Người đang có vợ hoặc chồng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây: a Người đã kết hôn với người khác theo đúng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
- -BÀI THẢO LUẬN THỨ NHẤT VÀ THỨ HAI
MÔN: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: LÊ THỊ MẬN
LỚP: 118-HC45B1 THÀNH VIÊN NHÓM:
4 Nguyễn Thị Thanh Thảo 2053801014245
5 Võ Nguyễn Hà Duyên 1751101030020
TPHCM, ngày…tháng…năm…
Trang 2MỤC LỤC
I Lý thuyết: Trả lời/ phân tích/ làm sáng tỏ các nội dung sau: 1
Câu 1 Tóm lược các điều kiện kết hôn theo pháp luật hiện hành và nêu một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng 1Câu 2 Xác định người đang có vợ, có chồng Cho ví dụ về các trường hợp người chưa đăng ký kết hôn cũng được xác định “đang có vợ, có chồng” theo quyđịnh của pháp luật 2Câu 3 Xác định cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn 3Câu 4 Đường lối giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật? Phân tích các trường hợp ngoại lệ thừa nhận kết hôn trái pháp luật trên cơ sở pháp lý 4Câu 5 Quy định của pháp luật về các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và hậu quả pháp lý của hành vi chung sống như vợ chồng? Phân tích các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như
vợ chồng đồng thời vi phạm điều kiện kết hôn và trách nhiệm dân sự, hình sự và hành chính có thể được xác định 5
II Tình huống 10 III Đọc bản án và trình bày quan điểm 19
Trang 3VẤN ĐỀ THẢO LUẬN: KẾT HÔN, HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT – GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ VIỆC CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG
I Lý thuyết: Trả lời/ phân tích/ làm sáng tỏ các nội dung sau:
Câu 1 Tóm lược các điều kiện kết hôn theo pháp luật hiện hành và nêu một số
vướng mắc trong thực tiễn áp dụng
*Các điều kiện kết hôn theo pháp luật hiện hành bao gồm: điều kiện cho phép kết
hôn và trường hợp cấm
a) Điều kiện cho phép (3 điều kiện):
- Về độ tuổi: nữ từ đủ 18 tuổi trở lên, nam từ đủ 20 tuổi trở lên (điểm a khoản
1 điều 8 Luật Hôn nhân Gia đình 2014)
- Tự nguyện kết hôn (điểm b khoản 1 điều 8 Luật Hôn nhân Gia đình 2014) Tựquyết định việc kết hôn và không bị tác động bởi bất kì ai Nam, nữ cùng trựctiếp kí giấy chứng nhận kết hôn và sổ đăng kí kết hôn
- Không mất năng lực hành vi dân sự khi kết hôn (điểm c khoản 1 điều 8 LuậtHôn nhân Gia đình 2014 và điều 22 Bộ luật Dân sự 2015)
b) Trường hợp cấm kết hôn:
- Kết hôn giả tạo (Cấm kết hôn)
- Tảo hôn, cưỡng ép, lừa dối, cản trở (Cấm kết hôn)
- Đang có vợ chồng (Cấm kết hôn và chung sống như vợ chồng)
- Quan hệ trực hệ, họ ba đời (Cấm kết hôn và chung sống như vợ chồng)
- Cha mẹ nuôi – con nuôi (Cấm kết hôn và chung sống như vợ chồng)
- Cha mẹ con do hôn nhân (Cấm kết hôn và chung sống như vợ chồng)
*Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng:
Trang 4hôn nhưng do phong tục, tập quán đã đi vào cuộc sống của người dân từ rất lâuđời, các gia đình thường dựng vợ gả chồng cho con từ rất sớm, nên mặc dù việckết hôn không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng hai bêngia đình vẫn tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán, họ hàng hai bên, cộngđồng dân cư của cả bản vẫn mặc nhiên công nhận đó là một cặp vợ chồng.
