nhân và pháp nhân mới được xác lập giao dịch thông qua người đại diệncòn các chủ thế khác theo quy định của BLDS thì không có quyền này.- Thứ hai, pháp nhân có thể có nhiều người đại diệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
MÔN HỌC LUẬT DÂN SỰ BÀI THẢO LUẬN LỚN HỌC KỲ
GIẢNG VIÊN: LÊ THANH HÀ
Trang 2 Bài tập 1
Phần 1: Trường hợp đại diện hợp pháp
*Quyết định số 08/2013/KDTM-GĐT ngày 15/3/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
Nguyên đơn: Công ty liên doanh sản xuất thép Vinausteel.
Bị đơn: Công ty cổ phần kim khí Hưng Yên (HYM).
Ngày 16/01/2017, Công ty cổ phần kim khí Hưng Yên (bên A) kí kết hợp đồngmua bán phôi thép với Công ty liên doanh sản xuất thép VINASTEEL (bên B).Ngay sau khi hợp đồng được kí kết, Công ty Vinasteel đã chuyển khoản đầy đủ
số tiền cần giao dịch cho bên B nhưng bên B thường xuyên không tuân thủ nghĩa
vụ giao hàng Nay Công ty Vinasteel kiện Công ty kim khí Hưng Yên bồi thườngthiệt hại do vi phạm hợp đồng với tổng số tiền tạm tính là 8.681.106.883 đồng.Tuy nhiên phát sinh vấn đề là Công ty cổ phần kim khí Hưng Yên cho rằng ôngMạnh- Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần kim khí Hưng Yên đã kí kết hợpđồng giao dịch với bên Công ty Vinasteel bên Công ty không biết nên không cótrách nhiệm bồi thường và đó hoàn toàn là do ông Mạnh phải chịu trách nhiệm.Tuy nhiên ông Mạnh kí kết hợp đồng là có sự ủy quyền của bà Lê Thị Ngọc Lan– tổng giám đốc công ty kim khí Hưng Yên nên công ty kim khí Hưng Yên phải
có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho công ty Vinasteel và thanh toán cáckhoản nợ
Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 (so với BLDS năm 2005) về người đại diện.
- Thứ nhất, pháp nhân có thể là người đại diện
Tại khoản 1 Điều 134 BLDS năm 2015 quy định: “Đại diện là việc cánhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợiích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người đượcđại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” Với quy định này không chỉ
có cá nhân mà pháp nhân cũng có thể là người đại cho cá nhân hay mộtpháp nhân Một pháp nhân hoàn toàn có thể ủy quyền cho một pháp nhânkhác nhân danh mình tham gia vào một quan hệ pháp luật nhất định màhợp đồng ủy quyền đó là hợp pháp Đây là một điểm mới về người đạidiện so với BLDS 2005 Theo Điều 139 BLDS 2005 thì người được đạidiện chỉ có thể là cá nhân mà không thể là pháp nhân, theo đó cá nhân chỉ
có thể ủy quyền cho cá nhân và pháp nhân chỉ có thể ủy quyền cho cánhân mà không cho phép pháp nhân ủy quyền cho một pháp nhân khácđại diện mình tham gia một quan hệ pháp luật
Tại khoản 2 Điều 134 BLDS 2015 đã quy định: “Cá nhân, pháp nhân cóthể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện” Nhưvậy, BLDS 2015 đã bãi bỏ cụm từ “chủ thể khác” trong BLDS 2005 Việcxác lập và thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện chỉ có cá
Trang 3nhân và pháp nhân mới được xác lập giao dịch thông qua người đại diệncòn các chủ thế khác theo quy định của BLDS thì không có quyền này.
- Thứ hai, pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật:
Tại BLDS 2015 đã tách riêng quy định về đại diện theo pháp luật của cánhân và đại diện theo pháp luật của pháp nhân, quy định tại 2 khoản củamột điều luật Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy địnhtại Điều 137 BLDS năm 2015 gồm: Người được pháp nhân chỉ định theođiều lệ; Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; Người
do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án Theo đó, quy định
cụ thể và rõ ràng hơn trong từng trường hợp so với quy định trước đây củaBLDS 2005
Tại khoản 2 Điều 137 quy định: “Một pháp nhân có thể có nhiều ngườiđại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho phápnhân theo quy định tại Điều 140, Điều 141 của Bộ luật này” Việc quyđịnh cho phép một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo phápluật của BLDS 2015 đã bảo đảm sự tương thích với quy định của Luậtdoanh nghiệp 2014 trong việc quy định Công ty trách nhiệm hữu hạn vàCông ty cổ phần “có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo phápluật”
- Thứ ba, quy định cụ thể về thời hạn đại diện:
Bộ luật Dân sự 2015 bổ sung quy định về thời hạn đại diện mà Bộ luậtdân sự 2005 không quy định Cụ thể khoản 1 Điều 140 BLDS 2015 quyđịnh: “Thời hạn đại diện được xác định theo văn bản ủy quyền, theo quyếtđịnh của cơ quan có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theoquy định của pháp luật”
BLDS 2015 bổ sung quy định về việc xác định thời hạn đại diện trongtrường hợp không xác định được thời hạn đại diện theo văn bản ủy quyền;quyết định của cơ quan có thẩm quyền; điều lệ của pháp nhân hoặc theoquy định của pháp luật (khoản 2 Điều 140 BLDS 2015) Cụ thể: Nếuquyền đại diện được xác định theo giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đạidiện được tính đến thời điểm chấm dứt giao dịch dân sự đó Nếu quyềnđại diện không được xác định với giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đạidiện là 01 năm, kể từ thời điểm phát sinh quyền đại diện
Với những quy định trên giúp người đại diện biết rõ được thời hạn đạidiện của mình khi tham gia đại diện cho bên ủy quyền hay bên được đạidiện kí kết và thực hiện các giao dịch
- Thứ tư, bổ sung quy định về hậu quả của giao dịch dân sự do người không
có quyền đại diện thực hiện và do người đại diện xác lập, thực hiện vượtquá phạm vi đại diện:
BLDS 2015 đã bổ sung điều khoản loại trừ đối với trường hợp giao dịchdân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làmphát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ các trường hợpđược quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 142 BLDS 2015 (đó là:Người được đại diện đã công nhận giao dịch; người được đại diện biết màkhông phản đối trong một thời hạn hợp lý; người được đại diện có lỗi dẫnđến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người
đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện),
Trang 4đồng thời quy định: “Trường hợp người không có quyền đại diện và người
đã giao dịch cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà gây thiệt hại chongười được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệthại”
BLDS 2015 cũng bổ sung điều khoản loại trừ trong trường hợp giao dịchdân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diệnkhông làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối vớiphần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ các trườnghợp quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 143 (như đã viện dẫn ở trên);đồng thời bổ sung quy định về giao dịch dân sự do người đại diện xác lập,thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụcủa người được đại diện đối với phần giao dịch được xác lập, thực hiệnvượt quá phạm vi đại diện thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đốivới người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đạidiện, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc vượtquá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch
Câu 2: Trong Quyết định số 08, đoạn nào cho thấy ông Mạnh đại diện cho Hưng Yên xác lập hợp đồng với Vinausteel?
