1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vi phạm điều kiện kết hôn của đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực tây bắc việt nam

87 487 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét ở góc độ này thì những hủ tục vi phạm điều kiện kết hôn như tảo hôn, kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người gần gũi về huyết thống…thường có ở đồng bào dân tộc thiểu s

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH VÂN HẰNG

VI PHẠM ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN CỦA ĐỒNG BÀO DÂN

TỘC THIỂU SỐ Ở KHU VỰC TÂY BẮC VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH VÂN HẰNG

VI PHẠM ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN CỦA ĐỒNG BÀO DÂN

TỘC THIỂU SỐ Ở KHU VỰC TÂY BẮC VIỆT NAM

Chuyên ngành:Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số:60380103

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: T.S Nguyễn Phương Lan

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thanh Vân Hằng

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

- HN&GĐ: Hôn nhân và gia đình

- KHHGĐ: Kế hoạch hóa gia đình

- UBND: Ủy ban nhân dân

- TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao

- Nghị định 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011: Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc

- Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014: Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một

số điều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 7

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VI PHẠM 7

ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN 7

1.1 Khái niệm kết hôn và điều kiện kết hôn 7

1.1.1 Khái niệm kết hôn 7

1.1.2 Khái niệm điều kiện kết hôn 9

1.2 Vi phạm điều kiện kết hôn 12

1.2.1 Khái niệm vi phạm điều kiện kết hôn 12

1.2.2 Các trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn 15

1.2.3 Hậu quả của việc vi phạm các điều kiện kết hôn 17

1.3 Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Bắc Việt Nam và ảnh hưởng của nó tới việc vi phạm điều kiện kết hôn 20

1.3.1 Điều kiện tự nhiên, dân số và phân bố dân cư 22

1.3.2 Thu nhập, đời sống và tình hình đói nghèo 24

1.3.3 Y tế và chăm sóc sức khỏe sinh sản 25

1.3.4 Văn hóa, phong tục tập quán, giáo dục, pháp luật 26

CHƯƠNG 2 31

THỰC TRẠNG VI PHẠM ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN Ở ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC TÂY BẮC VIỆT NAM 31

2.1 Vi phạm độ tuổi 33

2.2 Vi phạm sự tự nguyện 39

2.3 Người kết hôn bị mất năng lực hành vi dân sự 43

2.4 Vi phạm các trường hợp cấm kết hôn, cấm chung sống như vợ chồng 45 2.4.1 Kết hôn, chung sống như vợ chồng vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng 45

Trang 6

2.4.2 Các trường hợp vi phạm giữa những người luật cấm kết hôn hoặc cấm chung sống như vợ chồng 46

2.5 Việc xác minh các điều kiện kết hôn thông qua thủ tục đăng ký kết hôn

51

CHƯƠNG 3 55 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN Ở ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC TÂY BẮC VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 55 3.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật xử lý vi phạm điều kiện kết hôn ở đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc Việt Nam 55 3.2 Kiến nghị hoàn thiện các quy định về điều kiện kết hôn 63 3.3 Kiến nghị biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định về điều kiện kết hôn ở đồng bào dân tộc thiểu số 66 KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Việt Nam - một đất nước với hàng nghìn năm lịch sử, với bề dày giá trị của một nền văn hóa tinh hoa, đậm đà bản sắc dân tộc Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận một cách khách quan rằng cùng với thời gian, sự phát triển của điều kiện kinh tế - xã hội cũng như những thay đổi trong tư duy nhận thức con người ở nền văn minh hiện đại thì có nhiều yếu tố đã lỗi thời lạc hậu mà sự tồn tại của nó vô hình chung đã kìm hãm sự phát triển của văn hóa nói riêng

và cả một quốc gia nói chung Xét ở góc độ này thì những hủ tục vi phạm điều kiện kết hôn như tảo hôn, kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người gần gũi về huyết thống…thường có ở đồng bào dân tộc thiểu số

là minh chứng rõ nét nhất

Đến nay, mặc dù Luật HN&GĐ cùng các văn bản luật khác liên quan đến dân tộc thiểu số, bảo vệ bà mẹ và trẻ em, quyền phụ nữ, bình đẳng giới…đã ra đời và đi vào đời sống khá lâu, song hiệu quả trên thực tế chưa đạt

được như mong muốn Theo Báo cáo tổng quan tại Hội thảo thực trạng và giải pháp về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số ngày 02/07/2013 thì kết quả điều tra trong 3 năm 2007 - 2009 cho

thấy dân tộc có nhiều trường hợp tảo hôn cao tập trung ở vùng miền núi, như miền núi phía Bắc: dân tộc Mông chiếm 33%, dân tộc Thái chiếm 23,1%, dân tộc Mường chiếm 15,8% tỷ lệ các cặp vợ chồng Mặt khác, trung bình mỗi năm ở nước ta có thêm ít nhất là hơn 100 cặp vợ chồng cận huyết thống Thực

tế và khoa học đã chứng minh tỷ lệ trẻ em mắc bệnh bẩm sinh về di truyền do tảo hôn và từ các cặp vợ chồng cận huyết thống cao hơn so với những trẻ em khác Đó là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới tử vong ở trẻ em, đẻ non, sơ sinh nhẹ cân, dị dạng, dị tật, hoặc mang bệnh tật di truyền như mù màu, bạch tạng, bệnh tan máu, bệnh “lùn”….Xuất phát từ hạn chế của điều

Trang 8

kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội của một số vùng miền dẫn đến tình trạng vi phạm các điều kiện kết hôn diễn ra khá phổ biến trong đồng bào dân tộc thiểu

số, điển hình là khu vực Tây Bắc như: Lai Châu, Hòa Bình, Lào Cai, Điện Biên, Yên Bái Điều này thể hiện sự thiếu hiểu biết, lạc hậu của một bộ phận dân trí thấp, vừa mang sức nặng kìm hãm sự phát triển của giống nòi, của xã hội

Mục đích của pháp luật khi quy định về điều kiện kết hôn là nhằm đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ, xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, bảo đảm sức khỏe, nòi giống con người Luật HN&GĐ năm 2014 ra đời đã sửa đổi, bổ sung các quy định về điều kiện kết hôn phù hợp hơn với tình hình mới, nhưng bên cạnh đó vẫn còn hạn chế nhất định như tình trạng người đồng tính chung sống công khai mặc dù pháp luật không cấm song cũng không được pháp luật thừa nhận thì xử lý thế nào khi có tranh chấp xảy ra, vấn nạn tảo hôn, kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng cận huyết thống vẫn diễn ra phức tạp và để lại nhiều hệ lụy đau

lòng…Do đó, tác giả chọn đề tài “Vi phạm điều kiện kết hôn của đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Bắc Việt Nam” – một vấn đề khoa học mang

tính xã hội cao,với những đặc trưng về đối tượng, khu vực địa lý, tập quán, nhằm góp phần nghiên cứu thực trạng vi phạm điều kiện kết hôn hiện nay, đồng thời đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện Luật HN&GĐ năm 2014 và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở đồng bào dân tộc thiểu số

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Quyền kết hôn là một trong những quyền cơ bản của con người và các quy định về điều kiện kết hôn mang ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo quyền đấy Chính vì thế, chế định kết hôn nói chung và điều kiện kết hôn, vi phạm điều kiện kết hôn nói riêng đã thu hút rất nhiều tác giả nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tác giả đã tham

Trang 9

khảo, tìm hiểu một số bài viết có nội dung liên quan đến phạm vi nghiên cứu

của luận văn như sau:“Lợi ích và nguy cơ của sự loạn luận Hoàng tộc”, David Dobbs; “Bí mật dòng họ Vua Tut”, Zahi Hawass; Khuất Thị Thu Hạnh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận văn thạc sĩ “Chế định kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000”, Hà Nội, 2009;Trần Thị Phương Thảo, Trường Đại học Luật Hà Nội, Luận văn thạc sĩ: “Các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành”, Hà Nội, 2014;Nguyễn Kim Thoa, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận văn thạc sỹ: “Hoàn thiện chế định kết hôn trong Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2000”, Hà Nội,

2014;Vũ Thị Thu Huyền, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận văn

thạc sĩ: “Cấm kết hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000”, Hà Nội, 2014;Ngô Thị Hường, “Mấy vấn đề về quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính”, Tạp chí Luật học, 2001;Bùi Thị Mừng, “Chế định kết hôn trong pháp luật HN&GĐ Việt Nam qua các thời kỳ dưới góc nhìn lập pháp”, Tạp chí Luật học, 2012;Các tham luận tại Hội thảo thực trạng và giải pháp về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số ngày 02/07/2013 của Ủy ban Dân tộc như: “Tổng quan về tình trạng tảo hôn

và hôn nhân cận huyết thống trên thế giới và Việt Nam”, GS.TS Đặng Đức

Phú - Trung tâm truyền thông và sức khỏe, TSKH Trịnh Thị Kim Ngọc –

Viện HLKHXH Việt Nam; “Hệ lụy của tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống

ở một số cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, PGS.TS Trần Văn

Phòng - Viện trưởng Viện Triết học, Học viện Chính trị, Hành chính quốc gia

Hồ Chí Minh; “Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống dưới góc nhìn bình đẳng giới”, Th.s Nguyễn Thị Tư – Vụ trưởng Vụ Dân tộc thiểu số, Ủy ban

Dân tộc…

Tuy nhiên, các nghiên cứu trên được nhìn nhận và giải quyết vấn đề ở các góc nhìn khác nhau, hay báo cáo, tham luận về một vấn nạn xã hội, mà

Trang 10

chưa có bất kỳ đề tài khoa học nào nghiên cứu riêng về vấn đề vi phạm điều kiện kết hôn ở nhóm đối tượng điển hình là đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc Việt Nam Do đó, công trình này nghiên cứuvề vi phạm điều kiện kết hôn ở đồng bào thiểu số từ góc độ pháp lý nên không trùng lắp với các công trình trước đó