- Về năng lực hành vi dân sự trong kết hôn:
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì người bị mất năng lực hành
vi dân sự không được kết hôn và theo Điều 22 Bộ luật Dân sự thì một người chỉ
bị mất năng lực hành vi dân sự khi tòa án tuyên bố Do đó, trong thực tiễn ápdụng vẫn còn có ý kiến cho rằng, người chưa bị tòa án tuyên bố mất năng lựchành vi dân sự mặc dù mắc bệnh tâm thần hay bệnh khác không làm chủ đượchành vi thì vẫn được kết hôn, nhưng khi giải quyết quan hệ nhân thân có liênquan, một số tòa án lại tuyên bố là việc kết hôn trái pháp luật
Câu 2 Xác định người đang có vợ, có chồng Cho ví dụ về các trường hợp
người chưa đăng ký kết hôn cũng được xác định “đang có vợ, có
chồng” theo quy định của pháp luật
Người đang có vợ, có chồng được quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 5 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014: “c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn
hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng
mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;”.
Xác định về người đang có vợ, có chồng được quy định tại Khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP như
sau:
“4 Người đang có vợ hoặc chồng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật
hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
c) Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không
bị tuyên bố là đã chết.
Trang 5Ví dụ về các trường hợp người chưa đăng ký kết hôn cũng được xác định
“đang có vợ, có chồng” theo quy định của pháp luật
- Anh A và chị B làm đám cưới trở thành vợ chồng vào năm 1970 08 tháng sau,anh A đi công tác và sống chung như vợ chồng với chị C ở quê của chị Trongtrường hợp này, anh A đang có vợ là chị B (sống chung như vợ chồng trước ngày03/07/1987), anh A và chị B chưa ly hôn và chưa được Tòa án tuyên bố ly hôn,chị B cũng chưa chết và bị Tòa án tuyên bố chết nên anh A đã vi phạm điều cấmtại điểm c, khoản 2, Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3/1/1987: Căn cứ Nghịquyết 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn về việc thi hànhLuật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì trường hợp nam, nữ chung sống vớinhau như vợ chồng trước ngày 3/1/1987 vẫn được Pháp luật công nhận vợ chồnghợp pháp kể từ ngày hai bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồngmặc dù không đăng ký kết hôn
- Anh A đã đăng ký kết hôn với chị B và việc kết hôn này là hợp pháp 02 năm
sau, anh A sống chung với chị C như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn.Vậy, anh A đã vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cụ thểtại điểm c, khoản 2, Điều 5 Nếu trong thời gian 02 năm, anh A và chị B chưa lyhôn và chưa được Tòa án tuyên bố ly hôn; chị B cũng chưa chết và bị Tòa ántuyên bố chết
Câu 3 Xác định cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn
Về thẩm quyền đăng ký kết hôn: Theo quy định tại Điều 17 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch và Điều 12
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi
cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký kết hôn giữa công dânViệt Nam với nhau tại Việt Nam Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sựViệt Nam ở nước ngoài là cơ quan đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam vớinhau ở nước ngoài Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 102 Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 thì ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trungương thực hiện việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài Thông qua các quyđịnh trên cho thấy, tùy từng trường hợp mà cơ quan đăng ký kết hôn có thể là ủyban nhân dân cấp cơ sở, ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ quan ngoại giao, cơquan lãnh sự Nhưng dù việc đăng ký kết hôn thuộc cơ quan nào thì cũng phảitiên hành đầy đủ các thủ tục và nghi thức mà pháp luật đã quy định
Trang 6Câu 4 Đường lối giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật? Phân tích các
trường hợp ngoại lệ thừa nhận kết hôn trái pháp luật trên cơ sở pháp lý.