- Đoạn “Ngày 16/01/2007, Công ty kim khí Hưng Yên ký kết hợp đồng
mua bán với Công ty Vinausteel là do ông Mạnh Phó giám đốc ký theo sự
ủy quyền số 1296/UQ/HYM ngày 20/11/2006 của bà Lê Thị Ngọc Lan”cho thấy ông Mạnh đại diện cho Hưng Yên xác lập hợp đồng vớiVinausteel
Câu 3: Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh có trách nhiệm gì với Vinausteel không?
- Theo Hội đồng thẩm phán, việc ông Mạnh có Bản cam kết vào ngày
01/04/2007 “xin chịu trách nhiệm trước pháp luật và xin cam kết nhậntrách nhiệm trả cho Công ty và các bên thứ ba (trong đó có Công ty liêndoanh sản xuất sắt thép Vinausteel) tất cả các khoản nợ và bồi thườngthiệt hại phát sinh từ các giao dịch, hợp đồng” mà ông Mạnh đã ký hoặc
từ các giao dịch, hợp đồng của Công ty được ký kết trước đó Tuy nhiên,Công ty Vinausteel không tham gia ký kết, không đồng ý nên không thuộctrường hợp chuyển giao nghĩa vụ dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều
315 BLDS 2005 Vậy nên, ông Mạnh không phải chịu trách nhiệm vớiVinausteel
Câu 4: Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến ông Mạnh (có văn bản nào về chủ đề này? Có thuyết phục không?)
- Hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến ông Mạnh thì
ông Mạnh không phải là cá nhân phải chịu trách nhiệm pháp lý đối vớiCông ty liên doanh sản xuất thép Vinausteel mà là cả Công ty kim khíHưng Yên phải chịu trách nhiệm vì đã vi phạm hợp đồng mua bán Việcông Mạnh cam kết chịu trách nhiệm về các khoản nợ của Công ty liên
Trang 5doanh sản xuất thép Vinausteel là việc nội bộ của Công ty kim khí HưngYên.
- Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm rất thuyết phục Cụ thể trong
phần xét thấy:
Bởi lẽ, ngày 20/11/2006 bà Lê Thị Ngọc Lan có Giấy ủy quyền cho ông
Lê Văn Mạnh – Phó Tổng giám đốc Công ty kim khí Hưng Yên đượcthay mặt Công ty thực hiện các giao dịch kinh tế trong phạm vi ngànhnghề kinh doanh(trong thời gian này bà Lê Thị Ngọc Lan vẫn là người đạidiện theo pháp luật của Công ty kim khí Hưng Yên), nên ngày16/01/2007, ông Mạnh đã đại diện cho Công ty kim khí Hưng Yên ký hợpđồng mua bán phôi thép số 01/HĐPT/2007/VA-HY với Công tyVinausteel Quá trình thực hiện hợp đồng trên, Công ty kim khí HưngYên không giao đủ hàng là trách nhiệm của Công ty kim khí Hưng Yên
Câu 5: Theo Hội đồng thẩm phán, Hưng Yên có trách nhiệm gì với Vinausteel không?
- Theo Hội đồng thẩm phán, Công ty cổ phần kim khí Hưng Yên phải có
trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Công ty liên doanh sản xuất thépVinausteel số tiền là: 6.584.272.000 đồng, tiền phạt là 1.880.326.225đồng, tiền lãi 370.000.000 đồng Tổng cộng là 8.834.958.225 đồng
Câu 6: Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến Hưng Yên nêu trên.
- Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến Hưng Yên là
Công ty Hưng Yên phải có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ và bồithường thiệt hại cho Công ty Vinausteel chứ không phải là ông Mạnh, ôngDũng Vì Công ty Hưng Yên đã vi phạm hợp đồng mua bán là giao không
đủ hàng Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm vô cùng hợp lý vì căn
cứ vào khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 của Bộ luật tố tụngdân sự (đã được sửa đổi và bổ sung năm 2011)
Câu 7: Nếu ông Mạnh là đại diện theo hợp pháp của Hưng Yên và trong hợp đồng có thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài này có ràng buộc Hưng Yên không? Biết rằng điều lệ của Hưng Yên quy định mọi tranh chấp liên quan đến Hưng Yên (như tranh chấp phát sinh từ hợp đồng do đại diện theo pháp luật xác lập) phải được giải quyết tại Tòa án.
- Nếu ông Mạnh là đại diện hợp pháp của Hưng Yên và trong hợp đồng có
thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài này Hưng Yên vẫn sẽ bị ràngbuộc Bởi vì, ông Mạnh là đại diện theo hợp pháp của Hưng Yên và thỏathuận trọng tài là hai bên đều đồng ý đưa tất cả hoặc một số tranh chấp đãhoặc có thể phát sinh từ giao dịch thương mại có khả năng được áp dụngtrọng tài ra giải quyết bằng con đường trọng tài
Phần 2: Trường hợp đại diện không hợp lệ
*Quyết định số 10/2013/KDTM-GĐT ngày 25/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao :
Trang 6Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.
Bị đơn: Công ty cổ phần xây dựng 16-Vinaconex
Ngày 14/5/2001 Ngân hàng TMCP Công thương đã cho Xí nghiệp xây dựng Công ty Xây dựng số II nay là Công ty cổ phần xây dựng 16-Vinaconex vay 2 tỷđồng Nay Xí nghiệp xây dựng 4 không có khả năng trả nợ nên Ngân hàng đã xử
4-lý phát mại một phần tài sản thế chấp Do xí nghiệp xây dựng 4 thuộc Công ty cổphần xây dựng 16-Vinaconex nên Ngân hàng yêu cầu công ty này phải có tráchnhiệm thanh toán khoản nợ nêu trên và xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh để thu hồi
nợ
Câu 1: Trong Quyết định số 10, đoạn nào cho thấy người xác lập hợp đồng với Ngân hàng không được Vinaconex ủy quyền (không có thẩm quyền đại diện để xác lập)?
