Trong lịch sử tồn tại và phát triển, nhân loại luôn luôn phải đương đầu với các tai họa thiên nhiên, như lũ lụt, hạn hán, bão tố, động đất, sóng thần, núi lửa…
Trang 1Lời cám ơn
Báo cáo khoa học với đề tài “Động đất ở khu vực Tây Bắc Việt Nam”được hoàn thiện dưới sự hướng dẫn khoa học nghiêm túc, sự chỉ bảo tận tìnhcủa TS Lương Hồng Hược Với sự biết ơn sâu sắc em xin gửi lời cám ơnchân thành nhât đến TS Lương Hồng Hược
Đồng thời trong quá trình nghiên cứu khoa học em cũng nhận được sựgiúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Địa lý nói chung và các thầy
cô trong tổ Địa lý tự nhiên nói riêng đã giúp em nâng cao trình độ và hoànthiện báo cáo.Bên cạnh đó là sự giúp đỡ động viên của bạn bè trong lớp
Em xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến các nhà khoa học của Viện Vật lýĐịa cầu – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đặc biệt là các anh chịtrong phòng Địa chấn đã tận tình hướng dẫn em về mặt khoa học, bổ sungnhững tài liệu cần thiết
Em xin chân thành cám ơn !
Hà Nội, tháng 3 năm 2011
Sinh viên
Ngô Thị Ươm
Trang 2A.PHẦN MỞ ĐẦU
I.Lí do chọn đề tài
Trong lịch sử tồn tại và phát triển, nhân loại luôn luôn phải đương đầuvới các tai họa thiên nhiên, như lũ lụt, hạn hán, bão tố, động đất, sóng thần,núi lửa… Trong các tai họa thiên nhiên đó, có lẽ động đất là tai họa khủngkhiếp nhất, bởi vì chỉ trong vài giây đồng hồ cả một thành phố có thể bị sụp
đổ hoàn toàn, cả một khu vực có thể bị sụt lún và đôi khi những dòng sôngcũng bị đổi dòng do hậu quả của những trận động đất cực mạnh Điều đáng
sợ hơn là cho đến nay khoa học và kỹ thuật đương đại vẫn chưa dự báochính xác thời điểm và địa điểm động đất sẽ xảy ra Do đó, con người chưa
có biện pháp phòng chống chủ động đối với từng trận động đất, như phòngchống bão hay lũ lụt
Bản đồ phân bố chấn tâm động đất trên thế giới
Nhìn vào bản đồ phân bố chấn tâm động đất toàn cầu một sốchuyên gia cho rằng động đất ở Việt Nam là không đáng kể nhưng cũngcần được quan tâm.Vấn đề động đất ở lãnh thổ Việt Nam nói chung và ởmiền Bắc Việt Nam nói riêng được thu thập qua các nguồn: tài liệu lịch
sử, điều tra những trận động đất mạnh và cảm thấy trong nhân dân, các tàiliệu quan trắc bằng các trạm động đất Từ đó các tác giả đã nghiên cứu
Trang 3tính động đất, nêu ra một số quy luật biểu hiện của chúng và sau đó nêu ranhững giải pháp khắc phục
Tây Bắc (Việt Nam) được đánh giá là vùng có nguy cơ động đất lớnnhất cả nước.Chỉ riêng trong thế kỷ XX ở Tây Bắc đã xảy ra nhiều trậnđộng đất mạnh gây hậu quả nặng nề cho nhân dân và cản trở các dự địnhquy hoạch, xây dựng đất nước đặc biệt là kế hoạch xây dựng nhà máy thuỷđiện Sơn La trên Sông Đà Chính vì vậy nghiên cứu điều kiện, quy luậtphát sinh, phát triển của động đất khu vực Tây Bắc là rất cấp thiết Đó là lí
do tôi chọn đề tài “Động đất ở khu vực Tây Bắc Việt Nam” nhằm cho ngườiđọc cái nhìn cụ thể, trực quan và chính xác về vấn này
III Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn đề tài
1 Mục đích
Đề tài “Động đất ở khu vực Tây Bắc Việt Nam” được nghiên cứu vớimục đích đem lại cho người đọc sự hiểu biết chung nhất về động đất và cócái nhìn cụ thể vê động đất ở khu vực Tây Bắc, từ đó có những giải pháphạn chế hậu quả khi động đất xảy
2 Nhiệm vụ
- Xác định các trận động đất lớn đã xảy ra ở khu vực Tây Bắc Việt Nam
- Nghiên cứu các nguyên nhân gây động đất ở khu vực Tây Bắc
- Bước đầu đưa ra các giải pháp hạn chế hậu quả
số vùng nhỏ lân cận
IV.Phương pháp nghiên cứu và các bước thực hiện đề tài
1 Phương pháp nghiên cứu
Trang 4Đối với bất kì đề tài báo cáo khoa học nào muốn thực hiện đều phải
có các phương pháp nghiên cứu Trong đề tài này người viết đã vân dụngcác phương pháp sau đây:
1.1Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Thu thập các tài liệu liên quan đến đề tài: các tài liệu về động đất, tàiliệu về các đứt gãy lãnh thổ, các bài luận văn, khòa luận có liên quan tới đềtài của báo cáo khoa học
Dựa trên những tài liệu nghiên cứu, phân tích, chọn lọc trên cơ sởkhoa học những nội dung cấn thiết cho bài báo cáo
2.1 Bước chuẩn bị
Đây là bước chuẩn bị về cơ sở lí luận và thực tiễn cho đề tài Bướcnày đòi hỏi người viết phải biết chọn lọc tài liệu và làm dàn ý cho đề tài.Các tài liệu phải phong phú để có cái nhìn toàn diện về vấn đề qua đó ngườiđọc thấy được hiện trạng, nguyên nhân và những giải pháp hạn chế hậu quảđộng đất ở Tây Bắc Việt Nam
2.2 Bước thu thập tài liệu
