- Việt Nam nằm ở trung tâm của khu vực Đông Nam Á là một trong ba hệ thống của khu vực châu Á gió mùa điển hình, với hai mùa rõ rệt: mùa đông là thời kì hoạt động của gió mùa Đông Bắc, m
Trang 1KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
TÀI LIỆU BÀI GIẢNG
(Lưu hành nội bộ)
ĐỊA LÝ DU LỊCH VIỆT NAM
(Dành cho Sinh viên ngành Địa lý, Du lịch)
Giảng viên: ThS Dương Thị Mai Thương
Quảng Bình
Trang 2DU LỊCH VIỆT NAM 1
1.1 Tiềm năng phát triển du lịch Việt Nam 1
1.1.1 Vị trí địa lý 1
1.1.2 Tài nguyên du lịch 4
1.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 4
1.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 23
1.1.3 Cơ sở hạ tầng 27
1.1.3.1 Giao thông vận tải 27
1.1.3.2 Thông tin liên lạc 29
1.2 Thực trạng phát triển ngành du lịch Việt Nam 30
1.2.1 Nguồn khách 31
1.2.1.1 Khách quốc tế 31
1.2.1.2 Khách nội địa 31
1.2.2 Cơ sở lưu trú 32
1.2.3 Lao động 32
1.2.4 Doanh thu 33
1.3 Bài tập 33
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2 PHÂN VÙNG DU LỊCH VIỆT NAM 37
2.1 Vùng du lịch Trung du và miền núi phía Bắc 37
2.1.1 Khái quát chung: 37
2.1.2 Tài nguyên du lịch 37
2.1.3 Sản phẩm du lịch đặc trưng 38
2.2 Vùng du lịch Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc 38
2.2.1 Khái quát chung 38
2.2.2 Tài nguyên du lịch 39
2.2.3 Sản phẩm du lịch 40
2.3 Vùng du lịch Bắc Trung Bộ 40
2.3.1 Khái quát chung 40
2.3.2 Tài nguyên du lịch 40
Trang 32.4.1 Khái quát chung 41
2.4.2 Tài nguyên du lịch 42
2.4.3 Sản phẩm du lịch 43
2.5 Vùng du lịch Tây Nguyên 43
2.5.1 Khái quát chung 43
2.5.2 Tài nguyên du lịch 43
2.5.3 Sản phẩm du lịch 44
2.6 Vùng du lịch Đông Nam Bộ 45
2.6.1 Khái quát chung 45
2.6.2 Tài nguyên du lịch 45
2.6.3 Sản phẩm du lịch 46
2.7 Vùng du lịch Đồng bằng sông Cửu Long 46
2.7.1 Khái quát chung 46
2.7.2 Tài nguyên du lịch 47
2.7.3 Sản phẩm du lịch 48
2.8 Bài tập: Tìm hiểu đặc trưng của các vùng du lịch Việt Nam 48
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 4CHƯƠNG 1 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
DU LỊCH VIỆT NAM 1.1 Tiềm năng phát triển du lịch Việt Nam
+ Điểm cực Đông: 12040’B, 109028’Đ tại xã Vạn Thạnh trên bán đảo Hòn Gốm thuộc huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa
* Trên biển: Ở ngoài khơi, các đảo nước ta còn kéo dài tới tận khoảng vĩ tuyến 6050’B và từ khoảng kinh độ 1010Đ đến khoảng 117020’Đ
- Vị trí tiếp giáp: Phía Bắc giáp Trung Quốc; phía Tây giáp Lào và Campuchia; phía Đông và Nam giáp biển Đông
- Việt Nam nằm ở rìa phía Đông của bán đảo Đông Dương, gần trung tâm của khu vực Đông Nam Á
- Việt Nam vừa gắn với lục địa châu Á rộng lớn, vừa có một bộ phận trên biển Đông để tiếp nối với Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương
- Việt Nam nằm trên ngã tư đường hằng hải và hàng không quốc tế quan trọng từ bắc xuống nam và từ đông sang tây nối liền châu Á với châu Đại Dương, Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương
- Nước ta nằm trọn trong múi giờ số 7
Lãnh thổ
- Lãnh thổ Việt Nam là một khối thống nhất, toàn vẹn bao gồm vùng đất,
Trang 5vùng biển và vùng trời thuộc chủ quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm của Nhà nước Việt Nam
- Lãnh thổ Việt Nam về mặt tự nhiên là một bộ phận của lớp vỏ địa lý của Trái Đất nằm trên lục địa châu Á và Thái Bình Dương với nền móng đã được hình thành cách đây hàng nghìn triệu năm Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã trở thành quốc gia độc lập, thống nhất, có vị trí xứng đáng trên bản đồ chính trị thế giới
Vùng đất
- Vùng đất là toàn bộ phần đất liền được xác định trong phạm vi đường biên giới của nước ta với các nước kề bên và phần đất nổi bao gồm khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ trên biển Đông
- Diện tích phần trên đất liền là 331.150,4 km2, có dáng hẹp ngang và chạy dài theo hướng kinh tuyến với chiều dài gần 1650 km
- Chỗ rộng nhất khoảng 600 km từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Sín Thầu (Lai Châu), nơi hẹp nhất khoảng 50 km ở khoảng cuối đường 20 trên biên giới Việt Lào với Đồng Hới
Vùng trời
Là khoảng không gian bao trùm lên lãnh thổ nước ta, trên đất liền được xác định bằng các đường biên giới, trên biển là ranh giới phía ngoài của lãnh hải và không gian của các hải đảo
Vùng biển: Vùng biển nước ta bao gồm: nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh
hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
=> Như vậy chủ quyền quốc gia Việt Nam trên một vùng biển khá rộng khoảng 1 triệu km2 tại biển Đông
* Ý nghĩa của vị trí địa lý và lãnh thổ
- Việt Nam nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến nóng ẩm ở bán cầu Bắc
và gần sát với chí tuyến Bắc nên có sắc thái chung của thiên nhiên nhiệt đới
Trang 6- Việt Nam có một bộ phận lớn nằm trên biển Đông, một trong những biển lớn của Thái Bình Dương, là một kho dự trữ nhiệt và ẩm dồi dào có tác động lớn đến thiên nhiên Việt Nam
- Việt Nam nằm ở trung tâm của khu vực Đông Nam Á là một trong ba hệ thống của khu vực châu Á gió mùa điển hình, với hai mùa rõ rệt: mùa đông là thời kì hoạt động của gió mùa Đông Bắc, mùa hạ là thời kì hoạt động của gió mùa Tây Nam tạo nên đặc điểm gió mùa của khí hậu Việt Nam và sắc thái nhiệt đới ẩm gió mùa của thiên nhiên Việt Nam
