Đề tài: Thảm họa động đất ở khu vực Tây Bắc PHẦN A. PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài Trong lịch sử tồn tại và phát triển, nhân loại luôn luôn phải đương đầu với các tai họa thiên nhiên, như lũ lụt, hạn hán, bão tố, động đất, sóng thần, núi lửa,… Trong các tai họa thiên nhiên đó, có lẻ động đất là thảm họa khủng khiếp nhất, bởi vì chỉ trong vài giây mà cả thành phố có thể bị sụp đổ hoàn toàn, cả một khu vực có thể sụt lún và đôi khi những dòng sông cũng bị đổi dòng do hậu quả của những trận động đất cực mạnh. Điều đáng sợ hơn là cho đến nay khoa học và kĩ thuật đương đại vẫn chưa dự báo chính xác thời điểm và địa điểm động đất xảy ra. Do đó, con người chưa có những biện pháp phòng chống chủ động đối với từng trận động đất như phòng chống bão hay lũ lụt. Ngày nay, các trận động đất diễn ra ngày càng nhiều và gây thảm họa ngày càng lớn. Hiện nay các nhà địa chấn học có rất nhiều trạm ghi động đất có khả năng ghi nhận các trận động đất với các cường độ khác nhau, trong đo có những trận động đất mà con người không cảm thấy được. Trong những năm trở lại đây, động đất ở Việt Nam không những các nhà khoa học Việt Nam quan tâm mà còn được sự chú ý trên toàn thế giới, trong đó có khu vực Tây Bắc. Tây Bắc (Việt Nam) được xem là vùng có nguy cơ động đất lớn nhất cả nước. Tây Bắc chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự đụng độ, xiết ép mạnh giữa hai quyển lục địa Ấn Độ và Á Âu có biên độ lớn. Bên cạnh đó, Tây Bắc còn chịu tác động của hệ thống đứt gãy Sông Đà – Sơn La, Mường Tè – Sầm Nưa – Thái Hòa,… Chính những tác nhân này, nhiều trận động đất xảy ra đã để lại nhiều hậu quả nặng nề cho nước ta. Như vậy, động đất là một dạng tai biến địa động lực nội sinh gây ra nhiều tổn thất nghiêm trọng cho con người. Bên cạnh những tổn thất trực tiếp, tức thời, động đất còn gây ra nhiều tai biến thứ cấp, kéo dài, không những trên các khu vực cận tâm ngoài mà còn trên những vùng phụ cận cách xa tâm ngoài. Động đất là một dạng tai biến mà con người hầu như không chống chọi được. Do vậy, để giảm thiểu những tổn thất do các tai biến này mang tới cho con người, công tác dự báo – phòng tránh rất quan trọng. Xuất phát từ ý nghĩa trên, tôi chọn đề tài: ”Thảm họa động đất ở khu vực Tây Bắc” được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu. 2.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trang 1Đề tài: Thảm họa động đất ở khu vực Tây Bắc
PHẦN A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong lịch sử tồn tại và phát triển, nhân loại luôn luôn phải đương đầu với các tai họa thiên nhiên, như lũ lụt, hạn hán, bão tố, động đất, sóng thần, núi lửa,… Trong các tai họa thiên nhiên đó, có lẻ động đất là thảm họa khủng khiếp nhất, bởi vì chỉ trong vài giây mà cả thành phố có thể bị sụp đổ hoàn toàn, cả một khu vực có thể sụt lún và đôi khi những dòng sông cũng bị đổi dòng do hậu quả của những trận động đất cực mạnh Điều đáng sợ hơn là cho đến nay khoa học và kĩ thuật đương đại vẫn chưa
dự báo chính xác thời điểm và địa điểm động đất xảy ra Do đó, con người chưa có những biện pháp phòng chống chủ động đối với từng trận động đất như phòng chống bão hay lũ lụt Ngày nay, các trận động đất diễn ra ngày càng nhiều và gây thảm họa ngày càng lớn Hiện nay các nhà địa chấn học có rất nhiều trạm ghi động đất có khả năng ghi nhận các trận động đất với các cường độ khác nhau, trong đo có những trận động đất mà con người không cảm thấy được