Sau khi đã xác định được đề cương của đề tài, xác định được nhữngyếu tố cơ bản cần chuẩn bị, việc thu thập tài liệu có lien quan đến nội dungcần thể hiện là vấn đề rất quan trọng không thể thiếu Việc thu thập thông tinđược hiểu là quả trình tìm kiếm, lựa chọn những tài liệu để dđáp ứng yêucầu nội dung của đề tài
Trang 5Trong các tài liệu liên quan đến động đất, thì cần chú ý đến các tàiliệu về động đất ở Việt Nam đặc biệt là động đất Tây Bắc Các tài liệu này
có thể thu thập từ nhiều nguồn như: Viện Vật lí Địa cầu, thư viện khoa Địa
lý, thư viện Trườnng Đại học sư phạm Hà Nội, trên mạng Internet…
2.3 Bước thực hiện đề tài
Sau khi đã lập được đề cương chi tiết và thu thập những tài liệu cần thiếtthì bước tiếp theo là tiến hành viết báo cáo dựa theo sự chỉ dẫn của thầy cô
2.4 Bước kiểm tra và chỉnh sửa
Đây là bước cuối cùng sau khi đã hoàn thiện bài báo cáo Trong bướcnày người viết chỉnh sửa lại những sai sót và hoàn chỉnh bài báo cáo vớinhững yêu cầu đã đưa ra
V Cấu trúc bài báo cáo
II Nguyên nhân
III Giải pháp hạn chế hậu quả của động đất
C.Kết luận
Trang 6B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ -
XÃ HỘI KHU VỰC TÂY BẮC 1.Vị trí địa lý
Tây Bắc là một vùng lãnh thổ rộng lớn nằm ở phía Bắc của việtNam, là một vùng cao, dốc và chia cắt mạnh mẽ nhất cả nước “miền đấtcủa những núi và cao nguyên” Đây là nơi có nhiều tiềm năng giàu cóchưa được khai thác và sử dụng hợp lí như tiềm năng thủy điện, khoángsản, nông lâm nghiệp…
Tây Bắc bao gồm 4 tỉnh :Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình lấyranh giới sông Hồng làm ranh giới Tây Bắc có tổng diện tích 3800000km2
chiếm 12 % diện tích của cả nước với số dân khoảng 2822300 người
Tây Bắc có tọa độ địa lý: vĩ độ 20o47’ B đến 22o48’ B ; kinh độ
102o09’Đ đến 105o52’ Đ Về tiếp giáp phía Bắc giáp Vân Nam ( TrungQuốc); phía Tây và Tây Nam giáp Phong Sa Lỳ - Sầm Nưa ( Lào); phíaĐông giáp tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ; phía Nam và Đông Nam giápcác tỉnh Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hóa Đại bộ phận lãnh thổ thuộc phạm
vi lưu vực sông Đà thuộc phạm vi nước ta
Trang 7Khu vực Tây Bắc Việt Nam
2 Đặc điểm các thành phần tự nhiên
2.1 Địa chất kiến tạo
Lịch sử địa chất kiến tạo vùng Tây Bắc rất phức tạp và có nhiều biếnđộng bắt đầu từ >500 triệu năm trở về trước và còn tiếp diễn đến hiện tại.Việt Nam nằm ở phần Đông Nam của mảng lục địa Âu- Á, nơi tiếp xúc vớimảng lục địa Ấn Độ - Autraylia và mảng đại dương Thái Bình Dương Cáchoạt động kiến tạo diễn ra liên tục lúc mạnh lúc yếu suốt từ thời TiềnCambri đến Tân Kiến Tạo
Vào thời kì nguyên sơ, khối vỏ lục địa ban đầu bị phá hủy, toàn miềnchìm ngập dưới biển lúc đó chỉ có một số đỉnh núi cao của dãy Hoàng LiênSơn và cánh cung sông Mã là nổi lên trên mặt biển Chế độ biển kéo dàihàng trăm triệu năm Phần trung tâm và Đông Nam của vùng chịu ảnhhưởng của sự sụt lún mạnh mẽ hình thành các tầng đá vôi đá phiến ở Lai
Trang 8Châu, Thuận Châu ( Sơn La) hạ lưu sông Đà, sông Mã, khu vực Hoàng LiênSơn Vào cuối đại Cổ sinh, dãy Hoàng Liên Sơn và sông Mã được nâng lên
Khu vực Tây Bắc về cơ bản được hình thành vào đại Trung sinh,đặc biệt sau vận động tạo núi Indoxini vào kỉ Trias cách đây 225 – 180triệu năm Vận động tạo núi này bao chiếm toàn bộ lãnh thổ miền BắcViệt Nam nhưng xảy ra mạnh nhất trong địa máng sông Đà Quá trình sụtlún ở võng sông Đà tạo ra sự lắng đọng 1 hệ tầng dày các thành tạo lụcnguyên cacbonat Khi pha uốn nếp xảy ra vào Trias muộn thì thấy có hiệntượng chờm nghịch mạnh kèm theo xâm nhập ganitoit Do 2 bờ của địamảng tiến gần lại nhau trầm tích trong địa máng uốn lên thành những nếpuốn khổng lồ kèm theo hàng loạt đứt gãy chờm nghịch làm đá vôi tầnggiữa có tuổi cổ hơn lại nằm chờm lên đá phiến – đá vôi tầng trên có tuổitrẻ hơn ( gặp ở Sơn La) ở vùng sông Đà nơi có đứt gãy sâu thì có đá xâmnhập và phun trào mafic
Đến giai đoạn Tân Kiến Tạo, cách đây 65 triệu năm khu vực Tây Bắclại chịu ảnh hưởng của vận động tạo núi Himalaya Vận động này nâng lênkhông đều mạnh ở phía sâu trong lục địa, đồng thời với hoạt độn nâng lênthì sự sụt sâu làm tăng cường độ chia cắt của bề mặt tạo ra sự phân dị mớitrong địa hình Tây Bắc Miền Tây Bắc được nâng lên với biên độ khá lớn,các dãy núi trùng với trục uốn nếp cổ, còn các thung lũng chân núi chạy theođường đứt gãy cổ sinh Vùng nâng lên mạnh nhất tạo nên các núi trung bình
và núi cao >1500m như Hoàng Liên Sơn, cánh cung sông Mã Hiệntượng nâng sụt diễn ra không liên tục mà theo từng đợt Nham thạchtrong khu vực Tây Bắc gồm đầy đủ các loại bao gồm: trầm tích biếnchất, macma, phun xuất Riolit, đá biến chất có ở tả ngạn sông Đà , cáclọai trầm tích sa diệp phân bố nhiều ở hữu ngạn sông Đà, trầm tích đávôi chủ yếu ở hữu ngạn sông Đà