Trả lời: Khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Luật HNGĐ
2014) qui định: “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này”
Các điều kiện kết hôn được quy định tại điều Khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ 2014gồm:
Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy địnhnhư: Kết hôn giả tạo; tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kếthôn…
Như vậy, nếu có sự vi phạm một trong những điều kiện kết hôn trên, thì bị coi làhôn nhân trái pháp luật Do đó, cần có biện pháp xử lý đối với những trường hợpnày góp phần đảm bảo các điều kiện kết hôn được tuân thủ chặt chẽ
Đường lối giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật đó là: Khi xử lý yêu cầuhủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào quy định của pháp luậthôn nhân và gia đình có hiệu lực tại thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân để xácđịnh việc kết hôn có trái pháp luật hay không Trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu
xử lý việc kết hôn trái pháp luật được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân
và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự có hiệu lực tại thời điểm giải quyết
(CSPL: Khoản 4 Điều 4 Thông tư liên tịch số 52/2014/QH13 của Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ
Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình)
Phân tích các trường hợp ngoại lệ thừa nhận kết hôn trái pháp luật
Các trường hợp ngoại lệ thừa nhận kết hôn trái pháp luật:
+ Trường hợp cán bộ và bộ đội miền Nam tập kết ra miền Bắc từ 20/7/1954 đến25/3/1977, đã có vợ, có chồng ở miền Nam mà lấy vợ, lấy chồng ở miền Bắc.+ Hiện tượng đa thê, đa phu trước ngày 13/1/1960 ở miền Bắc và trước 25/3/1977
ở miền Nam vẫn được công nhận quan hệ hôn nhân
Cở sở pháp lý: Thông tư số 60/TATC ngày 22-02-1978 của Tòa án nhân dân tối
cao “Hướng dẫn giải quyết các trường hợp cán bộ, bộ đội trong Nam tập kết raBắc mà lấy vợ, lấy chồng khác”
Trang 7 Phân tích:
+ TH1 : Sở dĩ cán bộ và bộ đội miền Nam tập kết ra miền Bắc từ 20/7/1954 đến
25/3/1977, đã có vợ, có chồng ở miền Nam mà lấy vợ, lấy chồng ở miền Bắcđược thừa nhận bởi vì:
Đây là loại việc mang tính chất đặc biệt Nhân dân ta vừa trải qua một cuộc chiếntranh ác liệt, kéo dài Đất nước bị chia cắt hơn hai chục năm ròng Nhiều gia đình
vợ chồng sống xa nhau quá lâu, không biết tin tức của nhau, hoặc tin tức khôngxác thực, từ đó sinh ra nhiều cảnh éo le trong quan hệ gia đình Xét thấy đây làhậu quả của chiến tranh, một vấn đề xã hội phức tạp, vấn đề tình cảm, hạnh phúcgia đình nhất là của các người vợ và con cái Xem xét từ hiện thực khách quancủa đất nước lúc bấy giờ nên pháp luật đã thừa nhận những cuộc hôn nhân nàysao cho thấu tình đạt lý nhất
+ TH2 : Hiện tượng đa thê trước ngày 13/1/1960 ở miền Bắc và trước 25/3/1977 ở
miền Nam vẫn được công nhận quan hệ hôn nhân Bởi lẽ: Luật HN-GĐ năm
1959 ra đời trong bối cảnh đất nước bị chia cắt 2 miền, miền Bắc đi lên chủ nghĩa
xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc chiến tranh dân tộc Vì thế, Luật HN-GĐ năm
1959 chính thức có hiệu lực vào ngày 13/1/1960 ở miền Bắc và từ ngày25/3/1977 đối với miền Nam (do đến năm 1975 nước ta mới hoàn toàn độc lập vàthống nhất) Từ đây mới chính thức đặt ra nguyên tắc hôn nhân 1 vợ 1 chồngtrong hôn nhân Chính vì vậy, hiện tượng đa thê xảy ra trước khi luật HN-GĐnăm 1959 có hiệu lực vẫn được pháp luật công nhận và bảo vệ
Câu 5 Quy định của pháp luật về các trường hợp nam nữ chung sống với
nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và hậu quả pháp lý của hành vi chung sống như vợ chồng? Phân tích các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng đồng thời vi phạm điều kiện kết hôn và trách nhiệm dân sự, hình sự và hành chính có thể được xác định.
Quy định của pháp luật về các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợchồng mà không đăng ký kết hôn và hậu quả pháp lý của hành vi chung sống như
vợ chồng:
Theo khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (sau đây gọi là: “Luật
HNGĐ”) quy định: “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc
sống chung và coi nhau là vợ chồng”.
Tại khoản 5 Điều 3 Luật HNGĐ quy định: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập
quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” Như vậy, chỉ khi thực hiện xong thủ tục và có Giấy chứng
Trang 8nhận đăng ký kết hôn thì mối quan hệ chung sống như vợ chồng mới được phápluật thừa nhận, bảo vệ.
Từ đó suy ra, trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng màkhông đăng ký kết hôn sẽ không được pháp luật thừa nhận Mối quan hệ nàycũng không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng với nhau Hậu quảpháp lý của hành vi này được quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật HNGĐ:
“Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Phân tích các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng đồng thời
vi phạm điều kiện kết hôn và trách nhiệm dân sự, hình sự và hành chính có thểđược xác định:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ về điều kiện kết hôn:
“a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.”