Trong những năm trở lại đây, động đất ở Việt Nam không những các nhà khoa học Việt Nam quan tâm mà còn được sự chú ý trên toàn thế giới, trong đó có khu vực Tây Bắc
Tây Bắc (Việt Nam) được xem là vùng có nguy cơ động đất lớn nhất cả nước Tây Bắc chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự đụng độ, xiết ép mạnh giữa hai quyển lục địa Ấn Độ và Á Âu có biên độ lớn Bên cạnh đó, Tây Bắc còn chịu tác động của hệ thống đứt gãy Sông Đà – Sơn La, Mường Tè – Sầm Nưa – Thái Hòa,… Chính những tác nhân này, nhiều trận động đất xảy ra đã để lại nhiều hậu quả nặng nề cho nước ta
Như vậy, động đất là một dạng tai biến địa động lực nội sinh gây ra nhiều tổn thất nghiêm trọng cho con người Bên cạnh những tổn thất trực tiếp, tức thời, động đất còn gây ra nhiều tai biến thứ cấp, kéo dài, không những trên các khu vực cận tâm ngoài mà còn trên những vùng phụ cận cách xa tâm ngoài Động đất là một dạng tai biến mà con người hầu như không chống chọi được Do vậy, để giảm thiểu những tổn thất do các tai biến này mang tới cho con người, công tác dự báo – phòng tránh rất quan trọng Xuất phát từ ý nghĩa trên, tôi chọn đề tài: ”Thảm họa động đất ở khu vực Tây Bắc” được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu
Trang 22 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Phân tích nguyên nhân phát sinh, diễn biến và hậu quả chung nhất về động đất và cái nhìn cụ thể về động đất ở khu vực Tây Bắc, từ đó có những biện pháp thích ứng với động đất
3 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu những nguyên nhân gây động đất ở khu vực Tây Bắc
- Tình hình động đất ở khu vực Tây Bắc
- Đề xuất một số giải pháp thích ứng với động đất
4 Giới hạn nghiên cứu đề tài
Về lãnh thỗ nghiên cứu: Tây Bắc
Về nội dung: Nghiên cứu về hiện trạng, nguyên nhân và giải pháp hạn chế hậu quả của động đất ở khu vực Tây Bắc
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu
- Phương pháp bản đồ
6 Cấu trúc bài tiểu luận
Cấu trúc của bài tiểu luận
Chương 1: Cơ sở khoa học về tai biến động đất
Chương 2: Thực trạng động đất ở khu vực Tây Bắc
Chương 3: Giải pháp hạn chế hậu quả của thảm họa động đất ở khu vực Tây Bắc
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA TAI BIẾN ĐỘNG ĐẤT
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm động đất1.1.2 Tâm động chấn1.1.3 Sóng động chấn1.2 Những đặc trưng cơ bản của động đất
1.2.1 Chấn tiêu và chấn tâm động đất1.2.2 Năng lượng và độ mạnh của động đất1.2.3 Cường độ chấn động của động đất1.2.4 Quy mô của rung động
1.3 Nguyên nhân gây ra động đất
1.3.1 Nguyên nhân nội sinh1.3.2 Động lực nhân sinh1.4 Sự phân bố động đất trên thế giới
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỘNG ĐẤT Ở KHU VỰC TÂY BẮC
2.1 Khái quát chung khu vực Tây Bắc
2.1.1 Vị trí địa lý2.1.2 Đặc điểm tự nhiên2.1.2.1 Địa chất kiến tạo2.1.2.2 Địa hình
2.1.2.3 Khí hậu2.1.2.4 Thủy văn2.1.2.4 Thổ nhưỡng – sinh vật2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội2.1.3.1 Đặc điểm dân số
2.1.3.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng – cơ sở vật chất kĩ thuật2.2 Thực trạng thảm họa động đất ở khu vực Tây Bắc
2.3 Nguyên nhân xảy ra động đất ở khu vực Tây Bắc
2.4 Hậu quả xảy ra động đất ở khu vực Tây Bắc