Ngày nay ở khu vực Tây Bắc các vận động Tân kiến tạo vẫn tiếp tụcdiễn ra các vận động nâng cao và hạ có cường độ và hướng thay đổi theo
Trang 9từng địa phương Các hoạt động phun trào và mạch phun nước nóng, các đợtđộng đất mạnh nhất so với các miền khác trong cả nước Các quá trình bồi
tụ và bóc mòn cũng mạnh hơn, hoạt động macma vẫn tồn tại Các trận độngđất vẫn tiếp tục xảy ra như trận động đất ngày 1/11/1935 tại Điện Biên.Người ta ví Điện biên như cái “rốn” của động đất ở Việt Nam
2.2 Địa hình
Tây Bắc là vùng núi, cao nguyên hiểm trở có mức độ chia cắt mạnhnhất nước ta Đó chính là hệ quả của quá trình phát triển địa chất kiến tạo.Địa hình Tây Bắc rất phức tạp Phía đông và đông bắc là khối núi HoàngLiên Sơn; phía tây và tây nam là dãy núi Sông Mã nằm giữa 2 khối núikhổng lồ là 1 dải núi đá vôi chạy liên tục từ Phong Thổ đến Lạc Thủy (HòaBình) Ở Tây Bắc núi và cao nguyên chiếm 4/5 diện tích lãnh thổ, các dãynúi và cao nguyên đều chạy song song nhau theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam trừ ở phía cực tây có nhiều mạch núi rẽ theo hướng Đông Bắc
Ở phía Đông và Đông Bắc của Tây Bắc là dãy núi cao Hoàng LiênSơn đồ sộ nằm thành 1 khối chắc nịch dài 180 km từ biên giới Trung Quốcđến Vạn Yên rộng 30 km, trong đó chỉ có một nơi hạ thấp xuống đến 1069m
ở đèo Khau Cọ Các đỉnh núi đều cao từ 2800m – trên 3000m Trong đó cóđỉnh Phanxipang cao nhất (3143m) Dãy núi Hoàng Liên Sơn chạy dài liêntục thành một dải theo hướng Tây Bắc – Đông Nam có đỉnh sắc nhọn nhưrăng cưa Tuy nhiên trong khu vực núi cũng có những bán bình nguyên khábằng phẳng Dưới chân dãy Hoàng Liên Sơn là những bồn địa Than Uyên,Nghĩa Lộ ,Quang huy
Vùng núi Hoàng Liên Sơn còn có nhiều thung lũng sông mở rộngtrong đó đất phù sa khá màu mỡ như thung lũng Mường Hum, thượng lưusông Nậm Tà
Về phía Tây và Tây Nam của vùng Tây Bắc lại là những núi trungbình đó là dãy núi sông Mã dài 500 km tỏa rộng sang cả Sầm Nưa (Lào) vàlan đến tận Thanh Hóa Ở đây có nhiều đỉnh cao 1800m với đỉnh Pu-đen-
Trang 10đinh 1886m, Pu-sam-sao 1897m Trong khu vực có nhiều nền móng cổnhiều đứt gãy đắc biệt là đứt gãy Lai Châu – Điện Biên Địa hình ở đây kháđồng nhất với mạng lưới xâm thực dày, khe sâu sườn dốc, có xen một số bềmặt bằng phẳng rộng như Mường Nhé.
Nằm giữa 2 khối núi khổng lồ kể trên là một dãy núi đá vôi xen núi
sa diệp thạch chạy liên tục từ Phong Thổ qua Sìn Hồ, Tuần Giáo (LaiChâu), Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu (Sơn La) về Yên Lạc, Lạc Thủy(Hòa Bình)
2.3 Khí hậu
Vùng Tây Bắc có khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng của chế độ giómùa Do nằm sâu trong lục địa nên ảnh hưởng của mưa bão biển Đông trongmùa hè và của gió mùa Đông bắc trong mùa đông ít hơn các nơi khác thuộcĐông Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ
Chế độ gió mùa có sự tương phản rõ rệt Mùa hè với gió mùa TâyNam, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều Mùađông với gió mùa Đông Bắc, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, cóthời tiết lạnh, khô và ít mưa Các tháng 4 và tháng 10 là những tháng giaothời giữa 2 mùa
Các hoàn lưu gió mùa ảnh hưởng tới Tây Bắc là hệ thống gió mùaĐông Bắc Á; hệ thống gió mùa Đông Nam Á; hệ thống gió mùa Nam châu
Á Các hoàn lưu gió mùa đã chi phối mọi duễn biến của thời tiết và khí hậuvùng Tây Bắc với những đặc trưng cơ bản sau đây:
Về chế độ nhiệt, tháng nóng nhất từ tháng 6 đến tháng 8, lạnh nhấttháng 11-12 Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm ở vùng cao nguyên và núi caolớn hơn ở các thung lũng Do có dãy Hoàng Liên Sơn chắn gió mùa ĐôngBắc, nhiệt độ mùa đông ở Tây Bắc thường cao hơn Đông Bắc từ 1-2oC( ởcùng độ cao)…Trái lại mùa hè ở Tây Bắc đến sớm hơn và kết thúc muộnhơn, do ảnh hưởng sớm và nhiều hơn của áp thấp nóng phía tây
Trang 11Về chế độ gió, mùa đông có gió mùa Đông Bắc, gió Bắc và Tây Bắc;mùa hè có gió mùa Tây Nam, gió Tây,, gió Đông và gió Nam Ngoài ra cònxuất hiện gió xoáy, gió khhu vực Tốc độ gió bình quân hàng năm thấp (từ0,5 – 2,4 m/s); tốc độ gió mạnh nhất là 28m/s trong điều kiện có giông bãohoặc gió xoáy địa hình …song mức độ gây hại không lớn thường xuyên xuấthiện trong thời gian ngắn và trên diện hẹp
Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm của Tây Bắc biến động khônglớn, thường từ 78 – 93% ở các tiểu vùng có độ chênh lệch từ 2 – 5 %