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của đề tài là đưa ra những kiến nghị hoàn thiện Luật HN&GĐ năm 2014, đưa ra những giải pháp cụ thể, mang tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về điều kiện kết hôn ở đồng bào thiểu số, nâng cao chất lượng giống nòi, tiến tới xây dựng xã hội văn minh hiện đại

- Mục tiêu cụ thể

Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể sau:

Thứ nhất là làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về kết hôn, điều kiện kết hôn, vi phạm điều kiện kết hôn và các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề này

Thứ hai là phân tích, đánh giá được thực trạng vi phạm điều kiện kết hôn ở đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc Việt Nam, từ đó đưa ra một số kiến nghị có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu tập trung về việc thực hiện cũng như sự vi phạm điều kiện kết hôn ở đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc Việt Nam - cộng đồng thường có những hạn chế nhất định về đời sống cũng như nhận thức pháp luật dẫn đến tình trạng vi phạm điều kiện kết hôn khá phổ biến

Trang 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định về điều kiện kết hôn của Luật HN&GĐ năm 2014, có sự so sánh với Luật HN&GĐ năm 2000.Vì Luật HN&GĐ năm 2014 mới có hiệu lực nên thực trạng các trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn trước khi Luật HN&GĐ năm 2014 ra đời được nghiên cứu xem xét trong thời gian Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực Đồng thời nghiên cứu vi phạm điều kiện kết hôn trong đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian qua, trên cơ sở đó, đánh giá việc thực hiện các quy định về điều kiện hôn ở đồng bào thiểu số vùng Tây Bắc để đưa ra các đề xuất, kiến nghị phù hợp

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp cụ thể như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, hệ thống, diễn giải, quy nạp để thực hiện các mục tiêu đã đặt ra

6 Tính mới và đóng góp của luận văn

Là một đề tài khoa học giàu tính thực tiễn, đề tài “Vi phạm điều kiện kết hôn của đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Bắc Việt Nam” sẽ

đem đến cái nhìn thực tế nhất đối với việc vi phạm điều kiện kết hôn ở đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời đề xuất một số ý kiến sửa đổi, bổ sung về điều kiện kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 cũng như đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở đồng bào dân tộc thiểu số Đây là những điểm mới và đóng góp quan trọng của luận văn

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về vi phạm điều kiện kết hôn

Trang 12

Chương 2 Thực trạng vi phạm điều kiện kết hôn ở đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc Việt Nam

Chương 3 Thực tiễn áp dụng pháp luật xử lý vi phạm điều kiện kết hôn

ở đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc Việt Nam và một số kiến nghị

Trang 13

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VI PHẠM

ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN

1.1 Khái niệm kết hôn và điều kiện kết hôn

Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội.Trong mỗi chế độ xã hội thì gia đình đều thực hiện những chức năng cơ bản của nó Một trong những chức năng cơ bản của gia đình là nhằm tái sản xuất ra con người, là quá trình duy trì nòi giống Nếu không có sản xuất và tái sản xuất ra con người thì xã hội không thể phát triển cũng như không thể tồn tại được Chính vì vậy hôn nhân là sự liên kết đặc biệt nhằm thực hiện chức năng đó một cách có hiệu quả và Nhà nước chính là chủ thể để thừa nhận Hiến pháp

năm 2013 đã quy định tại Điều 36 như sau: “1 Nam, nữ có quyền kết hôn , ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau 2 Nhà nước bảo hộ HN&GĐ, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em” Tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng ghi nhận quyền kết hôn như là một quyền tự do của con người: “Nam,

nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về HN&GĐ có quyền

tự do kết hôn Việc tự do kết hôn giữa những người thuộc các dân tộc, tôn giáo khác nhau, giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” Như vậy, có thể thấy rằng “kết hôn” là một quyền cơ bản mà mỗi

con người ai cũng có, nó cũng giống như quyền được sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc… và quyền đó được pháp luật công nhận, được Nhà nước bảo

vệ

1.1.1 Khái niệm kết hôn

Nhìn từ góc độ xã hội học, quan hệ HN&GĐ là một hình thức của quan

hệ xã hội được xác lập giữa hai chủ thể nam và nữ, quan hệ này tồn tại và

Trang 14

phát triển theo quy luật của tự nhiên với mục đích đảm bảo sự sinh tồn, phát triển của xã hội loài người Ngay cả khi không có bất kỳ một quy tắc, một quy định nào thì quan hệ HN&GĐ từ trước đến nay vẫn được xác lập, con người vẫn chung sống, vẫn sinh con đẻ cái và tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác

Do đó, quyền kết hôn là một quyền tự nhiên, quyền con người Tuy nhiên, trải qua các giai đoạn lịch sử, với sự xuất hiện của các hình thái kinh tế xã hội khác nhau, những quy tắc xã hội dần dần xuất hiện nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội khách quan mang tính ý chí Kết hôn không còn là một quyền

tự do, bản năng của con người mà trở thành một quan hệ xã hội được điều chỉnh, tác động bởi những quan hệ về lợi ích của giai cấp thống trị Khi ấy, mới bắt đầu xuất hiện những quan niệm đầu tiên về hôn nhân hợp pháp hay không hợp pháp Trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội, những yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa đã dần được hình thành và tác động trực tiếp tới các quy luật tự nhiên, điều chỉnh các mối quan hệ tự nhiên

đó theo những chuẩn mực mà xã hội đặt ra vì mục đích lợi ích của giai cấp thống trị Chỉ đến khi trong xã hội loài người có sự xuất hiện của pháp luật thì quan hệ HN&GĐ từ một quan hệ tự nhiên mới chính thức được xem xét trên khía cạnh một quan hệ pháp luật.Khi đó, quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình

là những quan hệ ý chí và phụ thuộc chặt chẽ vào ý chí pháp luật hay chính là những quy định pháp luật [62]

Dưới góc độ pháp luật, trong hệ thống pháp luật trước năm 1945 chưa có văn bản nào đề cập đến khái niệm “kết hôn”, chỉ đến Luật HN&GĐ năm 1986

mới đưa ra giải nghĩa như sau: “Kết hôn là việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng theo quy định của pháp luật Việc kết hôn phải thuận theo các Điều 5, 6,7 và 8 của Luật HN&GĐ” Đến Luật HN&GĐ năm 2000 khái niệm này

chính thức được định nghĩa tại khoản 2 Điều 8 và mới nhất là quy định tại

khoản 5 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập

Trang 15

quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn

và đăng ký kết hôn” Để đảm bảo tạo ra những tế bào tốt, những gia đình ổn

định, lành mạnh thì trước hết ngay từ việc kết hôn của hai bên nam nữ đã phải tuân thủ theo những điều kiện nhất định, sao cho cuộc hôn nhân đó được pháp luật cũng như xã hội công nhận Theo quy định của Luật HN & GĐ 2014 thì nam nữ kết hôn được coi là hợp pháp khi đảm bảo hai yếu tố sau:

Thứ nhất, phải thể hiện ý chí của cả nam và nữ là mong muốn được kết

hôn với nhau, sự bày tỏ ý chí phải thống nhất với ý chí, bởi lẽ đây là điều kiện đảm bảo cho hôn nhân có giá trị pháp lý đồng thời là cơ sở xây dựng gia đình bền vững, hạnh phúc Ý chí và mong muốn đó được thể hiện bằng lời khai của họ trong tờ khai đăng ký kết hôn trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Thứ hai, việc kết hôn phải được Nhà nước thừa nhận Hôn nhân chỉ được

Nhà nước thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân mà cụ thể là việc kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn

Như vậy khi kết hôn, hai bên nam nữ phải thể hiện và đảm bảo hai yếu tố nêu trên mới được pháp luật thừa nhận và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ vợ

chồng Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm kết hôn như sau: Kết hôn là một sự kiện pháp lý nhằm xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở các bên đáp ứng đầy đủ điều kiện kết hôn do pháp luật quy định và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận thông qua trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn

1.1.2 Khái niệm điều kiện kết hôn

Việc kết hôn luôn gắn liền với các điều kiện kết hôn.Đảm bảo đầy đủ các điều kiện khi kết hôn là một trong những yếu tố không thể thiếu để công nhận hôn nhân hợp pháp Do đó, việc đưa ra khái niệm đầy đủ và khái quát cho

thuật ngữ “điều kiện kết hôn” có ý nghĩa quan trọng Nó vừa phản ánh được

bản chất pháp lý của hôn nhân, vừa tạo ra cơ sở lý luận cho việc áp dụng pháp

Trang 16

luật đúng đắn Tính hợp pháp của việc kết hôn được xem xét ở hai khía cạnh: điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn Luật HN&GĐ năm 2014 quy định Điều kiện kết hôn tại Điều 8, còn Đăng ký kết hôn được quy định tại Điều 9.Thông qua thủ tục đăng ký kết hôn, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác minh điều kiện kết hôn của hai bên nam nữ

Các điều kiện kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 gồm:

- Điều kiện về độ tuổi quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8: “Nam từ đủ

20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”, nghĩa là nam, nữ phải đạt đến độ

tuổi theo quy định pháp luật thì mới được phép kết hôn Điểm b khoản 2 Điều

5 cấm hành vi “tảo hôn”, tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điều khoản trên Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ quy định độ tuổi kết hôn là nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên, cách tính tuổi ở đây, đối với nữ là sau ngày sinh nhật thứ 17, đối với nam là sau ngày sinh nhật thứ 19 thì người đó có quyền kết hôn Ví dụ : Một anh A sinh ngày 1/2/1992 thì sau ngày sinh nhật thứ 19, nghĩa là sau ngày 1/2/2011 thì anh ta đã đủ độ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Đối với

nữ, nếu chị B sinh ngày 31/12/1992 thì sau sinh nhật thứ 17, nghĩa là sau ngày 31/12/2009 thì đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Tuy nhiên Luật HN&GĐ năm 2014 bắt buộc nam phải từ đủ hai mươi trở lên và nữ phải từ đủ mười tám tuổi trở lên