- Việt Nam nằm ở vị trí của các đới cảnh quan điển hình của vành đai nóng như đới rừng nhiệt đới và đới rừng á xích đạo nên rất phong phú về thành phần loài sinh vật Ngoài ra nước ta còn là nơi gặp gỡ của các luồng di cư sinh vật từ khu hệ sinh vật Hoa Nam, Ấn Độ - Mianma, Malaixia – Inđônêxia, các loài chim và sinh vật biển từ các vùng xứ lạnh và ôn đới tới nên thành phần loài phong phú và đa dạng
- Nước ta nằm ở vị trí gặp gỡ của hai vành đai sinh khoáng Địa Trung Hải và Thái Bình Dương nên có tài nguyên khoáng sản phong phú đa dạng đặc biệt là dầu khí, thiếc, nhôm… đồng thời cũng đã từng xảy ra các hoạt động của núi lửa, động đất
- Vị trí là hình thể Việt Nam đã tạo nên sự phân hóa đa dạng của tự nhiên thành các vùng tự nhiên khác nhau giữa miền Bắc và miền Nam, giữa miền núi
và đồng bằng, ven biển và hải đảo
- Do nằm ở khu vực biển nhiệt đới Tây Thái Bình Dương, một trong những trung tâm phát sinh bão lớn trên thế giới nên hàng năm nước ta phải chịu tác động của rất nhiều cơn bão nhiệt đới
- Vị trí địa lý và hình dáng lãnh thổ ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành các đặc điểm của lãnh thổ tự nhiên, từ đó ảnh hưởng đến lựa chọn phương thức khai thác tài nguyên thiên nhiên
- Vị trí địa lý và hình dáng lãnh thổ có ảnh hưởng rất sâu sắc đến sự tổ chức lãnh thổ kinh tế quốc dân, đặc biệt là sự tổ chức các trung tâm, hạt nhân phát triển vùng, các mối kinh tế nội vùng và liên vùng và liên hệ quốc tế
Trang 7- Việt Nam nằm trên ngã tư đường hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng thuận lợi cho giau lưu buôn bán trao đổi với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Ngoài ra, còn là cửa ngõ ra biển thuận lợi cho Lào, đông bắc Thái Lan, Campuchia và tây nam Trung Quốc
- Vị trí địa lý đã ảnh hưởng đến sự hình thành cộng đồng dân tộc Việt Nam, một quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa
- Nước ta nằm ở nơi tiếp giáp giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, một thị trường tiêu thụ rộng lớn và
có nền kinh tế phát triển năng động Đó là nơi hấp dẫn các thế lực đế quốc bành trướng, nhiều tham vọng và cũng là nơi nhạy cảm trước các chuyển biến trong đời sống chính trị thế giới
- Vấn đề đường biên giới trên đất liền và trên biển là vấn đề hết sức quan trọng hiện nay Khi hòa bình hữu nghị thì đây là điều kiện thuận lợi để giao lưu văn hóa.Còn khi có sự căng thẳng thì nguy cơ chiến tranh rất dễ xảy ra
=>> Vị trí địa lý là một nguồn lực quan trọng, nó luôn đặt ra những trở ngại
và những thuận lợi khách quan đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
1.1.2 Tài nguyên du lịch
1.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
a Địa hình
a.1 Đặc điểm vùng núi Việt Nam
- Vùng đồi núi Việt Nam chiếm tới 3/4 diện tích lãnh thổ, được bao phủ một màu xanh của rừng nhiệt đới nóng ẩm, rậm rạp Đồi núi nước ta chiếm tới 250.000 km2 trên tổng diện tích của nước ta là 331.051 km2
- Hệ thống các dãy núi chính được kéo dài và liên tục suốt chiều dài của đất nước, từ biên giới phía bắc giáp biên giới Trung Hoa (ở vĩ độ 23023’B) tới điểm tận cùng của phía Nam Trung Bộ… Đông Nam Bộ (ở vĩ độ 110Bắc) Chiều dài của đất nước từ bắc xuống nam là 1.650km thì hệ thống núi đã dài tới 1.400km
- Các dãy núi đứng lẻ tẻ và rải rác ở đồng bằng châu thổ và đồng bằng duyên hải, như ở đồng bằng nam bộ nơi cánh đồng bát ngát cò bay mỏi cánh cũng có
Trang 8những núi đá nhỏ như vùng đồi núi Hà Tiên, vùng Bảy Núi (Thất Sơn) ở hai huyện Tịnh Biên và Trí Tôn tỉnh An Giang, các khối núi ở Long Hải thuộc tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu …
- Các mạch núi đá lan ngầm ra biển và tạo thành nhiều các chuỗi đảo lớn nhỏ như đảo Phú Quốc, Côn Đảo… Miền đồi núi nước ta bao la rộng lớn như vậy cũng chứa chất một nguồn tài nguyên đa dạng và giàu có về lâm sản, khoáng sản, rừng cây và rừng trồng nhiệt đới Đối với ngành du lịch tài nguyên của vùng đồi núi rất quí giá, giúp cho ngành du lịch có thể phát triển nhiều loại hình du lịch thể thao, thám hiểm, leo núi, nghỉ mát, chữa bệnh, an dưỡng, phục hồi sức khỏe
- Trong vùng núi do địa hình chia cắt mạnh đã tạo nên nhiều cảnh đẹp hùng
vĩ, có nhiều núi cao với những đỉnh nhọn, sắc như răng cưa, các khe hẻm sâu thăm thẳm, đường đèo vượt qua các núi cao Các khối núi có nhiều địa hình kỳ
dị, đẹp lạ lùng, các sông miền núi có nhiều thác ghềnh so có độ dốc lớn, vùng núi đá vôi có nhiều hang động đẹp, huyền ảo, nhiều nguồn nước suối khoáng và nước nóng trong các miền núi có hoạt động kiến tạo địa chất là vùng căn cứ địa cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến giành thắng lợi hoàn toàn
Thám hiểm chinh phục các đỉnh núi cao, tìm hiểu các nét độc đáo của vùng núi, săn bắn tham quan các khu rừng cấm quốc gia, nơi có nhiều động thực vật hoang dã quý hiếm, có loài gần như bị tuyệt chủng ở vùng đồi núi luôn luôn gây cho con người sự thích thú say mê
Nổi bật là địa hình Karst, kiểu địa hình được thành tạo do sự lưu thông của nước trong các đá dễ hoà tan (đá vôi, đôlômit, đá phấn, thạch cao, muối mỏ…)
ở Việt Nam chủ yếu là đá vôi Địa hình Karst có một số kiểu:
Hang động Karst là một kiểu Karst được quan tâm đối với du lịch Vì cảnh quan thiên nhiên của các hang động Karst rất hấp dẫn khách du lịch Nhiều hang động có vẻ đẹp lộng lẫy, tráng lệ và rất kỳ ảo do tạo hoá sinh ra Nhiều hang động chứa đựng những di tích khảo cổ học, di tích lịch sử văn hoá Không ít hang động đã được con người xây dựng thêm các công trình kiến trúc như chùa
Trang 9chiền để thờ tự tạo nên một thế giới tâm linh đầy bí ẩn… Như vậy, có thể nói hang động Karst là một loại tài nguyên du lịch – một loại hàng hoá đặc biệt có thể sinh lợi cao
Trên thế giới có hơn 650 hang động đã được khai thác phục vụ du lịch, hàng năm thu hút được vài chục triệu khách tới thăm Người ta đã thống kê được 25 hang động Karst dài nhất và 25 hang động Karst sâu nhất
Ở nước ta có khoảng 60.000km2 đá vôi (chiếm gần 15% diện tích cả nước), tập trung chủ yếu từ 160B trở lên và lại nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên rất thuận lợi cho quá trình karst phát triển
Các công trình điều tra nghiên cứu hang động ở Việt Nam đã phát hiện được khảng 200 hang động, trong đó tới 90% là hang động ngắn và trung bình có độ dài dưới 100m và chỉ 10% số hang có độ dài trên 100m Các hang động dài nhất
và có thể nói là đẹp nhất ở nước ta được phát hiện cho đến nay phần lớn tập trung ở tỉnh Quảng Bình như động Phong Nha dài 7.729m, sâu 83m; hang Tối dài 5.258m, sâu 80m; hang Vòm dài 5.050m, sâu 145m… Ở Cao Bằng với hang Pắc Bó dài 3.248m, sâu 77m; Ngườm Khu dài 804m sâu 36m; ở Lạng Sơn có hang Cả dài 3.342m, sâu 123m…
Có thể chia các hang động ở Việt Nam thành 3 khu vực chính Ở Đông Bắc, các hang động chỉ phát triển theo chiều ngang và ngắn (riêng hang Cả tính cả 3 tầng) Ngược lại, ở Tây Bắc hang phần lớn phát triển theo chiều thẳng đứng và phân bậc rõ rệt Ở Bắc Trường Sơn, các hang hầu như chỉ phát triển theo chiều ngang và hầu hết là tuyến chảy của sông hiện nay Nhìn chung, các hang động của nước ta có cấu trúc phức tạp Các hang lớn thường có nhiều phòng, nhiều nhánh và được thông ra bằng nhiều cửa Tuy nhiên, cũng có hang chỉ có một phòng rộng như hang Rơi ở Hữu Lũng – Lạng Sơn, phòng cao 120m, dài 328m
và rộng gần 200m
Hiện nay ở nước ta đã có nhiều hang động được khai thác phục vụ du lịch như động Phong Nha, Tam Cốc – Bích Động, động Hương Tích, hang Bồ Nâu, hang Luồn, hang Sửng Sốt, động Thiên Cung…
Trang 10* Ngoài hang động Karst, kiểu địa hình Karst ngập nước, tiêu biểu là vịnh
Hạ Long – một di sản thiên nhiên thế giới; kiểu địa hình Karst đồng bằng tiêu biểu ở vùng Ninh Bình được mệnh danh là “vịnh Hạ Long cạn” cũng rất có giá trị về du lịch
a.2 Các hệ núi chính ở Việt Nam
* Ở khu Đông Bắc Bắc Bộ gồm có:
- Dãy núi Con Voi có tuổi 600 triệu năm, độ cao trung bình 500-700m, cao nhất 1.450m
- Các dãy núi có hình cánh cung ở Đông Bắc:
- Các dãy núi ở Tây Bắc: Dãy núi Hoàng Liên Sơn – pu luông, với đỉnh cao nhất và sắc nhọn, đỉnh cao nhất là Phanxipan 3.143m
- Hệ thống núi Trường Sơn dài hơn 1.00km từ thung lũng sông Cả tới Hàm Tân (Bình Thuận) và huyện Xuyên Mộc (Bà Rịa – Vũng Tàu) cực Nam Trung
Bộ, sườn đông dốc, sườn tây thoải về phía sông Mêkông, đỉnh cao nhất của bắc trường sơn là Pulaileng cao 2.711m, còn nam trường sơn là Ngọc Lĩnh cao 2.598
m Đường quốc lộ 1 xuyên việt đã phải vượt qua các đèo cao như đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cả… thuộc về hệ thống Trường Sơn phải kể tới Tây Nguyên là cao nguyên phía tây có độ cao trung bình 800 – 1.000m so với mặt nước biển gồm các cao nguyên từ Bắc xuống Nam
+ Cao nguyên Kontum có độ cao 400 – 800m
+ Cao nguyên Đaklak thấp, có độ cao 400 – 500m
+ Cao nguyên Lâm Viên có độ cao đạt tới 1.400 – 1.500m
+ Cao nguyên Di Linh Bảo Lộc cao 800 – 1.000m, thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp, có các trung tâm cây trồng và trung tâm tơ tằm lớn nhất Việt Nam
- Vùng đồi núi bậc thềm phù sa cổ Đông Nam Bộ với độ cao trung bình 300 – 500m Các đỉnh cao: Núi Chứa Chan 858m Núi Bà Đen cao 936m và 736m
- Vùng đồi núi thấp Bà Rịa – Vũng Tàu – Long Hải, có độ cao trung bình
300 – 400m, cao nhất đạt tới gần 700m
Trang 11a.3 Các đỉnh núi cao nhất ở Việt Nam
- Đỉnh Phanxipan: là đỉnh cao nhất Việt Nam thuộc dãy Hoàng Liên Sơn khu Tây Bắc cao 3.143m
- Đỉnh Pu Ta Leng: còn gọi là Tả Yang Pinh cao tới 3.098m trong dãy núi Hoàng Liên Sơn Tây Bắc, trong địa phận tỉnh Lai Châu
- Đỉnh Tây Côn Lĩnh: thuộc khối núi vòm sông Chảy thuộc khu Đông Bắc Bắc Bộ, trong địa phận tỉnh Hà Giang, có độ cao 2.431m
- Đỉnh Pu Lai Leng: Thuộc dãy Trường Sơn Bắc, nằm trong địa phận tỉnh Nghệ An, có độ cao 2.598m
- Đỉnh Chư Yang Sinh: Thuộc Trường Sơn Nam, thuộc địa phận tỉnh Đaklak, núi có độ cao 2.405m
- Đỉnh Kiều Liên Ti: Thuộc vùng núi vòm sông Chảy khu Dông Bắc (Hà Giang) cao 2.403m
- Đỉnh Pu Tha Ca: Thuộc vùng núi thượng nguồn Vòm sông Chảy khu Đông Bắc (Hà Giang) có độ cao 2.274m
a.4 Các đèo chính ở Việt Nam
Đèo là con đường vượt qua núi đồi ở độ cao thấp nhất, là nơi ngắm cảnh tốt nhất, có thể nhìn bao quát 1 vùng rộng lớn bao là nếu đèo ở cao
- Đèo Pha Đin: (Nơi đất trời gặp nhau): đèo cao nhất (1.050m) đường đèo dài 32km cả lên và xuống đèo, đèo nằm trên con đường số 6 từ Hà Nội đi từ Lai Châu thuộc khu Tây Bắc đèo ở Km 382
