ven

bờ Bên trong đường cơ sở là vùng nội thủy, mặc dù ở trên biển nhưng vẫn được nằm trong lãnh thổ đất liền; Như vậy, diện tích lãnh thổ nước ta (nếu tính từ đường cơ sở) rộng trên 560.000km2

Hiện nay đường cơ sở được phân ra làm hai loại phổ biến nhất, đó là:

Theo Công ước 1982 thì đường cơ sở thẳng phải tuân thủ quy định là

Trang 22

không đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển và các vùng biển nằm bên trong các đường cơ sở này phải có liên quan đến phần đất liền đủ để có thể coi như vùng nằm dưới chế độ nội thủy (điều 7 khoản 7 Chương 1)

Với phương pháp này cần lưu ý đến việc lựa chọn các điểm xuất phát, không được chọn các điểm thuộc các bãi nửa nổi nửa chìm (các bãi nổi trên biển

có đặc tính nổi khi thủy triều xuống, chìm khi thủy triều lên do địa hình không bằng phẳng hoặc thoải đều), trừ trường hợp ở đó có đèn biển hoặc các thiết bị hoa tiêu khác thường xuyên nhô lên trên mặt nước hay việc vạch đường cơ sở đó

đã được thừa nhận chung của quốc tế Việc này phải bảo đảm không làm cho lãnh hải của quốc gia khác bị tách ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của họ hay biển cả

Đường cơ sở thông thường

Là ngấn nước thủy triều thấp nhất (trung bình nhiều năm) dọc theo bờ biển đã được thể hiện trên các hải đồ có tỷ lệ xích lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận Đối với các đảo san hô hay đảo có đá ngầm ven bờ bao quanh, phương pháp này cũng được áp dụng Ưu điểm của phương pháp này là phản ánh đúng đắn hơn đường bờ biển thực tế của các quốc gia, hạn chế sự mở rộng các vùng biển thuộc quyền tài phán của họ Hạn chế của nó là khó áp dụng trong thực tế, nhất là đối với các vùng có bờ biển khúc khuỷu

- Lãnh hải: Được xác định là 12 hải lý (1 hải lý = 1.858m) chạy song song

cách đều đường cơ sở về phía biển và đường phân định trên các vịnh với các nước hữu quan

- Vùng tiếp giáp lãnh hải: Được tính 12 hải lý (tính từ mép ngoài đường

lãnh hải) Vùng này hợp với lãnh hải thành vùng biển rộng 24 hải lý Việt Nam

có quyền bảo vệ an ninh; kiểm soát thuế quan; qui định về y tế, môi trường, di

cư, nhập cư

- Vùng đặc quyền kinh tế: Được xác định rộng 200 hải lý (tính từ mép

ngoài đường cơ sở) Việt Nam có quyền lợi hoàn toàn, riêng biệt về kinh tế như thăm dò, khai thác, bảo vệ, sử dụng và quản lý tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên; Quyền thiết lập các công trình đảo nhân tạo; quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học, bảo vệ, chống ô nhiễm môi trường biển…

- Vùng thềm lục địa: Bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc

phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải cho đến rìa ngoài của lục địa (nơi nào chưa đến 200 hải lý được tính đến 200 hải lý) Việt Nam có quyền hoàn toàn về thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các nguồn tài nguyên ở thềm lục địa

Trang 23

Vùng trời của Việt Nam là khoảng không gian (không giới hạn độ cao)

trên đất liền, vùng nội thuỷ, lãnh hải và các hải đảo thuộc chủ quyền hoàn toàn của Việt Nam

Việt Nam có vị trí địa lý khá độc đáo, đặc điểm điều kiện tự nhiên của nước ta rất đa dạng và phong phú, nói chung có nhiều điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế - văn hoá - xã hội phát triển

Ý nghĩa của vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ Việt Nam

a Đối với việc hình thành lãnh thổ tự nhiên

Vị trí địa lí đã qui định đặc điểm cơ bản của thiên nhiên nước ta mang

tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa:

Do nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến Bắc Bán Cầu nóng ẩm, ở giữa vùng gió mùa châu Á (khu vực gió điển hình nhất trên thế giới) khí hậu nước ta

có 4 mùa rõ rệt (miền Bắc) và 2 mùa rõ rệt (miền Nam): mùa đông bớt nóng và khô và mùa hạ nóng và mưa nhiều

Do ở vị trí tiếp giáp với Biển Đông, đây là nguồn dự trữ rất dồi dào về nhiệt và ẩm, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển, vì thế thảm thực vật ở nước ta quanh năm xanh tốt, giàu sức sống khác hẳn với các nước có cùng

vĩ độ (Tây Nam Á và châu Phi)

Trang 24

Do nằm ở vị trí tiếp giáp giữa lục địa và đại dương trên vành đai sinh khoáng châu Á – Thái Bình Dương cùng các hoạt động mác ma ứng cho nên tài nguyên khoáng sản của Việt Nam khá đa dạng

Do nằm ở nơi giao thoa của các luồng thực-động vật thuộc các khu hệ Hymalaya, Malaixia-Inđônêxia và Ấn Độ-Mianma, các luồng di cư này diễn ra chủ yếu vào thời kỳ Tân kiến tạo làm cho khu hệ thực-động vật của nước ta càng

thêm phong phú

Do vị trí và hình dáng lãnh thổ cũng đã tạo nên sự phân hóa đa dạng của

tự nhiên, hình thành các vùng tự nhiên khác nhau, bổ sung cho nhau trong sự phát triển kinh tế - xã hội (giữa miền Bắc và miền Nam; giữa miền núi-đồng

bằng, ven biển, hải đảo)