- Điều kiện về ý chí tự nguyện của hai bên nam nữ khi kết hôn.Tự nguyện là ý muốn, nguyện vọng của bản thân trong việc kết hôn mà không bị

ép buộc, chi phối bởi các yếu tố khác.Điểm b khoản 1 Điều 8 quy định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định”, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 5

cấm các hành vi “kết hôn giả tạo”, “cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn” Đây là các hành vi đi ngược lại ý chí tự nguyện của hai bên nam, nữ Cưỡng ép kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách

Trang 17

của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của

họ Cản trở kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật trái với ý muốn của họ Tuy nhiên, hành vi kết hôn giả tạo hay lừa dối kết hôn lại hoàn toàn không dễ xác định Vì vậy, cần phải nhấn mạnh sự “tự nguyện” ở đây được hiểu là sự bày tỏ ý chí phải thống nhất với ý chí Các hành vi kết hôn giả tạo và lừa dối kết hôn không có sự thống nhất giữa bày tỏ ý chí và mong muốn nguyện vọng đích thực Hành vi được xem là kết hôn giả tạo khi các bên kết hôn nhằm che giấu một mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình Lừa dối kết hôn không được giải nghĩa trong Luật HN&GĐ năm 2014 nhưng được hiểu là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai về nhân thân, hoàn cảnh nên đồng ý kết hôn hoặc đã hứa hẹn làm việc gì đó có lợi cho bên kia làm bên kia đồng ý kết hôn Trên thực tế, tình trạng vi phạm hôn nhân tự nguyện vẫn diễn ra với vô vàn hình thức khác nhau, khiến các nhà tư pháp đau đầu trong việc xử lý các vụ việc phức tạp đó

- Điều kiện về năng lực hành vi dân sự của người kết hôn Khoản 2 Điều

10 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định người mất năng lực hành vi dân sự bị

“cấm kết hôn”, song Luật HN&GĐ năm 2014 lại đưa quy định người kết hôn

“không bị mất năng lực hành vi dân sự” là điều kiện kết hôn “phải tuân thủ” chứ không đưa vào quy định “cấm”(Điều 8) Người mất năng lực hành vi dân

sự là người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình Tuy nhiên, một người chỉ bị coi là mất năng lực hành vi dân sự khi có quyết định của Tòa án tuyên người đó mất năng lực hành

vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự Quy định cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn nhằm bảo đảm cho hôn nhân được thiết lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng Người tham gia kết hôn phải là người nhận thức được hành

vi của mình, xác định được mục đích của hôn nhân khi kết hôn

Trang 18

- Việc kết hôn không thuộc một trong các hành vi bị cấm được quy định tại điểm c, điểm d khoản 2 Điều 5, ngoài ra Luật HN&GĐ năm 2014 cũng quy định rõ các trường hợp chung sống như vợ chồng, bao gồm cấm các hành vi: người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác và ngược lại; cấm kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi hoặc từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ

kế với con riêng của chồng Hành vi chung sống như vợ chồng khi một hoặc hai bên nam, nữ chưa đủ tuổi kết hôn theo luật định cũng là hành vi bị cấm.Đây cũng là điểm tiến bộ so với Luật HN&GĐ năm 2000 Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ quy định các trường hợp cấm “kết hôn” nhưng không quy định cấm “chung sống như vợ chồng” đối với các trường hợp đó Điều này thể hiện tính chặt chẽ trong Luật HN&GĐ năm 2014.Nhà nước cũng không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính

Việc quy định các trường hợp cấm kết hôn là cần thiết, đảm bảo trật tự trong gia đình, xã hội; giữ gìn thuần phong mỹ tục, đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam; đảm bảo lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân

Từ những phân tích nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm Điều kiện kết hôn như sau: Điều kiện kết hôn là quy định của pháp luật về các điều kiện gắn với nhân thân người kết hôn mà hai bên kết hôn cần phải đáp ứng, là cơ sở để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận việc kết hôn hợp pháp

1.2 Vi phạm điều kiện kết hôn

1.2.1 Khái niệm vi phạm điều kiện kết hôn

Để có cách nhìn nhận đúng đắn khái niệm “vi phạm điều kiện kết hôn”, cần phân biệt được khái niệm “vi phạm điều kiện kết hôn” và khái niệm “kết

Trang 19

hôn trái pháp luật” Luật HN&GĐ năm 2014 đã giải nghĩa cụm từ “kết hôn

trái pháp luật” tại khoản 6 Điều 3, theo đó “kết hôn trái pháp luật là việc nam,

nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này”, khái niệm này đã bao hàm “vi phạm điều kiện kết hôn” Từ đó dẫn đến

nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau

Quan điểm thứ nhất cho rằng, khái niệm “kết hôn trái pháp luật” đồng nghĩa với “vi phạm điều kiện kết hôn”, quan điểm này xuất phát từ cách hiểu

vi phạm điều kiện kết hôn là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một hoặc hai bên vi phạm điều kiện kết hôn (không tuân thủ điều kiện kết hôn hoặc vi phạm các hành vi bị cấm) theo quy định tại Điều 8 Kết hôn trái pháp luật là vi phạm điều kiện kết hôn, vi phạm điều kiện kết hôn chính là kết hôn trái pháp luật Do đó, đường lối xử lý là như nhau

Quan điểm thứ hai không đồng nhất hai khái niệm “kết hôn trái pháp luật” và “vi phạm điều kiện kết hôn”, theo đó, quan điểm này cho rằng khái niệm vi phạm điều kiện kết hôn bao gồm cả trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn, trong đó một hoặc hai bên vi phạm điều kiện kết hôn hoặc vi phạm các hành vi bị cấm theo quy định tại Điều 8 Vì vậy, tùy từng trường hợp, đường lối xử lý là không giống nhau

Theo Từ điển Tiếng Việt, “vi phạm” là không tuân theo hoặc làm trái lại những điều đã được quy định Như vậy “vi phạm điều kiện kết hôn” được hiểu là không tuân theo hoặc làm trái lại các quy định về điều kiện kết hôn được quy định trong Luật HN&GĐ Khi kết hôn, các bên nam nữ phải tuân thủ các điều kiện được pháp luật quy định, không vi phạm các trường hợp cấm kết hôn thì hôn nhân mới được coi là hợp pháp Điều đó có nghĩa là, chỉ khi tuân thủ các điều kiện kết hôn thì cuộc hôn nhân mới có giá trị pháp lý,

Trang 20

giữa các bên mới phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng.Nếu các bên nam, nữ quyết định kết hôn mà không tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn thì sẽ không được cơ quan có thẩm quyền công nhận

Mặt khác, Luật HN&GĐ năm 2014 không xem đăng ký kết hôn là một trong những điều kiện kết hôn thuộc Điều 8, đây chỉ là một hình thức để kiểm soát việc tuân theo các điều kiện kết hôn pháp luật đặt ra đối với các bên nam

nữ trong việc kết hôn Nếu điều kiện kết hôn là điều kiện quy định của pháp luật, đòi hỏi các bên chủ thể kết hôn phải thỏa mãn và điều kiện đó gắn với nhân thân người kết hôn, thì đăng ký kết hôn là thủ tục, nghi thức pháp luật quy định khi cơ quan có thẩm quyền công nhận việc kết hôn của các bên nam

nữ, và nó nằm ngoài chủ thể kết hôn Như vậy, vi phạm điều kiện kết hôn chỉ

là vi phạm về mặt nội dung được quy định tại Điều 8, không bao hàm việc đăng ký kết hôn Vi phạm trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn không phải là vi phạm điều kiện kết hôn

Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không

đăng ký kết hôn thì được hiểu là việc “nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng” (khoản 7 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014) Có hai

trường hợp chung sống như vợ chồng: trường hợp thứ nhất là hai bên nam, nữ chung sống như vợ chồng đủ điều kiện kết hôn theo quy định nhưng không đăng ký kết hôn, hành vi chung sống này không vi phạm pháp luật Trường hợp thứ hai là hai bên nam, nữ chung sống như vợ chồng vi phạm điều kiện kết hôn, vi phạm các hành vi cấm chung sống theo quy định, hành vi chung sống này là hành vi vi phạm pháp luật

Như vậy, các bên nam nữ vi phạm điều kiện kết hôn khi thuộc hai trường hợp: Một là các bên đã đăng ký kết hôn, xác lập quan hệ vợ chồng nhưng một trong hai bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn; Hai là các bên chung sống với nhau như vợ chồng nhưng vi phạm điều kiện kết hôn hoặc vi phạm

Trang 21

các trường hợp cấm chung sống như vợ chồng do pháp luật quy định Do đó, cách hiểu về “vi phạm điều kiện kết hôn” theo quan điểm thứ hai là hợp lý

Từ phân tích trên có thể hiểu khái niệm: vi phạm điều kiện kết hôn là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn hoặc chung sống như

vợ chồng nhưng vi phạm điều kiện kết hôn hoặc vi phạm các trường hợp cấm chung sống như vợ chồng theo quy định của pháp luật

1.2.2 Các trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn

Ngày nay, xã hội đã có những bước phát triển lớn, cách nhìn nhận của con người về hôn nhân, gia đình đã đúng đắn hơn rất nhiều Hiện tượng vi phạm điều kiện kết hôn về độ tuổi phần lớn chỉ còn tồn tại ở một số dân tộc thiểu số Đường lối xử lý cũng hết sức mềm dẻo căn cứ vào tình trạng thực tế của từng trường hợp vi phạm