- Đèo Ô Quy Hồ: Cao 2.500m đèo ở Km 160-168 từ Lào Cai đi Lai Châu, trong một vùng đồi lượn sóng trên núi cao
- Đèo Mây: với Mường Hum ở độ cao 2.100m trên đường từ Bá Xát tới Phong Thổ khu Đông Bắc Bắc bộ, về mùa đông đèo Mây thường có tuyết rơi
- Đèo Ngang: Trên dãy núi Hoành Sơn (1.044m).Đèo có độ cao 256m nằm trên đường quốc lộ 1 từ Bắc xuống Nam
Trang 12- Đèo Hải Vân: cao chừng 500m, núi nằm trên dãy Bạch Mã có độ cao 1.444m, đèo dài 20km, khá hiểm trở về phía mặt biển đông Đèo là núi dốc cao còn phía đông là vực thẳm nhìn xuống bờ biển có hang dơi
- Đèo Cả: có độ cao 333m, đèo dài 12km trên dãy núi Đại Lãnh hay Đèo Cả Tại đây có nhiều đỉnh nổi tiếng như núi Hòn Vọng Phu (2.022m) núi Đá Bia (706m) Đường đèo khá hiểm trở quanh co Từ trên đỉnh đèo nhìn xuống cảnh thật ngoạn mục
- Đèo Ngoạn Mục: Là đèo cao của miền nam Việt Nam, cao 980m trên con đường quốc lộ 11 từ Phan Thiết đi Đà Lạt, đèo có chiều dài hơn 20km, đường quanh co nguy hiểm song đứng trên đỉnh đèo mà ngắm cảnh thì tuyệt đẹp, gió lộng không khí trong lành, con đường đèo phải chui 2 lần qua đường ống dẫn nước từ đập Đơn Dương xuống nhà máy thủy điện Đa Nhim tại sông Pha
- Đèo Bảo Lộc: Có độ cao 700-800m chiều dài đường đèo khoảng 10 km bám theo sườn núi, có thể thấy rõ sự thay đổi của tự nhiên có khí hậu mát mẻ có lượng mưa lớn
- Đèo Prenn: Là đèo cuối cùng trước khi lan tới thành phố Đà Lạt, đường đèo dài 8,6km, đường rộng 7m đi ô tô mất 15p vượt đèo, độ cao của đèo khoảng 1.400m dưới chân đèo có thác Prenn, rừng thông và hoa anh đào, vườn thú và nhà hàng giải khát trước khi vượt đèo Ngoài các đèo kể trên Việt Nam trong vùng núi còn có nhiều đèo khác vượt qua núi giúp cho sự giao thông đi lại được
dễ dàng hơn, đồng thời cũng là những cảnh đẹp của vùng núi
a.5 Các hang động nổi tiếng ở Việt Nam
- Động Tam Thanh: Được tạo thành trong dãy núi đá vôi, nằm cách thị xã Lạng Sơn 2km về phía tây bắc, động Tam Thanh gồm có ba hang là Nhất Thanh, Nhị Thanh, Tam Thanh, trong đó nổi tiếng hơn hẳn là động Tam Thanh với ngôi chùa cùng tên
- Động Hương Tích – Chùa Hương: Với những cảnh đẹp đã được ca ngợi trong các bài văn thơ và được tặng danh hiệu ‘Nam Thiên Đệ Nhất Động” cách
Hà Nội 60km thuộc địa phận xã Hương Sơn – Huyện Mỹ Đức – Hà Tây Đây là
Trang 13một tổng thể tự nhiên bao gồm có địa hình núi đá vôi, sông suối, hang động, rừng cây… tạo nên một vẻ đẹp huyền ảo và thơ mộng
- Động Phong Nha – Kẻ Bàng: Từ sông Rào Nậy (sông Gianh) đi xuống phía Nam khoảng 16km tới huyện Bố Trạch – Quảng Bình, sau đó đi tiếp về phía nam tây bắc khoảng 17km sẽ gặp một dòng sông nhỏ nước trong vắt quanh
co uốn khúc giữa vùng đồi núi đá vôi Kẻ Bàng đầy lau sậy và rừng thưa Con sông đó có tên gọi là sông Troóc (sông Son hoặc sông Chài) sông Troóc là nhánh của sông Gianh trên đường di chuyển sông đã chảy ngầm qua các khối núi đá vôi tạo thành các hang động
- Thạch Động : Là một trong bảy cảnh đẹp của Hà Tiên, đã được ca tụng trong văn thơ thời xưa, Thạch Động thôn vân (có nghĩa là động nuốt mây) nằm
ở trên độ cao 53m cách thị trấn Hà Tiên 5km về hướng bắc Là một động đẹp trong số 20 động ở vùng núi đá vôi Hà Tiên
Ngoài ra còn có rất nhiều hệ thống hang động đẹp khác của Việt Nam rất có giá trị du lịch…
b Khí hậu
b.1 Các nhân tố hình thành khí hậu của Việt Nam
* Vị trí địa lý
- Việt Nam nằm trong khu vực nội chí tuyến
- Tiếp giáp vùng biển Đông rộng lớn, đây là biển nhiệt đới nên cung cấp lượng ẩm dồi dào cho khí hậu Việt Nam Tuy nhiên, hoạt động của những cơn bão ở biển nhiệt đới đã ảnh hưởng lên khí hậu Việt Nam
* Hoàn lưu khí quyển
- Việt Nam là nơi gặp gỡ và giao thoa giữa gió tín phong nửa cầu Bắc với gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam
- Chế độ gió mùa đặc sắc của Đông Nam Á với lượng ẩm dồi dào đã làm cho khí hậu và cảnh quan của Việt Nam hoàn toàn khác với khí hậu và cảnh quan của các nước nằm trên những vĩ độ tương tự của nước ta, đã xóa bỏ các đới
Trang 14hoang mạc, bán hoang mạc và xavan các vùng chí tuyến mà ta thấy ở Tây Á, Đông Phi, Tây Phi, thay vào đó là một vệt rừng liên tục từ Bắc vào Nam
* Đặc điểm bề mặt đệm
- Việt Nam là đất nước có nhiều đồi núi Trong phần đất liền, các đồi núi chiếm ¾ diện tích lãnh thổ nhưng chủ yếu là đồi núi thấp, các đồng bằng chỉ là những châu thổ ven biển mà tổng diện tích không quá ¼ diện tích lãnh thổ
- Vị trí các núi và hướng núi (Tây Bắc-Đông Nam, hướng Đông Tây, hướng vòng cung) đã tác động mạnh mẽ đến sự phân hóa khí hậu Việt Nam
b.2 Đặc điểm khí hậu Việt Nam
* Khí hậu nhiệt đới - ẩm - gió mùa
- Tính chất nhiệt đới
+ Nhiệt độ trung bình năm: 22-250C vượt quá chỉ tiêu nhiệt đới 20-220C Ở
Hà Nội là 23,40C và ở TP.HCM là 26.90C Tổng xạ Mặt Trời lớn: đạt 130 kcal/cm2/năm Cân bằng bức xạ vượt 75 kcal/cm2/năm (chỉ tiêu của khí hậu nhiệt đới) Tổng nhiệt độ năm lớn 8000-100000C, phía bắc trên 75000C (Hà Nội
là 85550C; Huế 87470C, phía nam trên 90000C (đạt tiêu chuẩn khí hậu xích đạo (từ Quy Nhơn trở vào) TP.HCM là 98180C.Số giờ nắng trung bình 1400 giờ/năm.Biên độ nhiệt độ trung bình hàng năm ở TP.HCM là 3,10C, còn ở Huế 9.40C, ở Hà Nội là 12,50C (trong đó có cả sự tham gia của gió mùa Đông Bắc)