Độ ẩm trung bình tháng lớn nhất từ 87 – 93% ở Mường Tè (vào tháng7)và 86% ở Hòa Bình (vào tháng 8,9) Độ ẩm trung bình tháng nhỏ nhất từ
71 – 77% ở Mường Tè( tháng 3,4) và Hòa Bình (vào tháng 4,5).Độ ẩm tốithiểu tuyệt đối là 12 – 15 % vào các tháng 1 – 3 Độ ẩm tối đa tuyệt đối cóthể đạt 100
Lượng bốc hơi bình quân hằng năm từ 660 – 1100mm
Khu vực Tây Bắc có lượng mưa lớn, bình quân từ 1800 – 2500mm/năm Do ảnh hưởng của địa hình ( các dãy núi cao) mà lượn mưa trên một
số khu vực có khác nhau:2400 – 2800mm ở Mường Tè, Sìn Hồ; 1800 –2000mm ở Phong Thổ ; 1600 -1800mm ở cá cao nguyên Sơn La, MộcChâu…
Lượng mưa phân bố không đều trong năm thường tập trung vào cáctháng mùa hè, chiếm 78 -85 % lượng mưa cả năm Tháng 6,7 có lượng mưalớn nhất (>300mm /tháng) Tổng số ngày mưa trung bình trong năm biếnđộng từ 114 – 118 ngày
Các hiện tượng thời tiết đặc biệt ở Tây Bắc là gió Lào, gió địaphương Đây là loại gió nóng khô, gây hạn hán, hỏa hoạn, làm trở ngại chosản xuất và sinh hoạt Mưa đá thường xuyên xuất hiện trong mùa hè, sươngmuối và băng giá thường xuất hiện trong mùa đông
Trang 122.4 Thủy văn
Tây Bắc có mạng lưới sông ngòi đặc nhưng không có nhiều sông lớn.Nhìn chung hướng sông suối thường trùng với hướng kiến tạo còn các sôngnhỏ thường thẳng góc với sông chính Đại bộ phận long sông cao hơn mặtbiển 100 – 200m có nơi đến 500 – 600m Vì vậy sông ngòi Tây Bắc thườngđào lòng mạnh trắc diện hẹp, sông suối hàu như không có bồi tụ, lòng suốiđầy những tảng đá lớn, các suối đều ngắn và đều đổ thẳng xuống những consông chính lắm thác nhiều ghềnh Tây Bắc có 4 hệ thống sông chính: Sông
Đà, Sông Mã, Sông Mê Công và Sông Đáy Trong đó hệ thống sông Đà lớnnhất còn các hệ thống sông khác chỉ nằm trên đất Tây Bắc 1 phần nhỏ hoặc
là thượng nguồn sông Mã, hoặc là thượng nguồn sông suối hoặc là phụ lưucủa sông Đáy
Sông Đà bắt nguồn từ độ cao 1500m thuộc Vân Nam (Trung Quốc).Sông chảy vào Việt Nam ở địa phận huyện Mường Tè (Lai Châu) đổ vàosông Hồng ở Trung Hà Sông Đà là phụ lưu lớn nhất của sông Hồng vớichiều dài 1010km và diện tích lưu vực 52900km2 Trong địa phận Viêt Namsông Đà dài 570km với diện tích lưu vực 26800 km2(chiếm 50% diện tíchtoàn lưu vực) Sông Đà góp 47% tổng lượng nước cho sông Hồng tại SơnTây Sông Đà chảy trên 1 miền đồi núi dốc các phụ lưu cấp 1 thường bắtnguồn từ núi cao trên 1000m vì vậy phần thượng lưu rất dốc, trắc diện dọcthẳng đứng, độ dốc chính của lòng sông bình quân lên tới 71cm/km Hệthống sông Đà gồm 187 sông suối lớn nhỏ
Sông Mã chảy ở phần Tây Nam của miền: chiều dài 512km, diện tíchlưu vực 35776km2 Lòng sông ở thượng và trung, hẹp và sâu, nhiều ghềnh
đá cắt ngang chỉ mở rộng ở châu thổ Thanh Hóa Sông Mã có 17 phụ lưu,lưu vực ít dốc hơn, độ chia cắt sâu Các sườn trực tiếp đổ vào lòng sông là40-100m/km2
Ngoài ra sông chảy trên các cao nguyên ở Tây Bắc thường nhỏ và ítnước
Trang 133 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1 Đặc điểm dân số
Tây Bắc là vùng có mật độ dân cư thưa thớt so với các khu vựckhác trong cả nước So với khu vực Đông Bắc, vùng này được khai thácmuộn hơn, dân cư trong vùng chủ yếu là các dân tộc ít người, trong đótiêu biểu là người Thái, người Mường, người H’Mông… Nhìn chung trình
độ văn hóa còn thấp
Người Mường chiếm 1,2 % dân số cả nước, cư trú thành một dải vòngcung giữa địa cực người Việt và người Thái, từ NGhĩa Lộ về Hòa Bình lansang miền tây Thanh Hóa và Nghệ An
Người Thái chiếm 1,3 % dân số cả nước Địa bàn cư trú của họ kéodài từ hữu ngạn sông Hồng tới thượng du Thanh Hóa, Nghệ An Người Tháiđịnh cư tại các vùng thung lũng và dựng làng ở trên những cánh đồng rộnggiữa núi như Mường Thanh, Nghĩa Lộ…
Trong vùng còn có người H’ Mông định cư và hoạt động ở các sườnnúi với độ cao >1500m sát biên giới phía Bắc đến thượng du Thanh Hóa,Nghệ An Thuộc ngữ hệ H’ Mông – Dao còn có dân tộc Dao, cư trú ở độ cao
700 – 1000m người h’ Mông vá người Dao là những dân tộc sống trên “máinhà” của các tỉnh miền Bắc
Mật độ dân số toàn vùng rất thấp và không đồng đều Nơi tập trungđông nhất là các thị xã, thị trấn, các điểm dân cư tập trung, các thi tứ và trêncác trục đường giao thông Đó là thị xã Lào Cai, thị xã Hòa Bình Trái lại ởcác khu vực núi cao, đường giao thông ít, đi lại khó khăn… thường chỉ cócác dân tộc ít người sinh sống nên mật độ dân cư thấp
Trang 14Bình quân mật độ dân cư toàn vùng là 61 người/km2 Mật độ dân sốtăng dần từ vùng cao xuống vùng thấp, từ ngừng khu vực đi lại khó khănđến những nơi có đường giao thông đi lại thuận tiện.