Qua phân tích và thảo luận, nhóm đã tìm ra các trường hợp nam nữ chung sốngvới nhau như vợ chồng đồng thời vi phạm điều kiện kết hôn như sau:
* Trường hợp thứ nhất: Chung sống như vợ chồng khi một bên hoặc cả hai bên
dưới tuổi luật định (tảo hôn)
Ví dụ: Anh A (20 tuổi) và chị B (16 tuổi) lấy nhau theo sự mai mối, sắp xếpcủa hai gia đình Cán bộ hộ tịch xã không đồng ý làm thủ tục đăng ký kết hôn vìchị B chưa đủ tuổi kết hôn theo luật định Tuy nhiên, hai anh chị vẫn được giađình tổ chức đám cưới và về sống chung
Khoản 8 Điều 3 Luật HNGĐ quy định: “Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi
một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật này”.
Điểm b khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ quy định về các hành vi bị cấm, bao gồm:
“Tảo hôn…”
Trang 9Như vậy, việc nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng khi chưa đủ tuổi kếthôn thuộc trường hợp bị cấm, đồng thời vi phạm điều kiện kết hôn theo quy địnhđiểm a khoản 1 Điều 8 của Luật HNGĐ.
- Các trách nhiệm pháp lý khác:
Trách nhiệm hành chính: theo Điều 58 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định:
“1 Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy
vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn.
2 Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi duy trì quan
hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án”.
Nếu sau khi xử phạt vi phạm hành chính mà hành vi tảo hôn vẫn tiếp tục diễn ra,người tổ chức hành vi này sẽ bị xử lý hình sự, cụ thể theo Điều 183 Bộ luật hình
sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 (sau đây gọi là “BLHS”) quy định:
“Người nào tổ chức việc lấy vợ, lấy chồng cho những người chưa đến tuổi kết hôn, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.”
* Trường hợp thứ hai: Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng do bị gia
đình ép buộc; một trong hai người bị mất năng lực hành vi dân sự
Ví dụ: Tòa án đã ra quyết định tuyên bố anh C là người mất năng lực hành vidân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần Gia đình anh C thương connên quyết định bỏ ra một số tiền để lấy chị D về làm vợ anh Chị D không đồng
ý, tuy nhiên gia đình ép buộc nên chị phải tổ chức đám cưới và về chung sốngvới anh C
Khoản 8 Điều 3 Luật HNGĐ quy định: “Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe
dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác
để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ”.
Điểm b khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ quy định về các hành vi bị cấm, bao gồm:
“… cưỡng ép kết hôn…”
Như vậy, việc nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng không phải do nam
nữ tự nguyện quyết định mà do bị cưỡng ép là hành vi bị cấm, đồng thời, việc kếthôn với người mất năng lực hành vi dân sự vi phạm điều kiện kết hôn theo quyđịnh điểm b và điểm c khoản 1 Điều 8 của Luật HNGĐ
Trang 10- Các trách nhiệm pháp lý khác
Trách nhiệm hành chính: khoản 2 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định:
“1 Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
* Trường hợp thứ ba: Chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ mà một bên
hoặc cả hai bên đang có vợ, chồng
Ví dụ: anh D kết hôn với chị E được 2 năm Sau đó, anh D gặp chị F (độcthân), chị F biết rõ anh D đã có vợ nhưng vẫn nảy sinh tình cảm và đồng ý chungsống với anh D
Theo điểm c khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ quy định về các hành vi bị cấm, bao
gồm: “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng
với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;”
Như vậy, việc nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng khi một trong haibên đã có vợ hoặc có chồng thuộc trường hợp bị cấm, đồng thời vi phạm điềukiện kết hôn theo quy định điểm d khoản 1 Điều 8 của Luật HNGĐ
Trang 11a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;”
- Nếu sau khi bị xử phạt vi phạm hành chính, hành vi này vẫn tiếp tục, hoặc việcchung sống như vợ chồng dẫn đến các hậu quả khác, người thực hiện hành vi sẽ
bị xử lý hình sự vì vi phạm chế độ một vợ một chồng theo quy định tại Điều 182BLHS:
“1 Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan
hệ đó.”