- Tính chất gió mùa
Gió mùa mùa đông: Thường được gọi là gió mùa Đông Bắc (vì thổi theo hướng Đông Bắc), mang đến cho nước ta một mùa đông lạnh so với các vùng trên vĩ độ tương tự Phạm vi tác động là phía bắc dãy Bạch Mã
Gió mùa mùa hạ: Thường được gọi là gió mùa Tây Nam
Trang 15Bộ (Phan Rang 653 mm, Mũi Dinh 757 mm) và một vài nơi khuất gió như Mường Xén 643 mm, Sông Mã…
* Khí hậu Việt Nam phân hóa đa dạng
- Theo chiều Bắc-Nam
Nếu lấy ranh giới 160B (dãy Bạch Mã) thì khí hậu Việt Nam có sự phân hóa thành hai phần Nam và Bắc khá rõ nét:
+ Từ 160B trở ra: khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa đông lạnh: Nhiệt độ trung bình năm 20-250C, trong năm có mùa đông lạnh dài 2-3 tháng, nhiệt độ trung bình dưới 180C, biên độ nhiệt trung bình năm cao 10-120C
+ Từ 160B trở vào: khí hậu cận xích đạo gió mùa: Nhiệt độ trung bình năm trên 250C, không có tháng nào nhiệt độ dưới 200C, biên độ nhiệt độ trung bình năm thấp hơn (3-40C)
- Theo chiều Đông-Tây
Do ảnh hưởng của gió mùa cùng với tác dụng của bức chắn địa hình tạo nên
sự phân hóa Đông-Tây trong khí hậu nước ta
Dãy Hoàng Liên Sơn là bức tường thành phân hóa khí hậu thành hai vùng:
+ Đông Bắc: mùa đông đến sớm và kết thúc muộn hơn
+ Tây Bắc: mùa đông bớt lạnh hơn, mùa hè đến sớm nhưng có thể xuất hiện hiệu ứng phơn
Ranh giới là dãy Trường Sơn:
+ Đông Trường Sơn
+ Tây Trường Sơn
- Theo độ cao
* Khí hậu Việt Nam rất thất thường
Khí hậu Việt Nam đa dạng lại rất thất thường, lắm thiên tai, bão lụt, hạn hán… b.3 Các nơi nghỉ mát và an dưỡng của Việt Nam
Có khí hậu vùng núi (á nhiệt đới) mát mẻ, rừng thông che phủ với nhiều phong cảnh đẹp, khí hậu trong sạch trên đô cao 1.00 – 1.500m so với mực nước biển
* Sapa
Trang 16Thành phố nghỉ mát trên sườn bằng phẳng của núi Lo Suây thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn, thành phố nằm trên độ cao 1.500 – 1.600m so với mực nước biển
Sapa cách Lào Cai 38-40km, cách Hà Nội trên 400 km, khu nghỉ mát được thành lập từ năm 1920 do người Pháp xây dựng Khí hậu của Sapa là khí hậu á nhiệt đới ( hay khí hậu nhiệt đới vùng núi), nhiệt độ trung bình tháng là 15-200 C nhiệt độ lạnh nhất là 00C đến +100C, có khi nhiệt độ xuống dưới (-200C) – (-
50C), có hàm lượng mưa lớn trong năm từ 2.749 - 3.496mm
* Tam Đảo
Là nơi nghỉ mát thuộc huyện Vĩnh Phúc (cũ) cách Hà Nội 87 km Khu nghỉ mát trên độ cao 930 – 1.000m, được xây dựng từ năm 1907 Khu nghỉ mát Tam Đảo ở gần khu rừng cấm quốc gia với nhiều loại thực vật quý có giá trị như Thông, Sao, Phong Lan, Đình Hương, Quế, Lưỡi Hổ (Dương Xỉ) Trà đỏ Long Não Lim, Gụ, động vật có Khỉ, Lợn Rừng, Hươu, Chim Sặc Sỡ, Gà Rừng, Trĩ Vàng, Bướm to đẹp và côn trùng lạ…
* Ba Vì
Còn gọi là Tản Viên là một vùng núi ở cửa ngõ phía tây nam Hà Nội Vùng nghỉ mát Ba Vì nằm trên độ cao 400 – 600m, không khí luôn mát mẻ, nhiệt độ thấp hơn đồng bằng chân núi 7-8oC, cảnh đẹp, có nhiều cây dược liệu, có nhiều khu di tích lịch sử dân tộc, có tới 200 biệt thự xây dựng từ thời Pháp
* Bạch Mã – Thừa Thiên Huế
Khu nghỉ mát Bạch Mã được phát triển lần đầu tiên ngày 28-29/7/1932 bởi một kỹ sư trưởng ngành cầu đường, ông M.Girard người Pháp
Nhiệt độ trung bình tại khu nghỉ mát từ tháng 2 đến tháng 5 là 10 – 220C.Từ tháng 6 đến tháng 9 là 180C.Mùa đông xuống thấp tới 40C.Mùa hè lên cao tới
260C.Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9, kéo dài cho tới cuối năm.Lượng mưa trung bình từ 300-3500mm Độ ẩm trung bình 85% trở lên
* Bà Nà – Đà Nẵng
Trang 17Núi có độ cao 1.467m, huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng, cách Đà Nẵng khoảng 35km về phía Tây Nam, nơi nghỉ mát ở độ cao 1.000m, có rừng thông
và nhiệt độ từ 150C – 260C
* Đà Lạt
Trung tâm nghỉ mát nổi tiếng của Việt Nam, nằm trên cao nguyên Lâm Viên thuộc tỉnh Lâm Đồng, trên độ cao 1.400 – 1.500m với diện tích 417km2, về dân
số 120.000 người Đà Lạt có hồ nước trong xanh, nhiều thác nước, rừng thông
ba lá làm tôn thêm vẻ đẹp Đà Lạt, khí hậu ở đây mát mẻ quanh năm, thích hợp cho việc nghỉ dưỡng, dưỡng bệnh, tham quan du lịch quanh năm
* Mẫu Sơn – Lạng Sơn
Cách thị xã Lạng Sơn 30km về phía Đông là đỉnh núi Mẫu Sơn nằm ở độ cao 1.541m so với mặt nước biển, khí hậu ôn hòa rất thích hợp cho nghỉ dưỡng Núi Mẫu Sơn được bao bọc bởi hàng trăm quả núi nhỏ Mùa đông trên đỉnh núi luôn bị sương mù bao phủ Về mùa hè, trong sắc nắng vàng rực rỡ đỉnh núi Mẫu Sơn hiện lên sừng sững cao ngất trông thật ngoạn mục, vào mùa xuân cả vùng Mẫu Sơn đỏ rực hoa đào Đào trái của Mẫu Sơn vừa to vừa ngọt, một đặc sản nữa của Mẫu Sơn là chè Mẫu Sơn, vị chè thơm ngọt, uống 1 lần để rồi nhớ mãi Người ta đem so sánh Mẫu Sơn của Lạng Sơn đẹp chẳng kém gì Sapa của Lào Cai Trong tương lai Mẫu Sơn của Lạng Sơn có thể xây dựng thành khu nghỉ dưỡng và phát triển loại hình du lịch leo núi
c Thủy văn
c.1 Các dòng sông ở Việt Nam
Đối với du lịch, sông ngòi Việt Nam được sắp xếp cào loại tài nguyên phục hồi sức khỏe, sông hồ thường đóng vai trò tô điểm cho cảnh quan, tạo nên vi khí hậu trong lành Các điểm và các khu giải trí thường được hình thành ở vùng ven sông, ven bờ hồ.Có thể đáp ứng các loại hình du lịch thể thao như bơi, lặn, săn bắt cá, lướt ván, câu cá, phơi nắng, ngắm cảnh trên các tàu du lịch trên sông Các nhà nghỉ an dưỡng, nghỉ mát và các bãi tắm thường nằm ven sông hồ đối với các nước ở xa biển