3.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng – cơ sở vật chất kỹ thuật
• Hệ thống đô thị
Hệ thống đô thị của vùng với 4 thị xã là Điện Biên Phủ, Lai Châu,
Sơn La, Hòa Bình Diên tích các đô thị trên là 596,7km2, dân số 178,6 nghìn
người (1997) Hệ thống đô thị tuy ít nhưng hiện tại và tương lai chúng sẽ lànhững trung tâm tạo sức phát triển cho cả vùng
• Hệ thống các tuyến trục giao thông
Các tuyến trục giao thông Tây Bắc chỉ có 2 loại hình vân tải chính làđường thủy và đường bộ, ngoài ra còn có đường không nhưng ý nghĩa bịhạn chế
Mạng lưới đường bộ được phát triển mạnh trong những năm gần đây.Nhưng so với cả nước vùng này có mật độ thấp nhất (0,056km/km2) phân bốlại không đều do đặc thù của vùng núi cao hiểm trở
Các tuyến đường đã có hầu hết chất lượng kém, chỉ có 4,5% đườngquốc lộ đạt tiêu chuẩn từ cấp 3 đến cấp 5 đồng bằng, 0,8% đường cấp 2miền núi, 33,1% đường cấp 4 miền núi, 47,3% đường cấp 5 và 14,3% đườngcấp 6 miền núi
Toàn vùng Tây Bắc còn 64 xã trên tổng số 526 xã chưa có đường ô tô,đặc biệt có 44 xã chưa có đường dân sinh
Trang 15CHƯƠNG II MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ ĐỘNG ĐẤT
1 Động đất là gì?
Động đất là sự rung động của Trái Đất, nó được gây nên bởi chùm tiasóng địa chấn lan tỏa từ một vùng nguồn nào đó do quá trình giải tỏa nhanhnăng lượng đàn hồi tạo nên Nói cách khác: Động đất là sự giải phóng nhanhcủa năng lượng đàn hồi được tích lũy tại một điểm nào đó bên trong TráiĐất, gây nên sóng địa chấn và tác động lên bề mặt làm phá hoại các côngtrình, sự biến dạng bề mặt cũng như gây chết chóc cho con người
2 Sóng địa chấn
Sóng địa chấn là sóng đàn hồi lan tỏa từ việc giải phóng năng lượngđột ngột trong lòng đất (động đất), từ vụ nổ hay các nguồn nănglượng khác.Năng lượng được truyền trong lòng đất, lan tỏa ra mọi hướng từ nguồn phátsinh (vùng nguồn) Sóng địa chấn gây rung động nền đất và là nguyên nhânchính gây nên phá hoại nhà và công trình Có hai dạng song địa chấn: sóngkhối và sóng mặt Sóng khối lan từ nguồn ra không gian xung quanh, truyềnqua các lớp vật chất trong lòng Trái Đất, còn sóng mặt chỉ lan truyền trên
bề mặt và trong các lớp dẫn sóng Vận tốc lan truyền của sóng địa chấntrong môi trường rắn biến đổi trong giới hạn 3- 15km/s
- Có 2 loại sóng mặt : sóng Love và sóng Rayleigh được truyền dọctheo bề mặt Trái Đất và trong các lớp dẫn sóng
- Hai loại sóng khối : sóng dọc L và sóng ngang S truyền xuyên qualòng đất, khúc xạ qua các môi trường vật chất khác nhau hoặc phản xạ tạicác ranh giới của môi trương trước khi trở lại mặt đất Sóng P có thể truyềnqua tất cả các môi trường trong lòng đất tương tự như sóng âm, còn sóng Schỉ truyền qua môi trường rắn Vân tốc của sóng khối thay đổi theo tính chấtcủa môi trường mà nó truyền qua, chủ yếu phụ thuộc vào mật độ của vậtchất môi trường
Các thông số cơ bản của động đât đều được xác định trên cơ sở phântích các đặc trưng của sóng địa chấn
Trang 163 Các đặc trưng cơ bản của động đất
Mỗi trận động đất được đặc trưng bởi các thông số cơ bản sau 1) Thờiđiểm phát sinh động đất; 2) Vị trí của tâm động đất biểu thị bởi tọa độ chấntâm (vĩ độ, kinh độ) và độ sâu chấn tiêu; 3)Độ mạnh (Độ lớn)(magnitude) Mhay là năng lượng E; và 4) Cường độ chấn động (Intensity) ở chấn tâm I0
.Dưới đây tôi sẽ giới thiệu những định nghĩa và khái niệm đó
3.2 Năng lượng và độ mạnh của động đất
- Năng lượng được giải phóng trong động đất và truyền ra không gianxung quanh dưới dạng sóng đàn hồi gọi là năng lượng động đất, khí hiệu lầ
E Năng lượng động đất mới thực sự biểu thị độ lớn của 1 trận động đất Tuynhiên xác định năng lượng động đất là công việc khó khăn và phức tạp Bởivậy người ta thường đánh giá năng lượng động đất theo Magnitude bằng cáccông thức tương quan thực nghiệm giữa năng lượng động đất E vàMagnitude M
- Độ mạnh (Magnitude) là năng lượng đặc trưng cho mức năng lượng
mà trận động đất phát ra và truyền ra không gian xung quanh dưới dạngsóng đàn hồi
Thuật ngữ đầu tiên chỉ dộ mạnh của động đất vê năng lượng là
“Magnitude” Đại lượng “Magnitude”do Richter C.F đưa ra và sử dụng đầutiên từ năm 1935 để phân hạng động đất ở California về độ mạnh Trong địa
Trang 17chấn học người ta cũng lấy tên ông làm đơn vị cho đại lượng này và gọi là
“độ Richter” Ngày nay người ta sử dụng các thang Magnitude cơ bản sau đểphân hạng động đất về độ mạnh (tùy thuộc vào các sóng địa chấn được sửdụng ta có): Magnitude địa phương (Local magnitude) ML, Magnitude theosóng mặt (Surface wave magnitude) MS, Magnitude theo sóng khối (bodywave magnitude) Mb, Magnitude theo moment địa chấn (momentmagnitude) MW.