- Trích bản án: “Công ty xây dựng số II Nghệ An có công văn số
064CV/XDII.TCKT gửi chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ Antrong đó có nội dung “đề nghị Ngân hàng Công thương Nghệ An khôngcho các Xí nghiệp thuộc Công ty xây dựng số II Nghệ An vay vốn khichưa có bảo lãnh vay vốn của côn gty kể từ ngày 06/4/2001…” và “cácvăn bản của Công ty liên quan đến vay vốn tại Ngân hàng Công thươngNghệ An trước ngày 06/4/2011 đề bãi bỏ”, nhưng ngày 14/5/2001 Ngânhàng vẫn kí hợp đồng tín dụng số 01/HĐTD cho Xí nghiệp xây dựng 4vay tiền”
Câu 2: Trong vụ việc trên, theo Tòa giám đốc thẩm, Vinaconex có chịu trách nhiệm với Ngân hàng về hợp đồng trên không?
- Theo Toà giám đốc thẩm, Vinaconex phải chịu trách nhiệm với Ngân
hàng về hợp đồng trên
- Điều này được thể hiện qua đoạn: “Sau khi Xí nghiệp xây dựng 4 vay tiền
Ngân hàng, Công ty xây dựng số II Nghệ An (nay là Công ty cổ phần xâydựng 16 – Vinaconex) phải chịu trách nhiệ m trả khoản nợ này.”
Câu 3: Cho biết suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm?
- Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm là hợp lí vì:
Thứ nhất, Công ty Vinaconex đã đồng ý cho Xí nghiệp xây dựng 4 trựcthuộc Công Ty Vinaconex vay vốn từ Ngân hàng thông qua việc Tổnggiám đốc Vinaconex có văn bản số 23 CV/TCT thông báo cho Ngân hàngbiết việc Vinaconex đồng ý cho Xí nghiệp xây dựng 4 trực tiếp vay vốntại chi nhánh Ngân hàng Căn cứ theo Điểm c Khoản 1 Điều 142 BLDS
2015, Công ty Vinaconex có lỗi dẫn đến việc Ngân hàng không thể biếtđược Xí nghiệp xây dựng 4 không có quyền đại diện nên giao dịch dân sựkhông làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với Công ty Vinaconex
Thứ hai, có căn cứ để cho rằng Vinaconex biết được việc Xí nghiệp xâydựng 4 vay vốn ngân hàng và không phản đối Điều này được thể hiện qua
Trang 7hàng loạt các sự kiện như Xí nghiệp xây dựng 4 dùng tiền vay Ngân hàng
để mua máy móc và có thực hiện báo cáo tài chính định kỳ cho Công tyVinaconex, Công ty Vinaconex sử dụng những máy móc trên để phục vụCông trình thi công,… Dựa trên điểm b khoản 1 Điều 142 BLDS 2015 thìVinaconex biết mà không phản đối trong thời hạn hợp lí nên hợp đồngtrong bản án vẫn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với Vinaconex
Câu 4: Nếu hoàn cảnh như trong Quyết định số 10 nhưng chỉ phía Ngân hàng phản đối hợp đồng ( yêu cầu hủy bỏ hợp đồng do người đại diện Vinaconex không có quyền đại diện) thì phải xử lí như thế nào trên cơ sở BLDS 2015? Vì sao?
- Căn cứ theo Khoản 3 Điều 142 BLDS 2015 thì Ngân hàng hoàn toàn
không có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ hợp đồng
do bên không có quyền đại diện xác lập vì:
Thứ nhất, Ngân hàng hoàn toàn không có căn cứ để biết được Xí nghiệp 4không có quyền đại diện Công ty Vinaconex không chứng minh đượcrằng Ngân hàng đã nhận được công văn số 064CV/XDII.TCKT bãi bỏnhững văn bản đồng ý cho các Xí nghiệp trực thuộc vay vốn được bảolãnh
Thứ hai, người được đại diện Công ty Vinaconex đã biết và không phảnđối hợp đồng như đã chứng minh ở trên nên thỏa mãn Điểm a Khoản 1Điều 142
Bài tập 2
*Tóm tắt bản án số 377/2008/DS – GĐT: Ông Võ Văn Lưu và bà Cao Thị
Thẩm là vợ chồng hợp pháp có 1 con chung là chị Võ Thị Thu Hương Sau khimiền Nam giải phóng, ông Lưu chuyển công tác vào miền Nam và nhận chuyểnnhượng 101m2 đất của bà Nguyễn Thị Bướm cất nhà để ở sau đó đăng kí kết hônvới bà Cao Thị Xê Năm 2003 ông Lưu chết để lại di chúc cho bà Xê hưởng toàn
bộ tài sản nhưng chị Hương và chồng không đồng ý vì cho rằng hôn nhân giữaông Lưu và bà Xê là không hợp pháp Nay bà Xê đâm đơn kiện 2 vợ chồng chịcho rằng bà Xê là vợ hợp pháp và có quyền hưởng toàn bộ tài sản Tòa sơ thẩm
và Tòa phúc thẩm cho rằng bà Xê được hưởng toàn bộ di sản của ông Lưu làkhông đúng, làm thiệt hại đến quyền lợi của bà Thẩm
*Tóm tắt Quyết định số 2493/2019/DS – ST: Cụ Nguyễn Thị Khánh và cụ An
Văn Lầm có 2 người con là bà Nguyễn Thị Khót và ông An Văn Tâm CụKhánh và cụ Nguyễn Tài Ngọt có 1 người con là ông Nguyễn Tài Nhật Trướckhi chết cụ Khánh để lại di chúc là cho ông Nhật hưởng toàn bộ di sản của mìnhgồm căn nhà 83 Lương Định Của quận 2 với hỗ trợ thiệt hại với tổng số tiền là1.847.491.000 đồng Nay các nguyên đơn đâm đơn kiện yêu cầu cho ông Tâm,
bà Khót được hưởng thừa kế di sản của cụ Khánh theo diện những người thừa kếkhông phụ thuộc vào di chúc vì vào thời điểm mở thừa kế ( khi cụ Khánh chết)thì bà Khót đã 71 tuổi lại mang nhiều bệnh, không có khả năng lao động Bêncạnh đó là ông Tâm khi ấy là thương binh loại 2/4 mất 72% sức lao động
*Tóm tắt Quyết định số 08/2013/DS-GDT: Cụ Huệ có tạo lập được một căn
nhà, có giấy chứng nhận của Sở xây dựng tỉnh Tiền Giang cấp Trước khi chết,
Trang 8cụ Huệ để lại di chúc cho ông Hà (con cụ Huệ) Ông Hà chết, không để lại dichúc Theo thỏa thuận (bà Ơn vợ ông Hà) được thừa kế toàn bộ tài sản này.Nhưng thực tế, bà Chắc cùng cụ Thiệu (mẹ đẻ cụ Huệ) đã sống rất lâu trong ngôinhà này nên bà Chắc không đồng ý trả lại nhà đất cho bà Ơn và yêu cầu đượccông nhận đây là tài sản của bà.