Tuy nhiên, do nước ta nằm trong vùng có nhiều thiên tai trên thế giới (bão, lũ lụt, hạn hán) thường xuyên xảy ra, vì vậy cần phải có biện pháp phòng

chống tích cực và chủ động

b Đối với phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội

Việt Nam nằm ở ngã tư đường hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng cùng với các cảng biển (Cái Lân, Hải Phòng, Đà Nẵng, T.P Hồ Chí Minh); Các sân bay quốc tế (Nội Bài, Đà Nẵng, Cam Ranh, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ); Các tuyến đường bộ, đường sắt Xuyên Á… đã tạo điều kiện thuận lợi để trao đổi, giao lưu với các nước xung quanh Việt Nam còn là cửa ngõ thông ra biển của

Lào, Thái Lan, Đông Bắc Campuchia và khu vực Tây Nam Trung Quốc

Vị trí địa lí và hình dáng lãnh thổ nước ta đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành các đặc điểm của tự nhiên; Từ đó ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương thức khai thác tài nguyên; Tới sự tổ chức lãnh thổ kinh tế quốc dân (đặc biệt là việc tổ chức các trung tâm, hạt nhân phát triển của vùng); Đồng thời cũng ảnh hưởng tới

các mối liên hệ nội-ngoại vùng cũng như mối liên hệ kinh tế quốc tế

Về văn hóa – xã hội, do ở vị trí liền kề cùng với nhiều nét tương đồng về

tự nhiên, kinh tế, văn hóa, lịch sử và mối giao lưu lâu đời với các nước trong khu vực đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc chung sống hòa bình, hợp tác hữu nghị và cùng phát triển với các nước (nhất là các nước láng giềng) Hơn nữa, vị trí địa lí cũng ảnh hưởng lớn đến sự hình thành cộng đồng các dân tộc Việt Nam, một quốc gia đa dân tộc và có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp

thu có chọn lọc tinh hóa văn hóa thế giới

c Đối với an ninh – quốc phòng (AN – QP)

Theo quan điểm địa lý chính trị và địa lý quân sự, nước ta có vị trí đặc biệt quan trọng ở khu vực Đông Nam Á: Do nằm ở nơi tiếp giáp giữa Đông Nam Á (lục địa) và Đông Nam Á (hải đảo), một khu vực giàu tài nguyên, một thị trường có sức mua đang tăng, một vùng kinh tế rất năng động Như vậy, đây

Trang 25

là nơi rất hấp dẫn với các thế lực đế quốc thù địch, mặt khác đây cũng là khu

vực rất nhạy cảm trước những biến chuyển trong đời sống chính trị thế giới

Vấn đề an ninh – quốc phòng còn đặt ra trên đất liền Việt Nam có đường biên giới rất dài với các nước láng giềng (4500km): Dọc biên biên giới với Trung Quốc và Lào núi liền núi, sông liền sông, không có những trở ngại lớn về

tự nhiên, (ngược lại) có các thung lũng, đèo thấp thông với các nước láng giềng;

Vấn đề an ninh – quốc phòng còn đặt ra với đường biên giới trên biển: Bờ biển nước ta dài (3260km), giáp với rất nhiều nước như Trung Quốc, Đài Loan, Inđônêxia, Malaixia, Philipin, Brunei, Singapo, Thái Lan, Campuchia Biển Đông rất giàu tài nguyên tôm, cá,… Thềm lục địa rất giàu tài nguyên khoáng sản (dầu khí…), Vì vậy, biển Đông có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nước

ta về mặt chiến lược đối với kinh tế, an ninh – quốc phòng

Như vậy, nét khá độc đáo của vị trí địa lý nước ta là: Nằm ở nơi gặp gỡ,

giao thoa của nhiều hệ thống tự nhiên, của nhiều nền văn hoá lớn trên thế giới và các luồng di cư trong lịch sử; Ở vị trí cầu nối giữa Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo Cũng chính vì thế, đã làm cho thiên nhiên nước ta trở nên

đa dạng và phong phú mà nhiều nơi trên thế giới không có được; trong xây dựng lại là nơi hội tụ nhiều cơ hội phát triển

Bản đồ: Vị trí Việt Nan trong khu vực Đông Nam Á

Trang 26

2.1.3.2 Địa hình

Địa hình là một yếu tố quan trọng trong tự nhiên vì nó có hình dáng nổi bật nhất và chi phối mạnh mẽ đến các yếu tố tự nhiên khác, là nơi diễn biến các yếu tố tự nhiên, riêng bản thân nó thì khá bền vững và ít thay đổi

Địa hình là nơi diễn ra mọi hoạt động sản xuất của xã hội, chính các hoạt động này cùng với sự biến động của tự nhiên làm mất đi vẻ nguyên sinh, hình thành nên dạng địa hình mới là dạng nhân sinh, phần lớn địa hình Việt Nam ngày nay là dạng địa hình nhân sinh

Đồi núi là một bộ phận quan trọng của địa hình Việt Nam

Chiếm ¾ diện tích địa hình đồi núi và trở thành yếu tố quan trọng trong tự nhiên Còn lại ¼ là đồng bằng: bao gồm 2 đồng bằng châu thổ là đồng bằng Sông Hồng và Đồng Bằng Sông Cửu Long, tiếp theo là Đồng Bằng Duyên Hải

và một số ít đồng bằng chân núi, chân các cao nguyên

Tính chất nội chí tuyến nóng ẩm mang tính bao trùm trong địa hình Việt Nam

Do Việt Nam nằm gọn trong vùng nội chí tuyến Bắc bán cầu làm cho Việt Nam có nền nhiệt độ cao và độ ẩm lớn, vì vậy địa hình Việt Nam mang sắc thái miền nhiệt đới nóng ẩm Do khí hậu mang sắc thái nhiệt đới nóng ẩm làm cho lớp thực bì phát triển nhanh, che phủ hầu hết bề mặt địa hình Nó vừa là tấm gương phản ánh tính chất nội chí tuyến nóng ẩm, vừa làm giảm bớt tính sắc nhọn, khúc khuỷu của địa hình