3.3 Cường độ chấn động của động đất
Cường độ chấn động (Intensity) động đất là đại lượng biểu thị cường
độ chấn động mà nó gây ra trên mặt đất và đánh giá được qua mức độ tácđộng của nó đối với nhà cửa, công trình, mặt đất, đồ vật, con người
Cường độ chấn động được đánh giá theo các thang phân bậc mức độtác động của động đất đối với các kiểu nhà cửa, công trình, đồ vật, súc vật,con người và biến dạng mặt đất (Cách đánh giá như vậy được quy địnhtrong thang Cường độ chấn động) Ở Bắc mỹ người ta dùng thang Mercallicải biên MM phân chia cường độ chấn động thành 12 cấp Nói chung thangnày trùng hợp với thang Kankani- Ziberg dùng ở Tây Âu trước đây và saunày với thang MSK – 64 được Hội đồng Địa chấn châu Âu thông qua năm
1964 và được dung rộng rãi ở Liên Xô trước đây và các nước châu Âu
4.Nguyên nhân xảy ra động đất
Sự phá hủy đột ngột các phần thạch quyển mà chủ yếu là vỏ Trái Đất
sẽ gây ra chấn động lan truyền dưới dạng sóng đàn hồi, đó là động đất.Nguyên nhân gây ra những phá hủy đó có thể rất khác nhau: vận động kiếntạo, phun trào núi lửa, sập hang động ngầm,…
Chuyển động của các mảng thạch quyển liên quan với các quá trìnhháo – ly và sự thay đổi chế độ nhiệt động bên trong Trái Đất gây ra biếndạng chậm chạp nhưng mạnh mẽ và phân dị của vỏ Trái Đất như uốn nếp,nâng cao thành các vùng núi, sụt lún thành các vùng trũng… làm hình thànhcác hệ thống đứt gãy chia cắt vỏ Trái Đất Đó là vận động kiến tạo Phá hủy
Trang 18đột ngột, cục bộ sẽ xảy ra ở những khâu yếu, nơi mà độ bền vững của đákhông chịu nổi sức căng được tích lũy và tăng dần trong quá trình vận động.Năng lượng tích lũy được giải phóng và lan truyền ra không gian xungquanh dưới dạng sóng đàn hồi Động đất phát sinh trong quá trình này gọi làđộng đất kiến tạo Có nhiều quan điểm khác nhau về cơ chế phát sinh độngđất kiến tạo, nhưng ngày nay quan điểm dược chấp nhạn rộng rộng rãi nhất
và được minh chứng đầy đủ nhất bằng quan sát thực tế là quan điểm chorằng động đất kiến tạo phát sinh dịch chuyển đột ngột của các địa khối dọctheo các đứt gãy địa chất
Phun trào núi lửa cũng gây phá hủy và chấn động mạnh vỏ Trái Đất,
đó là động đất núi lửa Nham thạch nóng chảy từ các lò trong quyển mềm đitheo các đường nứt, phá hủy chúng mà phun trào lên mặt đất gây ra các vụ
nổ núi lửa Các vụ phá hủy và nổ núi lửa xảy ra gần mặt đất, chấn động lantruyền không xa
Ngoài ra các vụ sập hang động trong các vùng đá vôi cũng gây chấnđộng Tuy nhiên đó chỉ là những trận động đât yếu
Động đất kích thích ( ở hồ chứa ) là hiện tượng tăng hoạt động độngđất ở vùng hồ chứa được tích nước Hiện tượng đó xảy ra ở nhiều vùng hồ,nhiều trường hợp đã xảy ra động đất kích thích mạnh gây hư hỏng đập, pháhoại nhà cửa, công trình, gây thiệt hại lớn về người và của Động đất kíchthích mạnh không xảy ra ở mọi vùng hồ Nó chỉ xảy ra ở những vùng hồ cóđiều kiện địa chât, kiến tạo thuận lợi: là vùng hoạt động ứng suất kiến tạotrong đá đã đạt giới hạn, tồn tại các đứt gãy đủ lớn liên quan tới hồ chứa vềmặt thủy văn Trong điều kiện ứng suất đã đạt tới hạn thì ứng suất gia tănggây lên bởi cột nước trong hồ tuy rất nhỏ nhưng có thể đóng vai trò cơ cấuthúc đẩy Còn nước thấm sâu theo khe nứt và đứt gãy làm thay đổi áp suất lỗrỗng, giảm ma sát ở các mặt trượt làm xảy ra động đất ở trạng thái tự nhiên
Trang 19CHƯƠNG III HOẠT ĐỘNG ĐỘNG ĐẤT Ở KHU VỰC TÂY BẮC
I HIỆN TRẠNG ĐỘNG ĐẤT Ở TÂY BẮC
Cho đến nay các danh mục động đất trên lãnh thổ Tây Bắc Việt Namghi nhận 767 trận động đất có Magnitude Ms ³ 3 chiếm gần 2/3 tổng số độngđất xảy ra trên toàn lãnh thổ Việt Nam, chứng tỏ lãnh thổ Tây Bắc Việt Nam
có tính động đất cao nhất Chỉ tính riêng trong thế kỷ XX hầu hết cả trậnđộng đất mạnh nhất xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam đều tập trung vào khuvực Tây Bắc Đó là các trận động đất mạnh tiêu biểu ở Việt Nam mà ViệnVật Lý địa cầu đã điều tra thực địa:
có chấn cấp từ 1 độ Richter trở lên
Trang 20Bảng: Các vùng phát sinh động đất M ³5 khu vực Tây Bắc