 Vi phạm sự tự nguyện

Kết hôn là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa hai chủ thể nam nữ được Luật HN&GĐ ghi nhận và quy định những điều kiện riêng.Một trong số những điều kiện đó là sự tự nguyện của các bên nam nữ khi kết hôn Trái ngược với sự tự nguyện đó chính là những hành vi cưỡng ép, cản trở, kết hôn giả tạo hoặc lừa dối kết hôn, đây là các hành vi vi phạm sự tự nguyện Hôn nhân tự nguyện là nguyên tắc cơ bản không chỉ được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam mà pháp luật hầu hết các nước phát triển, văn minh

Trang 22

trên thế giới đều ghi nhận điều kiện này Điều 146 Bộ luật Dân sự Cộng hòa

Pháp ghi nhận: “Không có hôn nhân khi không có sự tự nguyện”

 Kết hôn với người bị mất năng lực hành vi dân sự

Điều kiện về năng lực hành vi dân sự của người kết hôn, đó là người kết hôn “không bị mất năng lực hành vi dân sự” theo điểm c khoản 1 Điều 8 Người mất năng lực hành vi dân sự không thể thể hiện ý chí khi tham gia kết hôn, do đó không đảm bảo được ý chí tự nguyện khi đăng ký kết hôn Như vậy, pháp luật không công nhận việc kết hôn với người bị mất năng lực hành

vi dân sự Có thể nói quy định này là hết sức cần thiết, phù hợp với quy luật

tự nhiên của quan hệ hôn nhân, đảm bảo hạnh phúc thực sự của gia đình

 Vi phạm các trường hợp cấm kết hôn hoặc cấm chung sống như vợ chồng

Khoản 1 Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2014 đã khẳng định một trong những nguyên tắc của hôn nhân đó là hôn nhân một vợ - một chồng Vì vậy, điểm c khoản 2 Điều 5 quy định cấm người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng,

có vợ

Tại điểm d khoản 2 Điều 5 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: "Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng" Xét về mặt khoa học, việc cấm kết hôn hoặc cấm chung

sống như vợ chồng giữa những người có quan hệ huyết thống để nhằm đảm bảo cho sự phát triển khỏe mạnh của con cái, sự phát triển bền vững và hạnh phúc của gia đình Xét về yếu tố phong tục, tập quán và những quy định về

Trang 23

chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực văn hóa theo xã hội Việt Nam, thì việc cấm những người có quan hệ huyết thốngkết hôn, chung sống như vợ chồng với nhau còn có tác dụng làm lành mạnh các mối quan hệ trong gia đình, phù hợp với đạo đức và truyền thống từ xưa đến nay của dân tộc Việt Nam Ngày nay, hiện tượng kết hôn, chung sống như vợ chồng cận huyết thống vẫn tồn tại ở một số dân tộc thiểu số và vẫn là một vấn đề vô cùng nhức nhối

 Kết hôn giữa những người cùng giới tính

Hôn nhân giữa những người cùng giới tính là hôn nhân giữa hai người

có cùng giới tính sinh học (bao gồm cả đồng tính nữ và đồng tính nam) Những người đồng tính là những người có sự hấp dẫn tình yêu và tình dục với những người cùng giới tính một cách lâu dài và cố định.Luật HN&GĐ năm

2000 quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, và vì cấm nên đi kèm sẽ có chế tài, xử phạt, bởi lẽ một trong những chức năng quan trọng của gia đình đó chính là chức năng sinh sản Mà chức năng này chỉ có thể được thực hiện bởi hai chủ thể khác nhau về giới tính.Luật HN&GĐ năm 2014 bỏ

quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng quy định cụ thể “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính" (khoản 2

Điều 8) Theo như quy định hiện hành thì những người cùng giới tính có thể chung sống với nhau, không vi phạm pháp luật, tuy nhiên sẽ không được pháp luật thừa nhận quan hệ vợ chồng về mặt pháp lý

1.2.3 Hậu quả của việc vi phạm các điều kiện kết hôn

Hậu quả của việc vi phạm điều kiện kết hôn không chỉ ảnh hưởng đến bản thân người vi phạm, con cái, gia đình mà rộng hơn là xã hội

Trước hết, việc lấy vợ lấy chồng sớm khi chưa đủ tuổi kết hôn ảnh hưởng đến thể chất và tâm sinh lý của các em, nhất là các em gái Khi chưa đủ tuổi trưởng thành, cơ thể chưa phát triển hoàn thiện, việc quan hệ tình dục sớm, mang bầu, rồi nuôi con khiến sự phát triển đầy đủ của người phụ nữ bị

Trang 24

chậm lại, thoái hoá, nhiều trường hợp để lại di chứng nặng nề, thậm chí có nhiều trường hợp tử vong Việc phải nuôi con khi chưa đủ sức khoẻ, thiếu hiểu biết gây ra hậu quả là những em bé bị suy dinh dưỡng, còi cọc, dễ mắc bệnh Trên thực tế nhiều trường hợp trẻ sơ sinh do các bà mẹ đang tuổi vị thành niên sinh ra tỷ lệ tử vong cao hơn hoặc nhẹ hơn thì làm cho đứa trẻ bị ảnh hưởng xấu đến thể chất và tư duy Nhiều trường hợp các cặp vợ chồng lập gia đình khi tuổi đời còn quá trẻ, suy nghĩ, nhận thức chưa sâu sắc, dễ xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, thậm chí đánh đập nhau rồi ai đi đường nấy

Thứ hai, kết hôn với người mất năng lực hành vi dân sự hay hôn nhân giữa những người cùng giới tính tuy không phải là hiện tượng phổ biến trong

xã hội nhưng lại là vấn đề gây nhiều tranh cãi bởi những hệ lụy phức tạp nó mang lại, ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức truyền thống cũng như các chuẩn mực gia đình Có trường hợp bố chồng chung sống như vợ chồng với con dâu

và dùng việc kết hôn giữa con dâu và con trai bị mắc bệnh tâm thần để che giấu mối quan hệ, chỉ đến khi vụ việc bị trình báo lên cơ quan có thẩm quyền thì mới xác minh người chồng bị mất năng lực hành vi dân sự Có trường hợp người nhà lại che giấu tình trạng bệnh tâm thần của con và để con lấy vợ với tâm lý muốn có người nối dõi, khiến người vợ phải chịu đựng nhiều trận hành hung mỗi lần chồng phát bệnh…Đây là những trường hợp bi kịch trên thực tế Đối với vấn đề hôn nhân giữa những người cùng giới tính, bên cạnh những quan điểm ủng hộ thì nhiều quan điểm cho rằng kiểu gia đình này thường có những khiếm khuyết (trẻ em thiếu cha hoặc mẹ nên dễ gặp tổn thương tâm lý

và lệch lạc hành vi, hạnh phúc gia đình thường không bền vững), không có khả năng duy trì nòi giống, làm sụt giảm giá trị của hôn nhân trong văn hóa xã hội, thúc đẩy tình trạng làm cha/mẹ đơn thân , do vậy nếu chấp thuận và để

nó nhân rộng thì sẽ gây ảnh hưởng cho xã hội và đặc biệt là trẻ em

Trang 25

Thứ ba, những cuộc hôn nhân không xuất phát từ sự tự nguyện dễ dẫn đến hậu quả là đổ vỡ hạnh phúc gia đình Xuất phát từ chỗ tình yêu được coi

là cơ sở của hôn nhân cho nên việc quyết định lựa chọn bạn đời và đi đến hôn nhân phải là việc của bản thân hai bên nam nữ, do đó nam nữ được tự do bày

tỏ ý chí đồng ý hay không đồng ý xác lập quan hệ hôn nhân với người kia Trong nhiều trường hợp người kết hôn bị cưỡng ép, bị cản trở làm nảy sinh tính tiêu cực: người bị cưỡng ép, bị cản trở kết hôn có các hành vi chống đối lại như tự tử, bỏ nhà ra đi…Khi hai bên nam nữ không có sự gắn kết về tình cảm, không tự nguyện khi kết hôn thì việc kết hôn có thể dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng như ngoại tình, chung sống không hòa hợp, nảy sinh nhiều mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được Đây là hậu quả đi ngược lại với tinh thần của Luật HN&GĐ

Thứ tư, việc vi phạm các trường hợp cấm kết hôn hoặc cấm chung sống như vợ chồng không chỉ vi phạm pháp luật mà còn vi phạm đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục của người Việt, làm đảo lộn trật tự gia đình, làm suy đồi các giá trị văn hóa, con người Riêng hợp tảo hôn, kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng cận huyết thống còn gây ra hậu quả nghiêm trọng tới chất lượng giống nòi, chất lượng dân số Trẻ em sinh ra từ các cặp vợ chồng cận huyết thống dễ có nguy cơ mắc các bệnh di truyền như mù màu, bạch tạng, da vảy cá… đặc biệt là bệnh tan máu bẩm sinh (Thalassemia)

Tóm lại, vi phạm điều kiện kết hôn gây ra nhiều hậu quả xấu đối với bản thân người vi phạm, rộng hơn là với con cái, gia đình, xã hội Do đó, việc bảo đảm thực thi các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn là hết sức cần thiết, nhằm góp phần bảo vệ chế độ HN&GĐ, xây dựng chuẩn mực pháp

lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, nâng cao chất lượng giống nòi, bảo đảm trật tự xã hội, phát huy các truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng gia đình tiến bộ, ấm no, hạnh phúc, bền vững

Trang 26

1.3 Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số ở

khu vực Tây Bắc Việt Nam và ảnh hưởng của nó tới việc vi phạm điều kiện kết hôn

Nghị định 05/2011/NĐ-CP quy định: “Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước theo điều tra dân số quốc gia” (khoản 3 Điều 4); “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (khoản 2 Điều 4) Vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam chiếm