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ ĐỘNG ĐẤT Ở KHU VỰC TÂY BẮC
3.1 Dự báo quy mô rung động và vùng động đất
3.2 Các biện pháp giảm thiểu tổn thất do tai biến động đất
Trang 43.2.1 Biện pháp giảm thiểu sự sụp đổ
3.2.1 Biện pháp giảm thiểu cháy nổ
3.2.1 Biện pháp giảm thiểu đứt vỡ hệ thống đường ống
3.2.1 Biện pháp giảm thiểu thiệt hại về người
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kiến nghị
1.1 Đối với cơ quan chức năng có thẩm quyền
1.2 Đối với môi trường giáo dục
1.3 Đối với người dân
1.3.1 Trước khi xảy ra động đất
1.3.2 Khi xảy ra động đất
2 Kết luận
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA TAI BIẾN ĐỘNG ĐẤT
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm động đất
Động đất là sự rung chuyển đột ngột vủa bề mặt Trái Đất, nó được gây nên bởi chùm tia sóng địa chấn lan tỏa từ một vùng nguồn nào đó do quá trình giải tỏa nhanh năng lượng đàn hồi tạo nên Nói cách khác: Động đất là do sự giải phóng nhanh của năng lượng đàn hồi được tích lũy tại một điểm nào đó bên trong Trái Đất, gây nên sóng địa chấn và tác dụng lên bề mặt làm phá hoại các công trình, sự biến dạng bề mặt cũng như gây tử vong cho con người [2]
1.1.2 Sóng địa chấn
Sóng địa chấn là sóng đàn hồi lan tỏa từ việc giải phóng năng lượng đột ngột trong lòng Trái Đất, từ một vụ nổ hày các nguồn năng lượng khác Năng lượng được truyền trong lòng đất, lan tỏa mọi hướng từ nguồn phát sinh (vùng nguồn) Sóng địa chấn gây rung động nền đất và là nguyên nhân chính gây nên sự phá hoại nhà và công trình Có hai dạng sóng địa chấn: sóng khối và sóng mặt Sóng khối lan truyền
từ nguồn ra không gian xung quanh, truyền qua các lớp vật chất trong lòng Trái Đất, còn sóng mặt chỉ lan truyền trên mặt và trong các lớp dẫn sóng Vận tốc lan truyền của sóng địa chấn trong môi trường rắn biến đổi trong giới hạn 3 – 15km
Có hai loại sóng bề mặt: sóng Love và sóng Rayleigh được truyền dọc theo bề mặt Trái Đất và trong các lớp dẫn sóng
Hai loại sóng khối: sóng dọc L và sóng ngang S truyền xuyên qua lòng đất, khúc xạ qua các môi trường khác nhau hoặc phản xạ qua các ranh giới của môi trường trong lòng đất cũng như sóng âm, còn sóng S chỉ truyền qua môi trường rắn Vận tốc của sóng khối thay đổi tính chất của môi trường mà nó truyền qua, chủ yếu phụ thuộc vào mật độ của vật chất môi trường
Các thông số cơ bản của động đất đều được xác định trên cơ sở phân tích các đặc trưng của sóng địa chấn
1.1.3.Tâm động đất
Trang 6Tâm động đất là vị trí mà mà phát sinh năng lượng động đất Trong các kiểu nguồn phát sinh động đất thì tâm của động đất hay là nguồn gốc đất gãy tương đối dễ xác định Bởi tâm của động đất được xác định
bằng các biểu đồ chấn động của ít nhất ba trạm
đo khác nhau
1.2 Các đặc trưng cơ bản động đất
1.2.1 Chấn tiêu và chấn tâm động đất
Chấn tiêu là vị trí trong thạch quyển, chủ
yếu là vỏ Trái Đất, nơi phát sinh động đất, nơi
tập trung và giải phóng năng lượng cho động
đất nằm dưới mặt đất
Chấn tâm là điểm chiếu theo phương
thẳng đứng của chấn tiêu lên bề mặt Trái Đất
Khoảng cách từ chấn tiêu tới chấn tâm chính là độ sâu chấn tiêu, khoảng cách
từ chấn tiêu tới điểm quan sát trên mặt đất gọi là khoảng cách chấn tiêu, còn khoảng cách từ chấn tâm tới điểm quan sát gọi là khoảng cách chấn tâm
Trên bề mặt Trái Đất, chấn động lớn nhất thường xảy ra ở chấn tâm và giảm dần khi đi xa về các phía Nếu nối liền các điểm có cường độ như nhau (cùng cường