Trang 18Sông ngòi Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc, đa dạng với các nguồn nước dồi dào, hàm lượng phù sa cao Tổng số sông ngòi Việt Nam có 2.360 sông, suối, và có nước chảy thường xuyên Mật độ của mạng lưới sông ngòi trung bình 1 – 1.5km/km2, cao nhất là khu vực sông Lô đạt tới 1.78km/km2, nơi thấp nhất đạt 0.5km/km2 Ở vùng núi đá vôi Dọc theo bờ biển cứ 20km đường biển ven bờ thì có 1 cửa sông, còn trong các vùng đồng bằng lớn mạng lưới kênh rạch còn đây dày đặc hơn, rất thuận tiện cho việc đi lại giữa các tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ Sông Việt Nam ít sông lớn và dài chỉ có 2 hệ thống sông lớn là sông Hồng và sông Cửu Long, cũng chỉ có phần hạ lưu của sông là nằm trong phần lãnh thổ Việt Nam Sông Hồng có chiều dài ở Việt Nam 510km so với chiều sài toàn bộ dòng sông là 1.148km (510/1.148km).Còn sông Cửu Long là 230km/4.500km tức là chỉ chiếm 5% tổng chiều dài của cả dòng sông Tuyệt đại đa số các dòng sông nước ta có lưu vực sông nhỏ hơn 200km2, chỉ có khoảng 20 sông lớn có diện tích lưu vực lớn hơn 5.00km2
Sông Việt Nam chảy theo hai hướng chính: Tây Bắc – Đông Nam và hướng vòng cung Các sông đều đổ ra biển đông, trừ hệ thống sông Bằng Giang, Kỳ Cung và các sông ở Tây Nguyên
Sông ngòi Việt Nam có nhiều thác nghềnh, sông chảy qua các thung lũng hẹp sâu tạo thành các khe hẻm sâu và đẹp là các sông chả qua các miền núi đồi
và cao nguyên, còn các sông đồng bằng thường chảy êm đềm, uốn khúc quanh
co, trước khi thoát ra biển tạo thành nhiều đàm phá
Sông ngòi Việt Nam quanh năm nhiều nước do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè lũ lụt còn mùa mưa thì nước cạn Hàm lượng phù sa
do sông vận tải khá lớn vào mùa lũ Ở sông Hồng lượng phù sa về mùa lũ là 3.500g/m3 nước, mùa cạn là 500g/m3, lượng phù sa do sông Hồng mang theo lớn nhất là 14kg/m3 Hàng năm sông Hồng mang ra biển một khối lượng phù sa là 80.106m3/năm tức là 130 triệu tấn/năm
Còn sông Cửu Long lượng phù sa vào mùa lũ là 250-300g/m3, mùa cạn 10g/m3, lượng phù sa của đồng bằng sông Cửu Long ít hơn Sông Hồng, nhưng
Trang 1950-khối lượng nước của sông Cửu Long mang ra biển nhiều hơn nên 50-khối lượng phù sa cũng gần bằng Sông Hồng
c.2 Các hồ lớn và đẹp của Việt Nam
Hồ ở Việt Nam đa phần là nhỏ, sông có nhiều hồ cà có nguồn gốc khác nhau: + Hồ có nguồn gốc kastơ, nguồn gốc kiến tạo, nguồn gốc khúc sông cổ + Hồ có nguồn gốc vũng vịnh
+ Hồ do con người tạo nên
Hồ trong du lịch được coi như nhân tố tăng thêm vẻ đẹp của cảnh quan tự nhiên, làm điều hòa khí hậu và là cơ sở để phát triển một số loại hình du lịch như đua thuyền, bơi thuyền, lướt ván trên hồ …
- Hồ Ba Bể: Ở Bắc Cạn cách chợ Rả 16km thuộc tỉnh Cao Bằng, hồ có nguồn gốc kastơ sụt lún của vùng đá vôi Hồ có chiều dài khoảng 8km, rộng 3km, độ sâu từ 9 – 29m, nằm trên độ cao so với mực nước biển là 145m Xung quanh bờ hồ
là núi đá vôi và rừng cây rậm rạp, có nhiều sông suối nhỏ đổ vào hồ, hồ có nhiều ngóc ngách, đảo nhỏ, nhiều hang động thác nước sơn thủy hữu tình
- Hồ Gươm: Hồ nằm ở trung tâm Hà Nội là một khúc sông cụt, cổ của sông Hồng, hồ có tuổi vài ngàn năm, tên gọi Hoàn Kiếm đã có từ thế kỉ thứ 5 trước đây Nước hồ trong xanh, hồ dài 700m rộng 200 có hai đảo là Ngọc Sơn (trên đảo có đền Ngọc Sơn) và đảo rùa (trên đảo có tháp nên gọi là đảo tháp rùa)
- Hồ Tây: Là hồ lớn nhất Hà Nội, nằm ở phía tây thành phố, hồ rộng 500ha, chu vi hồ đạt tới 17km, là một khúc sông cụt, cổ của sông Hồng Hồ là một thắng cảnh đẹp của Hà Nội, nơi nghỉ ngơi hóng mát và những ngày hè nóng bức, nơi có chơi thuyền và đua thuyền của thanh niên Hà Nội
- Hồ Xuân Hương: Hồ lớn nhất của thành phố Đà Lạt, nằm ở vị trí trung tâm, có diện tích là 4km2, chu vi hồ khoảng 5km Có sức chứa từ 8.000 – 1.5 triệu m3 nước.Hồ có nguồn gốc nhân tạo (do việc ngăn sông Cam Ly và đắp đập giữ nước lại) Xung quanh hồ là các đồi thấp phủ rừng thông ba lá, các biệt thự nhà cửa ẩn hiện trong các đồi thông.Bên hồ có nhà thủy tạ, hồ rất thích hợp cho việc chèo thuyền, ngồi câu cá ven bờ
Trang 20- Hồ Than Thở (hồ Sương Mai): Ở về phía Đông Nam của Đà Lạt, cách Đà Lạt 5km, có diện tích 8,5 ha, xung quanh hồ là các đồi thông, nước hồ trong xanh, cảnh trí yên tĩnh, không khí trong sạch thích hợp cho việc nghỉ ngơi, câu
cá và tâm tình
- Hồ Thang Heng : Ở xã Trần Quốc Toản – huyện Quảng Yên – tỉnh Cao Bằng Hồ là một chuỗi các hồ lớn nhỏ xinh đẹp như một chuỗi hạt ngọc quàng lên trên các ngọn núi đá vôi cao hơn 1.000m so với mực nước biển
- Hồ Lắc: Có diện tích 876 ha, là hồ lớn nhất ở tây nguyên thuộc tỉnh Đaklak
Hồ là một thung lũng già cổ trong thung lũng sông Krông Ana (Krông có nghĩa là sông) Thung lũng sông Ana là thung lũng già, dòng chảy quanh co, để lại nhiều đầm hồ, nơi rộng nhất chính là hồ Lắc, hồ có nhiều cá chép, rô, thác lác…
- Biển Trời (Ya Nuêng): Thuộc địa phận Gia Lai – Kontum, ở phía Đông nam Pleiku, hồ dài 2.500m, rộng 1.000m, có diện tích 230 ha, có nhiều cá, có nhiều cảnh đẹp
c.3 Các thác nước đẹp của Việt Nam