Sông Hồng – Sông Chảy
Sông Mã – Pu mây tun
Lai Châu – Điện Biên
Mường Tè
Mường Nhé
6,05,55,55,55,57,05,57,06,05,55,5
4,54,54,54,54,54,54,54,54,54,54,5
0,930,780,780,780,780,780,780,780,780,780,78
1712121222122212121212
0,3450,030,060,030,080,160,080,100,100,030,03
(Nguồn: Vật lý địa cầu)
1 Động đất Điện Biên (1935)
Trang 21Động đất Điện Biên xảy ra vào hồi 23h 22 phút ngày 1 tháng 11 năm
1935 tai khu vực phía Đông Nam thành phố Điện Biên, Magnitude Ms= 6,8
độ Richter Động đất dã gây hư hại nặng các nhà máy xây tại Điện Biên,Sơn La Đại bộ phận các tường nhà xây bị nứt nẻ Tại vùng chấn tâm ngườì
ta quan sát thấy nứt đất rộng tới 20 cm và đoạn dài nhất có thể đạt 50 m.Chấn động cấp 7 quan sát tại Lai Châu và gây hư hại một ít nhà cửa Bản đồđẳng chấn của động đất Điện Biên năm 1935 do Robert vẽ lần đầu tiên vàonăm 1935, theo đó thì chấn động cực đại tại vùng chấn tâm là cấp 9 Sau đó,qua công tác điều tra động đất trong nhân dân, Nguyễn Hữu Thái đã vẽ lạivào năm 1996 Theo kết quả này thì chấn động cực đại tại vùng chấn tâmchỉ đạt cấp 8- 9 thang MSK – 64 Và vậy thì Magnitude động đất là khoảng6,8 độ Richter, độ sâu chấn tiêu là 25 km
- Là trận động đất được phối hợp nghiên cứu toàn diên nhất, kể cả vấn
đề hợp tác nghiên cứu với nước ngoài, và vì vậy có nhiều công trình công bố
kể cả trong nước và ngoài nước đề cập đến
- Có thể nói rằng dộng đất Tuần Giáo đã thúc đẩy sự phát triển vềcông tác nghiên cứu địa chấn ở Viện Vật lí Địa cầu, mở ra một giai đoạnphát triển mới với số lượng cán bộ nghiên cứu ccungx như sự tăng cườngthiết bị cho nghiên cứu và phát triển mạng lưới đài trạm
Động đất Tuần Giáo xảy ra vào hồi 14h 18 phút ngày 24 tháng 6 năm
1983 trong vùng núi cách thị trấn Tuần Giáo về phía Bắc khoảng 11 km.Magnitude của động đất được xác định là Ms=6,7độ Richter Cường độ chấn
độ chấn trong vùng cực động I0= 8 – 9 (thang MSK)
Trang 22Hình 4 Phân bố không gian - thời gian của động đất ở Tuần Giáo và các vùng kế cận năm 1983
Động đất dã gây thiệt hại nặng nề cho thị trấn Tuần Giáo: trong sốnhững ngôi nhà gạch cấp IV thì có khoảng 30 % bị hư hại nặng, phần lớn sốcòn lại bị hư hại vừa Chỉ có nhà gỗ, nhà tre và nhà mái tranh mới không bị
hư hại Động đất cũng gây hư hại từ nhẹ đến vừa đối với các nhà như thế ởcác thị trấn, thành phố: Lai Châu, Sơn La, Tủa Chùa, Quỳnh Nhai, ĐiệnBiên và các nơi khác trong các huyện nói trên Động đất cũng gây ra nhiềuhiện tượng biến dạng về mặt địa hình như: sụt lở lớn trong các dãy núi trongvùng chấn tâm vùi lấp tới 200 ha ruộng lúa trong cá thung lũng và nhiềuđoạn đường giao thông; nứt đất rộng đến 10 – 15 cm, kéo dài từng đoạn từvài chục đến vài trăm mét trên chiều dài gần 20 km từ Pú Nhung đến MườngMùn; nứt đất với kích thước nhỏ và sụt đất xảy ra khắp nơi trong vùng chấntâm, nhiều mạch nước bị mất và cũng xuất hiện nhiều mạch nước mới Đá lởlàm hàng chục người chết và bị thương
Động đất gây chấn động mạnh trên những vùng rộng lớn ở Tây Bắc,Đông Bắc, lào và Trung Quốc Chấn động cấp 8 và mạnh hơn xảy ra trên
Trang 23diện tích 1500 km2, cấp 7 và mạnh hơn là 13000km2 Sau kích động chính làhàng loạt dư chấn đã xảy ra Dư chấn mạnh nhất là vào ngày 15 tháng 7 năm
1983 tại ngay trong vùng cực động và có Magnitude 5, 4 độ Richter, độ sâuchấn tiêu là 8 km và gây chấn động trên bề mặt tại vùng chấn tâm, Io= 7 – 8
Đá lở trong dư chấn này cũng làm 2 người thiệt mạng
3 Các điểm có cấp chấn động I= 7,0 là Mường Luân, Bì Nhừ (ĐiệnBiên Đông) và bản Bú Bẩu (Sông Mã)
b)Trên cơ sở các số liệu quan trắc bằng máy ghi địa chấn tự động vàkết quả điều tra thực tế động đất cỏ thể cho phép xác định các thông số sau:
1 Thời gian xảy ra động đất 01 giờ 39 phút (giờ Hà Nội)
2. Tọa độ chấn tâm động đất Ψ=21o26’08 N
3. Độ sâu chấn tiêu λ=103o32’ E
h = 12 km
4 Chấn động cực đại I0 = 6,0-7,0 (MSK-64)
5 Magnitude theo sóng mặt Ms = 4,96 độ Richter
4 Động đất Thin Tóc hay còn gọi là động đất Điện Biên (năm 2001).