độ động đất) ta được các đường cong gọi là đường đẳng chấn
Tùy theo độ dâu phân bố của các chấn tiêu, người ta phân chia động đất thành
ba nhóm: (1) động đất nông có chấn tiêu phân bố ở độ sâu dưới 60km; (2) động đất
có độ sâu trung bình, chấn tiêu phân bố ở độ sâu 60 – 300km; (3) động đất sâu, có chấn tiêu nằm sâu hơn 300km Động đất nông là phổ biến nhất, chiếm tới 72,5% số trận động đất Động đất ở độ sâu trung bình chiếm 23,5%, chỉ có khoảng 4% là động đất sâu Chấn tiêu sâu nhất đến nay được ghi nhận ở độ sâu khoảng 700 -720km, gặp
ở đới hút chìm giữa mảng Thái Bình Dương và mảng Nam Mỹ, giữa mảng Thái Bình Dương và mảng Á – Âu
1.2.2 Năng lượng và độ mạnh của động đất
Năng lượng được giải phóng trong động đất và truyền ra không gian xung quanh dưới dạng sóng đàn hồi gọi là năng lượng động đất, kí hiệu là E Năng lượng động đất mới thực sự biểu thị độ lớn của một trận động đất.Tuy nhiên xác định năng lượng động đất là công việc khó khăn và phức tạp bởi vậy người ta thường đánh giá năng lượng động đất theo Magnitude bằng các công thức tương quan thực nghiệm giửa năng lượng động đất E và Magnitudi M
Hình 2: Chấn tâm và chấn tiêu động đất
Trang 7Độ mạnh (Magnitude) là năng lượng đặc trưng cho mức năng lượng mà trận động đất phát ra và truyền ra không gian xung quanh dưới dạng sóng đàn hồi
Thuật ngữ đầu tiên chỉ độ mạnh của động đất về năng lượng là “Magnitude”, Đại lượng “Magnitude” do Richter C.F đưa ra và sử dụng đầu tiên năm 1935 để phân hạng động đất về độ mạnh.Trong địa chấn học người ta củng lấy tên ông làm đơn vị cho đại lượng này và gọi là “độ Richter” Ngày nay người ta sử dụng các thang Magnitude cơ bản sau để phân hạng động đất về độ mạnh (tùy thuộc vào các sóng địa chấn được sử dụng, ta có: Magnitude địa phương, Magnitude theo sóng mặt, Magnitude theo khối, Magnitude theo moment địa chấn)
1.2.3 Cường độ chấn động của động đất
Cường độ chấn động động đất là đại lượng biểu thị cường độ chấn động mà nó gây ra trên mặt đất và đánh giá được qua mức độ tác động của nó đối với nhà cửa, công trình, mặt đất, đồ vật và con người
Cường độ chấn động được đánh giá theo phân bậc:
Bảng 1: Quy mô động đất theo thang Modified Mercalli [1]
Cấp I Không cảm nhận được, trừ những đối tượng nhạy cảm và trong trường hợp
đặc biệtCấp II Những đồ vật treo tường mỏng nhẹ có thể lay động được Những người
đang nằm nghỉ, đặc biệt là nhà cao tầng mới cảm nhận đượcCấp III Rung động như có xe tải đi qua Trong nhà, đặc biệt là trên lầu có thể cảm
Cấp V Hầu hết mọi người đều nhận biết được: nhiều người bị đánh thức, tưởng bị
vỡ từng mảng, đồ vật bị đổ nhào, cây cối, các đồ vật dạng tròn bị xáo trộn.Cấp VI Tất cả mọi người đều nhận biết được, tất cả mọi người đều đổ xô ra đường,
vôi tường rơi từng mảng, tổn thất nhẹ
Cấp VII Mọi người đổ xô ra đường Nhà của xây dựng tốt thiệt hại không đáng kể,
xây dựng kĩ thuật trung bình, kém hư hại nhiều nhiều ống khói bị vỡ
Trang 8Cấp VIII
Một số cấu trúc đặc biệt thì bị hư hại nhẹ, nhà cửa bình thường bị sụp đổ từng phần, xây dựng kém thì bị phá hủy hoàn toàn, vách nhà tách ra khỏi khung, ống khói cột tường bị đổ nhào
Cấp IX Các cấu trúc đặc biệt bị hư hại đáng kể: các khung bị nghiêng, tòa nhà bị
Cấp II Rung động vô cùng yếu, cũng rất khó để có thể nhận biết được