3/4 diện tích cả nước, thường có địa hình tương đối đa dạng, phức tạp với nhiều sông, suối, độ dốc cao, vừa có cao nguyên và cả những vùng đồng bằng nhỏ nhưng chủ yếu vẫn là đồi núi Tuy nhiên, về diện tích giữa đồi, núi, cao nguyên và đồng bằng là không giống nhau giữa các vùng; điều này làm nên những điểm khác biệt tương đối lớn trong phân bố dân cư, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với tổng số 54 dân tộc.Số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho biết: Dân tộc Việt (Kinh) chiếm gần 86% dân số cả nước, hơn 14% còn lại tương đương hơn 12 triệu người thuộc

về 53 dân tộc thiểu số sống tập trung chủ yếu trên các vùng đồi núi, cao nguyên trải dài từ Bắc vào Nam 53 dân tộc thiểu số có 12.251.436 người, chiếm tỷ lệ 14,27% dân số cả nước Các dân tộc thiểu số cư trú xen kẽ trên địa bàn bàn rộng lớn thuộc các tỉnh miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Xét theo các vùng kinh tế - xã hội, thì Trung du và miền núi phía Bắc là vùng có số lượng dân tộc thiểu số lớn nhất, chiếm 48,56% dân tộc thiểu số cả nước; tiếp đến là Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 15,11%; Tây Nguyên 14,19%; Đồng bằng sông Cửu Long 11,12%; Đông Nam bộ 8,98%; thấp nhất là Đồng bằng sông Hồng chỉ chiếm 2,04% Quy mô dân số các dân tộc thiểu số không đều: có 5 dân tộc (Tày, Thái, Mường,

Trang 27

Khmer và Mông) có trên 1 triệu người; 3 dân tộc (Nùng, Hoa, Dao) có từ 500.000 đến dưới 1 triệu người; 29 dân tộc có từ 10.000 đến dưới 500.000 người; 16 dân tộc (gồm: La hủ, La ha, Pà thẻn, Lự, Ngái, Chứt, Lô lô, Mảng,

C ơ lao, Bố y, Cống, Si la, Pu péo, Rơ măm, Brâu và Ơ đu) có số dân dưới 10.000 người [71].Với dân cư ít lại phân bố trên địa bàn rộng nên mật độ dân

số thấp; mặt khác các dân tộc thiểu số Việt Nam đa phần không cư trú trên một lãnh địa riêng, biệt lập và tập trung mà sống xen ghép lẫn nhau trên cùng địa bàn.Những đặc điểm đó cũng là điểm đặc thù so với các tộc người ở các quốc gia khác

Những năm qua kinh tế vùng dân tộc thiểu số có tốc độ tăng trưởng kinh

tế khá: vùng miền núi phía Bắc đạt hơn 10%, miền Trung 12%, Tây Nguyên 12,5% [71] Theo Văn kiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi năm 2014

- 2015 và giai đoạn 2016 – 2020: Cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng các ngành: dịch vụ, thương mại, du lịch, công nghiệp… sản xuất hàng hóa bắt đầu phát triển Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thay đổi rõ rệt: 98,6%

xã có đường ô tô đến trụ sở UBND xã; có 99,8% số xã và 95,5% số thôn có điện Tuy nhiên, vùng dân tộc thiểu số vẫn là vùng kém phát triển.Sản xuất nông lâm nghiệp còn mang tính tự nhiên, tự cung, tự cấp Hạ tầng kinh tế, kỹ thuật thiếu và yếu: còn 535/1.848 xã chưa có đường nhựa đến trung tâm; 14.093 thôn, bản chưa có đường ô tô; 204/1.848 xã chưa có điện lưới quốc gia đến trung tâm xã và trên 8.100 thôn, bản chưa được sử dụng điện lưới quốc gia; 304 xã đặc biệt khó khăn chưa đủ lớp học kiên cố, 15.930 thôn, bản chưa

có nhà trẻ, mẫu giáo; 758 xã chưa có nhà văn hóa[71]

Đời sống của đồng bào còn nhiều khó khăn: Theo báo cáo của Bộ Lao động thương binh và xã hội thì tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo vùng dân tộc thiểu số cao nhất cả nước: miền núi Tây Bắc năm 2012 là: 28,55%, Đông Bắc

Trang 28

là 17,39%; Tây Nguyên là 15,58% Các xã đặc biệt khó khăn có tỷ lệ hộ nghèo là 45%, cá biệt có những xã, thôn, nhóm dân tộc thiểu số tỷ lệ nghèo trên 90%.Kết quả giảm nghèo thiếu tính bền vững, tỷ lệ tái nghèo cao Phần lớn các dân tộc thiểu số vẫn trong tình trạng lạc hậu, có mức sống thấp, tỷ lệ đói nghèo chiếm trên 50% tổng số hộ nghèo cả nước[71]

Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa truyền thống riêng biệt về phong tục, tập quán, lễ hội, trang phục và thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau Do các dân tộc sống xen kẽ, đã tạo ra sự giao thoa ảnh hưởng lẫn nhau cả về văn hóa và ngôn ngữ, từ đó tạo nên sự đa dạng về văn hóa của vùng Bên cạnh những bản sắc giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của từng dân tộc, từng cộng đồng cũng tồn tại một số tập quán còn mang tính lạc hậu, trong đó có những tập quán trong hôn nhân có ảnh hưởng, tác động không nhỏ đến đến tình trạng vi phạm điều kiện kết hôn trong đồng bào dân tộc thiểu số

Như vậy, xét trên mặt bằng chung của cả nước thì khu vực Tây Bắc Việt Nam có tỷ lệ tập trung dân tộc thiểu số cao nhất Việt Nam, đây cũng là nơi

“rốn nghèo” của cả nước, là khu vực điển hình sinh sống của đồng bào thiểu

số với những khó khăn chung về tự nhiên, kinh tế, xã hội, đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng vi phạm điều kiện kết hôn của đồng bào nơi đây

1.3.1 Điều kiện tự nhiên, dân số và phân bố dân cư

Về mặt địa lý, có thể nói, Tây Bắc là vùng có quá trình kiến tạo khá phức tạp và là vùng núi cao hiểm trở nhất Việt Nam Nói một cách chung nhất, đây

là miền đất của những núi cao và cao nguyên, là một khối liền mạch núi sông kéo dài từ Vân Nam (Trung Quốc) được cấu tạo theo hướng Tây Bắc - Đông Nam song song với thung lũng sông Hồng

Trang 29

Về mặt hành chính, vùng Tây Bắc gồm 6 tỉnh với diện tích trên 5,64 triệu ha: Hòa Bình, Sơn La (diện tích và dân số lớn nhất), Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái

Về mặt dân cư, vùng Tây Bắc có khoảng 3,5 triệu dân sinh sống với nhiều dân tộc khác nhau Thái là dân tộc có dân số lớn nhất vùng Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Thái ở Việt Nam có dân số 1.550.423 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam, có mặt trên tất

cả 63 tỉnh, thành phố Chỉ tính riêng khu vực Tây Bắc, người Thái cư trú tập trung tại các tỉnh: Sơn La (572.441 người, chiếm 53,2% dân số toàn tỉnh và 36,9% tổng số người Thái tại Việt Nam), Điện Biên (186.270 người, chiếm 38,0% dân số toàn tỉnh và 12,0% tổng số người Thái tại Việt Nam), Lai Châu (119.805 người, chiếm 32,3% dân số toàn tỉnh và 7,7% tổng số người Thái tại Việt Nam), Yên Bái (53.104 người), Hòa Bình (31.386 người) Ngoài ra, còn khoảng 20 dân tộc khác như H'Mông, Nùng định cư ở khu vực này Tây Bắc

là vùng có sự phân bố dân cư theo độ cao rất rõ rệt Đó là vùng thung lũng lòng chảo thấp, nơi cư trú của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Việt-Mường, Thái-Kađai ; vùng giữa hay các sườn núi là nơi sinh sống của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer và vùng cao hay rẻo núi cao là nơi

cư trú của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Mông-Dao, Tạng Miến[76].Quá trình hình thành tộc người ở Tây Bắc Việt Nam khá phức tạp

và đa dạng Do những đặc thù về môi trường cư trú và lịch sử tộc người, sự khác biệt về điều kiện sinh sống và phương thức lao động sản xuất, từ đó gây

ra sự khác biệt văn hóa rất lớn, mặc dù văn hóa chủ thể và đặc trưng là văn hóa dân tộc Thái

Với điều kiện tự nhiên, dân số và phân bố dân cư như trên, có thể thấy rằng các dân tộc thiểu số tập trung ở khu vực này khá đa dạng, sự phân bố dân

cư theo độ cao là khá rõ rệt Chính vì sự phân bố trên đã hình thành nên

Trang 30

những truyền thống của các tộc người trong quá trình thích ứng với môi trường, sinh tồn và phát triển có nhiều nét đặc thù về văn hoá ở khu vực này Địa hình núi cao hiểm trởkhiến việc giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn, tạo nên lối sống tương đối khép kín, khó tiếp xúc với nền văn minh hiện đại, vì vậy đồng bào nơi đây thường bị hạn chế hiểu biết về giáo dục, pháp luật, về sức khỏe sinh sản…và giữ thói quen duy trì các tập quán trong các mối quan

hệ, trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đình Mặt khác, cơ sở vật chất thiếu thốn, lao động chủ yếu là làm nương rẫy khiến thu nhập bấp bênh Những yếu kém về phát triển kinh tế kéo theo tình trạng đói nghèo, thất học và hủ tục về hôn nhân như tảo hôn, chung sống như vợ chồng cận huyết thống…cũng không nằm ngoài vòng luẩn quẩn đó