* Trường hợp thứ tư: Chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng
máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôivới con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với condâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng củachồng;
Đây là hành vi bị cấm theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ vàviệc chung sống như vợ chồng này còn vi phạm quy định về điều kiện kết hôntheo quy định điểm d khoản 1 Điều 8 của Luật HNGĐ
- Các trách nhiệm pháp lý khác
Trang 12 Trách nhiệm hành chính:
Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP:
“1 Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành
vi sau:
…
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;”
Theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP:
“2 Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;
II Tình huống
Câu 1 Anh Điệp là chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K (huyện H tỉnh LĐ) cư trú
tại xã K Chị Lan là phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B (huyện M tỉnh LĐ) cư trú tại xã B Năm 2020, anh Điệp và chị Lan dự định xác lập quan hệ vợ chồng Hãy xác định các cơ quan đăng ký hộ tịch mà các bên có thể nộp hồ sơ đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật về
hộ tịch? Cơ sở pháp lý?
- Các cơ quan đăng ký hộ tịch mà các bên có thể nộp hồ sơ đăng ký kết hôn theoquy định của pháp luật về hộ tịch là: Ủy ban nhân dân xã K hoặc Ủy ban nhândân xã B
- Nên đến xã B dki vì bên Lan chỉ là phó chủ tịch nên chủ tịch xã B sẽ kí giấychứng nhận
- Cơ sở pháp lý: Điều 17 luật hộ tịch, điểm h Điều 12 luật hộ tịch
Trang 13Câu 2 Năm 2017, anh Thuận (sinh năm 1978) kết hôn với chị Nga (sinh năm
2000) Sau hai năm xác lập quan hệ vợ chồng, sức khỏe anh Thuận suy kiệt Kết quả xét nghiệm từ cơ sở y tế cho thấy anh Thuận bị nhiễm HIV mà nguồn bệnh anh bị lây nhiễm là từ vợ anh – chị Nga Tháng 7/2020, anh Thuận chết Tháng 12/2020, con đẻ anh Thuận với người
vợ trước của anh (đã ly hôn) là Hằng yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn của anh Thuận và chị Nga với lý do việc kết hôn này trái pháp luật Theo các anh (chị) Tòa án giải quyết vụ việc trên như thế nào? Tại sao?
Ở tình huống trên, người có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái phápluật của anh Thuận và chị Nga là người con (con của anh Thuận và người vợtrước) theo quy định của pháp luật tại điểm a khoản 2 Điều 10 quy định người có
quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật: “a) Vợ, chồng của người đang có vợ,
có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;” Do đó chị Hằng
không có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn của anh Thuận và chị Nga.Tại thời điểm năm 2017, anh Thuận và chị Nga kết hôn trái pháp luật do chịNga chưa đủ 18 tuổi theo điểm c khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm2014:
“1 Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.”
Nên tại thời điểm năm 2017 anh Thuận và chị Nga kết hôn vi phạm điều cấmquy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 2014:
“2 Cấm các hành vi sau đây:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
Trang 14d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;
e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;
g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;
h) Bạo lực gia đình;
i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.”
Tảo hôn theo giải thích tại khoản 8 Điều 3 Luật hôn nhân gia đình năm 2014
là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theoquy định
Bên cạnh đó hành vi tảo hôn và tổ chức tảo hôn có thể bị xử phạt hành chính
theo theo quy định tại Điều 58 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020
của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tưpháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sảndoanh nghiệp, hợp tác xã
Tuy nhiên sau 2 năm tức là năm 2019 thì anh Thuận và chị Nga được xác lậpquan hệ vợ chồng, tại thời điểm này chị Nga đã đủ tuổi kết hôn và đăng ký kếthôn tại cơ quan có thẩm quyền
12/2020, con đẻ anh Thuận với người vợ trước của anh (đã ly hôn) là Hằngyêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn của anh Thuận và chị Nga, tuy nhiên vào thờiđiểm này anh Thuận và chị Nga đã được xác lập quan hệ vợ chồng hợp phápkhông vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình
2014 7/2020 anh Thuận chết do bệnh HIV mà nguồn bệnh từ chị Nga, tuy nhiêntại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình, Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữanhững người cùng giới tính, do đó người bị nhiễm HIV/AIDS có quyền được kếthôn như mọi người khác khi đủ các điều kiện tại Điều 8
Vậy nên, vào thời điểm 12/2020 con trai yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn củaanh Thuận và chị Nga với lý do việc kết hôn này trái pháp luật theo tôi nghĩ Tòa