Địa hình Việt Nam ngày nay là kết quả trực tiếp của sự bồi tụ và xâm thực của chế độ gió, mưa, nhiệt và hệ thống sông ngòi Địa hình Việt Nam bị xâm thực, phong hoá nhanh chóng theo thời gian.Vì vậy, tính chất khúc khuỷu, gập ghềnh của địa hình ngày nay vừa là kết quả của quá trình xâm thực bào mòn vừa

là kết quả của sự san bằng địa hình làm cho địa hình miền núi bị chia cắt sâu sắc còn đồng bằng được bồi tụ nhanh chóng

Sông suối nối liền miền đồi núi và đồng bằng, chúng vận chuyển vật liệu xâm thực từ vùng đồi núi ở thượng lưu xuống hạ lưu bồi đắp thành các đồng bằng châu thổ.Vì vậy, tốc độ phát triển của các đồng bằng,tính chất,chất lượng phù sa đều phụ thuộc vào vùng núi thông qua hệ thống sông suối

Trang 27

Đồng Bằng Duyên Hải (đồng bằng chân núi ven biển) Được hình thành trong những miền trũng, vịnh hẹp hay quá trình xâm thực sườn núi dọc theo bờ biển sau đó sông ngòi ở nội địa chảy ra bồi đắp phù sa, kết hợp với sóng biển thuỷ triều, hải lưu

Hai đồng bằng châu thổ lớn: Đồng Bằng Sông Cửu Long rộng trên

40.000 km2, Đồng bằng Sông Hồng 15.000 km2 Hai đồng bằng này hình thành trên các vùng sụt lún ở hạ lưu sông, có bờ biển phẳng, vịnh biển nông, thêm lục địa rộng Đồng Bằng Sông Cửu Long thấp, phẳng, không có đê, mạng lưới kênh rạch chằng chịt, mùa lũ nước ngập sâu ở các vùng trũng, mùa khô nước thủy triều lấn mạnh làm cho 2/3 diện tích đồng bằng bị nhiễm mặn Đồng bằng Sông Hồng cao và chia cắt hơn, do có hệ thống đê ven ngăn lũ nên vùng trong đê không được bồi đắp phù sa hàng năm, tạo thành các bậc ruộng cao bạc màu và các ô trũng ngập nước, vùng ngoài đê thường xuyên được phù sa bồi đắp Do địa hình khá bằng phẳng, đất phù sa màu mỡ, hai đồng bằng này đã trở thành vùng trọng điểm lương thực – thực phẩm lớn của cả nước Ngoài ra, ở ven biển có các

bãi triều, vũng vịnh, đầm phá có tiềm năng lớn cho nuôi trồng thủy sản

Các đồng bằng ven biển miền Trung, diện tích ~ 15.000 km2, hẹp ngang và

bị chia cắt thành nhiều đồng bằng nhỏ Chỉ có một vài đồng bằng được mở rộng ở cửa sông lớn như đồng bằng Thanh Hóa (cửa sông Mã), Nghệ An (cửa sông Cả), Quảng Nam (cửa sông Thu Bồn) và Phú Yên (cửa sông Ba) Ở nhiều đồng bằng

có sự phân chia thành 3 dải (giáp biển là cồn cát, đầm phá; giữa là vùng thấp trũng; trong cùng đã được bồi tụ thành đồng bằng) Trong sự hình thành đồng bằng, thì biển đóng vai trò chủ yếu Đất có đặc tính là nghèo, ít phù sa Các nhánh núi lan ra sát biển khiến cho nhiều đoạn địa hình bờ biển khúc khủyu, lắm mũi

đất, nhiều đèo

Ảnh hưởng của địa hình đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

* Ở vùng núi: Khoáng sản: khu vực đồi núi tập trung nhiều loại khoáng

sản có nguồn gốc nội sinh (đồng, chì, thiếc, sắt, pyrit, niken, crôm, vàng, vonfram, antimoan…) và các khoáng sản ngoại sinh (bôxit, apatit, đá vôi, than đá); đó là nguyên liệu, nhiên liệu cho nhiều ngành công nghiệp Rừng và đất trồng: tạo cơ sở cho phát triển nông – lâm nhiệt đới; Rừng giàu có về thành phần loài động – thực vật (trong đó có nhiều loài quí hiếm tiêu biểu cho sinh vật rừng nhiệt đới) Miền núi còn có các cao nguyên và thung lũng tạo thuận lợi cho việc hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả, phát triển chăn nuôi gia súc Ở các vùng núi cao có thể nuôi – trồng được các loài động – thực

Trang 28

vật cận nhiệt và ôn đới Địa hình bán bình nguyên và đồi trung du thích hợp để trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và cả cây lương thực Nguồn thủy năng: các sông lớn có tiềm năng nguồn thủy điện cao Tiềm năng du lịch: miền núi có nhiều điều kiện phát triển nhiều loại hình du lịch (tham quan, nghỉ dưỡng…) nhất là du lịch sinh thái

* Ở vùng đồng bằng: Là cơ sở để phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới, đa

dạng các loại nông sản; Cung cấp các nguồn lợi thiên nhiên khác nhau (khoáng sản, thủy sản và lâm sản) Là điều kiện thuận lợi để tập trung các thành phố, các khu công nghiệp, các trung tâm thương mại

* Khai thác những thế mạnh:

Vùng núi, phương thức canh tác thích hợp nhất là nông-lâm kết hợp (canh

tác trên đất dốc) Tiềm năng chính ở đây là lâm sản, cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc lớn, khai thác khoáng sản và thủy điện Riêng với công nghiệp, có khả năng phát triển các ngành công nghiệp “thượng du” (khai thác

trực tiếp từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên)

Vùng trung du, với vị trí địa lý đặc biệt (địa hình là những vùng đồi, địa

chất công trình lý tưởng), có khả năng lớn để phát triển cây công nghiệp; công

nghiệp cơ bản (năng lượng và công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng)