1.3.2 Thu nhập, đời sống và tình hình đói nghèo

Cùng với xu thế chung của nền kinh tế quốc gia, kinh tế - xã hội vùng miền núi Tây Bắc những năm vừa qua có sự tăng trưởng và phát triển đáng

kể Tuy nhiên cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh còn nhiều bất cập, tỷ lệ hộ nghèo trung bình cao gấp ba lần tỷ lệ nghèo trung bình của cả nước.Trong nhóm các dân tộc thiểu số, dân tộc Thái là dân tộc có trình độ phát triển cao hơn so với các dân tộc khác về kinh tế và xã hội.Với sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc cũng tạo nên sự khác biệt trong quá trình phát triển kinh tế, hội nhập trong nền kinh tế thị trường Một số nhóm dân tộc đã tiếp cận và phát triển tốt nhưng cũng có những dân tộc khác (đặc biệt các dân tộc dưới

1000 người) dường như chưa sẵn sàng cho điều đó và đời sống vẫn chủ yếu dựa trên phương thức canh tác truyền thông tự cấp, tự túc; điều đó ngày càng đẩy họ xa các nhóm dân tộc khác về trình độ phát triển

Với nhiều chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhưng xuất phát điểm hạn chế

về trình độ học vấn nên nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và lao động vùng dân tộc và miền núi Tây Bắc nói riêng vẫn là vấn đề quan trọng trong những năm tới Việc làm phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế, cơ

Trang 31

cấu kinh tế và bản thân năng lực của người lao động Đa phần lao động của vùng dân tộc thiểu số là thuộc ngành nông, lâm nghiệp; thiếu việc làm trong thời gian nông nhàn là không thể tránh khỏi nhưng ở những vùng này sự di chuyển lao động cũng rất hạn chế Người lao động dường như chưa thể đi ra khỏi làng, bản, xã mình để làm việc và kiếm việc Những công việc này lại thường rất bấp bênh, phụ thuộc vào thời vụ và có tính rủi ro cao liên quan đến thời tiết Vì vậy,

đa số dân tộc thiểu số có cuộc sống khó khăn, mức thu nhập thấp

Cả nước có hơn 10 triệu người nghèo thuộc về vùng miền núi và chủ yếu

là đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó điển hình là khu vực Tây Bắc, khoảng cách thu nhập có sự chênh lệch khá lớn so với các vùng miền khác trong cả nước Nghèo đói không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất mà còn là sự thụ hưởng thiếu thốn về giáo dục và y tế, không được đáp ứng những nhu cầu

cơ bản của con người.Các nhu cầu tối thiểu như thức ăn, quẩn áo, chỗ ở chỉ được đáp ứng với mức độ thấp, thậm chí nhiều nơi còn không đủ Điều này kéo theo hàng loạt vấn đề khác như giảm sức khỏe, giảm sức lao động, giảm thu nhập, mong muốn có vợ, có chồng sớm để thêm người lao động, gánh vác, không có điều kiện hưởng thụ y tế, giáo dục, pháp luật, kém hiểu biết hoặc không hiểu biết Luật HN&GĐ, không nhận thức được thế nào là vi phạm điều kiện kết hôn và hậu quả của những vi phạm đó

1.3.3 Y tế và chăm sóc sức khỏe sinh sản

Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu tiên phát triển cho đồng bào các dân tộc thiểu số và đã đạt được nhiều thành tựu vượt bậc so với trước đây, tuy nhiên các vùng miền núi cũng là vùng dân tộc thiểu số đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, do đó về y tế và chăm sóc sức khỏe sinh sản còn những hạn chế nhất định Vấn đề lớn nhất là trình độ đội ngũ cán bộ y tế

cơ sở yếu và thiếu trang thiết bị y tế, chất lượng dịch vụ y tế chưa cao Hiểu biết của đồng bào dân tộc thiểu số về sức khỏe sinh sản còn thấp, dẫn đến

Trang 32

nhiều hệ lụy đau lòng như tai biến sản khoa, tử vong mẹ, tử vong trẻ sơ sinh Đặc biệt sinh con khi độ tuổi còn thấp hay trẻ em sinh ra từ bố mẹ có quan hệ huyết thống có nguy cơ rất cao mắc các bệnh dị tật bẩm sinh, chậm phát triển, suy dinh dưỡng, các bệnh dị dạng hoặc bệnh di truyền như mù màu, bạch tạng, da vảy cá, nhất là bệnh tan máu bẩm sinh Thalassemia Thalassemia là bệnh di truyền bẩm sinh, là bệnh thiếu máu do tan máu với hai biểu hiện nổi bật là thiếu máu và thừa sắt trong cơ thể Người mắc bệnh Thalassemia thể trạng rất còi cọc chậm phát triển, bao giờ cũng nhỏ hơn so với trẻ cùng tuổi,

da sạm… gây ra nhiều biến chứng nặng nề như biến dạng xương mặt, hộp sọ

to, hai gò má cao, mũi tẹt, bụng phình to, suy giảm nghiêm trọng các chức năng của tim, gan, lách, sức lao động giảm sút đi rất nhiều và dẫn tới tỷ lệ tử vong cao nếu không được điều trị kịp thời, đầy đủ và suốt đời [64].Khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau sinh, chăm sóc trẻ sơ sinh còn hạn chế ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng

xa Tình trạng đẻ tại nhà, đẻ không có cán bộ được đào tạo đỡ còn khá phổ biến ở đồng bào dân tộc thiểu số Tỷ lệ thăm khám bà mẹ và trẻ sơ sinh sau đẻ còn thấp

Đối với phần lớn đồng bào thiểu số ở khu vực Tây Bắc, những khó khăn

về điều kiện địa lý, kinh tế chưa cho phép họ tiếp cận và thụ hưởng đầy đủ các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe sinh sản Ngày nay, thông qua các biện pháp tuyên truyền giáo dục và sự hỗ trợ, quan tâm của các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội, đồng bào Tây Bắc đã có nhiều sự thay đổi trong quan điểm, nhận thức về sức khỏe, sinh sản, duy trì nòi giống, tuy nhiên bên cạnh

đó vẫn còn tồn tại các trường hợp các bé gái lấy chồng, sinh con khi mới 14,

15 tuổi, các trường hợp anh chị em ruột, anh chị em họ lấy nhau sinh ra những đứa con ốm yếu, bệnh tật…

1.3.4 Văn hóa, phong tục tập quán, giáo dục, pháp luật

Trang 33

Nếu như pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành

và thừa nhận, được bảo dảm thực hiện,thể hiện ý chí của giai cấp hay lực lượng cầm quyền trong xã hội, dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, thì phong tục tập quán là hệ thống các quy tắc xử sự do những người sống trong một cộng đồng tự đặt ra được áp dụng vào đời sống và phục vụ cho nhu cầu

tự quản của cộng đồng.Phong tục tập quán ra đời gần như gắn liền và phát triển với sự ra đời của con người, chúng được coi như “luật dân gian” hay

“luật tự nhiên” Phong tục tập quán không có tính xác định về hình thức bởi vì

nó tồn tại dưới dạng bất thành văn, được lưu truyền bằng miệng, thể hiện ý chí của một cộng đồng dân cư nhất định và chỉ tác động trong một cộng dân

cư ấy Pháp luật và phong tục tập quán có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau.Về mặt tích cực,phong tục tập quán tác động đến quá trình hình thành các quy định của pháp luật.Nó được coi là một nguồn luật quan trọng đối với một số hình thức nhà nước ở các giai đoạn lịch sử khác nhau.Ngoài ra,phong tục tập quán còn góp phần hình thành nhân cách của con người trong đời sống xã hội.Nhiều phong tục tập quán tốt đẹp đã được nâng lên trở thành pháp luật phù hợp với ý chí nguyện vọng của nhà nước và của nhân dân.Chính vì thế những quy định đó sẽ rất gần gũi với đối tượng mà nó điều chỉnh,các chủ thể sẽ dễ dàng chấp nhận để thực hiện.Tuy nhiên, phong tục tập quán cũng có những tác động tiêu cực.Những phong tục tập quán trái với ý chí nhà nước, không phù hợp với đạo đứcthì nhà nước cần có những quy phạm pháp luật để hạn chế hay loại bỏ.Vì những phong tục tập quán đấy

đã tồn tại lâu đời và ảnh hưởng nặng nề trong đời sống xã hội nên thường xảy

ra tình trạng “phép vua thua lệ làng”,tạo tâm lý, thói quen sống theo phong tục tập quán, coi thường pháp luật, ảnh hưởng đến quá trình thực thi pháp luật.Ngoài ra,việc thực hiện áp dụng phong tục tập quán trong xã hội còn mang tính nửa vời,không rõ ràng Đó có thể là những phong tục tập quán hạn

Trang 34

chế và gây ảnh hưởng đến việc sử dụng pháp luật như: tảo hôn, cúng ma, mê tín dị đoan, trọng nam khinh nữ

Trong bức tranh chung về các tộc người vùng Tây Bắc, các sắc thái văn hóa khá đa dạng Có thể thấy rõ điều này trên các khía cạnh về nhà cửa, trang phục, ẩm thực; các biểu hiện về quan hệ gia đình và cộng đồng; các hình thức

tổ chức xã hội…Mỗi nhóm dân tộc đều có nền văn hoá riêng biệt, giàu có và độc đáo Tín ngưỡng và tôn giáo của các dân tộc cũng có điểm khác biệt.Tuy vậy, sự giao thoa văn hóa giữa các tộc người diễn ra khá mạnh mẽ Có thể thấy rõ điều này thông qua ngôn ngữ; các hoạt động kinh tế… Không phải ngẫu nhiên mà ngôn ngữ của một bộ phận cư dân Môn-Khmer đã chịu ảnh hưởng đậm ngôn ngữ Thái Điển hình là người Xinh Mun, La Ha…Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là những phong tục tập quán lạc hậu còn tồn tại ở khu vực Tây Bắc là rào cản lớn đối với tiến bộ xã hội Những tục lệ, nghi lễ