Trang 9Phần 1: Hình thức sở hữu tài sản
Câu 1: Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về hình thức sỡ hữu tài sản.
Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về hình thức sỡ hữu tài sản:
1 Từ 6 hình thức sỡ hữu tài sản (sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tưnhân, sở hữu chung, sở hữu của các tổ chức chính trị xã hội, sở hữu của tổ chứcchính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp),BLDS 2015 rút lại còn 3 hình thức sở hữu tài sản (sở hữu toàn dân, sở hữu riêng,
sở hữu chung)
Viêc rút gọn này thực chất là gộp 4 loại sở hữu: sở hữu tập thể, sở hữu chung, sởhữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội -nghề nghiệp và sở hữu của cá tổ chức chính trị xã hội lại thành một
Điều này giúp giản lược bộ luật và tránh sự trùng lặp một phần ý của ba loại sởhữu này
2 Sở hữu toàn dân
- Điểm mới đầu tiên của BLDS 2015 về sở hữu toàn dân là tên tiểu mục này Từ
“sở hữu nhà nước” (BLDS 2005) đổi thành “sở hữu toàn dân” (BLDS 2015).Điều này phù hợp với tinh thần của Hiến pháp 2013 là tôn trọng người dân củađất nước (ví dụ: tất cả chữ “Nhân dân” đều được viết hoa chữ “N”)
- Sở hữu toàn dân: Điều 197 của BLDS 2015 thay đổi định nghĩa về tài sản thuộc
sở hữu toàn dân so với Điều 200 BLDS 2005 theo Hiến pháp 2013: “Đất đai, tàinguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tàinguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sảncông thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quảnlý”
- Thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản được đầu tư vào doanh nghiệp:Điều 200 BLDS 2015 bỏ đi giới hạn quyền sở hữu của Nhà nước là chỉ trong
“doanh nghiệp nhà nước” của Điều 203 BLDS 2015 thành “doanh nghiệp”: “Khitài sản thuộc sở hữu toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp thì Nhà nước thựchiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của pháp luật vềdoanh nghiệp, quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tạidoanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan”
- Quyền của cá nhân, pháp nhân đối với việc sử dụng, khai thác tài sản thuộc sởhữu toàn dân: Điều 203 BLDS 2015 bỏ đi điều kiện “trong trường hợp pháp luật
có quy định và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép” của Điều 206BLDS 2005 Đồng thời, cũng không quy định thêm điều kiện nào trong việc sửdụng, khai thác này: “Cá nhân, pháp nhân được sử dụng đất, khai thác nguồn lợithủy sản, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản khác thuộc sở hữu toàn dân đúngmục đích, có hiệu quả, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quyđịnh của pháp luật”
Trang 104 Sở hữu chung
- Là sở hữu được gộp 4 loại sở hữu: sở hữu tập thể, sở hữu chung, sở hữu của tổchức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
và sở hữu của cá tổ chức chính trị xã hội lại thành một
- Sở hữu chung của cộng đồng: xác định rõ tài sản chung của công đồng là tàisản chung hợp nhất không phân chia (Điều 211 BLDS 2015)
- Sở hữu chung của các thành viên trong gia đình: được BLDS 2015 thêm nhưmột điều luật mới (Điều 212 BLDS 2015) so với BLDS 2005
- Sở hữu chung của vợ chồng: Tại Điều 213 BLDS 2015 được thêm một khoảnmới so với BLDS 2005 như sau: “Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sảntheo thỏa thuận theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tài sảnchung của vợ chồng được áp dụng theo chế độ tài sản này”
- Định đoạt tài sản chung: Điều 218 BLDS 2015 có một số thay đổi so với Điều
223 BLDS 2005 như sau:
o Bỏ “theo quy định của pháp luật” đối với quyền định đoạt của mỗi chủ sở hữu:
“Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu củamình” (khoản 1 Điều 218 BLDS 2015)
o Ở khoản 3 điều này, thêm ý: “Việc thông báo phải được thể hiện bằng văn bản
và các điều kiện bán cho chủ sở hữu chung khác phải giống như điều kiện báncho người không phải là chủ sở hữu chung”
o Thêm hai trường hợp từ bỏ quyền sở hữu thành hai khoản mới:
5 Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với động sản từ bỏphần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có ngườithừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữucòn lại
6 Trường hợp tất cả các chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối vớitài sản chung thì việc xác lập quyền sở hữu được áp dụng theo quy địnhtại Điều 228 của Bộ luật này
- Chia tài sản thuộc sở hữu chung: Khoản 1 Điều 219 BLDS 2015 thêm ý “trừtrường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác” so với Điều 224 BLDS2005: “Trường hợp sỡ hữu chung…bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trườnghợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác”
Trang 11Điều này thể hiện sự tôn trọng đối với các chủ thể.
Câu 2: Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt có được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với bà Thẩm không? Đoạn nào của Quyết định số 377 (sau đây viết gọn là Quyết định 377) cho câu trả lời?
- Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ
hôn nhân với bà Thẩm
- Phần Xét thấy của Quyết định 377 nói rõ: “Như vậy, quan hệ hôn nhân
giữa ông Lưu và bà Thẩm là quan hệ hôn nhân hợp pháp và vẫn đang tồntại theo quy định của pháp luật, còn quan hệ hôn nhân giữa ông Lưu và bà
Xê là vi phạm pháp luật Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6,thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kỳhôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm”
Câu 3: Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sỡ hữu chung của vợ chông bà hay sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?
- Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà, không
phải sở hữu riêng của ông Lưu
- Trích từ phần Nhận thấy của bản án: “Còn bà Thẩm cho rằng căn nhà số
150/6A Lý Thường Kiệt trên diện tích 101 m2 đất là tài sản chung vợchồng bà nên không nhất trí theo yêu cầu của bà Xê Bà đề nghị Tòa giảiquyết theo pháp luật để bà được hưởng thừa kế tài sản của ông Lưu cùngvới chị Hương”
Câu 4: Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của ông Lưu, bà Thẩm hay thuộc sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?
- Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên không thuộc sở
hữu chung của ông Lưu, bà Thẩm mà chỉ thuộc sở hữu riêng của ông Lưu
- Theo như Tòa: “Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành
phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hônnhân giữa ông Lưu và bà Thẩm, nhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyểnvào miền Nam công tác và căn nhà được tạo lập bằng nguồn thu nhập củaông; bà Thẩm không có đóng góp về kinh tế cũng như công sức để cùngông Lưu tạo lập ra căn nhà này nên ông Lưu có quyền định đoạt đối vớicăn nhà nêu trên.”
Câu 5: Anh/chị có suy nghĩ gì về giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao?
- Theo em, giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao là chưa
hợp lý Vì:
Theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về tàisản chung của vợ chồng:
Trang 12Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập dolao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tàisản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trườnghợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồngđược thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợchồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chungcủa vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, đượctặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng
Ở đây, Tòa không công nhận căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt là tàisản chung do căn nhà được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông Lưu khiông vào miền Nam đi công tác và bà Thẩm không góp công sức, kinh tếcùng với ông Lưu Tuy nhiên, thứ nhất, ông Lưu và bà Thẩm là vợ chồnghợp pháp(Ông Võ Văn Lưu và bà Nguyễn Thị Thẩm kết hôn ngày 26-10-
1964 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tịa Ủy ban nhân dân xaKinh Kệ, huyện Lâm Thảo, tỉnh Phú thọ) Thứ hai, theo như điều luật đãnêu trên, tài sản chung của vợ chồng có bao gồm thu nhập hợp pháp Do
đó, mặc dù thu nhập đó là do ông Lưu làm ra nhưng vẫn là tài sản chungcủa hai vợ chồng ông Lưu bà Thẩm về mặt pháp luật Điều đó cũng cónghĩa là phần tiền dùng để tạo lập căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệtcũng là tài sản chung của vợ chồng ông Lưu, bà Thẩm Vì vậy, cũng theođiều luật trích dẫn phía trên, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được saukhi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồngđược thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịchbằng tài sản riêng, căn nhà là của chung vợ chồng ông Lưu, bà Thẩm
Ngoài ra, trong Luật Hôn nhân và gia đình cũng có nói: “vợ, chồng bìnhđẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng,định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình vàlao động có thu nhập” Nghĩa là, mặc dù tiền do ông Lưu làm ra nhưngvẫn là tài sản chung của hai vợ chồng ông Lưu bà Thẩm, không cần biết
bà Thẩm có hay không làm ra tiền và góp vốn xây dựng nhà
Như vậy, căn nhà trên không phải là tài sản riêng của ông Lưu và việcTòa xác định căn nhà 150/6A Lý Thường Kiệt là tài sản riêng của ôngLưu là không có căn cứ hợp lý, không đúng theo quy định của pháp luật
Câu 6: Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu có thể di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu căn cứ pháp
lý khi trả lời.
- Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu
không thể di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt
- Theo luật, vợ chồng có quyền định đoạt ngang nhau đối với tài sản chung
của vợ chồng Căn cứ theo khoản 2 Điều 213 BLDS 2015 về sở hữuchung của vợ chồng: “Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sảnchung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài
Trang 13sản chung” Do đó trong trường hợp năy, ông Lưu chỉ có quyền di chúcđịnh đoạt ½ căn nhă trín thôi, ½ còn lại của căn nhă lă thuộc về bă Thẩm.
Phần 2: Diện thừa kí́
Cđu 1: Bă Thđ̉m, chị Hương vă bă Xí có thuộc hăng thừa kí́ thứ nhất của ông Lưu hay không? Vì sao?
- Chỉ có bă Thẩm vă chị Hương thuộc hăng thừa kế thứ nhđ́t của ông Lưu,
còn bă Xí thì không thuộc hăng thừa kế thứ nhđ́t của ông Lưu Vì:
Theo điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015: “Hăng thừa kế thứ nhđ́t gồm:
vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của ngườichết”
Đối với người vợ, để được hưởng thừa kế của nhau, thì quan hệ hôn nhđngiữa vợ vă chồng ở đđy phải lă quan hệ hôn nhđn hợp phâp hoặc hôn nhđnđđ́y phải được phâp luật công nhận lă hôn nhđn thực tế Do bă Thẩm lă vợhợp phâp của ông Lưu (Ông Võ Văn Lưu vă bă Nguyễn Thị Thẩm kếthôn ngăy 26-10-1964 trín cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tịa Ủy bannhđn dđn xa Kinh Kệ, huyện Lđm Thảo, tỉnh Phú thọ), nín bă thuộc hăngthừa kế thứ nhđ́t Còn đối với bă Xí, mặc dù ông Lưu vă bă Xí có lăm thủtục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhđn dđn phường 6, thănh phố Mỹ Tho,tỉnh Tiền Giang tuy nhiín vì ông Lưu chưa ly hôn với bă Thẩm nín việcông kết hôn với bă Xí lă bđ́t hợp phâp Do đó, để biết bă có thuộc hăngthừa kế thứ nhđ́t của ông Lưu hay không, ta xét coi quan hệ giữa bă Xí vẵng Lưu có phải hay không phải hôn nhđn thực tế
Do ông Lưu thuộc trường hợp người có nhiều chồng hoặc vợ, ta căn cứvăo điểm a khoảng 4 Nghị Quyết số 02/HĐTP-TANDTC ngăy19/10/1990 có quy định:
Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngăy 13-01-1960 - ngăycông bố Luật Hôn nhđn vă gia đình năm 1959 - đối với miền Bắc; trướcngăy 25-3-1977 - ngăy công bố danh mục văn bản phâp luật được âp dụngthống nhđ́t trong cả nước - đối với miền Nam vă đối với cân bộ, bộ đội có
vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lđ́y thím vợ mă việc kết hôn saukhông bị huỷ bỏ bằng bản ân có hiệu lực phâp luật), thì tđ́t cả câc người
vợ đều lă người thừa kế hăng thứ nhđ́t của người chồng vă ngược lại,người chồng lă người thừa kế hăng thứ nhđ́t của tđ́t cả câc người vợ
Ở đđy, ông Lưu vă bă Xí lăm thủ tục đăng ký kết hôn vă chung sống với
bă Xí từ năm 1996 vă đến năm 2003 thì ông Lưu chết Như vậy, thờiđiểm mă hai ông bă chung sống với nhau lă sau ngăy 25-3-1997, lă ngăycuối cùng công nhận hôn nhđn thực tế ở miền Nam Do đó, quan hệ giữahai người không phải lă hôn nhđn thực tế, vă bă Xí đương nhiín cũngkhông nằm trong hăng thừa kế thứ nhđ́t của ông Lưu theo trích dẫn từNghị quyết số 02 đê níu trín
Về phần chị Hương, chị lă con đẻ của ông Lưu (Ông Võ Văn Lưu vă băNguyễn Thị Thẩm kết hôn ngăy 26-10-1964 trín cơ sở tự nguyện, có đăng
ký kết hôn tại Ủy ban nhđn dđn xa Kinh Kệ, huyện Lđm Thảo, tỉnh Phúthọ vă có một con chung lă chị Võ Thị Thu Hương) nín đương nhiínthuộc hăng thừa kế thứ nhđ́t theo điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 đêníu trín
Trang 14Câu 2: Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không? Vì sao?
- Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976, thì hôn nhân của hai
người vẫn không được công nhận là hôn nhân hợp pháp, vì ở thời kỳ đó,Luật Hôn nhân và Gia đình 1959 đã có quy định “Cấm lấy vợ lẽ” Tuynhiên, quan hệ giữa hai người được công nhận là hôn nhân thực tế Cũng
vì thế, bà Xê nằm trong hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu
- Nghị Quyết số 02/HĐTP-TANDTC ngày 19/10/1990 có quy định:
Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 13-01-1960 - ngàycông bố Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 - đối với miền Bắc; trướcngày 25-3-1977 - ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụngthống nhất trong cả nước - đối với miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có
vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn saukhông bị huỷ bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người
vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại,người chồng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ
- Do ông Lưu và bà Xê kết hôn và chung sống với nhau ở miền Nam (Tiền
Giang) vào cuối 1976, trước thời hạn cuối cùng công nhận hôn nhận thực
tế ở miền Nam (ngày 25-3-1977) Theo đó, bà Xê là vợ thực tế của ôngLưu, nằm trong hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu theo Nghị quyết 02 đãnêu trên
Câu 3: Trong vụ việc này, chị Hương có được chia di sản của ông Lưu không? Vì sao?
- Trong vụ việc trên, chị Hương không được chia di sản của ông Lưu Vì:
Ông Lưu đã viết di chúc để lại toàn bộ tài sản cho bà Xê Do đó, theo dichúc, chị Hương không được hưởng phần nào từ di sản của ông Lưu Tuynhiên, ta xét thêm chị Hương có hay không thuộc trường hợp được thừa
kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Theo luật, những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng haiphần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chiatheo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc chohưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động
Ở đây, chị Hương là người đã thành niên (chị sinh năm 1965, nghĩa là đếnngày ông Lưu chết (năm 2003), chị đã là người thành niên), chị cũngkhông bị mất khả năng lao động Như vậy, chị Hương không thuộc trườnghợp nào trong hai trường hợp đã nêu phía trên, và theo đó chị không làngười thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của ông Lưu
Như vậy, chị Hương không được chia di sản của ông Lưu trong vụ việctrên
Câu 4: Theo pháp luật hiện hành, ở thời điểm nào người thừa kế có quyền
sở hữu đối với tài sản là di sản do người quá cố để lại? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Theo pháp luật hiện hành, thời điểm người thừa kế có quyền sở hữu đối
với tài sản là di sản do người quá cố để lại là thời điểm người thừa kếnhận di sản đó
Trang 15- Tuy nhiên, trong BLDS 2015 thì không có điều luật nào nói cụ thể thời
điểm người thừa kế có quyền sở hữu đối tài sản, chỉ xác định rằng tại thờiđiểm mở thừa kế, người thừa kế có các quyền tài sản do người chết để lại,quy định trong Điều 614 BLDS 2015
- Bàn về vấn đề này, PGS TS Phạm Văn Tuyết và TS Lê Kim Giang có
nhận định:
Nếu cho rằng người thừa kế đương nhiên là chủ sở hữu đối với di sản thừa
kế tại thời điểm mở thừa kế thì về logic, họ sẽ không có quyền từ chốinhận di sản Di sản đã thuộc sở hữu của họ nên việc từ chối đó trở thànhviệc từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản, và như vậy sẽ phát sinh một hậuquả pháp lý hoàn toàn khác Bởi theo quy định tại khoản 1 Điều 228BLDS 2015 thì tài sản đã bị chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu sẽ trở thànhtài sản vô chủ, nếu tài sản đó là động sản thì sẽ thuộc sở hữu của ngườiphát hiện được; nếu tài sản đó là bất động sản thì thuộc sở hữu của Nhànước
Tóm lại, chúng tôi cho rằng, thời điểm mở thừa kế chỉ là thời điểm làmphát sinh quyền của người thừa kế mà chưa xác lập quyền sở hữu đối với
di sản, quyền sở hữu đối với di sản thừa kế chỉ xác lập ở người thừa kế kể
từ thời điểm họ nhận di sản đó bởi nếu người thừa kế không nhận di sảnthì đương nhiên sẽ không phát sinh quyền sở hữu của họ đối với di sảnthừa kế
- Trong trường hợp người thừa kế di sản được định đoạt bằng di chúc, thì di
chúc này là ý chí của riêng người lập di chúc, là hành vi pháp lý đơnphương từ người lập di chúc Và việc có hay không đồng ý với việc địnhđoạt này là quyền của người thừa kế theo di chúc Nếu người thừa kếkhông đồng ý nhận di sản thì sẽ không xảy ra vấn đề quyền sở hữu ởngười thừa kế này Cũng tương tự đối với trường hợp thừa kế theo phápluật hay không phụ thuộc vào nội dung di chúc, người thừa kế cũng hoàntoàn có quyền từ chối tiếp nhận di sản theo Điều 620 BLDS 2015 Và nhưvậy, người thừa kế đó sẽ không có quyền sở hữu đối với di sản đó
Như vậy, thời điểm một người thừa kế có quyền sở hữu đối với di sản dongười chết để lại là khi người đó nhận di sản đó Trong thực tế, ngườithừa kế được coi là đã nhận di sản đó từ thời điểm hoàn tất thủ tục khainhận di sản tại cơ quan công chứng (trong trường hợp không có tranhchấp) hoặc bản án có hiệu lực của Tòa án (trong trường hợp có tranh chấp
về thừa kế)
Câu 5: Trong Quyết định số 08, theo nội dung của bản án, ở thời điểm nào người thừa kế của ông Hà có quyền sở hữu nhà ở và đất có tranh chấp? Vì sao?