Cấp III Rung động rất yếu, có thể nhận ra được và ước lượng được phương và thời
gian của cơn địa chấn này
Cấp IV Rung động yếu, có thể nhận ra qua sự chuyển động của các đồ vật như: cửa,
cửa sổ, những đồ vật nhỏ
Cấp V Rung động với cường độ ôn hòa, có thể nhận ra bởi sự dịch chuyển của một
số vật dụng khá to như giường, tủ
Cấp VI Rung động khá mạnh, có thể cảm nhận được ngay cả khi đang ngủ, hay sự
dao động mạnh của con lắc đồng hô hay chiếc đèn chùm
Cấp VII
Rung động mạnh, có thể thấy qua sự dịch chuyển của các thiết bị cầm tay hay quả chuông ở nhà thờ, nhưng vẫn chưa ảnh hưởng đến các ngôi nhà có kiến trúc kiên cố
Cấp VIII Rung động rất mạnh,có thể tạo ra các vết nứt trên đường và tường nhà.Cấp IX Rung động vô cùng mạnh, có thể phá hủy toàn bộ hay một phần của các
Trang 9Cường độ rung động (M)
(độ Richter)
Quy mô động đất
4 IV - V Mọi người đều nhận biết, có tổn thất nhẹ.
5 VI - VII Mọi người đều biết, nhiều người sợ và
chạy ra khỏi nhà
6 VII - VIII Mọi người chạy ra khỏi nhà, tổn thất
trung bình tới khá nhiều
độ và quy mô động đất là cường độ rung động, cấu tạo nền đất, độ sâu của tâm trong
và khoảng cách từ vùng bị ảnh hưởng tới vị trí tâm ngòa Ba cấp độ quy mô động đất thường được sử dụng là thang Modified Mercalli, thang Rossi Forel và thang San Francissco
1.3 Nguyên nhân gây ra động đất
Có 3 nguyên nhân động đất chính gây ra động đất:
Nội sinh: Liên quan đến vận động phun trào núi lửa, vận động kiến tạo ở các đới hút chìm, các hoạt động đứt gãy
Ngoại sinh: Thiên thạch va vào Trái Đất, các vụ trượt lỡ đất đá với khối lượng lớn
Nhân tạo: Hoạt động làm thay đổi ứng suất đá gần bề mặt hoặc áp suất chất lỏng, đặc biệt là các vụ thử hạt nhân dưới lòng đất,…
Ngoài ra, phải kể đến hoạt động âm học, đặc biệt là kỹ thuật âm thanh địa chấn Động đất xảy ra khi có sự lan truyền năng lượng từ một nơi đổ vỡ trong lòng đất,
Trang 10năng lượng này tạm thời gọi là năng lượng động đất Từ nơi phát sinh, năng lượng động đất được truyền đi ở dạng song gọi là các sóng động đất làm cho mặt đất vừa bị nhồi dập, vừa bị xô đẩy lắc lư theo các phương khác nhau, kết quả làm cho các vật thể trên bề mặt vùng bị ảnh hưởng, mặt đất của đất gãy hoặc của khối macma sẽ phát sinh các bộ phận vỏ cứng bị đổ vỡ, nghĩa là phát sinh năng lượng động đất.
- Vùng có lò macma hoạt động (xâm nhập hay phun trào): Các động đất thuộc nguồn gốc này thường có quy mô và cường độ rung có giới hạn theo quy mô, độ sâu phân bố của lò macma và thành khối macma Nhìn chung quy mô vùng động đất không lớn, động đất phát triển nhanh và tắt nghỉ cũng nhanh
1.4 Sự phân bố động đất trên thế giới
Không có nơi nào trên bề mặt Trái Đất không chịu ảnh hưởng của động đất, tuy nhiên động đất chỉ tập trung một số đới của địa cầu gọi là đới địa chấn Sự phân bố của các đới địa chấn trên thế giới:
Vành đai Thái Bình Dương chiếm tới 80% các trận động đất được ghi nhận của thế giới Nó chạy suốt bờ Tây nước Mỹ đến Cap Horn (cực Nam của Nam Mỹ) tới Alaska vòng qua châu Á chạy xuống phía Nam qua Nhật Bản, Philipin, New Guinea, rồi chạy tới New Zealand
Trang 11Đai Địa Trung Hải – Himalaya chiếm khoảng 15% số trận động đất của thế giới Đai Địa Trung Hải – Himalaya phân bố gần phương vĩ tuyến, các chấn tâm phân tán, phân bố chủ yếu là động đất nông, động đất sâu trung bình chỉ tập trung ở đầu vòng cung ở Địa Trung Hải và Himalaya.