ấy ăn sâu bám rễ trong tiềm thức của mỗi cộng đồng dân tộc thiểu số và có sức ảnh hưởng, duy trì nhất định qua nhiều thế hệ, các quan hệ HN&GĐ cũng không nằm ngoài sự chi phối đó, dẫn đến nhiều trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn do ảnh hưởng của phong tục tập quán

Ví dụ, một số đồng bào dân tộc thiểu số của vùng Tây Bắc có phong tục tập quán lấy vợ, lấy chồng mà chỉ cần sự đồng ý của những người đứng đầu trong làng hoặc của cha mẹ hai bên nam nữ; quan điểm cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy; quan niệm kết hôn trong họ tộc để lưu giữ tài sản trong gia đình không mang của cải sang họ khác, hay như tục lệ bắt vợ của người Mông Tục bắt vợ đã từng được coi là một nét đẹp văn hóa, nhưng hiện nay, tục bắt vợ đã kéo theo nhiều hệ lụy, mà điển hình nhất là nạn tảo hôn, chung sống cận huyết thống Không chỉ vậy, xuất phát từ những khó khăn trong cuộc sống cùng với thói quen ở vùng núi, nhà nào cũng có tâm lý muốn sớm có con đàn cháu

Trang 35

đống, thêm lao động cho gia đình Nhà nào có con gái thì muốn gả sớm để bớt miệng ăn, nhà nào có con trai thì muốn cưới vợ sớm để lo toan cuộc sống Mặt khác, trình độ dân trí và ý thức pháp luật của người dân nơi đây còn hạn chế.Ở nhiều nơi, để vận động được con em đồng bào dân tộc thiểu số đến trường là điều hết sức khó khăn Tuy đã đạt được những thành tựu nhất định

về phổ cập giáo dục tiểu học, nhưng đối với vùng dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc, nhất là ở vùng đặc biệt khó khăn vẫn đang gặp phải các thách thức lớn về chất lượng giáo dục và bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục giữa nhóm dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, giữa nông thôn và thành thị và giữa các vùng, miền Tình trạng học sinh bỏ học vẫn tái diễn mà nguyên nhân chính là do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, bố mẹ chưa nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, nâng cao dân trí, không khuyến khích con em họ đến trường mà muốn con cái ở nhà làm việc giúp đỡ gia đình; Mặt khác, rào cản về ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng cản trở khả năng học tập của học sinh dân tộc thiểu số khiến họ không theo kịp học sinh khác trong lớp dẫn đến tình trạng không thích học và bỏ học Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Báo cáo Quốc gia năm 2013 về mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ: Một số tỉnh có tỉ lệ biết chữ đặc biệt thấp, như: Lai Châu (69,3%), Điện Biên (73,5%), Sơn La (77,2%) Trình độ dân trí thấp kém kéo theo nhiều hậu quả như các tệ nạn xã hội phát triển và một trong số đó là vấn nạn liên quan đến vi phạm điều kiện kết hôn cũng bùng nổ Ngoài ra, công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật tại nhiều địa phương còn chưa sâu sát Tuyên truyền phổ biến pháp luật cho người dân là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm, đặc biệt là công tác tuyên truyền về vấn đề dân số KHHGĐ Nhưng công tác tuyên truyền gặp nhiều khó khăn, trở ngại bởi địa bàn rộng lớn, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, đại bộ phận người dân tộc thiểu số thường xuyên sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí tương đối thấp,

Trang 36

nhiều hủ tục lạc hậu trong việc kết hôn, ly hôn, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con hoặc bất bình đẳng nam nữ trong quan hệ hôn nhân… vẫn tồn tại,

ở nhiều nơi dân tộc thiểu số còn có nhiều dân cư không biết tiếng Kinh Phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chưa nhận thức hoặc chưa nắm vững về chế

độ HN&GĐ, quyền và nghĩa vụ cũng như các nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ, điều đó đã cản trở hôn nhân tiến bộ và hiệu lực, tính khả thi của Luật HN&GĐ

Nhiều quy định áp dụng Luật HN&GĐ năm 2000 và mới đây nhất là Luật HN&GĐ năm 2014 đối với các dân tộc thiểu số còn chung chung, thiếu tính khả thi và chậm được hướng dẫn thi hành; quản lý, thực thi pháp luật về HN&GĐ còn nhiều bất cập Tình trạng lơi lỏng pháp luật, thực thi pháp luật chưa kiên quyết trong quản lý đăng ký kết hôn ở vùng miền núi dân tộc; các chế tài xử phạt vi phạm trong hôn nhân chưa đủ mạnh để ngăn ngừa, răn đe tình trạng vi phạm điều kiện kết hôn trong vùng dân tộc thiểu số Việc loại bỏ những phong tục tập quán lạc hậu nói chung, loại bỏ các hủ tục hôn nhân, cưới hỏi nói riêng ra khỏi đời sống xã hội đạt được hiệu quả không nhỏ nếu

có sự can thiệp một cách mạnh mẽ, kiên quyết từ phía cơ quan địa phương Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề vi phạm điều kiện kết hôn như tảo hôn, chung sống cận huyết thống vẫn còn tiếp diễn và một phần lỗi không nhỏ thuộc về chính quyền địa phương Thực tế cho thấy, không chỉ những người dân mà cả gia đình cán bộ, Đảng viên là lãnh đạo xã, phường cũng tiếp tay, thậm chí còn diễn ra tình trạng tảo hôn, kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng cận huyết thống ngay trong gia đình của những người cán bộ này

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VI PHẠM ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN Ở ĐỒNG BÀO DÂN

TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC TÂY BẮC VIỆT NAM

Đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào dân tộc thiểu

số khu vực Tây Bắc nói riêng, hôn nhân có sự ảnh hưởng không nhỏ của phong tục, tập quán Song song với những phong tục, tập quán tốt đẹp được Nhà nước khuyến khích lưu giữ, phát huy, còn tồn tại không ít những phong tục tập quán lạc hậu đi ngược với nguyên tắc hôn nhân gia đình cần được loại

bỏ.Luật HN&GĐ năm 2000 quy định “vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về HN&GĐ, phát huy truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, xây dựng quan hệ HN&GĐ tiến bộ”,

việc quy định chung chung tạo nhiều kẽ hở, bất cập, gây khó khăn cho Tòa án khi xét xử các vụ án về HN&GĐ mà phải áp dụng phong tục tập quán So với Luật HN&GĐ năm 2000, Điều 7 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định cụ thể

hơn về áp dụng tập quán về hôn nhân gia đình: “1 Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2

và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng 2 Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 Điều này”, nội dung quy định tại Điều 7 thể hiện việc

tôn trọng những tập quán tốt đẹp, đồng thời cũng làm rõ điều kiện để tập quán được áp dụng, nhấn mạnh việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của chế độ

HN&GĐ, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật Nghị định số

126/2014/NĐ-CP quy định rất rõ về nguyên tắc áp dụng tập quán cũng như đưa ra Phụ lục danh mục cụ thể các phong tục tập quán tốt đẹp được khuyến khích phát huy và các danh mục tập quán lạc hậu bị nghiêm cấm hoặc cần vận động xóa bỏ Theo đó, Nghị định này đưa ra những tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cần vận động xóa bỏ gồm: 1- Kết hôn trước tuổi quy định

Trang 38

của Luật HN&GĐ; 2- Việc đăng ký kết hôn không do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện; 3- Cưỡng ép kết hôn do xem “lá số” và do mê tín dị đoan; cản trở hôn nhân do khác dân tộc, tôn giáo; 4- Cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi từ bốn đời trở lên; 5- Nếu nhà trai không có tiền cưới và đồ sính lễ thì sau khi kết hôn, người con rể buộc phải ở rể để trả công cho bố, mẹ vợ; 6- Quan hệ gia đình theo chế độ phụ hệ hoặc mẫu hệ, không bảo đảm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái; 7- Không kết hôn giữa người thuộc dân tộc này với người thuộc dân tộc khác và giữa những người khác tôn giáo Đặc biệt, cấm áp dụng những tập quán lạc hậu gồm: 1- Chế độ hôn nhân đa thê; 2- Kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có liên quan dòng họ trong phạm vi

ba đời; 3- Tục cướp vợ để cưỡng ép người phụ nữ làm vợ; 4- Thách cưới cao mang tính chất gả bán (như đòi bạc trắng, tiền mặt, của hồi môn, trâu, bò, chiêng ché để dẫn cưới); 5- Phong tục “nối dây” (Khi người chồng chết, người vợ goá bị ép buộc kết hôn với anh trai hoặc em trai của người chồng quá cố; khi người vợ chết, người chồng goá bị ép buộc kết hôn với chị gái hoặc em gái của người vợ quá cố); 6- Bắt buộc người phụ nữ góa chồng hoặc người đàn ông góa vợ, nếu kết hôn với người khác thì phải trả lại tiền cưới cho nhà chồng cũ hoặc nhà vợ cũ; 7- Đòi lại của cải, phạt vạ khi vợ, chồng ly hôn

Song song tồn tại cùng với pháp luật của Nhà nước là luật tục.Luật tục

là phong tục tập quán của cộng đồng đã hình thành trong nhiều năm, qua nhiều thế hệ, được nâng lên thành luật.Luật tục có một trí quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số.Ở mỗi dân tộc thiểu số khác nhau có luật tục riêng, thể hiện bản sắc, đặc trưng riêng của dân tộc mình Trong cộng đồng các dân tộc, luật tục được thành viên trong cộng đồng nghiêm chỉnh tuân theo một cách tự giác Những