- Trích bản án: “Ông Hà chết ngày 12/5/2008 thì bà Lý Thị Ơn là vợ và các
con ông Hà được thừa kế và nhà đất này đã chuyển dịch quyền sở hữu nhà
ở và quyền sử dụng đất ở sang cho bà Lý Thị Ơn; ngày 04/3/2011 bà Ơn
đã đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản gắn liền với đất”
Trang 16- Theo đó, ta thấy được, thời điểm mà người thừa kế của ông Hà (là bà Ơn)
có quyền sở hữu nhà ở và đất tranh chấp là sau khi ông Hà chết vào ngày12/5/2008
- Việc Tòa xác định như vậy là hợp lý, bởi theo luật, kể từ thời điểm mở
thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết
để lại
Phần 3: thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Câu 1: Đoạn nào của Quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn bộ tài sản của ông Lưu cho bà Xê?
Phần Xét thấy của Hội đồng giám đốc thẩm Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối caocho thấy việc ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn bộ tài sản của ông Lưu cho
bà Xê như sau: “Việc ông Lưu lập văn bản đề là “Di chúc” ngày 27-7-2002 là thểhiện ý chí của ông Lưu để lại tài sản của ông cho bà Xê là có căn cứ, phù hợp vớiquy định của pháp luật”
Câu 2: Bà Xê, bà Thẩm, chị Hương có thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu không? Vì sao?
- Trong trường hợp này, chỉ có bà Thẩm là người thuộc diện được hưởng
thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc đối với di sản của ông Lưu,còn bà Xê và chị Hương thì không thuộc vào diện này
- Theo luật, những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai
phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chiatheo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc chohưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động
- Ở đây, bà Thẩm là vợ hợp pháp của ông Lưu, nên việc bà là người thừa kế
không phụ thuộc nội dung di chúc là hoàn toàn tất nhiên
- Về phía chị Hương không phải là con chưa thành niên(chị sinh năm 1965,
nghĩa là đến ngày ông Lưu chết (năm 2003), chị đã là người thành niên),cũng không phải là người thành niên mà không có khả năng lao động, nênchị không phải là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
- Về phía bà Xê, thứ nhất, bà không phải là vợ hợp pháp, cũng không phải
vợ thực tế của ông Lưu Theo nghị Quyết số 02/HĐTP-TANDTC ngày19/10/1990 có quy định: “Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trướcngày 13-01-1960 - ngày công bố Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 -đối với miền Bắc; trước ngày 25-3-1977 - ngày công bố danh mục vănbản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước - đối với miền Nam
và đối với cán bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấythêm vợ mà việc kết hôn sau không bị huỷ bỏ bằng bản án có hiệu lựcpháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của
Trang 17người chồng và ngược lại, người chồng là người thừa kế hàng thứ nhấtcủa tất cả các người vợ”.
Như vậy, trong ba người là bà Xê, bà Thẩm và chị Hương thì chỉ có bàThẩm là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của ôngLưu
Câu 3: Theo Tòa án dân sự Tòa án nhân dân tối cao, vì sao bà Thẩm được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc đối với di sản của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời.
‾ Theo Tòa án dân sự Tòa án nhân dân tối cao, bà Thẩm được hưởng thừa
kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc đối với di sản của ông Lưu vì bà
là vợ hợp pháp, đã già yếu không còn sức lao động Điều đó được thể hiệntrong Quyết định như sau: “Tuy nhiên, do bà Thẩm đang là vợ hợp phápcủa ông Lưu đã già yếu, không còn khả năng lao động, theo quy định tạiđiều 669 Bộ luật dân sự thì bà Thẩm được thừa kế tài sản của ông Lưu màkhông phụ thuộc vào nội dung di chúc của ông Lưu”
Câu 4: Nếu bà Thẩm khỏe mạnh, có khả năng lao động thì có được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Vì sao?
- Căn cứ theo khoản 1 Điều 669 BLDS 20051, bà Thẩm được hưởng thừa
kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu
1) Di sản của ông Lưu: 600 triệu
2) Thực hiện theo di chúc: bà Xê = 600 triệu
3) Chia thừa kế bắt buộc: bà Thẩm (vợ)
Giả sử di sản chia theo pháp luật: 600/2 = 300 triệu
1Điều 669 Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập
di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ
là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không
có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:
1 Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
Trang 18 2/3 x 300 = 200 triệu
Như vậy, số tiền bà Thẩm được hưởng thừa kế là 200 triệu
Câu 6: Nếu bà Thẩm yêu cầu được chia di sản bằng hiện vật thì yêu cầu của
bà Thẩm có được chấp nhận không? Vì sao?
- Căn cứ theo khoản 2 Điều 685 BLDS 20052, bà Thẩm là diện thừa kếkhông phụ thuộc vào nội dung của di chúc của ông Lưu nên bà có thểnhận được di sản bằng hiện vật nếu bà Xê đồng ý
Câu 7: Trong bản án số 2493 (sau đây viết gọn là Bản án), đoạn nào của bản
án cho thấy bà Khót, ông Tâm và ông Nhật là con của cụ Khánh?
- Đoạn của bản án cho thấy bà Khót, ông Tâm và ông Nhật là con của cụKhánh nằm ở phần xét thấy: “Cụ Nguyễn Thị Khánh và cụ An Văn Lầm(chết năm 1938) có 02 con là bà Nguyễn Thị Khót sinh năm 1929, ông AnVăn Tâm sinh năm 1932 Cụ Khánh và cụ Nguyễn Tài Ngọt (chết năm1973) có 01 con là ông Nguyễn Tài Nhật sinh năm 1930”.3
Câu 8: Ai được cụ Khánh di chúc cho hưởng toàn bộ tài sản có tranh chấp?