Đai địa chấn ở sống núi giữa đại dương phân bố dọc sống giữa đại dương của Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Nam Thái Bình Dương, kéo dài 60.000km Động đất ở giữa sống núi giữa đại dương chủ yếu là động đất nông
Như vậy, sự phân bố động đất chủ yếu tập trung vào các đai, ở đó là nơi tập trung của các núi lửa Các đai địa chấn này tập trung ở ranh giới các mảng thạch quyển Hầu hết các chấn tiêu động đất phân bố ở độ sâu dưới 100km, vì dưới sâu nhiệt độ áp suất tăng cao, đá ở trạng thái biến dạng dẻo không gây ra động đất Tuy nhiên, vẫn có những trận động đất sâu, thậm chí chấn tiêu được xác định ở những độ sâu xấp xỉ 700km; những trận động đất sâu này chỉ phân bố dọc theo những máng biến sâu, đi cùng với các cung đảo hoặc các cánh cung núi lửa lục địa Đới máng biển sâu này gọi là đới Benioof Tại các đới Benioof thạch quyển vỏ đại dương bị hút chìm vào trong quyển mềm của manti Do tốc độ truyền nhiệt của thạch quyển nhỏ nên thạch quyển vỏ đại dương bị hút chìm xuống dưới sâu vẫn còn nguội, vẫn ở trạng thái dòn, nên khi bị phá hủy, năng lượng đàn hồi giải phóng tạo ra động đất
Trang 12Hình 3: Bản đồ phân bố động đất trên Thế giới
Trang 13Tây Bắc là một phần miền núi và trung du Bắc Bộ trước đây, bao gồm các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Lai Châu và Hòa Bình Vùng Tây Bắc có diện tích 37.444,7 km2, chiếm 11,3% diện tích cả nước Dân số của vùng là gần 2,74 triệu người (năm 2009) với mật độ 73 người/km2 Đây là vùng có mật độ dân số thấp nhất cả nước.
Tây Bắc có tọa độ địa lý vĩ độ địa lý: vĩ 20o47‘ B đến 22o48‘ B, kinh độ
102o09‘ Đ đến 105o52‘ Đ Phía Bắc giáp Vân Nam (Trung Quốc), phía Tây và Tây Nam giáp Phong Sa Lỳ - Sầm Nưa (Lào), phía Đông giáp tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, phía Nam và Đông Nam giáp các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa Tây Bắc có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giao lưu kinh tế dọc thung lũng sông Hồng với Đồng bằng sông Hông và các tỉnh phía Tây Nam Trung Quốc, Thượng Lào Bên cạnh vị trí
về kinh tế, vùng này có ý nghĩa đặc biệt về quốc phòng Tuy nhiên, khu Tây Bắc nằm trong khu có cấu trúc địa chất hoạt hóa nhiều lần và hoạt động Tân kiến tạo nâng lên mạnh nhất ở Đông Dương Vì vậy, ngoài nhũng thuận lợi mà vị trí địa lý mang lại, khu Tây Bắc còn chịu ảnh hưởng của những trận động đất lớn
Trang 14Hình 4 : Bản đồ khu vực Tây Bắc2.1.2 Đặc điểm tự nhiên
2.1.2.1 Địa chất kiến tạo
Lịch sử địa chất kiến tạo vùng Tây Bắc rất phức tạp và có nhiều biến động bắt đầu từ hơn 500 triệu năm trở về trước và còn tiếp diễn đến hiện tại Việt Nam nằm ở phần Đông Nam của mảng lục địa Âu Á, nơi tiếp xúc với mảng lục địa Ấn Độ - Austraylia và mảng Thái Bình Dương Các hoạt động kiến tạo diễn ra liên tục với cường độ khác nhau từ thời Tiền Cambri đến Tân Kiến Tạo