Trang 39

người vi phạm luật tục cũng đồng nghĩa với việc xúc phạm đến thần linh, đến đức tin của cả cộng đồng.Do ảnh hưởng của luật tục và do đặc điểm về tự nhiên – kinh tế –xã hội của các dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc, có thể nhận thấy thực trạng vi phạm điều kiện kết hôn của phần lớn đồng bào khu vực này

là vi phạm về độ tuổi (tảo hôn), vi phạm sự tự nguyện (thường là cưỡng ép kết hôn như tục “cướp vợ”, cản trở kết hôn), vi phạm các điều luật cấm kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng (chế độ đa thê, tục “nối dây”, kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng cận huyết thống) Vì vậy, ở Chương này tác giả sẽ đi sâu phân tích những vấn đề này Với số liệu cập nhật về tình hình vi phạm điều kiện kết hôn của đồng bào dân tộc thiểu số trước khi Luật HN&GĐ năm 2014 ra đời thì vẫn xem xét trên cơ sở Luật HN&GĐ năm 2000 trong thời gian có hiệu lực

2.1 Vi phạm độ tuổi

Luật HN&GĐ năm 2014 quy định nam, nữ chỉ được kết hôn khi đạt đến độ tuổi luật định: nam từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ đủ mười tám tuổi trở lên Như vậy, vi phạm tuổi kết hôn là một hoặc hai bên nam, nữ kết hôn khi chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật (nam chưa đủ 20 tuổi,

nữ chưa đủ 18 tuổi) Quy định tuổi kết hôn của nam và nữ đều được nâng lên

so với Luật HN&GĐ năm 2000.Pháp luật không chỉ quy định nam, nữ phải tuân thủ điều kiện về độ tuổi khi kết hôn mà còn cấm hành vi chung sống như

vợ chồng khi chưa đủ tuổi kết hôn luật định Căn cứ vào quy định pháp luật, tảo hôn được hiểu là việc lấy vợ, lấy chồng giữa hai bên nam nữ khi một hoặc hai bên chưa đủ độ tuổi kết hôn mà không phụ thuộc vào việc quan hệ đó có được xác lập theo quy định pháp luật về đăng ký kết hôn hay không

Có ba căn cứ hình thành nên quy định pháp luật về độ tuổi kết hôn Thứ nhất, độ tuổi kết hôn căn cứ vào chỉ số phát triển tâm sinh lý của con người

Việt Nam Kết hôn là hiện tượng xã hội có tính tự nhiên, song con người chỉ ý

Trang 40

thức được việc kết hôn và có khả năng thực hiện các trách nhiệm của gia đình khi họ phát triển đến một mức độ nhất định về thể chất và ý thức xã hội Độ tuổi là thước đo cho sự phát triển của con người, đảm bảo đủ điều kiện để họ

thực hiện các trách nhiệm của mình đối với gia đình và xã hội Thứ hai, khả

năng thực hiện các nghĩa vụ và quyền về HN&GĐ của vợ chồng Kết hôn là

sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng và các quan hệ xã hội khác.Để mục tiêu của việc kết hôn đạt được, vợ chồng phải có những kỹ năng nhất định trong đời sống gia đình và là tế bào của xã hội Phát triển đến độ tuổi nhất định, con người mới có khả năng tham gia lao động tạo ra thu nhập nuôi sống gia đình, gánh việc trách nhiệm, thực hiện các nghĩa vụ đối với nhau và đối với xã hội.Tuổi trưởng thành của con người là tuổi hoàn thiện về mặt tâm sinh lý, sức khỏe, có đủ điều kiện thực hiện tốt trách nhiệm vợ

chồng, cha, mẹ Thứ ba, độ tuổi kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 được

nâng lên là vì nếu quy định tuổi kết hôn của nữ là vừa bước qua tuổi mười tám thì quy định này là không thống nhất với Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự Đó là, theo Bộ luật Dân sự năm 2005 người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên, khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý… Theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, thì đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Như vậy, nếu cho phép người chưa đủ mười tám tuổi kết hôn là không hợp lý, thiếu đồng bộ và làm hạn chế một số quyền của người nữ khi xác lập các giao dịch như quyền yêu cầu ly hôn thì phải có người đại diện

Trước khi Luật HN&GĐ năm 2014 ra đời, đã có nhiều ý kiến cho rằng nên hạ độ tuổi kết hôn đối với vùng dân tộc thiểu số để phù hợp với thực tế, tập quán của các dân tộc, vùng miền, tuy nhiên quan điểm đó không được chấp nhận Nạn tảo hôn còn đang diễn ra khá phổ biến trong đồng bào các dân

Ngày đăng: 25/05/2016, 09:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Kỳ Anh (2010), “Từ cưỡng ép hôn nhân đến cố ý gây thương tích”, http://baophapluat.vn, ngày 29/9/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ cưỡng ép hôn nhân đến cố ý gây thương tích”, "http://baophapluat.vn
Tác giả: Kỳ Anh
Năm: 2010
2. Tôn Thất Quỳnh Bằng (2009), “Vấn đề hủy kết hôn trái pháp luật”, Dân chủ và pháp luật, (3), tr. 20-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề hủy kết hôn trái pháp luật”, "Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Tôn Thất Quỳnh Bằng
Năm: 2009
3. Bộ Kế hoạch và đầu tƣ (2013), Báo cáo Quốc gia năm 2013 về mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Quốc gia năm 2013 về mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ
Tác giả: Bộ Kế hoạch và đầu tƣ
Năm: 2013
4. Bộ Tƣ pháp (2013), Báo cáo tổng kết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000
Tác giả: Bộ Tƣ pháp
Năm: 2013
5. Bộ Tƣ pháp (2013), Nghị định số 8015/VBHN-BTP ngày 10/12/2013 quy định về việc áp dụng Luật HN&GĐ đối với các dân tộc thiểu số, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 8015/VBHN-BTP ngày 10/12/2013 quy định về việc áp dụng Luật HN&GĐ đối với các dân tộc thiểu số
Tác giả: Bộ Tƣ pháp
Năm: 2013
7. Yến Chi (2014), “Kết hôn trái pháp luật – bất cập và những kiến nghị”, http://www.moj.gov.vn, ngày 04/04/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết hôn trái pháp luật – bất cập và những kiến nghị”, "http://www.moj.gov.vn
Tác giả: Yến Chi
Năm: 2014
8. Cổng Thông tin điện tử tỉnh Điện Biên, “Hôn nhân cận huyết thống làm suy giảm dân số”, http://dienbien.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân cận huyết thống làm suy giảm dân số”
9. Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, “Kết hôn sớm và tảo hôn ở một số tỉnh, thành phố các khuyến nghị trong tươnglai”,http://www.treem.molisa.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết hôn sớm và tảo hôn ở một số tỉnh, thành phố các khuyến nghị trong tương lai”
10. Nguyễn Văn Cừ (2000), “Vấn đề hôn nhân thực tế theo Luật HN&GĐ Việt Nam”, Luật học, (5), tr. 8-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề hôn nhân thực tế theo Luật HN&GĐ Việt Nam”, " Luật học
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ
Năm: 2000
11. Nguyễn Văn Cừ (2014), “Hoàn thiện các quy định về điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000”, Tòa án nhân dân, (1), kỳ I, tr. 15-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các quy định về điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000”, "Tòa án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ
Năm: 2014
12. Nguyễn Văn Cừ, Ngô Thị Hường (2002), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật HN&GĐ năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật HN&GĐ năm 2000
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ, Ngô Thị Hường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
13. Chính phủ (1959), Tờ trình của Chính phủ trước Quốc hội ngày 23/12/1959 về dự thảo Luật HN&GĐ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình của Chính phủ trước Quốc hội ngày 23/12/1959 về dự thảo Luật HN&GĐ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1959
14. Chính phủ (2002), Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 quy định việc áp dụng Luật HN&GĐ đối với các dân tộc thiểu số, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 quy định việc áp dụng Luật HN&GĐ đối với các dân tộc thiểu số
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
15. Chính phủ (2013), Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, HN&GĐ, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, HN&GĐ, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
16. Chính phủ (2014), Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 21/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 21/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
17. Chính phủ (2015), Nghị định 67/2015/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 110/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, HN&GĐ, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 67/2015/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 110/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, HN&GĐ, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
18. Lê Dung, Minh Hòa (2015), “Nậm Pồ: Tuyên truyền để hạn chế tình trạng tảo hôn ở bản Huổi Chá xã Chà Cang”, http://dienbientv.vn, ngày 9/8/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nậm Pồ: Tuyên truyền để hạn chế tình trạng tảo hôn ở bản Huổi Chá xã Chà Cang”, "http://dienbientv.vn
Tác giả: Lê Dung, Minh Hòa
Năm: 2015
19. Nguyễn Thu Dung (2010), “Tiếng than buồn từ thủ tục “Hôn nhân cận huyết thống””,http://phaply.net.vn, ngày 20/8/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng than buồn từ thủ tục “Hôn nhân cận huyết thống””,"http://phaply.net.vn
Tác giả: Nguyễn Thu Dung
Năm: 2010
20. Vũ Ngọc Dũng (2011),“Phong tục cưới hỏi, hôn nhân của một số đông bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam”,http://bacvietluat.vn/, ngày 27/4/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục cưới hỏi, hôn nhân của một số đông bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam”",http://bacvietluat.vn/
Tác giả: Vũ Ngọc Dũng
Năm: 2011
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tỷ lệ tảo hôn tại một số tỉnh cao nhất cả nước (năm 2009) - Vi phạm điều kiện kết hôn của đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực tây bắc việt nam
Bảng 1. Tỷ lệ tảo hôn tại một số tỉnh cao nhất cả nước (năm 2009) (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w