- Thác Đầu Đẳng : Là một thác đẹp, nằm trong địa phận tỉnh Cao Bằng, thác rộng hàng trăm mét, thác này còn được gọi là thác Ba Bậc Thác Đầu Đẳng nằm trên sông Năng, từ hồ Ba Bể đi dọc theo dòng nước chảy vào sông Năng qua 3
km là đến thác Đầu Đẳng, dòng thác bị một đảo tách ra làm hai, thác chảy xuống
ba bậc, mỗi bậc cao 7 – 8m tạo nên tiếng gầm thét như sấm, nước bọt trắng xóa
- Thác Bản Giốc: Là một kỳ quan của Cao Bằng, thác ở trên sông Quy Xuân thuộc huyện Đàm Thủy – huyện Trùng Khánh Thác được tạo thành trên đoạn sông sụt lún xuống tới của sông Quy Xuân, Thác rất rộng chia làm hai phần: phần thác phía tây có tên là thác Hoa, nước đổ xuống thành ba dòng, một dòng toàn là hạt nước nhỏ như bụi trong và nhẹ như tấm màn the, còn hai dòng thác kia ào ào tuôn chảy xuống chân thác, phía trong thác có hang động, có nước chảy ra màu xanh thẳm, bờ thác có rêu phủ dài hàng thước Có phần thác phía đông đổ xuống thành ba bậc, nước chảy rất rộng
Trang 21- Thác Cam Ly: Ở Đà Lạt cách thành phố 2km về phía đông bắc của Đà Lạt, sông Cam Ly chảy qua thành phố sau đó chảy qua các tảng đá hoa cương rồi đổ xuống một hồ nhỏ dưới chân thác Thác Cam Ly như là một tấm lụa trắng, ẩn hiện trong các trùm lá xanh Thác có độ cao 20 mét là một nơi khách ưu ngắm cảnh, chụp hình và câu cá dưới hồ
- Thác Prenn (Thác Thiên Sa): Ở dưới chân đèo Prenn, thác có độ cao 13m, dưới chân thác có hồ nhỏ, có cầu gỗ để cho du khách đi trong màn nước đổ xuống từ phía trên thác, xung quanh có đồi thông và hoa anh đào, cây cảnh, vườn thú nhỏ, nhà hàng giải khát Đây là nơi du khách dừng chân trước khi lên đèo vào thành phố Thác Đatanla (Thác Tử Thần)
- Thác Yaly: Ở trên sông Pôcô cách Pleiku 33km về phía tây bắc, thác đẹp hùng vĩ Đầu năm 1988 con đường vào thác đã được nâng cấp để chuẩn bị khởi công xây dựng nhà máy thủy điện với công suất ước tính là 673MW Hiện nay nhà máy điện đã đi vào hoạt động
c.4 Tài nguyên suối khoáng và suối nước nóng
Suối khoáng là nước tự nhiên ở dạng nước ngầm, nước có chứa một lượng khoáng chất hòa tan trong nước từ 1,5 – 2 gram trong một lít nước Còn suối nước nóng là suối có nhiệt độ từ 35 – 42oC trở lên mới được coi là suối nước nóng Suối khoáng và suối nước nóng có ảnh hưởng tói toàn bộ cơ thể con người có tác dụng chữa bệnh phục hồi sức khỏe, an dưỡng và tham quan du lịch Ở Việt Nam có 200 suối khoáng và suối nước nóng, riêng ở miền nam có tới 100 suối, các suối nước nóng và khoáng đều có giá trị
- Suối Vĩnh Hảo
- Suối nước nóng Bình Châu
- Suối Nghệ
- Suối khoáng ở Khánh Hòa
- Suối khoáng ở Tri Tôn An Giang
- Suối khoáng và nước nóng Tây Nguyên
Trang 22- Các suối nước nóng và nước khoáng ở Miền Trung Bộ: Cổ Bi; Bình Hòa; Triêm Đức; Phú Sen;
- Các suối nước khoáng và nước nóng ở miền Bắc
độ ngập nước trên các loại đất khác nhau có các loài khác nhau
Động thực vật Việt Nam giàu có do sự di cư của các loài động thực vật từ các luồng di cư:
Hymalaya, Hoa Nam Trung Quốc xuống, từ Ấn Độ sang, từ Mã Lai lên tạo nên các loài thực vật bản địa và di cư tới Một số loài cây, con vật đã được nhập vào Việt Nam có sự chọn lọc kỹ, khoảng 500 loài trong đó có khoảng 200 loài thân gỗ
Trang 2312.552.000ha ( 37.8%) trong đó rừng gỗ chỉ còn 1.0656.000ha (32.0%) Diện tích rừng gỗ quý chỉ còn 308.000ha (0,9%) còn lại là rừng tre lứa và rừng nghèo nàn cần cải tạo Rừng nước ta được sử dụng trong nhiều ngành kinh tế quốc dân công nghiệp giấy sợi, tinh dầu cây cho chất béo, cho chất taniu, cho chất nhuộm, cho nhựa, cho công nghiệp xây dựng, chống lò hầm, tiểu thủ công nghiệp đan lát, cho thức ăn, trái cây nuôi sống con người, cho các công trình nghiên cứu khoa học …
d.2 Về động vật
Cũng giàu có không kém thực vật Ở Việt Nam có 300 loài thú 1.000 loài chim,
250 loài bò sát, 84 loài lưỡng cư, 200 loài cá nước ngọt, 800 loài cá nước mặn, 80 loài tôm, 10 loài mực…có nhiều động vật hiếm quý trên thế giới, Voi Hươu, Tê Giác… Động vật thường sống trong rừng, đồng cỏ, các đám nước mặn ngọt, những nơi điều kiện sinh sống thích hợp thì số lượng tăng lên nhanh chóng
d.3 Một số khu bảo tồn thiên nhiên , vườn quốc gia
Các khu bảo tồn thiên nhiên hay các rừng cấm quốc gia là những khu vực được bảo vệ nghiêm túc nhằm bảo tồn một số loài động thực vật quý có nguy cơ
bị tiêu diệt Đây là nơi gìn giữ và duy trì các giống cây và động vật hiếm, đồng thời cũng là nơi dành phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và tham quan
du lịch cho mọi người
- Rừng quốc gia Cúc Phương
Có diện tích 25.000ha, phân bố ở giữa các tỉnh Nam Hà, Ninh Bình , Thanh Hóa và Hòa Bình Là khu rừng nguyên sinh nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, được bao bọc quanh bởi các dãy núi cao hiểm trở, trong rừng có 5 tầng cây, cảnh quan hấp dẫn, có 2.000 loài cây thân gỗ trong đó có các loài Kim Giao, Chò, Chò Chỉ, Mun, Cảm Chướng, Tán, Sụ …50 loài Phong Lan bốn mùa nở hoa, có 20 bộ con trùng đặc biệt là các loại bướm, 255 loài động vật có xương sống, các loài quí và hiếm có ở Đông Nam Á như loài trăn gấm, báo gấm, thằn lằn bay, sóc bay Trong rừng có các cây cổ thụ chư Chò ngàn năm, cao 50m, đường kính ở gốc là
16 người ôm Cây Sấu cổ thụ có tuổi 1.000 năm vòng gốc 60m, cây Chò cao tới