Vào thời kì nguyên sơ, khối vỏ lục địa bị phá hủy, toàn miền chìm ngập dưới biển, chỉ có một số đỉnh núi cao của dãy Hoàng Liên Sơn và cánh cung sông Mã là nổi lên trên mặt nước biển Chế độ biển kéo dài hang triệu năm Phần trung tâm và Đông Nam của vùng chịu ảnh hưởng của sự sụt lún mạnh mẽ hình thành các tầng đá vôi đá phiến ở Lai Châu, Thuận Sơn (Sơn La) hạ lưu sông Đà, sông Mã, khu vực Hoàng Liên Sơn Vào cuối đại Cổ sinh, dãy Hoàng Liên Sơn và sông Mã được nâng lên
Trang 15Khu vực Tây Bắc về cơ bản được hình thành vào đại Trung sinh, đặc biệt sau vận động tạo núi Indoxini và Trias cách đây 225 – 180 triệu năm Vận động tạo núi này chiếm toàn bộ lãnh thổ miền Bắc Việt Nam nhưng xảy ra mạnh nhất trong địa máng sông Đà Quá trình sụt lún ở võng sông Đà tạo ra sự lắng đọng một hệ tầng dày các thành tạo lục nguyên cacbonat Khi pha uốn nếp xảy ra vào Trias muộn thì có hiện tượng chờm nghịch mạnh kèm theo xâm thực ganitoit Do hai bờ của địa máng tiến lại gần nhau trầm tích trong địa máng uốn lên thành những nếp uốn khổng lồ kèm theo hàng loạt đứt gãy chờm nghịch làm đá vôi tầng giữa có tuổi trẻ hơn ở vùng sông Đà nơi có đứt gãy sâu thì có đứt gãy sâu và phun trào mafic.
Đến giai đoạn Tân Kiến Tạo, cách đây 65 triệu năm khu vực Tây Bắc lại chịu ảnh hưởng của vận động tạo núi Himalaya Vận động này nâng lên không đều mạnh
ở phía sâu trong lục địa, đồng thời với hoạt động nâng lên thì sự sụt lún sâu tăng cường độ chia cắt của bề mặt tạo ra sự phân dị mới trong địa hình Tây Bắc Miền Tây Bắc được nâng lên với biên độ khá lớn, các dãy núi trùng với trục uốn nếp cổ, các thung lung chân núi chạy theo đường đứt gãy cổ sinh Vùng nâng lên mạnh nhất tạo nên các núi trung bình và núi cao trên 1500m như Hoàng Liên Sơn, cánh cung sông
Mã Hiện tượng nâng lên, sụt xuống diễn ramkhoong liên tục mà theo từng đợt Nham thạch trong khu vực Tây Bắc goomg đầy đủ các loại bao gồm: trầm tích biến chất, macma, phun xuất Riolit, đá biến chất ở tản ngạn sông Đà, trầm tích sa diệp, trầm tích đá vôi phân bố nhiều ở hữu ngạn sông Đà
Ngày nay, ở khu vực Tây Bắc các vận động Tân kiến tạo vẫn tiếp tục diễn ra, các vận động nâng lên và hạ xuống có cường độ và hướng thay đổi theo từng địa phương Các hoạt động phun trào và mạch phun nước nóng, các đợt động đất mạnh nhất so với miền khác trong cả nước Các quá trình bồi tụ và bóc mòn mạnh hơn, hoạt động macma vẫn tồn tại, các hoạt động động đất vẫn tiếp tục diễn ra
2.1.2.2 Địa hình
Tây Bắc là vùng núi, cao nguyên hiểm trở có mức độ chia cắt mạnh nhất nước
ta Đó chính là hệ quả của quá trình phát triển địa chất kiến tạo Địa hình Tây Bắc rất phức tạp Phía đông và đông bắc là khối núi Hoàng Liên Sơn, phía nam và tây nam là dãy núi sông Mã nằm giữa hai khối núi khổng lồ là khối núi đá vôi chạy liên tục từ Phong Thổ đến Lạc Thủy (Hòa Bình) Ở Tây Bắc, núi và cao nguyên chiếm 4/5 diện