Vùng đồng bằng, nơi hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi; là nơi tập trung các

ngành công nghiệp “hạ du” (các ngành chế biến, sản xuất các thành phẩm cuối cùng) Nông nghiệp ở đây là thâm canh cây lương thực – thực phẩm; chăn nuôi gia súc nhỏ, gia cầm; thủy sản và các ngành dịch vụ

Những mặt hạn chế

Vùng đồi núi: Chủ yếu là đồi núi thấp nhưng địa hình bị chia cắt mạnh,

tạo nên nhiều sông suối, hẻm vực, sườn dốc gây trở ngại cho giao thông vận tải, cho việc khai thác tài nguyên và giao lưu giữa các vùng Do mưa nhiều, sườn dốc mạnh, miền núi còn là nơi xảy ra nhiều thiên tai như lũ nguồn, lũ quét, xói mòn, sạt lở đất; Tại các đứt gãy sâu có nguy cơ phát sinh động đất; Nơi khô nóng thường xảy ra nạn cháy rừng; Miền núi đá vôi và vùng đất đỏ thường thiếu nước trong mùa khô; Vùng núi cao địa hình hiểm trở cuộc sống của người dân càng gặp nhiều khó khăn Do vậy, việc khai thác và sử dụng hợp lý miền đồi núi không chỉ giúp cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở các miền này, mà còn có ý

nghĩa cho việc bảo vệ môi trường sinh thái chung của cả nước

Vùng đồng bằng: có mối quan hệ chặt chẽ với địa hình miền núi Các

Trang 29

sông lớn mang vật liệu phù sa từ miền đồi núi bồi đắp mở rộng các đồng bằng châu thổ Do tài nguyên rừng đang bị khai thác quá mức, diện tích đất trống đồi núi trọc tăng lên kèm theo với nó là cường độ xói mòn đất vào mùa mưa diễn ra ngày càng mạnh đã gây hậu quả rất lớn, làm giảm tuổi thọ các công trình thủy điện, thủy lợi, phù sa lắng đọng ở các vùng cửa sông ven biển cản trở cho giao thông vận tải đường thủy Thiên tai (bão, lụt, hạn hán) thường xuyên xảy ra gây thiệt hại lớn về người và tài sản

Bản đồ: Địa hình Việt Nam

Trang 30

ẩm Trong năm có hai mùa gió tác động: gió Đông Bắc về mùa Đông gây ra rét, khô, lạnh và gió Đông Nam về mùa hè gây ra nóng, ẩm Việt Nam quanh năm nhận được lượng nhiệt rất lớn của mặt trời, số giờ nắng trung bình trong năm lên tới trên 2300 giờ, nó đã cung cấp lượng bức xạ nhiệt khá lớn (bình quân 100-130 kcal/cm2/năm) Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.000 mm, năm cao nhất lên tới trên 3.000 mm, năm thấp nhất vào khoảng 1.600 – 1.800 mm Lượng mưa đó phân bố không đều theo thời gian và không gian: nơi có lượng mưa cao nhất là vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh và Đà Nẵng (khoảng 3200 mm/năm) và nơi thấp nhất là Phan Rang (650-700 mm/năm); theo thời gian thì lượng mưa phân bố tập trung chủ yếu vào các tháng trong mùa hè chiếm tới 80% lượng mưa cả năm Độ ẩm không khí cao, dao động trong khoảng 80% và thay đổi theo vùng, theo mùa trong năm Nhiệt độ bình quân trong năm luôn luôn trên 20oC, cao nhất vào các tháng 6 và 7 (nhiệt độ khoảng 35-36o C, cũng có năm nhiệt độ lên tới 38-39oC)

và thấp nhất vào cuối tháng 12, tháng 1 (nhiệt độ xuống dưới 15oC, cũng có năm dưới 10oC, ở một số nơi vùng núi cao nhiệt độ xuống tới 0oC đã xảy ra hiện tượng sương muối, băng giá, nhưng cũng chỉ trong một vài ngày) Tuy nhiệt độ bình quân chung như vậy nhưng nó cũng khác nhau theo địa hình, theo vùng của đất nước, cụ thể là nhiệt độ đó tăng dần theo địa hình từ cao xuống thấp và từ Bắc vào Nam

Điều kiện khí hậu nước ta như vậy đã tạo ra nhiều thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt đối với nông nghiệp nó là cơ sở để chúng ta phát triển một nền nông nghiệp toàn diện, với nhiều loại cây trồng, vật nuôi đa dạng và phong phú; có thể phân bố sản xuất ở nhiều vùng khác nhau của đất nước với nhiều mùa vụ sản xuất trong năm; đa dạng hoá sản phẩm với năng suất và chất lượng cao Tuy nhiên, chính điều kiện khí hậu thời tiết đó cũng gây không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống của nhân dân ta Do nắng lắm, mưa nhiều nhưng lượng mưa chủ yếu tập trung theo mùa; kết hợp với địa hình phức tạp, dốc dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, địa hình các tỉnh phía Nam lại thấp trũng; hệ thống sông ngòi dày đặc hẹp và dốc theo địa hình; lại chịu ảnh hưởng của chế độ

Trang 31

gió mùa Châu Á, do vậy hàng năm thường xảy ra lũ lụt và bão quét về mùa mưa, hạn hán về mùa khô, gây ra biết bao khó khăn và thiệt hại cho sản xuất, đời sống của nhân dân ta Mặt khác, khí hậu nóng ẩm cũng là điều kiện thuận lợi cho sâu, bệnh, hại vật nuôi và cây trồng, gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp

Chính vì những điều trên, đòi hỏi chúng ta phải điều tra, phân tích kỹ điều kiện khí hậu thời tiết của từng vùng, từng địa phương và nắm vững quy luật diễn biến của các hiện tượng tự nhiên để có những biện pháp hữu hiệu nhằm khai thác tốt những tác động tích cực, những thuận lợi mà điều kiện khí hậu mang lại, đồng thời khắc phục và hạn chế những khó khăn, thiệt hại do chính điều kiện đó gây ra cho sản xuất và đời sống