Trang 24Ngày 19 tháng 2 năm 2001, hồi 22 giờ 52 phút (giờ Hà Nội) tạikhu vực buên giới Việt-Lào, giáp ranh với thành phố Điện Biên đã xảy
ra động đất với Magnitude 5,3 độ Richter Chấn tâm động đất được xácđịnh theo số liệu ghi nhận của mạng lưới đài trạm Việt Nam và quốc tếcũng như qua điều tra thực địa và nằm tại khu vực bản Thin Tóc thuộclãnh thổ Lào, trên đứt gãy Thin Tóc, phần đuôi phía Tây-Nam của đớiđứt gãy Lai Châu-Điện Biên
Mức độ phá hủy của động đát là khá lớn, gây thiệt hại nhiều về nhà ởcủa nhân dân tại khu vực Điện Biên, ước tính hàng trăm tỷ đồng Việt Nam(có thể đạt 200 tỷ, theo thông báo của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu cũ).Đây là động đất được ghi nhận đầy đủ trên mạng lưới trạm địa chấn mở rộngphân bố khá đồng đều trên lãnh thổ Việt Nam Chấn tâm động đất Thin Tócnằm trên đới động đát Lai Châu-Điện Biên, được đánh giá là có tính địachấn tích cực, và gần kề với chấn tâm động đất có tính phá hoại Điện Biênnăm 1935 (Ms= 6,8), nơi mà nhiều nhà địa chấn Việt Nam cho là có nguy cơđộng đất lớn nhất trên lãnh thổ Việt Nam (Mmax= 6,5 – 7,0)
Trên cơ sở các số liệu quan trắc bằng máy ghi địa chấn tự động có thểcho phép xác định các thông số động đất như sau:
1. Động đất Thin Tóc (Biên giới Việt - Lào)
2 Thời điểm xảy ra động đất: 22 giờ 52 phút 34,20 giây giờ Hà Nội
3. Tạo độ chấn tâm động đất Ψ = 21,33o N
λ = 102,84o E
4 Độ sâu chấn tiêu h = 12,3 km
5. Magnitude theo sóng mặt: Ms = 5,3 độ Richter
Tổng hợp tình hình thiệt hại do động đất gây ra có thể tóm lược như sau:4.1Thành phố Điện Biên:
a) Người bị thương: 02 người
b) Trụ sở làm việc, trường học 98% công trình bị hư hỏng, trong đó:+ Công trình bị thiệt hại nặng phải phá dỡ gồm có:
Trang 25- Nhà làm việc: 2 công trình nhà cấp 3 (2 tầng), diện tích sàn 270 m2; 1công trình nhà cấp 4 (1 tầng), diện tích sàn 150 m2
- Trường học: 10 phòng học cấp 3 (2 tầng), diện tích sàn 750 m2; 63phòng học nhà cấp 4 (1 tầng), diện tích sàn 2520 m2
- Nhà dân: 117 nhà cấp 3 (2 tầng), diện tích sàn 2880 m2
+ Công trình thiệt hại nặng, 30 – 50 %:
- Nhà làm việc: 15 b công trình nhà cấp 3 (2 -3 tầng), diện tích sàn9000m2
- Trường học: 5 trường mẫu giáo, nhà trẻ diện tích sàn 2650m2; 30phòng học cấp 3 (2 tầng), diện tích sàn 2400m2; 20 phòng học cấp 4(1tầng),diện tích sàn 900m2
- Nhà dân: 493 nhà cấp 3(2 tầng), diện tích sàn 14000m2
+ Công trình bị thiệt hại mức nhẹ, 10 – 20 %:
- nhà làm việc: 20 công trình nhà cấp 3 (2 tầng),diện tích sàn 12000m2
- Trường học: 20 phòng học cấp 3 (2 tầng), diện tích sàn 1600m2; 15phòng học cấp 4 (1 tầng), diện tích sàn 650m2
- Nhà dân: 493 nhà cấp 3 (2-3 tầng), diện tích sàn 30000m2
4.2Huyện Điện Biên:
a) Người bị thương: 2 người
b)Trụ sở làm việc, trường học: 60% công trình bị hư hỏng, trong đó:+ Công trình bị thiệt hại nặng phải phá dỡ gồm có:
- Trường học : 30 phòng học cấp 4 (1 tầng), diện tích sàn 2945 m2.
+ Công trình bị thiệt hại nặng, 30 – 50 %:
- Nhà làm việc: 10 công trình nhà cấp 3 ( 2 – 3 tầng, diện tích sàn2600m2
- Trường học: 4 trường mẫu giáo, nhà trẻ, diện tích sàn 2650m2; 6phòng học cấp 3 (2 tầng), diện tích sàn 350 m2; 36 phòng học nhà cấp 4(1tầng), diện tích sàn 1620m2
- Nhà dân: 800 nhà cấp 4 (1 tầng), diệ tích sàn 48000 m2