- Ông Nhật được cụ Khánh di chúc cho hưởng toàn bộ tài sản có tranhchấp
Câu 9: Tại thời điểm cụ Khánh chết, bà Khót và ông Tâm có là con đã thành niên của cụ Khánh không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
I/Tại thời điểm cụ Khánh chết, bà Khót và ông Tâm là con đã thành niên của cụKhánh
II/Đoạn trong bản án cho câu trả lời: "Xét yêu cầu của ông Tâm, bà Khót về việcđược hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc do không có khảnăng lao động vì tại thời điểm mở thừa kế bà Khót đa 71 tuối, ông Tâm 68 tuổilại là thương binh 2/4, thấy tại Điều 140, 145 của Bộ luật lao động năm 1994 quyđịnh độ tuổi lao động của người Việt Nam là từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam
và từ 15 tuổi đến 56 tuổi đối với nữ "
=>Theo bản án tại thời điểm mở thừa kế bà Khót đa 71 tuối, ông Tâm 68 tuổi
Do đó bà Khót và ông Tâm là con đã thành niên của cụ Khánh
2Điều 685 Phân chia di sản theo pháp luật
2 Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia.
3 Bản án số: 2493/2009/DS-ST ngày 04/9/2009 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tr.2.
Trang 19III/Cơ sở pháp lý: Điều 20 BLDS 2015 4
Câu 10: Bà Khót và ông Tâm có được Tòa án chấp nhận cho hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
I/Bà Khót và ông Tâm không được Tòa án chấp nhận cho hưởng thừa kế khôngphụ thuộc vào nội dung của di chúc
II/Đoạn trong bản án cho câu trả lời:
Xét yêu cầu của ông Tâm, bà Khót về việc được hưởng thừa kế không phụthuộc vào nội dung của di chúc do không có khả năng lao động vì tại thờiđiểm mở thừa kế bà Khót đã 71 tuổi, ông Tâm 68 tuổi lại là thương binh2/4, thấy tại Điều 140, 146 của Bộ luật lao động năm 1994 quy định độtuổi lao động của người Việt Nam là từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam và
từ 15 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ Bên cạnh đó, tại chương lao động làngười cao tuổi của Bộ luật lao động còn có các quy định về chế độ đối vớingười lao động từ 56 tuổi trở lên đối với nữ và từ 61 tuổi trở lên đối vớinam Như vậy, pháp luật không đặt ra giới hạn tuổi tối đa được tham giacác quan hệ lao động mà việc tham gia quan hệ lao động tùy thuộc vào thểlực, trí lực và tinh thần của từng người Do đó, độ tuổi lao động là cơ sởxác định người hết tuổi lao động để được hưởng các chế độ đãi ngộ chứkhông phải là căn cứ để xác định một người không còn khả năng laođộng Các nguyên đơn cũng không xuất trình được chứng cứ chứng minhtại thời điểm mở thừa kế họ là những người không có khả năng lao động.Hơn nữa, từ trước đến nay ông Tâm, bà Khót có đời sống kinh tế độc lập,không phụ thuộc vào cụ Khánh Bà Khót có gia đình, có tài sản riêng, bảnthân bà hàng tháng còn được hưởng chế độ chính sách của nhà nước theodiện người có công với cách mạng khoảng 400.000 đồng, còn ông Tâmtuy là thương binh 2/4, theo quy định thì ông bị suy giảm khả năng laođộng là 62% nhưng ông cũng đã
được hưởng chính sách đãi ngộ của nhà nước hàng tháng ông lãnh hơn2.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử nhận thấy không có cơ sở để chấpnhận yêu cầu của bà Khót, ông Tâm về người được hưởng thừa kế khôngphụ thuộc vào nội dung đi chúc, cụ thể mỗi người được hưởng là400.000.000 đồng
=>Theo bản án, do không có căn cứ để xác nhận mình là người không có khảnăng lao động nên bà Khót và ông Tâm không được toà án công nhận đượchưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
4 Người thành niên
1 Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên.
Trang 20III/Tìm hiểu thêm một số quan điểm về quy định "Con thành niên mà không cókhả năng lao động":
A/Có ý kiến cho rằng, vì chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng trực tiếp quy phạm
“con đã thành niên mà không có khả năng lao động” nên chúng ta có thể áp dụngtương tự pháp luật, cụ thể tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định củaBLDS năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, có quy định về bồithường thiệt hại trong trường hợp “mất khả năng lao động” theo đó, “người bịthiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người
bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt haichi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩmquyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên ” Dovậy, nếu như người thành niên, mà thường xuyên cần phải có người chăm sóc vàrơi vào những trường hợp như Nghị quyết số 03/2006 đã liệt kê ở trên thì mớixác định họ “không còn khả năng lao động”
B/Ý kiến khác lại cho rằng, ngoài Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, còn có một văn bản kháccũng điều chỉnh tương tự, đó chính là Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày30/9/2008 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành 1 số điểm của Luật thuế thu nhập
cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/09/2008của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân cóquy định về khái niệm “người tàn tật không có khả năng lao động” Cụ thể tạiMục 3.1.6 của Thông tư số 84 có khái niệm người tàn tật không có khả năng laođộng để xét giảm trừ gia cảnh về thuế thu nhập như sau: “Người tàn tật, không
có khả năng lao động là người bị tàn tật, giảm thiểu chức năng không thể trựctiếp sản xuất, kinh doanh hoặc người bị khuyết tật bẩm sinhkhông có khả năng tựphục vụ bản thân được cơ quan y tế từ cấp huyện trở lên xác nhận hoặc tự bảnthân khai có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về mức độ tàn tật không cókhả năng lao động”
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người phụ thuộc đang sống xác nhận những biểuhiện cụ thể về sự tàn tật của người phụ thuộc đang sống xác nhận những biểuhiện cụ thể về sự tàn tật của người phụ thuộc Ví dụ: Xác nhận người phụ thuộc
bị cụt tay, cụt chân, mù mắt, mắc bệnh thiếu năng trí tuệ, bị di chứng chất độcmàu da cam
Trường hợp người phụ thuộc mắc bệnh mà không có khả năng lao động (nhưbệnh AIDS, ung thư, suy thận mãn ) có bệnh án của cơ quan y tế từ cấp huyệntrở lên thì chỉ cần bản sao bệnh án mà không cần phải có xác nhận của Ủy bannhân dân cấp xã
Tuy nhiên, khái niệm này chỉ nhằm phân biệt về người tàn tật không có khả nănglao động với người tàn tật nhưng vẫn có khả năng lao động Theo tác giả, việc