2.1.4 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam

2.1.4.1 Tài nguyên đất

Diện tích đất đai nói lên quy mô lãnh thổ của một quốc gia, là tài sản quý của mỗi nước Nói chung, mọi hoạt động kinh tế - xã hội đều cần đất, song riêng trong nông nghiệp thì đất đai là loại tư liệu sản xuất đặc biệt và

Trang 32

chủ yếu không thể thiếu, không thể thay thế được, nếu như không có đất thì không thể có ngành sản xuất nông nghiệp, đồng thời đất đai còn là thành phần của môi trường sống của con người

Toàn bộ quỹ đất đai tự nhiên của Việt Nam có 33.095,7 nghìn ha, trong khi đó dân số nước ta năm 2011 là 87.840 nghìn người (nguồn: Tổng cục thống kê), cho nên bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người rất thấp (gần 0,38 ha/ người) Quỹ đất đai của nước ta được phân bổ như ở bảng 2.1

Đất đai nước ta rất đa dạng: nằm trong vành đai Bắc bán cầu với vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa (nắng lắm, mưa nhiều, nhiệt độ không khí cao, độ ẩm không khí lớn) nên các quá trình trao đổi chất xảy ra mạnh mẽ, đó là điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

Bảng 2.1 Hiện trạng phân bổ và sử dụng đất năm 2011

Nguồn: Tổng cục thống kê

Trang 33

Về loại hình, do quá trình hình thành và phát triển khác nhau nên đất đai của nước ta có 13 nhóm, gồm 64 loại khác nhau, vì vậy nên có các hướng khai thác và sử dụng khác nhau Trong 13 nhóm đất đó có 2 nhóm đất quý, có giá trị kinh tế cao đó là nhóm đất phù sa và đất đỏ vàng Đất phù sa chủ yếu tập trung ở hai vùng đồng bằng Sông Hồng và Đồng Bằng Sông Cửu Long, đây là loại đất rất thích hợp cho việc gieo trồng và phát triển cây lúa nước cũng như các loại cây rau màu khác Trong nhóm đất đỏ vàng, do quá trình phong hoá nhiệt đới và gốc đá mẹ khác nhau nên đã hình thành các loại đất đỏ vàng khác nhau, trong đó

có hai loại đất tốt: đất đỏ vàng Feralit, được phân bố chủ yếu ở các vùng Trung

Du và miền núi phía Bắc và một số tỉnh vùng Bắc Trung Bộ Loại đất này rất thích hợp cho việc bố trí và phát triển nhóm cây công nghiệp dài ngày có nguồn gốc nhiệt đới như chè và cà phê Đặc biệt trong nhóm đất đỏ vàng có hơn 2 triệu

ha đất đỏ Bazan tập trung chủ yếu ở vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, đất này là cơ sở rất tốt cho việc phát triển các cây công nghiệp nhiệt đới có giá trị kinh tế cao như: cao su, cà phê, hồ tiêu, chè và các loại cây ăn quả

Ngoài các nhóm, các loại đất tốt đó, trong tổng diện tích đất tự nhiên của nước ta có tới 2/3 diện tích là đất đồi núi, đất dốc, cộng với chế độ canh tác cũ lạc hậu để lại, lượng mưa hàng năm lớn, cho nên hiện nay có tới 20% diện tích

tự nhiên bị xấu đi do bị xói mòn, rửa trôi đã gây ra hiện tượng đất bạc màu, nghèo dinh dưỡng Mặt khác, phần diện tích bị nhiễm phèn, nhiễm mặn và sa mạc hoá đang tồn tại ở vùng ven biển miền Trung và một số vùng khác, đó là những khó khăn lớn đối với sản xuất nông nghiệp nước ta

Do đó, trong quá trình phân bố và phát triển sản xuất đòi hỏi đi đôi với sử dụng và khai thác những lợi thế về nguồn lực đất đai tạo ra cho sản xuất, cần phải tăng cường bảo vệ, cải tạo và bồi dưỡng đất đai để không ngừng tái tạo và nâng cao sức sản xuất của loại tài nguyên quý giá và quan trọng này

2.1.4.2 Tài nguyên nước

Nước được coi là nhựa sống của sinh vật trên trái đất Nước ta có nguồn tài nguyên nước rất dồi dào, được phân bố trên mặt đất và trong lòng đất: nước mặt, nước ngầm Điều đó đã tạo ra cho chúng ta những điều kiện thuận lợi và khả năng to lớn trong việc cung cấp nước sạch cho sinh hoạt, cả nước khoáng giải khát và chữa bệnh; cung cấp nước tưới cho cây trồng, vật nuôi; phát triển ngành khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, ngành công nghiệp thuỷ điện, ngành giao thông vận tải đường thuỷ, ngành dịch vụ du lịch.v.v

Nguồn nước mặt của nước ta rất phong phú, với hệ thống sông ngòi, kênh rạch khá dày đặc và được phân bố tương đối đồng đều trong cả nước, trong đó, đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam có ba con sông lớn, đó là sông Hồng,

Trang 34

sông Cả và sông Cửu Long Lượng nước trên các sông phụ thuộc chủ yếu vào lượng nước mưa theo mùa: về mùa mưa (ở miền Bắc từ tháng 4 đến tháng 10, miền Nam muộn hơn, từ tháng 5 đến tháng 11), trong thời gian này lượng nước mưa cung cấp cho mặt đất tới 80% lượng nước mưa cả năm Hàng năm các con sông của nước ta đổ ra biển tới 900 tỷ m3 nước Đặc điểm sông ngòi Việt Nam

có rất nhiều thuận lợi đối với sản xuất và đời sống: chất lượng nước tốt, hàm lượng phù sa cao, khoáng hoá thấp và ít biến đổi, độ pH trung bình (7,2 - 8) Nhưng bên cạnh đó, do lượng mưa hàng năm lớn lại phân bố không đều trong năm, sông ngòi dày đặc nhưng lòng sông hẹp và dốc cũng đã gây ra không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống Do vậy, cần phải có những biện pháp tích cực để phát huy, khai thác những lợi thế, đồng thời khắc phục, hạn chế những khó khăn, thiệt hại do chính nguồn tài nguyên nước gây ra