Trang 2470m cũng có tuổi tới 1.000 năm, nhiều dây leo thân gỗ còn có nhiều hang động trong đó có dấu vết của người cổ xưa đã từng sống trong hang động
Ở hang Đầm đường vào hang lên dốc có 233 bậc thang, nơi đây có khoảng 7.000 năm đã có người cổ xưa sống tại đây, ở rừng Cúc Phương có Quèn Voi nơi Nguyễn Huệ đã cho quân lính nghỉ tại đây, trên con đường ra Thăng Long
Phong cảnh khu rừng thật đẹp có nhiều thác nước trên sông Đồng Nai, đây
là khu rừng tiêu biểu cho giới động thực vật miền nam Việt Nam
- Vườn quốc gia Cát Bà
Trên đảo Cát Bà có diện tích 1.000ha, cách Hải Phòng 30 hải lý thuộc rừng mưa nhiệt đới mang tính chất đại dương, thực vật giầu có 600 loài thuộc 100 họ
có tới 200 loài thân gỗ, 15 loài thân mộc:
Nghiến, táu, Hoàng Đàn, Lim, Lát, Vũ Hương …Kim Giao ở Cát Bà mọc thành rừng là một loài cây hiếm có (ở đây có 32ha rừng thuần chủng) 500 loài cây thuốc
Về động vật có Sơn Dương, Sóc Bay, Khỉ Vàng, Voọc quần đùi, có giống kỳ
đà cổ xưa, 900 loài cá, tắc kè lớn gấp đôi nơi khác
Theo số liệu điều tra trên đảo có 28 loài chim, 20 loài bò sát, các laoif chim quý ở vùng ven biển có Hải âu, Gà lôi nước, Sâm cầm, Le le vịt trời, Cốc đế, Chim có bộ lông đẹp như Cao cát, bò sát có trăn, tắc kè, Kỳ đà, Rắn biển, giàu có thủy sản như: Tôm he, tôm hùm, tôm rảo, cá he, đồi mồi, đặc biệt là hà tù, ngọc
Trang 25trai Ngoài ra còn có di chỉ dấu vết của người xưa cư trú trong các hang động, hang đục, đảo hang, hang eo bùa
Đảo Cát Bà cùng với Hải Phòng – Đồ Sơn tạo thành một tuyến du lịch hấp dẫn đối với du khách ưa thích du lịch biển cả
- Vườn quốc gia ba Vì
Vườn quốc gia Ba Vì đứng hàng thứ hai sau vườn quốc gia Cúc Phương năm trong 10 vườn quốc gia đã được xá định như cát tiên, Cát Bà …nó chiếm một diện tích gần 75.000 ha
Điều kiện địa hình đặc biệt đã tạo nên một hệ sinh thái hết sức độc đáo, phong phú:
+ Từ độ cao 400m trở lên hình thành vành đai nhiệt đới và á nhiệt đới nguyên sinh
+ Lên tới độ cao 800m đã là vùng khí hậu á nhiệt đới: thời pháp thuộc chính quyền thực dân đã cho xây dựng ở đây gần 200 biệt thự để làm nơi nghỉ mát Cũng
từ khu rừng này, một nguồn nước thiên nhiên cung cấp thường xuyên cho hai hồ Suối hai và Đồng Mô.Ngải Sơn nay trở thành khu du lịch hấp dẫn, với mặt nước trải rộng 2.200ha, không chỉ tạo nên một thứ khí hậu thuận lợi cho sức khở mà nó còn tưới tiêu cho gần 10.000ha đồng ruộng vùng này
- Tràm chim Đồng Tháp Mười
Diện tích 6.000km2 – 4.560km2 gồm các huyện phía bắc tỉnh Đồng Tháp, ba huyện tỉnh Long An và một số khu vực nhỏ tỉnh Long An và một số khu vực nhỏ tỉnh Tiền Giang Đây là khu vực đồng thấp trũng hoàn toàn bị ngập nước về mùa mưa lũ, có khu vực ngập khá sâu, vào thời kỳ khô hạn lại là vùng cỏ lác và lau sậy điển hình, rừng tràm thích hợp với vùng đất này hệ thống kênh rạch chằng chịt 3.200 kênh tưới tiêu nước, kênh Hồng Ngự là kênh lớn nhất Thủy sản nước ngọt: rất giàu có cá đồng, tôm , cua, ốc… Các loài bò sát có rắn, rùa, chuột đồng… Đặc biệt là có nhiều cò, sếu cổ trụi sống tại đây trong vùng ngập nước sát thị trấn Tam Nông (Đồng Tháp) được gọi là Tràm Chim nơi đó có sếu cổ trụi quần tụ tại đây đông nhất có trên 1.000 con, có một nơi mới phát hiện có Tân Biên – Trì Tôn – An
Trang 26giang và Nam Thái Sơn huyện Hòn Đất – Kiên Giang có khoảng 100 đến kiếm ăn
và cư trú Loài sếu này là loài quý hiếm trên thế giới
- Sân chim – vườn chim Minh Hải
Là nơi quy tụ có đến hàng ngàn hàng vạn con, do điều kiện sống thích hợp giàu có thức ăn Ở Minh Hải có ba sân chim trong bốn sân chim lớn ở Nam Bộ, các sân chim đó ở huyện Ngọc Hiển, Cái Nước và Vĩnh Lợi với tổng diện tích là 183ha, có tới 50 loài khác nhau sống tại đây, các loài chim chính có cò, vạc, le
le, chàng bé (bồ nông) cù đen, cồng cộc, quạ, điêng, điểng, ó cá, nhạn , sếu, có cánh màu hoa sen phớt hồng Mỗi loài trong số chúng ở một khu vực riêng không xâm phạm lẫn nhau.Vào sân chim thường rất khó khăn vất vả nhưng là nơi hoang vắng, song tới nơi thì lại ồn ào chí chóe như vỡ chợ, điều đó nói lên
sự đông đúc của sân chim Nguồn lợi thu được từ sân chim là thịt, lông, một lượng khá lớn phân chim, trong phân chim có hàm lượng cao về photphat kali, dùng bón phân rất tốt trung bình có khoảng 30.000 con chim sẽ cho khoảng 900kg lông chim một vườn có 2ha hàng năm có thể bắt được 2.000 chim con, chủ yếu là cồng cộc và cò, một đàn cò ở đây có thể nặng 5 – 7kg
Ngoài ta tại Bến Tre cũng có một sân chim ở Cù Lao đất
1.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên nhân văn do con người tạo ra, hay nói cách khác nó là đối tượng
và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo Tài nguyên du lịch nhân tạo có tác dụng nhận thức nhiều hơn.Tác dụng giải trí không điển hình hoặc có ý nghĩa thứ yếu
Việc tìm hiểu các đối tượng nhân tạo diễn ra trong một thời gian ngắn Tài nguyên du lịch nhân tạo thích hợp nhất đối với loại hình nhận thức theo lộ trình
Số người quan tâm tới tài nguyên du lịch nhân tạo thường có trình độ văn hóa cao, thu nhập và yêu cầu cao hơn
Tài nguyên nhân tạo thường tập trung ở các thành phố lớn, khi đến thăm nguồn tài nguyên nhân tạo có thể sử dụng cơ sở vật chất đã được xây dựng trong các điểm quần cư mà không cần xây dựng cơ sở riêng