2.1.4.3 Tài nguyên rừng

Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn nhưng có khả năng phục hồi còn gọi là nguồn tài nguyên tái tạo Ngoài ý nghĩa về cung cấp nguồn lâm sản: động vật và thực vật, rừng còn thể hiện như một yếu tố địa lý không thể thiếu vắng được trong tổng thể môi trường tự nhiên Rừng có tác dụng về nhiều mặt: điều hoà khí hậu, chế ngự nguy cơ lũ lụt, ngăn chặn sự phá huỷ của các dòng thác

lũ, chống xói mòn rửa trôi bảo vệ đất, hạn chế sức phá huỷ của gió bão, chống cát bay, làm tăng khả năng giữ ẩm của đất bảo vệ sản xuất và đời sống

Diện tích rừng và đất rừng của nước ta khá lớn, khoảng 19 triệu ha, trong

đó riêng diện tích đất có rừng năm 2011 có 13.515,064 nghìn ha (chiếm tới 35,2

% diện tích đất tự nhiên của cả nước), nhưng diện tích có rừng của nước ta chủ yếu là rừng tái sinh và rừng trồng mới Diện tích rừng và đất rừng của nước ta được phân bố ở tất cả các dạng địa hình khác nhau và ở khắp các vùng miền trong cả nước, nhưng các vùng có quy mô diện tích rừng tập trung lớn là: Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ Bên cạnh diện tích có rừng nêu trên thì diện tích đất trống đồi núi trọc có khả năng trồng rừng được còn khá cao

Rừng Việt Nam phần lớn là rừng nhiệt đới, song bên cạnh đó có các khu rừng ôn đới ở các vùng núi cao thuộc các tỉnh phía Bắc và vùng Tây Nguyên

Do điều kiện khí hậu nhiệt đới: ánh sáng nhiều, nhiệt lượng lớn, mưa nhiều, độ

ẩm cao đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho nhiều chủng loại động, thực vật rừng sinh trưởng và phát triển mạnh Tài nguyên rừng phong phú và đa dạng với nhiều loài động, thực vật rừng ở nước ta có tới hàng nghìn loại thực vật, hàng trăm loài động vật; trong các loại cây lấy gỗ có đủ các nhóm từ nhóm I (đinh, lim, sến, táu ) đến các nhóm khác đều có trong rừng Việt Nam Nhưng bên cạnh những thuận lợi đó cũng có một số khó khăn trong việc chăm sóc và bảo vệ rừng vì rừng tạp với nhiều loại cây, dây leo; sâu bệnh nhiều và phát triển mạnh

Với những thuận lợi và khó khăn như vậy, nên đi đôi với khai thác lâm

Trang 35

sản, phải tích cực bảo vệ, tu bổ, khoanh nuôi để phục hồi và tái sinh rừng, đồng thời phải phát triển và mở rộng diện tích trồng rừng, có như vậy mới đảm bảo rừng thường xuyên cung cấp lâm sản, nguyên liệu có chất lượng cao cho nền kinh tế và bảo vệ tốt được môi trường sinh thái

2.1.4.4 Tài nguyên biển

Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển, chiếm gần 50% chiều dài biên giới của đất nước và với diện tích trên 1 triệu km2 thềm lục địa, đó là một thế mạnh quan trọng của nước ta

Biển là cơ sở tốt để phát triển ngành ngư nghiệp, là địa bàn thực hiện việc khai thác và nuôi trồng hải sản, từ đó thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm Bên cạnh đó, tài nguyên biển còn tạo ra điều kiện thuận lợi cho giao thông vận tải đường thuỷ và ngành công nghiệp đóng tàu thuỷ, nghề muối, ngành kinh tế dịch vụ du lịch phát triển Đặc biệt, một nguồn lợi to lớn và có giá trị kinh tế cao mà biển đem lại cho đất nước phải kể đến đó

là kho dầu khí nằm trong lòng đại dương với trữ lượng khá cao

Về hải sản

Biển Việt Nam là biển nhiệt đới nên tài nguyên hải sản rất phong phú và

đa dạng Nước ta có vị trí địa lý khá độc đáo, lãnh thổ của đất nước lại trải dài từ

8o30’ đến 23o22’ vĩ độ Bắc nên có thể nói rằng biển Việt Nam là nơi giao lưu và hội tụ của các luồng di cư động, thực vật biển từ Đông Bắc xuống và từ Tây Nam lên Trong các loài hải sản hầu như có gần đầy đủ các loại cá, tôm, cua, trai, ốc, ngao, sò.v.v có nhiều loại hải sản quý có giá trị kinh tế cao với trữ lượng khá lớn cũng có trong biển Việt Nam

Về muối

Nước biển Việt Nam có độ mặn trung bình trên thế giới với nồng độ muối bình quân là 3,5%, nhiều nơi có điều kiện, khả năng và nhân dân rất giàu kinh nghiệm, kỹ thuật cao trong nghề muối, như: Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Bình Thuận, Bà Rịa đó là những thế mạnh cho nghề muối của nước ta

Về du lịch nghỉ mát

Đặc điểm khí hậu thời tiết nắng nóng ở nước ta cộng với điều kiện biển có nhiều nơi du lịch nghỉ mát có vị trí đẹp và ý nghĩa lớn, đây cũng đang là một nguồn lực to lớn đối với ngành kinh tế quan trọng, có khả năng mang lại lợi ích kinh tế lớn Có nhiều khu du lịch biển đã và đang được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến, như: Hạ Long (Quảng Ninh), Đồ Sơn (Hải Phòng), Đồng Châu (Thái Bình), Hải Thịnh, Quất Lâm (Nam Định), Sầm Sơn (Thanh Hoá), Cửa Lò (Nghệ An), Thiên Cầm, Thạch Hải (Hà Tĩnh), Nha Trang (Khánh Hoà), Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu).v.v chính những nơi đó đã góp phần quan

Trang 36

trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và cả nước

Về dầu khí

Đây là nguồn tài nguyên hàng đầu, góp phần quan trọng đáng kể vào việc phát triển kinh tế, hình thành nên nền công nghiệp dầu khí non trẻ của nước nhà Theo dự đoán ban đầu thì trữ lượng dầu mỏ có thể đạt 5 - 6 tỷ tấn và trữ lượng khí đốt khoảng 180 - 330 tỷ m3 Khả năng khai thác hàng năm đạt khoảng 23 -

25 triệu tấn dầu thô

2.1.4.5 Tài nguyên nhiên liệu, năng lượng

Nguồn tài nguyên này ở nước ta rất đa dạng và phong phú với trữ lượng tương đối lớn, chất lượng tốt Điều đó tạo điều kiện cho ngành công nghiệp nhiên liệu, năng lượng phát triển; có khả năng thoả mãn nhu cầu về nhiên liệu, năng lượng của nền kinh tế quốc dân và tham gia hợp tác kinh tế với nước ngoài trong lĩnh vực này

Than

Nguồn tài nguyên than ở nước ta có cả than đá, than nâu và than bùn Than

đá có trữ lượng lớn khoảng 6 tỷ tấn, chủ yếu tập trung ở Quảng Ninh (khoảng 5,5

tỷ tấn), được phân bố từ lộ thiên và vào sâu trong lòng đất, tính từ mặt đất đến độ sâu 300 m, có trữ lượng thăm dò là 3,5 tỷ tấn; từ 300 đến 900 m, có trữ lượng thăm dò là 2 tỷ tấn Ngoài Quảng Ninh, than đá còn có ở: Thái Nguyên (80 triệu tấn); Lạng Sơn (hơn 100 triệu tấn); Quảng Nam (hơn 10 triệu tấn)

Than đá Việt Nam có chất lượng tốt, chủ yếu là loại Antraxit có tỷ lệ cacbon cao, cho nhiệt lượng cao (bình quân 8.120 - 8.650 kcal/1kg than)

Than nâu phân bố tập trung ở vùng Đồng bằng sông Hồng, từ độ sâu 200m đến 2.000m, trữ lượng dự báo 210 tỷ tấn

Với trên 100 điểm có than bùn, vùng có trữ lượng lớn nhất và tập trung là Đồng Bằng Sông Cửu Long (khoảng 400 - 500 triệu tấn)

Trang 37

Nguồn thuỷ năng

Việt Nam là một trong 14 nước giầu thuỷ năng trên thế giới Tổng trữ lượng thủy năng của nước ta ước tính khoảng 300 tỷ kwh Song nguồn trữ năng này phân bố không đều giữa các vùng trong nước: vùng Bắc Bộ 47%; vùng Trung Bộ 15%, vùng Nam Trung Bộ 28% và vùng Nam Bộ 10% Trong đó, chỉ

có một số con sông có trữ lượng thuỷ năng lớn như: Sông Đà 38,5%, sông Đồng Nai 14,1%, sông Xê Xan: 9,1%

Với tiềm năng to lớn đó, ngành thuỷ điện nước ta đã và đang có bước phát triển đáng kể Nước ta đã xây dựng và đưa vào hoạt động các nhà máy thuỷ điện như: Thác Bà công suất 108 MW, Hoà Bình công suất 1.920 MW, Đa Nhim công suất 160 MW, Trị An 400 MW, Yaly 700 MW và trên 200 trạm thuỷ điện nhỏ với tổng công suất là 330 MW, Hàm Thuận 300 MW, Thác Mơ 75 MW, sông Hinh 70 MW, Vĩnh Sơn 60 MW Đặc biệt, ta đã hoàn thành nhà máy thuỷ điện Sơn La trên sông Đà, đây là nhà máy có quy mô lớn nhất với công suất là 2400MW Một số nhà máy thủy điện đang xây dựng: nhà máy thủy điện Lai Châu khởi công xây dựng vào ngày 5/1/2011 với công suất lắp đặt dự kiến là 1200MW, nhà máy thủy điện Trung Sơn – Thanh Hóa khởi công xây dựng vào ngày 24/11/2012 với công suất lắp đặt 260 MW Tuy vậy, Việt Nam mới chỉ khai thác hơn 30% trữ lượng thủy năng hiện có, trong khi đó các nước: Thụy Sỹ, Pháp, Na

Uy, Thụy Điển, ý đã khai thác tới 70 - 90% trữ lượng thủy năng mà họ có

Ngoài 3 loại tài nguyên nhiên liệu, năng lượng chủ yếu đã và đang được khai thác có hiệu quả nêu trên, Việt Nam còn có nhiều loại năng lượng khác chưa có điều kiện và khả năng khai thác, như: năng lượng mặt trời, năng lượng thuỷ triều, năng lượng gió, năng lượng hạt nhân, nhiệt năng trong lòng đất cũng là tiềm năng lớn của nước ta cần được đầu tư nghiên cứu để tổ chức khai thác và sử dụng khi có đủ điều kiện về vốn, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ cho phép

2.1.4.6 Tài nguyên khoáng sản

Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể

rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật,

khoáng chất ở bãi thải của mỏ (Luật khoáng sản số 60/2010/QH12)

Nguồn tài nguyên khoáng sản của nước ta phong phú về chủng loại và

đa dạng về loại hình, trong đó có cả khoáng sản kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý hiếm và có cả các loại khoáng sản phi kim Có nhiều loại với trữ lượng lớn, song cũng có một số khoáng sản như: Thạch cao, kali trữ lượng hạn chế

Theo kết quả điều tra thăm dò địa chất và tìm kiếm khoáng sản, Việt Nam

có hơn 3.500 mỏ và điểm quặng của 80 loại khoáng sản khác nhau, trong đó

Trang 38

chúng ta đã tổ chức khai thác ở 270 mỏ và điểm quặng với 30 loại quặng

Các mỏ quặng kim loại đen

Mỏ sắt ở Thái Nguyên, Yên Bái, Hà Tĩnh (mỏ sắt Thạch Khê - Thạch Hà -

Hà tĩnh mới được phát hiện đầu thập kỷ 60 thế kỷ XX với trữ lượng thăm dò hàng trăm triệu tấn) Ngoài sắt còn có mangan, crom…

Các mỏ và điểm quặng kim loại màu

Quặng boxit có ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn với trữ lượng khoảng

50 triệu tấn, ở vùng cao nguyên miền Trung (Đắc Lắk, Lâm Đồng) với trữ lượng khoảng 10 tỷ tấn

Mỏ thiếc có ở Cao Bằng, Vĩnh Phúc (Tam Đảo) với trữ lượng khoảng 140 ngàn tấn

Mỏ kẽm có ở Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn

Mỏ đồng: Lào Cai, Sơn La

Mỏ chì lẫn bạc: Cao Bằng, Sơn La

Các quặng kim loại quý hiếm

Ăngtimoan: Cao Bằng, Hà Giang

Vàng: Bồng Miêu (Quảng Nam) và dọc sông Hồng

Thuỷ ngân: Cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang)

Khoáng sản phi kim loại: được chia thành 2 nhóm

Nhóm làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp hoá chất sản xuất phân bón: Apatít (có ở Lào Cai với trữ lượng khoảng 2 tỷ tấn); Phốt pho (có ở Lạng Sơn, Thanh Hoá)

Nhóm làm nguyên liệu cho sản xuất vật liệu xây dựng và đồ gia dụng: Cát trắng: có ở các tỉnh vùng Duyên Hải Trung Bộ (dùng làm nguyên liệu chế tạo thuỷ tinh, pha lê)

Cao lanh: có ở Hải Dương, Móng Cái, Phú Thọ ( dùng để sản xuất đồ sứ)

Đá vôi, đất sét: có ở nhiều nơi (sản xuất vôi, xi măng)

Đá, cát, sỏi xây dựng được phân bố khắp nơi trong đất nước

Các loại đá hoa vân: Tràng Kênh, Hòn Gai, Ninh Bình, Thanh Hoá

Nước khoáng: có ở nhiều nơi trong cả nước

Nói nguồn tài nguyên khoáng sản của Việt Nam có nhiều dạng, loại khác nhau một số loại với trữ lượng khá lớn, chất lượng cao và phân bố tập trung nên tạo điều kiện để phát triển ngành công nghiệp khai khoáng và luyện kim đạt hiệu quả cao

Trang 39

Bản đồ tài nguyên khoáng sản Việt Nam

Trang 40

2.2 Dân cư và nguồn lao động của Việt Nam

2.2.1 Những vấn đề lý luận về phân bố dân cư và sử dụng nguồn lao động 2.2.1.1 Mối quan hệ giữa dân cư, lao động và hoạt động sản xuất xã hội

Một trong những nguồn tài nguyên quý giá của đất nước đó là tài nguyên nhân văn Có thể hiểu tài nguyên nhân văn bao gồm sức lao động của con người

và những giá trị vật chất, văn hoá, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch

sử Khai thác đầy đủ và có hiệu quả lợi thế tiềm năng nguồn tài nguyên này để tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội là các định hướng cơ bản, xu thế tất yếu của thời đại

Lịch sử đã chứng minh rằng: Dân cư - nguồn lao động xã hội và hoạt động kinh tế là hai mặt của quá trình tạo ra của cải xã hội Hai mặt đó tác động qua lại rất phức tạp, quy định và chi phối lẫn nhau Sự phát triển kinh tế xã hội xác định những đặc điểm chủ yếu của sự phân bố dân cư và nguồn lao động xã hội Ngược lại, sự phân bố dân cư và nguồn lao động xã hội lại là tiền đề, là động lực quan trọng của sự hình thành và phát triển các quá trình kinh tế xã hội trong một nước, một vùng

Dân cư và nguồn lao động không chỉ là lực lượng sản xuất trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội mà còn là lực lượng tiêu thụ các sản phẩm của xã hội, kích thích quá trình tái sản xuất mở rộng của xã hội, thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội

Trong mọi quá trình sản xuất dù giản đơn hay phức tạp đều không thể thiếu nguồn lao động Để tăng doanh thu lợi nhuận trong quá trình sản xuất thì các doanh nghiệp không thể không quan tâm tới các vấn đề: giá cả sức lao động, tiền lương, thất nghiệp…

Rõ ràng trong hệ thống tự nhiên - dân cư - kinh tế, chính dân cư là thành phần năng động nhất, gắn bó giữa tự nhiên và kinh tế nhờ những thuộc tính sẵn

có của mình Toàn bộ những giá trị vật chất tinh thần cần thiết cho xã hội đều do lao động của con người tạo ra

2.2.1.2 Những vấn đề cần quan tâm khi nghiên cứu về dân cư, nguồn lao động

- Dân số và mật độ dân số

Dân số là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế xã hội Dân số đông cũng đồng nghĩa với nguồn lao động dồi dào và còn là thị trường tiêu thụ rộng lớn

Mật độ dân số: là số lượng người trên một đơn vị diện tích (thông thường

là 1km2) Mật độ dân số phản ánh mức độ tập trung dân cư trên lãnh thổ Trong

Ngày đăng: 23/05/2021, 10:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm