Với sự am hiểu sâu sắc và tường tận cuộc sống sinh hoạt của người dân miền núi, đặc biệt là tình cảm gắn bó chân thành, Tô Hoài đã có nhiều sáng tác dành tặng mảnh đất thân thương này: M
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Văn Khang
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Đặc điểm từ ngữ trong tập Truyện
Tây Bắc của Tô Hoài” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và
kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thanh Huyền
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Văn Khang Em xin gửi đến thầy lòng biết ơn chân thành và lời cảm ơn sâu
sắc nhất
Luận văn là kết quả của một quá trình học tập Em xin gửi lời cảm ơn
đến những thầy cô đã giảng dạy các chuyên đề cao học cho lớp ngôn ngữ
khóa học 2013 – 2015 ĐHSP Tây Bắc
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, bản thân em đã cố
gắng rất nhiều nhưng do khả năng có hạn nên luận văn chắc chắn không tránh
khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy Cô và bạn
bè đồng nghiệp
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thanh Huyền
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa về lý luận và thực tiễn của đề tài 6
7 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỪ VỰNG, NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT 7
1.1.1 Khái niệm từ tiếng Việt 7
1.1.2 Các kiểu từ xét về mặt cấu tạo 8
1.1.3 Trường từ vựng ngữ nghĩa 12
1.1.4 Nghĩa của từ trong hoạt động 16
1.2 PHONG CÁCH NGÔN NGỮ VÀ PHONG CÁCH NGÔN NGỮ TÁC GIẢ 20
1.2.1 Các quan niệm khác nhau về phong cách ngôn ngữ 20
1.2.2 Các quan niệm khác nhau về phong cách ngôn ngữ tác giả 21
1.3 TÁC GIẢ TÔ HOÀI VÀ TẬP TRUYỆN TÂY BẮC 23
1.3.1 Tác giả 23
1.3.2 Tập Truyện Tây Bắc 25
1.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 28
Trang 5Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC - NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ
TRONG TẬP TRUYỆN TÂY BẮC CỦA TÔ HOÀI 29
2.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC CỦA TỪ NGỮ TRONG TẬP TRUYỆN TÂY BẮC CỦA TÔ HOÀI 29
2.1.1 Đặc điểm về cấu tạo 29
2.1.2 Đặc điểm về nguồn gốc 38
2.2 ĐẶC ĐIỂM VỀ NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ TRONG TẬP TRUYỆN TÂY BẮC CỦA TÔ HOÀI 45
2.2.1 Trường nghĩa chỉ hoạt động của con người 45
2.2.2 Trường nghĩa thực vật 51
2.2.3 Trường nghĩa động vật 52
2.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 55
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG TỪ NGỮ TRONG TẬP TRUYỆN TÂY BẮC CỦA TÔ HOÀI 57
3.1 TỪ NGỮ TRONG NGÔN NGỮ VÀ TỪ NGỮ TRONG VĂN BẢN NGHỆ THUẬT 57
3.2 CÁCH SỬ DỤNG TỪ NGỮ TRONG TẬP TRUYỆN TÂY BẮC CỦA TÔ HOÀI 60
3.2.1 Sử dụng phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ 60
3.2.2 Sử dụng biện pháp tu từ so sánh 65
3.2.3 Sử dụng từ ngữ mang phong cách khẩu ngữ 68
3.3 SÁNG TẠO TỪ 82
3.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 84
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Từ là đơn vị cơ bản cấu tạo nên các đơn vị dùng giao tiếp trong các
loại phong cách chức năng khác nhau Khi đi vào tìm hiểu một tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, đơn vị đầu tiên để ta tri nhận nó là từ ngữ Trong lao động nghệ thuật mỗi nhà văn có cách tích luỹ ngôn từ và tiến hành sáng tác không giống nhau Việc sử dụng từ ngữ trong sáng tác của nhà văn vừa là yếu tố quan trọng hàng đầu tạo nên thành công cho tác phẩm vừa là yếu tố bộc lộ phong cách sáng tác riêng của nhà văn Vì vậy hướng nghiên cứu tác phẩm văn học
từ phương diện từ ngữ là một hướng đi quan trọng, cần thiết
1.2 Trong số các tên tuổi hàng đầu của văn xuôi hiện đại Việt Nam, Tô
Hoài là nhà văn có sức sáng tạo dồi dào, bền bỉ và đa dạng bậc nhất Hơn 70 năm miệt mài sáng tạo, ông đã đóng góp cho kho tàng văn học dân tộc hơn
170 đầu sách Trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài, đề tài đã đem lại nhiều vinh quang cho nhà văn là đề tài miền núi Với sự am hiểu sâu sắc và tường tận cuộc sống sinh hoạt của người dân miền núi, đặc biệt là tình cảm gắn bó chân thành, Tô Hoài đã có nhiều sáng tác dành tặng mảnh đất thân thương
này: Miền Tây, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Họ Giàng ở Phìn Sa, Nhớ mai
Châu… Trong đó Truyện Tây Bắc là tác phẩm đánh dấu một bước ngoặt quan
trọng trong tư tưởng và cảm xúc thẩm mĩ của nhà văn Truyện đã đạt giải nhất giải thưởng của Hội văn nghệ Việt Nam (1954 - 1955)
Đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về tập Truyện Tây Bắc của
Tô Hoài Tuy nhiên, hầu hết các bài viết, bài nghiên cứu tập trung đề cập tới những vấn đề thuộc chuyên ngành văn học, sự nhìn nhận ở góc độ ngôn ngữ
học chưa nhiều Nghiên cứu đặc điểm từ ngữ trong Truyện Tây Bắc của Tô
Hoài, chúng ta sẽ thấy được nét đặc sắc trong ngôn từ nghệ thuật, cách xử lý mang màu sắc của một phong cách Mặt khác, đóng góp thêm nguồn tư liệu
Trang 7phục vụ cho việc giảng dạy và học tập tác phẩm của Tô Hoài trong chương trình phổ thông
Đó chính là những lý do cơ bản để chúng tôi lựa chọn đề tài: “Đặc
điểm từ ngữ trong tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài”
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1 Lịch sử nghiên cứu về ngôn ngữ của tác giả Tô Hoài
Với 95 tuổi đời, hơn 70 tuổi nghề và hơn 170 đầu sách đã xuất bản, cho đến nay, Tô Hoài là một trong số ít nhà văn hiện đại nước ta đạt được nhiều con số kỉ lục trong sự nghiệp sáng tác của mình Sự nghiệp sáng tác đồ sộ và đặc sắc của Tô Hoài đã thu hút sự chú ý và hứng thú tìm hiểu, khám phá của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình Ở đây chúng tôi chỉ xin điểm lại những công trình nghiên cứu và những bài viết đề cập đến phương diện ngôn ngữ trong sáng tác của Tô Hoài
Ngôn ngữ của Tô Hoài là một nét đặc sắc nổi trội, thể hiện rõ nhất sự
tìm tòi, sáng tạo lao động công phu của nhà văn Hà Minh Đức trong cuốn Tô
Hoài sức sáng tạo của một đời văn (Nxb giáo dục 2010) đã nhận xét: “Trong lĩnh vực ngôn từ, Tô Hoài đặc biệt chú ý đến cái mới, cái đẹp của chữ nghĩa Làm sao để thuần túy là chuyện chăm chút và màu sắc ngôn từ Tô Hoài tìm hiểu cách dùng chữ đẹp của quần chúng trong lao động, trong từng nghề nghiệp và từ đấy suy nghĩ và sáng tạo.”[8, tr 30]
Trong sách Văn học việt Nam 1945 – 1975 (tập 2, Nxb Giáo dục Hà
Nội, 1990) khi viết về Tô Hoài, Trần Hữu Tá chú ý đến phong cách nghệ
thuật của Tô Hoài Ông nhấn mạnh "Điều cốt lõi trong nghệ thuật miêu tả
của Tô Hoài là công phu dùng chữ " Không những thế, Trần Hữu Tá còn
cho rằng: "Ở Tô Hoài không phải là chuyện chơi chữ hay khoe chữ Đây là
hàng trăm lần quan sát và ngẫm nghĩ về thiên nhiên, đất nước để tìm chữ đặt tên cho sự vật, phải tìm kiếm chọn lọc rồi đúc luyện thêm mới đưa cho
Trang 8người đọc Đây là những sáng tạo của tình yêu đất nước và của lao động cật lực." [37, tr 17-18]
Trong bài viết Tô Hoài người sinh ra để viết, Nguyễn Đăng Điệp cho rằng “Nói đến Tô Hoài không thể không nói đến tài năng sử dụng ngôn ngữ
của ông Tô Hoài rất ít khi dùng thứ ngôn ngữ óng ả, sặc mùi sách vở Chữ nghĩa của ông cất lên từ đời sống Nhưng đó là thứ ngôn ngữ chắt lọc.” [10,
tr 121]
Vân Thanh trong bài viết Sáng tác của Tô Hoài (in trong sách Tác giả
văn xuôi Việt Nam hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1976) nhận xét về
ngôn ngữ của Tô Hoài “Ngôn ngữ Tô Hoài thường ngắn gọn và rất gần với
khẩu ngữ của nhân dân lao động” [40, tr 76] Phan Cự Đệ cùng có một quan
điểm như vậy khi cho rằng “Tô Hoài đã chú ý học tập ngôn ngữ nghề nghiệp
và ngôn ngữ địa phương.” [9, tr 58]
Tiếp đó phải kể đến các công trình nghiên cứu, bài viết: Ngôn ngữ một
vùng quê trong tác phẩm đầu tay của Tô Hoài của Võ Xuân Quế (1990); Phong cách nghệ thuật Tô Hoài của Mai Thị Nhung (2006) ; Ngôn ngữ giàu tính tạo hình trong văn xuôi viết về miền núi của nhà văn Tô Hoài, luận văn
của Lê Thị Na, trường Đại học sư phạm Thái Nguyên (2003) ; …Nhìn chung các tác giả đều đi đến khẳng định sự sáng tạo về mặt ngôn ngữ của Tô Hoài, cho rằng đây là một yếu tố rất quan trọng làm nên phong cách nghệ thuật đặc sắc của ông
2.2 Lịch sử nghiên cứu về Truyện Tây Bắc
Truyện Tây Bắc là một trong những tác phẩm rất nổi tiếng của Tô Hoài
Từ khi ra đời đến nay, tác phẩm luôn nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình nhưng chủ yếu từ góc độ văn học Phong Lê và Vân Thanh (Viện văn học) là những người rất công phu khi tập hợp và giới thiệu
cuốn Tô Hoài về tác gia và tác phẩm Trong cuốn sách này hầu hết các tác giả
Trang 9khi nghiên cứu Truyện Tây Bắc đều dành sự quan tâm nhiều hơn đến truyện vừa Mường Giơn và truyện ngắn Vợ chồng A Phủ
Tác giả Hoàng Trung Thông trong bài Tô Hoài và Truyện Tây Bắc khi giới thiệu tác phẩm Mường Giơn đã cảm nhận được tâm hồn giàu chất thơ của nhà văn Tô Hoài: “Tô Hoài viết Mường Giơn với con mắt của một nhà thơ
Phong cảnh và con người đẹp đẽ của Tây Bắc được ngòi bút của Tô Hoài vẽ lên với một sức rung động thơ.” [26, tr 228]
Tác giả Huỳnh Lý trong bài Truyện Tây Bắc của Tô Hoài lại nhìn nhận
Tô Hoài như một nghệ sĩ: “Tô Hoài đạt kết quả mà ông mong muốn: Cảnh và
người Tây Bắc hiện ra hài hòa, đường nét, ấm màu sắc và êm ái âm thanh Cảnh Tây Bắc đẹp như một bức tranh, đẹp như ta thấy trong những bức tranh của Hoàng Kiệt…” [26, tr 239]
Trong bài viết Về vợ chồng A Phủ, tác giả Đỗ Kim Hồi cho rằng: “Công
đầu viết về Tây Bắc, đem đến cho người đọc những hiểu biết về miền đất còn
xa lạ này thuộc về Tô Hoài và Truyện Tây Bắc là thành quả đẹp trong mùa thu hoạch đầu tiên của Tô Hoài trên quê hương văn học mới.”[26, tr 258]
Từ góc nhìn ngôn ngữ học, có thể kể đến một số khóa luận như: Đặc
điểm ngôn ngữ miêu tả trong Truyện Tây Bắc của Tô Hoài (Hà Thị Thu Hoài,
2004); Đặc điểm lời dẫn thoại qua khảo sát tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài
(Trần Thị Huyền, 2007)
Như vậy, có thể nhận thấy phần lớn các bài nghiên cứu đều tập trung
đánh giá Truyện Tây Bắc của Tô Hoài dưới góc độ văn học, sự nhìn nhận ở
góc độ ngôn ngữ học chưa nhiều Việc đi sâu vào tìm hiểu đặc điểm từ ngữ
trong tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài thì chưa có đề tài nào thực hiện Với đề tài Đặc điểm từ ngữ trong tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, người viết mong muốn chỉ ra đặc sắc về đặc điểm từ ngữ và cách sử dụng từ ngữ trong tập Truyện
Tây Bắc đồng thời có dịp hiểu rõ hơn phong cách nghệ thuật độc đáo của Tô Hoài
Trang 103 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu, khảo sát đặc điểm từ ngữ trong tập Truyện Tây
Bắc góp phần nghiên cứu ngôn ngữ của Tô Hoài nói riêng, tiếng Việt văn
chương nói chung; góp phần vào nghiên cứu từ ngữ tiếng Việt
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống một số vấn đề lý luận liên quan đến luận văn
- Nghiên cứu, khảo sát đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của từ ngữ
trong tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài
- Tìm hiểu cách thức sử dụng từ ngữ trong tập Truyện Tây Bắc của
Tô Hoài
4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm từ ngữ trong tập Truyện
Tây Bắc của Tô Hoài
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của từ
ngữ, cách sử dụng từ ngữ trong tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài
4.3 Tư liệu nghiên cứu
Tư liệu nghiên cứu của luận văn là Truyện Tây Bắc (gồm 3 truyện: Cứu đất
cứu mường, Mường Giơn và Vợ chồng A Phủ) trong cuốn Tô Hoài - Truyện ngắn chọn lọc, Nhà xuất bản Lao động, 2011
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu
sau: Phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp phân tích - tổng hợp,
phương pháp so sánh đối chiếu
Trang 116 Ý NGHĨA VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần khẳng định những vấn đề lý luận cơ bản về từ vựng
- ngữ nghĩa tiếng Việt và vai trò của nó với việc biểu đạt trong tác phẩm văn chương
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp quá trình phân tích tác phẩm đảm bảo tính chính xác, có sơ sở khoa học, mở ra hướng nghiên cứu tích hợp giữa ngôn ngữ và văn học
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh trong nhà trường, đặc biệt dưới góc nhìn ngôn ngữ học, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và năng lực cảm thụ văn chương của giáo viên và học sinh
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung khoa học của luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của từ ngữ trong tập
Truyện Tây Bắc của Tô Hoài
Chương 3: Đặc điểm sử dụng từ ngữ trong tập Truyện Tây Bắc của
Tô Hoài
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỪ VỰNG, NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT
1.1.1 Khái niệm từ tiếng Việt
Từ là một trong số các đơn vị cơ bản nhất của ngôn ngữ Nó ở vào vị trí trung tâm của hệ thống ngôn ngữ, là cơ sở để con người tiến hành các hoạt động nhận thức và tạo ra mọi sản phẩm ngôn ngữ (cụm từ, câu, đoạn văn, văn bản) phục vụ cho nhu cầu giao tiếp Với vai trò quan trọng ấy mà từ đã, đang
và có thể vẫn sẽ là đối tượng lâu dài, trung tâm của ngôn ngữ học được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên có một thực tế là trong nghiên cứu ngôn ngữ, định nghĩa về từ luôn là một trong những vấn đề phức tạp Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề định nghĩa về từ, đã có trên 300 định nghĩa về từ Với mỗi mục đích nghiên cứu khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu lại nhấn mạnh tới một phương diện của từ Sau đây, chúng tôi xin nêu một số định nghĩa tiêu biểu
Đỗ Hữu Châu định nghĩa “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết
cố định bất biến, có ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong
từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu.” [3, tr 16]
Nguyễn Thiện Giáp, trong cuốn Từ và nhận diện từ tiếng Việt định nghĩa “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo
câu nói: nó có hình thức của một âm tiết, một "chữ" viết rời.” [12, tr 72]
Nguyễn Kim Thản, trong cuốn Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt viết:
“Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời
nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp” [39, tr 64]
Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến thì
Trang 13chỉnh, có chức năng gọi tên; được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu.” [6, tr 170]
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên định nghĩa: “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ
gồm một hoặc một số âm tiết có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu.” [27, tr 18]
Nhìn chung những ý kiến trên bàn về khái niệm từ còn nhiều nhưng trên đây chúng tôi chỉ nêu những khái niệm có tính chất tiêu biểu nhất Để tạo
cơ sở thuận lợi cho việc nghiên cứu luận văn này chúng tôi đồng tình với khái
niệm về từ tiếng Việt của tác giả Đỗ Hữu Châu, theo đó "Từ của tiếng Việt là
một hoặc một số âm tiết cố định bất biến, có ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu." [3, tr 16]
1.1.2 Các kiểu từ xét về mặt cấu tạo
1.1.2.1.Từ đơn
Từ đơn là những từ được cấu tạo theo phương thức từ hóa hình vị, và
như vậy, từ đơn bao gồm một hình vị (Vì có hình vị một âm tiết và hình vị nhiều âm tiết, nên cũng có các từ đơn một âm tiết gọi là từ đơn đơn âm và các
từ đơn nhiều âm tiết gọi là các từ đơn đa âm)
- Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời Một số
từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài
như: Tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Nga,…
- Xét về mặt ý nghĩa, từ đơn biểu thị các khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hoạt động tự nhiên, quan hệ gia đình, các số đếm,…
- Xét về mặt số lượng, tuy không nhiều bằng từ ghép và từ láy nhưng đây là những từ cơ bản nhất, giữ vai trò quan trọng nhất trong việc biểu thị
Trang 14các khái niệm có liên quan đến đời sống và là cơ sở để tạo từ mới cho tiếng Việt
1.1.2.2 Từ ghép
Từ ghép là những từ được tạo ra theo phương thức ghép hình vị Căn
cứ vào quan hệ ngữ pháp giữa các hình vị, người ta chia các từ ghép thành:
*Từ ghép đẳng lập: Từ ghép đẳng lập có đặc trưng chung là:
- Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng, không có thành tố nào là chính thành tố nào là phụ
Ví dụ: nhà cửa, sách vở, tư duy,…
- Xét về mặt ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy:
+ Hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau trong đó:
Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt Ví dụ: Bạn
hữu, bụng dạ, máu huyết,…
Có thể có hai yếu tố đều là Hán Việt Ví dụ: thổ địa, tư duy, cốt
nhục,…
Có thể có hai yếu tố đều là thuần Việt Ví dụ: xinh đẹp, đợi chờ,…
Có thể có một yếu tố là từ toàn dân và một yếu tố là từ địa phương Ví
dụ: chợ búa, chân cẳng, bát đọi,…
+ Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau.Ví dụ: thương nhớ, nhà cửa,… + Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau Ví dụ: đầu đuôi, sống chết,…
- Xét về mặt nội dung nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những ý nghĩa sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp (tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát)
- Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành
tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập
Trang 15* Từ ghép chính phụ: là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố
cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu
từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp Loại này có những đặc điểm sau:
- Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có xu hướng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo này thường có khuynh hướng nêu lên các sự vật mang ý nghĩa cụ thể
- Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ thường dùng để cụ thể hóa loại
Máy may, máy bơm, máy điện, máy nổ,…
Làm dâu, làm duyên, làm việc, làm thợ,…
+ Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố
phụ có tác dụng bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho
từ ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa Ví dụ:
so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc,…
1.1.2.3 Từ láy
Từ láy là những từ được tạo ra theo phương thức láy hình vị, tức tác động vào một hình vị gốc về mặt âm thanh để tạo ra hình vị (một số hình vị) láy và kết hợp chúng lại với nhau để tạo thành từ
Trang 16* Đặc điểm của từ láy:
- Giữa các tiếng trong từ láy có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm, biểu hiện trong các dạng sau:
+ Hoặc giống nhau ở phần phụ âm đầu (láy phụ âm đầu) Ví dụ: vi vu,
lau lách, vắng vẻ,…
+ Hoặc giống nhau ở phần vần (láy vần) Ví dụ: lác đác, đìu hiu,…
+ Hoặc giống nhau ở cả phụ âm đầu lẫn phần vần (láy hoàn toàn – láy
tiếng) Ví dụ: hao hao, xanh xanh, đo đỏ, tim tím,…
- Mối quan hệ ngữ âm trong từ láy tạo nên sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hóa, tức là tạo ra một ý nghĩa biểu trưng, ý nghĩa ấn tượng mà người bản ngữ tỏ ra nhạy cảm với nó hơn so với người không thuộc bản ngữ
- Trong từ láy có ít nhất một yếu tố không độc lập, nghĩa không còn đủ
rõ Như vậy từ láy tiếng Việt có thể xảy ra hai trường hợp:
+ Từ láy có một yếu tố độc lập và một yếu tố không độc lập Ví dụ:
sạch sẽ, vắng vẻ,…
+ Từ láy có cả hai yếu tố không độc lập.Ví dụ: Bâng khuâng, lác đác,…
* Phân loại từ láy: Kết hợp tiêu chí số lượng tiếng với các bộ phận
giống nhau trong từ có thể phân từ láy thành các loại sau:
- Từ láy đôi: là từ láy gồm có hai tiếng Có các dạng láy đôi như sau: + Láy đôi bộ phận: là từ láy đôi giống nhau ở phần vần hoặc phụ âm
đầu Ví dụ: sạch sẽ, dễ dàng, chói lọi, khéo léo,…
+ Từ láy hoàn toàn: loại trừ các từ láy bộ phận còn lại là từ láy hoàn
toàn Ví dụ: đùng đùng, đu đủ, cỏn con,…
- Từ láy ba: chủ yếu dựa trên cơ chế láy hoàn toàn Ví dụ: sạch sành
sanh, xốp xồm xộp, cỏn còn con,
- Từ láy tư: phần lớn dựa trên cơ sở láy đôi, một số ít phần gốc là từ
ghép Ví dụ: hì hục….hì hà hì hục, ấm ớ…ấm a ấm ớ,…
Trang 171.1.3 Trường từ vựng ngữ nghĩa
1.1.3.1 Khái niệm trường từ vựng
Theo Đỗ Hữu Châu trong Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt “Trường
từ vựng ngữ nghĩa là tập hợp các từ và ngữ cố định trong từ vựng của một ngôn ngữ dựa vào sự đồng nhất nào đấy về ngữ nghĩa.” [5, tr 127]
Quyển Từ vựng ngữ nghĩa học tiếng Việt đề cập “Chúng ta thấy giữa
các từ có không ít sự đồng nhất về hình thức và về ý nghĩa Căn cứ vào những cái chung giữa các từ, chúng ta sẽ tiến hành phân lập toàn bộ từ vựng của tiếng Việt thành những hệ thống nhỏ hơn và phát hiện ra mối quan hệ giữa các từ trong từ vựng”.[3, tr 170]
Từ vựng là tập hợp các từ và các đơn vị tương đương với từ của một ngôn ngữ Song, từ vựng không phải là một tập hợp ngẫu nhiên các đơn vị này Từ vựng là một hệ thống Do đó, giữa các đơn vị của hệ thống từ vựng tồn tại những mối quan hệ nhất định Một trong những quan hệ từ vựng cơ bản giữa đơn vị từ vựng là quan hệ về nghĩa Các đơn vị đồng nhất với nhau
về nghĩa được tập hợp thành trường từ vựng
Hoạt động giao tiếp gồm hai quá trình cơ bản là quá trình tạo lập (sản sinh) và quá trình tiếp nhận (lĩnh hội) diễn ngôn Để tạo lập diễn ngôn, người
giao tiếp phải biết huy động vốn từ ngữ có liên quan đến hiện thực được nói tới, trên cơ sở đó lựa chọn các từ ngữ phản ánh chính xác nội dung cần diễn đạt Quá trình huy động các từ ngữ để tạo lập diễn ngôn là quá trình xác lập
trường từ vựng
1.1.3.2 Các loại trường từ vựng - ngữ nghĩa
Theo Đỗ Hữu Châu, có bốn loại trường nghĩa dựa vào quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường và giữa các trường với nhau Dạng quan hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) thì có trường nghĩa ngang với hai loại là trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa
Trang 18liên tưởng Dạng quan hệ dọc (hay quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình) thì
có trường nghĩa dọc với hai loại là trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm
a Trường nghĩa biểu vật
Theo Đỗ Hữu Châu: “Một trường biểu vật là một tập hợp những từ
đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật” [3, tr 172]
Để xác lập trường nghĩa biểu vật ta chọn một danh từ biểu thị sự vật làm gốc Danh từ được chọn làm gốc phải có tính khái quát cao, gần như là
tên gọi của các phạm trù biểu vật như người, động vật, thực vật, vật thể, chất
liệu,…Trên cơ sở danh từ gốc đó ta thu thập những từ có cùng phạm vi biểu
vật với nó
Ví dụ với từ “người” làm gốc ta có thể thu thập các từ đồng nhất về phạm vi biểu vật với nó, lập nên trường biểu vật “người” như sau:
1 Người nói chung xét về giới: đàn ông, đàn bà, nam, nữ,…
2 Người nói chung xét về tuổi tác: trẻ em, thanh niên, cụ già,…
3 Bộ phận cơ thể người: tay, đầu, chân, mắt, bụng, tóc,…
4 Đặc điểm ngoại hình: cao, thấp, béo, gầy,…
Cần chú ý những điểm sau về các trường biểu vật:
So sánh các trường lớn với nhau cũng như so sánh các trường nhỏ trong cùng một trường lớn, chúng ta sẽ thấy chúng rất khác nhau về số lượng từ ngữ
và về tổ chức Nếu lại so sánh các trường cùng một tên gọi (tức cùng danh từ) trong các ngôn ngữ với nhau thì sự khác nhau trên còn rõ hơn nữa
Nếu tạm gọi một trường nhỏ (hay một nhóm nhỏ trong một trường nhỏ)
là một “miền” của trường, thì có thể thấy, các miền trong các trường thuộc các ngôn ngữ rất khác nhau Có những miền trống, tức không có từ ngữ, ở ngôn ngữ này nhưng lại không trống ở ngôn ngữ kia, có miền có mật độ cao ở ngôn ngữ này nhưng lại thấp ở ngôn ngữ kia Điều này khẳng định tính ngôn ngữ và tính dân tộc của các trường biểu vật
Trang 19Cần chú ý rằng khi phân lập các trường, chúng ta chú ý đến nghĩa biểu vật chứ không chú ý đến từ Nói rõ hơn phân lập trường không phải là phân loại từ Không phải một từ đã có ở trường này thì không thể có ở trường kia được nữa Vì từ có tính nhiều nghĩa biểu vật, do đó từ có thể nằm trong nhiều trường biểu vật khác nhau hay trong nhiều trường nhỏ khác nhau tùy theo số lượng các ý nghĩa biểu vật của nó
Do chỗ có các từ đi vào nhiều trường, cho nên các trường biểu vật có thể “thẩm thấu”, “giao thoa” với nhau Hai trường biểu vật giao thoa với nhau khi một số từ của trường này cũng nằm trong trường kia
b Trường nghĩa biểu niệm
“Một trường biểu niệm là một tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm” [3, tr 178]
Để xác lập trường nghĩa biểu niệm, ta chọn một cấu trúc biểu niệm làm gốc, trên cơ sở đó thu thập các từ có chung cấu trúc biểu niệm gốc đó
Cũng như các trường biểu vật, các trường biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nhỏ và cũng có những “miền” với mật độ khác nhau
Do có hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm, cho nên một từ có thể đi vào những trường biểu niệm (hay đi vào những trường nhỏ) khác nhau Vì vậy, cũng giống như các trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể “giao thoa”,“thẩm thấu” vào nhau
Dưới đây là ví dụ về trường biểu niệm dẫn theo ví dụ của Đỗ Hữu Châu Trường biểu niệm (vật thể nhân tạo)… (thay thế hoặc tăng cường thao tác lao động) (cầm tay):
- Dụng cụ để chia, cắt: dao, cưa, búa, phảng, rìu, liềm, hái,
- Dụng cụ để xoi, đục: đục, dùi, chàng, khoan,…
- Dụng cụ để nện, gõ: búa, vồ, dùi đục, dùi cui,…
- Dụng cụ để đánh bắt: lưới, nơm, đó, đăng, câu, vó,
Trang 20- Dụng cụ để mài giũa: giũa, bào, đá mài, giấy ráp,…
- Dụng cụ để kìm giữ: kìm, kẹp, néo, móc,…
- Dụng cụ để chém giết (vũ khí): dao, gươm, kiếm, kích, giáo, phủ,
việt, qua, nỏ, cung, tên, súng,…
- Dụng cụ để xới đất: cày, cuốc, thuổng, mai, xẻng, bừa, cào,…
- Dụng cụ để lấy, múc: thìa, đũa, muôi, gáo,…
Sự phân lập từ vựng thành trường biểu vật và trường biểu niệm như đã nói dựa trên sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ Nó phản ánh cách nhìn từ vựng ở hai góc độ khác nhau Tuy nhiên, hai loại trường dọc này
có liên hệ với nhau: nếu lấy những nét nghĩa biểu vật trong cấu trúc biểu niệm làm tiêu chí lớn để tập hợp thì chúng ta có các trường biểu vật Nhưng khi cần phân một trường biểu vật thành các trường nhỏ thì lại phải dựa vào các nét nghĩa khác trong cấu trúc biểu niệm
Trái lại, khi phân lập các trường biểu niệm, chúng ta dựa vào cấu trúc biểu niệm, song khi phân nhỏ chúng ra, đến một lúc nào đó phải sử dụng đến nét nghĩa biểu vật
Dựa vào ý nghĩa của từ mà chúng ta phân lập được các trường Nhưng cũng chính nhờ các trường, nhờ sự định vị của từng từ một trong trường thích hợp mà chúng ta hiểu sâu sắc thêm ý nghĩa của từ
c Trường nghĩa tuyến tính
Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ
Ví dụ trường nghĩa tuyến tính của từ tay là búp măng, mềm, ấm, lạnh…
nắm, cầm, khoác,…Trường nghĩa tuyến tính của từ học là chăm, lười,…giỏi, dốt, kém, tốt, yếu,…toán, văn, sinh, hóa,…
Trang 21Cùng với các trường nghĩa dọc, các trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ
d Trường liên tưởng
Nhà ngôn ngữ học Pháp Ch Bally là tác giả đầu tiên của khái niệm trường liên tưởng Theo ông, mỗi từ có thể là trung tâm của một trường liên
tưởng như từ bò của tiếng Pháp chẳng hạn, có thể gợi ra liên tưởng: 1 Bò cái,
bò mộng, bê, sừng, gặm cỏ,… 2 Sự cày bừa, cái cày, cái ách,… 3 Những ý niệm về tính thụ động mà chúng ta gặp trong các lối so sánh trong các thành ngữ Pháp v.v…Dễ dàng nhận thấy rằng các từ trong một trường liên tưởng là
sự hiện thực hóa, sự cố định từ bằng các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm
Các trường liên tưởng thường không ổn định nên ít có tác dụng phát hiện những quan hệ cấu trúc về ngữ nghĩa của các từ và từ vựng Nhưng nó có tác dụng trong sự giải thích sự dùng từ của các tác giả
Trên đây là các kiểu trường theo phân loại của Đỗ Hữu Châu Trong luận văn này chúng tôi chỉ xác lập và nghiên cứu các trường biểu vật, biểu niệm, trường liên tưởng để hiểu rõ vốn từ của tác giả chứ không xác lập trường tuyến tính
1.1.4 Nghĩa của từ trong hoạt động
Nghĩa của từ được hiểu "là toàn bộ nội dung tinh thần xuất hiện khi
tiếp xúc với hình thức âm thanh của từ” [2, tr 3] Là nội dung mà từ biểu thị
Nghĩa của từ tồn tại ở hai trạng thái: trạng thái tĩnh (trong từ điển) và trạng thái động (trong giao tiếp)
Theo Bùi Minh Toán: “Trong hệ thống ngôn ngữ, cũng như ở trạng
thái riêng rẽ cô lập, nghĩa của từ còn mang tính chất trừu tượng Từ chưa được đặt trong mối quan hệ tương ứng với một cái được biểu đạt cụ thể nào
Trang 22Mỗi một từ mới chỉ là hình thức ngữ âm ứng với một cái biểu đạt còn chung chung” [38, tr 67] Nhưng khi tham gia vào hoạt động giao tiếp (vào câu, vào
ngôn bản) nghĩa của từ dần dần được cụ thể hóa hoặc sẽ biến đổi ở các mức
độ khác nhau Đó là sự hiện thực hóa và chuyển biến ý nghĩa của từ trong giao tiếp
1.1.4.1 Sự hiện thực nghĩa của từ trong hoạt động giao tiếp
Hiện thực hóa nghĩa của từ được hiểu là sự cụ thể hóa nghĩa của từ ở mức độ khác nhau khi tham gia hoạt động giao tiếp
Có thể thấy rõ sự hiện thực hóa về nghĩa của từ trong hoạt động giao
tiếp trước hết là ở từ nhiều nghĩa Lấy một ví dụ thông thường như từ lá với
nhiều nghĩa như sau:
1) Một bộ phận của cây, thường ở trên cành hoặc ngọn cây, thường có màu xanh, có hình dáng mỏng, dẹt và có chức năng hấp thụ ánh sáng mặt trời
(lá mít, lá tre…)
2) Đơn vị của những vật thể có hình dáng bề mặt mỏng giống như lá cây:
- Vật thể bằng giấy: lá thư, lá đơn, lá thiếp…
“Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”
(Thu Vịnh – Nguyễn Khuyến)
Ở đây, lá hiện thực nghĩa 1 – nghĩa gốc
Đối với các từ đơn nghĩa (những từ chỉ có một nghĩa), trong hoạt động giao tiếp, nghĩa của từ vẫn có sự hiện thực hóa cụ thể hơn Ở ngoài hoạt động giao tiếp, nghĩa của từ có tính khái quát và trừu tượng: mỗi từ biểu hiện cả
Trang 23một lớp các sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái…nói chung Nhưng khi tham gia vào hoạt động giao tiếp, nghĩa của từ (kể cả nghĩa của các từ đơn nghĩa) được đặt trong mối tương quan với đối tượng cụ thể, xác định, nghĩa là được quy chiếu vào một đối tượng (sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái…) xác định trong hiện thực khách quan Sự hiện thực hóa ý nghĩa như thế của từ
được gọi là sự quy chiếu hay sự chiếu vật Nhờ thế, nghĩa của từ không còn
chung chung, trừu tượng mà trở nên cụ thể, xác định Khi ấy nghĩa của từ sẽ được mở rộng nghĩa hoặc thu hẹp nghĩa
1.1.4.2 Sự chuyển nghĩa của từ
Bên cạnh sự hiện thực hóa nghĩa vốn có, trong hoạt động giao tiếp, từ còn có thể biến đổi, chuyển hóa về nghĩa Theo Đỗ hữu Châu “Từ (đơn hoặc phức) lúc mới xuất hiện đều chỉ có một nghĩa biểu vật Sau một thời gian được sử dụng, nó có thể có thêm những nghĩa biểu vật mới Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện ngày càng nhiều thì nghĩa biểu niệm của nó càng có khả năng biến đổi.” [3, tr.146]
Trong sự chuyển biến ý nghĩa, có khi nghĩa biểu vật đầu tiên không còn
nữa, chúng ta quên đi, như nghĩa “bên phải, bên trái” của từ đăm chiêu; nghĩa
“cái búa để điều khiển con voi” của từ vố; nghĩa gánh (hoạt động gánh) của
từ đểu,…nhưng thường thì cả nghĩa đầu tiên và các nghĩa mới đều cùng tồn
tại, cùng hoạt động, khiến cho đối với những người không chuyên về từ nguyên học khó nhận biết hay khó khẳng định nghĩa nào là nghĩa đầu tiên của
từ [3, tr 147]
Sự chuyển nghĩa có thể dẫn tới kết quả là nghĩa sau khác hẳn với nghĩa trước Thậm chí ngay cùng một từ, sự chuyển nghĩa có thể khiến cho nó trở thành đồng nghĩa với các từ trái nghĩa trước kia của nó
Ví dụ, từ đứng có cấu trúc biểu niệm “hoạt động dời chỗ, dừng lại” vốn trái nghĩa với từ chạy Nhưng do sự chuyển nghĩa, từ đứng mang ý nghĩa
Trang 24“điều khiển máy” trong câu “Chị công nhân đứng 24 máy một ca” Ở nghĩa này từ đứng lại đồng nghĩa với từ chạy “Chị công nhân chạy 24 máy một ca)
Sự chuyển nghĩa có thể khiến cho các từ đổi nghĩa nhau
Sự chuyển biến ý nghĩa cũng có thể làm cho nghĩa của từ mở rộng hoặc
thu hẹp và làm thay đổi ý nghĩa biểu thái (nghĩa xấu đi hay tốt lên) Ví dụ, từ
tếch vốn trước kia có nghĩa “ra đi”, không “xấu” cũng không “tốt”, nay chỉ
khi nào muốn phê phán sự ra đi của ai đó, ta mới nói “Anh ta tếch thẳng” [3,
tr 150]
Từ những phân tích trên, Đỗ Hữu Châu kết luận: “Chuyển biến ý nghĩa
là sự thay đổi ý nghĩa của các từ có sẵn, thổi vào chúng những luồng sinh khí mới là biện pháp tiết kiệm, sống động, giàu tính dân tộc, có tính nhân dân đậm đà, dễ dàng được chấp nhận nhanh chóng… Đó cũng là cách khai thác
và phát huy tiềm năng ngôn ngữ.” [3, tr 151]
Sự chuyển nghĩa của từ trong các ngôn ngữ không phải diễn ra tùy tiện
mà theo những phương thức nhất định Trong tất cả các ngôn ngữ, hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến nhất là ẩn dụ và hoán dụ
Theo Đỗ Hữu Châu, nếu cho A là một hình thức ngữ âm, x và y là những ý nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của x (tức x là ý nghĩa biểu vật của chính A) thì:
Ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (biểu thị y), nếu
x và y giống nhau Ở phương thức ẩn dụ, các sự vật được gọi tên, tức x và y, không có liên hệ khách quan, chúng thuộc những phạm trù hoàn toàn khác hẳn nhau Sự chuyển tên gọi diễn ra tùy thuộc vào nhận thức có tính chất chủ quan của con người về sự giống nhau của chúng [3, tr 155]
Hoán dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x với y đi đôi với nhau trong thực tế Trái ngược với phương thức ẩn dụ trong trường hợp hoán dụ, mối liên hệ đi đôi với nhau giữa x và y là có thật, không tùy thuộc
Trang 25vào nhận thức của con người Cho nên các hoán dụ có tính khách quan hơn ẩn
dụ [3, tr 155]
Ví dụ: Các từ chân, mũi… trong chân (bàn), mũi (thuyền) đều là các từ chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ, còn các từ tay, chân …trong tay (vợt),
chân (sút) lại là những từ chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ
1.2 PHONG CÁCH NGÔN NGỮ VÀ PHONG CÁCH NGÔN NGỮ TÁC GIẢ
1.2.1 Các quan niệm khác nhau về phong cách ngôn ngữ
Phong cách đang là vấn đề thời sự của lý luận văn học và lịch sử văn học Phần lớn các nghiên cứu về văn học, ngôn ngữ đều đề cập đến phong cách Tuy nhiên mỗi tác giả lại có cách nhìn khác nhau
Toomasepki trong tác phẩm “Giáo trình ngắn gọn về thi pháp, NXB Quốc gia Mátxítcơva,1931, cho rằng: Phong cách là một hệ thống ngôn ngữ thể hiện bản thân mình trong hệ thống ngôn ngữ trọn vẹn, với tính chất độc đáo của từ ngữ, đoản ngữ, đạt đến trình độ để tác phẩm viết theo một phong cách tương tự và không phụ thuộc vào quy luật chung Phong cách là hiện tượng ngôn ngữ có tính cá biệt nhất
Theo Grigoorian trong cuốn “Vấn đề của phong cách nghệ thuật”, Nxb Viện Hàn lâm, Erêvan, 1996, cho rằng: Trong phong cách không thể không có
sự tham gia của thế giới quan, các thủ thuật của cá nhân nghệ sĩ, các nhận thức thời đại của nghệ sĩ, các tính độc đáo có tính dân tộc trong tác phẩm Phong cách là sự thống nhất ở trình độ cao các phạm trù ấy
Bên cạnh đó, có những người nghiên cứu phong cách trong sự tách rời với sự phát triển có tính lịch sử của phong cách
Mỗi phong cách thường mở ra nhánh của trường phái hay trào lưu, gồm một số người sáng tác sử dụng một số thủ pháp tương tự Tuy nhiên, các tác giả khác nhau về phương pháp sáng tác cũng thường sử dụng các chất liệu và
Trang 26các kiểu cấu tạo có thành phần khác nhau Phần lớn các nhà văn, nhà thơ khi sáng tác đều thể hiện cá tính sáng tạo, ra sức đi tìm cái mới, thể hiện cái không lặp lại bên cạnh cái lặp lại có tính kế thừa truyền thống Nhưng chỉ khi nào nhà văn, nhà thơ đó đạt đến trình độ cao trong nghệ thuật, mở ra một cách nhìn mới, cách cảm thụ mới, cách viết mới,…được mọi người chấp nhận thì người đó mới thực sự có phong cách
Không một phong cách nào lại có thể tập trung và tiêu biểu cho những khả năng, tiềm năng diễn đạt của ngôn ngữ dân tộc như ngôn ngữ văn chương
- thứ ngôn ngữ được xem là tinh hoa, là niềm tự hào của tiếng nói dân tộc
Ngôn ngữ ở tác phẩm văn chương không giống với ngôn ngữ trong các văn bản thuộc phong cách chức năng khác Ở các văn bản này, hiểu ngôn từ có nghĩa là nhận biết được tin tức mà văn bản chứa đựng, còn đối với các tác phẩm văn học thì phải đi từ ngôn từ đến nhận biết hình tượng văn học thì mới hiểu hết được nội dung nói tới trong tác phẩm
Ngôn ngữ văn chương là ngôn ngữ tạo hình, biểu cảm, một thứ ngôn ngữ có giá trị biểu trưng vô cùng lớn lao Các đơn vị biểu đạt ý tưởng trong tác phẩm văn học bên cạnh ý tưởng thông thường được xác định trong ngôn ngữ, còn bao hàm một ý nghĩa bổ sung khác vô cùng sâu xa, đó là ý nghĩa xây dựng hình tượng văn học Do vậy ngôn ngữ văn chương là thứ ngôn ngữ bao gồm nhiều giọng điệu, nhiều màu sắc, nhiều phong cách, một thứ ngôn ngữ rất phức tạp và luôn biến động – phức tạp và biến động như chính cuộc sống của chúng ta vậy
Tuy nhiên từ phong cách ngôn ngữ văn chương đến phong cách ngôn ngữ tác giả là một khoảng cách rất xa
1.2.2 Các quan niệm khác nhau về phong cách ngôn ngữ tác giả
Để có thể cho ra đời những tác phẩm có giá trị, các tác giả phải có vốn
từ ngữ phong phú, vận dụng khéo léo, thành thạo mà vẫn tuân theo chuẩn
Trang 27mực nhất định, có như vậy mọi người mới hiểu được Tuy nhiên, ngôn ngữ của mỗi nhà văn, nhà thơ lại khác nhau, sự khác nhau về ngôn ngữ chính là dấu hiệu để xác định phong cách ngôn ngữ tác giả
Phong cách ngôn ngữ cá nhân chỉ được tái hiện trên cơ sở phong cách ngôn ngữ tác phẩm Nhưng việc nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm một cách riêng rẽ, ngoài phong cách thể loại, phong cách chức năng, không tính đến quan điểm lịch sử cụ thể và đặc điểm tư tưởng thẩm mỹ chủ đạo của tác giả, cũng không cho phép đem lại bức tranh cụ thể, đầy đủ, có hệ thống, chân thực
về đặc trưng phong cách tác giả Nói cách khác, để có một bức tranh chung, chân thực về phong cách ngôn ngữ tác giả, nhà nghiên cứu phải mô tả tỉ mỉ đặc điểm ngôn ngữ từng tác phẩm, trong sự phụ thuộc nó vào thể loại, phong cách thời điểm xuất hiện tương ứng Từ đó, bằng tư duy khái quát hóa, tiến hành phân tích, tổng hợp, chuyển hóa để quy nạp các đặc trưng riêng lẻ hoạt động trong các tác phẩm khác nhau về thể loại, phong cách, thời kì sáng tạo vào trong các quan hệ, các phạm trù nhất định và hệ thống chúng thành một chỉnh thể gắn kết với bên trong
Phong cách ngôn ngữ tác giả là một chỉnh thể tư tưởng - nghệ thuật Theo như V.V Vinnogradov thì nó là sự tổng hợp theo cách riêng của cá nhân, có thể hiểu là một hệ thống các cách sử dụng độc đáo cá nhân các phương tiện ngôn ngữ và các thủ pháp nghệ thuật; được quy định bởi những nguyên tắc tư tưởng thẩm mĩ độc đáo bên trong của việc lựa chọn liên kết, vận dụng các đơn vị ngôn ngữ và các biện pháp tu từ vốn có trong ngôn ngữ toàn dân Phong cách tác giả được hình thành từ một loạt các yếu tố chủ quan và khách quan; nó gắn liền với quan điểm triết học, mĩ học, khuynh hướng tư tưởng của cá nhân và thái độ của cá nhân đối với hiện thực được phản ánh, đối với văn hóa ngôn ngữ dân tộc, và với tính chất học vấn, thói quen ngôn ngữ cá nhân
Trang 28Ta thấy rằng, mỗi nhà văn, nhà thơ thường có những sở trường ngôn ngữ riêng: Nguyễn Tuân ưa dùng những từ mới lạ, khác người,…Vũ Trọng Phụng lại hay dùng những từ sâu, thâm thúy trên con chữ ít ai có thể hiểu được ngay; Nguyễn Bính lại hay dùng những từ ngữ mộc mạc, dân dã, thôn quê; ngôn ngữ của Nam Cao lại là sự hòa âm, phối hợp của nhiều loại ngôn ngữ khác nhau như là sự sống tự nó cất lên như thế…
Sêkhốp rất có lí khi cho rằng “Nếu tác giả nào không có lối nói riêng của mình thì người đó sẽ không bao giờ là nhà văn cả” Cái mà Sêkhốp gọi là lối nói riêng ấy, phải chăng cũng chính là phong cách ngôn ngữ tác giả
Như vậy, nói đến phong cách ngôn ngữ của tác giả là nói đến cái riêng, cái cá thể Để tạo ra được những cái đó, trong sáng tạo của mình, các nhà văn, nhà thơ phải khắc họa được những nét khu biệt, trên cơ sở tần số lặp đi lặp lại của một hiện tượng, gây ấn tượng và ám ảnh đối với người đọc Phong cách
cá nhân của mỗi nhà thơ, nhà văn cũng góp phần quy định diện mạo văn học của một thời đại, một dân tộc
1.3 TÁC GIẢ TÔ HOÀI VÀ TẬP TRUYỆN TÂY BẮC
1.3.1 Tác giả
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen sinh ngày 07 - 9 - 1920 tại làng Nghĩa
Đô, phủ Hoài Đức - tỉnh Hà Đông (nay là phường Nghĩa Đô - quận Cầu Giấy
- Hà Nội) trong một gia đình thợ thủ công Ông còn có nhiều bút danh khác như: Mai Trung, Duy Phương, Mắt Biển, Hồng Hoa, Vũ Đột Kích,…
Quê quán : xã Kim An - huyện Thanh Oai - tỉnh Hà Tây
Tuổi thanh niên, Tô Hoài phải trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống như: dạy học tư, bán hàng, làm kế toán cho hiệu buôn,…Năm 1938, ông chịu ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân và tham gia hoạt động trong tổ chức Hội
ái hữu thợ dệt và Thanh niên dân chủ Hà Nội Năm 1943, Tô Hoài gia nhập
Hội văn hóa cứu quốc và bắt đầu viết bài cho báo Cứu quốc và Cờ giải phóng
Trang 29Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài làm chủ nhiệm báo “Cứu quốc”
Ông là một trong số những nhà văn đầu tiên Nam tiến và tham dự một số chiến dịch ở mặt trận phía Nam (Nha Trang, Tây Nguyên…) Năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng
Năm 1950, ông về công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam Từ năm 1957 đến năm 1980, Tô Hoài đã kinh qua nhiều chức vụ khác nhau trong Hội Nhà văn như: Ủy viên Đảng Đoàn, Phó Tổng thư kí, Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, Giám đốc Nhà xuất bản Thiếu nhi
Đến với con đường nghệ thuật từ cuối những năm ba mươi cho đến khi qua đời, Tô Hoài đã sáng tác được một số lượng tác phẩm đồ sộ (hơn một trăm bảy mươi đầu sách) ở nhiều thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, kí, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác Với những đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà, năm 1996 ông được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
* Tác phẩm của Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám:
Dế mèn phiêu lưu kí (1941), Quê người (1941), O chuột (1942), Giăng thề (1943), Nhà nghèo (1944), Xóm Giếng ngày xưa (1944), Cỏ dại (1944)
* Tác phẩm chính của Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám :
- Truyện ngắn: Núi cứu quốc (1948), Xuống làng (1950), Truyện Tây
Bắc (1953, Giải nhất Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 - 1955), Khác trước (1957), Vỡ tỉnh (1962), Người ven thành (1972)
- Tiểu thuyết: Mười năm (1957), Miền Tây (1967, Giải thưởng Bông sen vàng năm 1970 của Hội Nhà văn Á Phi), Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971), Tự
truyện (1978), Những ngõ phố, người đường phố (1980), Quê nhà (1981, Giải
A năm 1980 của giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội), Nhớ Mai Châu (1988)
Trang 30- Kí: Đại đội Thắng Bình (1950), Thành phố Lênin (1961), Tôi thăm
Cămphuchia (1964), Nhật kí vùng cao (1969), Trái đất tên người (1978), Hoa hồng vàng song cửa (1981), Cát bụi chân ai (1992)
- Truyện thiếu nhi: Tuyển tập Văn học thiếu nhi, tập I & II (1999)
- Tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác: Một số kinh nghiệm viết văn của
tôi (1959), Người bạn đọc ấy (1963), Sổ tay viết văn (1977), Nghệ thuật và phương pháp viết văn (1997)
Tô Hoài có nhiều tác phẩm được dịch ra tiếng nước ngoài, đặc biệt Dế
mèn phiêu lưu kí được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất
Nhìn chung, Tô Hoài là một nhà văn sớm bước vào đời, vào nghề văn
và cũng sớm tham gia hoạt động cách mạng Ông viết ở nhiều thể loại và thể loại nào ông cũng đạt được những thành công đặc sắc Đặc biệt là ở những tác phẩm viết về loài vật và miền núi Tây Bắc Tô Hoài luôn có những cố gắng tìm tòi, khám phá trong sáng tạo nghệ thuật, đó là một trong những yếu tố góp phần làm nên sức hấp dẫn, sức sống và ý nghĩa lâu bền ở tác phẩm của ông đối với đời sống tinh thần của người đọc nhiều thế hệ
chính là động lực mạnh mẽ thúc đẩy Tô Hoài viết Truyện Tây Bắc Cuối năm 1953, Truyện Tây Bắc ra đời đánh dấu bước phát triển mới của Tô
Hoài cả về mặt tư tưởng và nghệ thuật Đấy là một tập truyện xuất sắc
Trang 31trong văn xuôi kháng chiến, được giải nhất Giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954 - 1955
núi, đều có tinh thần cách mạng và khả năng đoàn kết với nhau Truyện Tây
Bắc phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp của nhân dân các dân tộc miền núi
chống chế độ áp bức của phong kiến, thực dân Đồng thời ca ngợi cách mạng
đã giải phóng cho nhân dân Tây Bắc thoát khỏi cuộc đời tối tăm; ca ngợi những con người miền núi, nhất là lớp thanh niên đã vùng dậy làm chủ cuộc sống của mình; ca ngợi tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc
Ánh sáng của cách mạng đã làm thay đổi hai cuộc đời, hai thế hệ Trong
Cứu đất cứu mường, bà Ảng nhân vật chính được Tô Hoài miêu tả khác nhau
giữa hai cuộc đời mới và cũ Cô Ảng khi còn trẻ đẹp và tài giỏi nức tiếng ở Mường Cơi nhưng lại phải lấy một ông lão bảy mươi tuổi, rồi lão chết, cô phải hầu hạ hết tên quan này đến quan khác Lúc có con không quan nào chịu nhận
Cô mang tội chửa hoang phải nộp làng mười hai mươi đồng bạc xòe, theo lệ làng cũng không có ruộng cày nên cô phải bán con đi Thời gian đã khiến cô Ảng xinh đẹp ngày nào trở thành một bà lão Khi ánh sáng cách mạng đến với
bà Ảng từ khu du kích Phiềng Sa Bà đã được tự do làm chủ cuộc đời mình
Trong Mường Giơn, ông Mờng tiêu biểu cho người nông dân nghèo miền núi:
lầm lì, ít nói nhưng gan góc bướng bỉnh, đối với giặc bề ngoài có vẻ sợ sệt nhưng bên trong thì chất chứa căm thù và có tinh thần bất khuất Tâm hồn ông chất phác, chân thật nhưng không bao giờ tin lũ giặc Ông hiểu rằng: “Ở với
Trang 32quân ác thì không thể nhìn mặt nhau được” và “Rào làng chứ rào cái bụng người ta mày không rào được đâu” [Mường Giơn, Tr 292]
Tô Hoài còn nhấn mạnh sự đổi thay về nhận thức và hành động nhờ cách mạng trong hình ảnh lớp thanh niên mới như Sạ, Ính, A Phủ, Mỵ Ở Sạ, người thanh niên nông dân luôn cay cực với số phận ở rể của mình, yêu tha thiết nhưng vẫn bị gò bó trong tục lệ phong kiến Khi giặc về, tình yêu đổ nát, cuộc đời anh tưởng không còn nữa Nhưng khi được bộ đội cứu thoát và rèn luyện anh đã trở thành người cán bộ về gây cơ sở ở làng Ra đi, Sạ mang mối thù giặc
và tình yêu thương đồng bào bên mình Một nhân vật cũng được Tô Hoài chú ý
nhiều trong truyện Mường Giơn đó là nhân vật Ính, cô gái ngây thơ tinh nghịch
nhưng lại mang trong mình những yếu tố của con người mới Ính đã tự động làm địch vận Ính bất chấp thành kiến, tập tục, những lời mỉa mai, đã đi cày như đàn ông Trong đấu tranh Ính khôn khéo nhưng kiên quyết, bảo vệ tiết trinh của mình một cách gắt gao Trong mọi quan hệ, Ính vẫn giữ được những nét ngây thơ, trong trắng, hồn nhiên của cô gái trẻ mới bước vào đời
Trong Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài đã xây dựng hai nhân vật chính là Mỵ
và A Phủ Con đường đi và số phận của hai thanh niên HMông này khá tiêu biểu cho vận mệnh lịch sử của nhân dân các dân tộc thiểu số miền núi trong cách mạng Đấy là con đường từ đấu tranh tự phát đến đấu tranh tự giác đấu tranh chống đế quốc phong kiến, từ trong đau khổ tăm tối vươn ra ánh sáng, dưới sự dìu dắt của cán bộ đảng Tập truyện như một bản cáo trạng chất chứa hờn căm của Tô Hoài nói riêng và đồng bào Tây Bắc nói chung đối với phong kiến miền núi và thực dân Chúng là những kẻ đã cướp phá tình yêu, tước đoạt sắc đẹp, chiếm rừng, đoạt ngô thóc, bắt trâu lợn, chặn sông suối, lùng người
để cướp giết Chúng đánh người già cả, bắt con gái làm trò chơi, tổ chức
sòng bạc, nhà thổ ở tận nơi chưa hề có… Truyện Tây Bắc là thành công xuất
sắc, khẳng định bước phát triển mới của phong cách sáng tạo Tô Hoài Ông
Trang 33miêu tả chân thực và cụ thể quá trình giác ngộ cách mạng của những người dân miền núi theo hướng đi lên, theo quy luật vận động biện chứng của cuộc đấu tranh cách mạng: Có áp bức, có đấu tranh Các dân tộc anh em đang chuyển
mình theo cách mạng Truyện Tây Bắc không chỉ có ý nghĩa như một bản cáo
trạng chất chứa hờn căm với tội ác của thực dân và phong kiến mà nó còn là một bản tình ca bao trùm cảnh và người Tây Bắc Cảnh núi rừng miền Tây hiện lên vừa hoang sơ, khắc nghiệt vừa thơ mộng trữ tình Một thiên nhiên gắn bó với đời sống con người và mang đậm màu sắc dân tộc
1.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Ở chương 1, chúng tôi đề cập đến những vấn đề lý thuyết cơ bản nhất
về từ, đặc điểm cấu tạo của từ, trường từ vựng - ngữ nghĩa, nghĩa của từ trong hoạt động giao tiếp, phong cách ngôn ngữ và phong cách ngôn ngữ tác giả Đây chính là những tiền đề cơ sở giúp chúng tôi tìm hiểu những đặc điểm về
từ ngữ trong tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài
Ngoài những cơ sở lý luận trên, những thông tin về nhà văn Tô Hoài
và tác phẩm Truyện Tây Bắc cũng là tiền đề vững chắc giúp chúng tôi phân
tích những đặc điểm về từ ngữ trong tập truyện Là một nhà văn có sự nghiệp sáng tác đồ sộ và phong phú, có vốn hiểu biết sâu sắc về cuộc sống, con người Tây Bắc, có tài năng sử dụng ngôn ngữ bậc thầy, Tô Hoài đã đóng góp vào kho tàng văn học Tây Bắc một tác phẩm mang đậm giá trị nhân văn và có sức sống lâu bền trong lòng bạn đọc
Trang 34Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC - NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ
TRONG TẬP TRUYỆN TÂY BẮC CỦA TÔ HOÀI
Từ ngữ là sản phẩm chung của xã hội, nó là kết quả của một quá trình lịch sử, văn hóa lâu dài Mỗi nhà văn, trong hành trình sáng tạo nghệ thuật đều chọn cho mình một hệ thống ngôn ngữ và tổ chức theo cách riêng để
chuyển tải nội dung tác phẩm có hiệu quả Bằng tài năng của mình Tô Hoài
đã khéo léo sử dụng vốn từ đa dạng của tiếng Việt để chuyển tải nội dung cần
diễn đạt Qua khảo sát và thống kê, chúng tôi thấy, trong tập Truyện Tây Bắc
Tô Hoài sử dụng đa dạng các lớp từ xét cả ở phương diện cấu trúc và phương diện ngữ nghĩa Tuy nhiên, do khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu đặc điểm những lớp từ nổi bật nhất xét ở phương diện cấu trúc
và phương diện ngữ nghĩa
2.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC CỦA TỪ NGỮ TRONG TẬP
TRUYỆN TÂY BẮC CỦA TÔ HOÀI
2.1.1 Đặc điểm về cấu tạo
2.1.1.1 Từ ghép
a, Thống kê, phân loại
Qua khảo sát, chúng tôi thu được kết quả sau:
Tỉ lệ
(từ ngữ) Tần số xuất hiện Số lượng Tần số
Trang 35* Từ ghép đẳng lập
- Xét về ngữ nghĩa, các từ ghép đẳng lập trong tập Truyện Tây Bắc đa
số là hai thành tố gần nghĩa hoặc lặp nghĩa, có thể kể đến một số từ ghép đẳng
lập tiêu biểu như: anh em, vợ chồng, bố con, trai gái, quần áo, gặt hái, chửi
rủa, cướp phá, mua bán, vui sướng, buồn khổ…
Ngay sáng ấy, lính đồn ập xuống nhà ông Tạo On Cả nhà hai người
con trai ông Tạo On đi lính khố đỏ đóng ở Mường La mà vợ con ở nhà, dõng
cũng ốp đi, bắt đi ngay, gánh theo những chăn rách và ninh, nồi, cùng mấy đứa trẻ gầy kheo khư, phải víu lên cột cổng mới trèo qua được bậc thang
cổng làng Cả bố con ông cháu lên đồn ngồi tù Được hai hôm, phải đem biệt tích đi đâu, từ đấy không ai còn trông thấy bố con ông Tạo On.[tr 284]
Vợ chồng A Phủ thường nghĩ đến cái nhà gỗ cho cả đời mình, đời con cháu, một cái nhà gỗ có tàu ngựạ quanh mái hiên, đằng trước đằng sau nhà
hai dãy đào Trước cửa sẽ nhặt khoảng đá sỏi dọn làm khoảng vườn to, có
ván gỗ rào quanh, đến mùa khô ráo thì trồng rau cải xanh, đậu răng ngựa Trên những tảng đá to quanh nhà, Mỵ đem váy áo ra hong nắng Gặt hái đã
xong, lại sắp tết Mấy nhà mổ chung một con lợn to, ăn thịt, uống rượu, còn
bao nhiêu mỡ thì để dành làm dầu thắp đèn quanh năm Vợ chồng thường bàn tính những chuyện tốt đẹp tưởng tưởng ra như thế [tr 317]
- Xét về từ loại, các từ ghép đẳng lập mà Tô Hoài sử dụng trong Truyện
Tây Bắc có đủ cả danh từ, động từ, tính từ
Từ ghép đẳng lập là danh từ gồm có: bố mẹ,vợ chồng, anh em, chị em,
trai gái, trâu bò, ngựa dê, ngô lúa, nhà cửa, làng xóm, rừng núi, ruộng nương, quần áo Trong đó có một số từ có tần số xuất hiện cao: vợ chồng
(21 lần), chị em (17 lần), anh em (13 lần), bố mẹ (10 lần),…Sự xuất hiện với
tần số cao của các từ ghép đẳng lập này cho thấy đối tượng mà nhà văn hướng
đến là con người trong các mối quan hệ: vợ - chồng trong Vợ chồng A Phủ, quan hệ chị - em trong Mường Giơn và mẹ - con trong Cứu đất cứu mường
Trang 36Từ ghép đẳng lập là động từ gồm có: gặt hái, cày cuốc, tìm kiếm, đuổi
bắt, cấu xé, gào thét, dòm ngó, ăn uống, chửi rủa, cướp phá, mua bán,…
trong đó có một số từ có tần số xuất hiện cao: càn quét (23 lần), cào cấu (9 lần), cướp phá (5 lần),…cho thấy sự tràn lan, nối tiếp, liên tục những hành động tội ác của giặc Pháp
Trong khi đó thì ở phía đồn Tây dưới Mường Cơi cũng nhộn nhịp
những công việc ngày mùa: ngày ngày sửa soạn rục rịch lên núi cướp phá để
triệt lương ăn của khu du kích.[tr 221]
Ở ngoài, một toán lính tuần chạy vào làng Bọn này lên càn quét trên vùng núi Mèo, đi qua, tạt vào làng, tìm người khuân vác, tìm ăn [tr 251]
Mỵ lo nhà cháy, ngô lúa hết, bây giờ lại cặm cụi cày cuốc lấy lương ăn,
như ngày mới sang đây, vất vả, khổ cực, mà chắc đâu đã được [tr 327]
Từ ghép đẳng lập là tính từ gồm có: tươi tốt, yên vui, hiền lành, to lớn,
khiếp sợ, ghê rợn,…
Một người to lớn chạy ra vung tay ném con quay to vào mặt A Sử
Con quay gỗ ngát lăng vào giữa mặt A Sử vừa kịp bưng tay lên, A Phủ đã xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp [tr
310]
Đương cơn giận trở về, lính ùa vào làng Từng xóm bị dồn lại bắt lập tức dọn về tập trung Tiếng kêu nổi lên: “Bỏ ruộng thì chúng tôi chết đói Cho chúng tôi gặt xong” Không nghe, không tha, chúng làm cho mọi người phải
khiếp sợ [tr 258]
Bân và người bạn lính đi ngất ngưởng Cả hai đều đương say rượu Mỗi lần về làng, anh nào đi cũng say khướt Bỏ ruộng bỏ làm mà đi ăn chơi,
đi cướp, làm ác, nhiều người xưa kia hiền lành bây giờ cũng hóa ra dữ Hình
như về mà tỉnh thì có phần xấu hổ, nên người ta có về làng chơi thì chỉ thấy say [tr.251]
Trang 37* Từ ghép chính phụ
- Xét về ý nghĩa: Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa,
có thể chia từ ghép chính phụ trong tập Truyện Tây Bắc thành hai tiểu loại:
- Từ ghép chính phụ biệt loại: Ðặc trưng về quan hệ trong kiểu biệt loại
này thường chỉ có một thành tố chỉ loại lớn và có một thành tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật, hoạt động, đặc trưng, cụ thể Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng phân loại Có thể kể đến một số từ xuất hiện nhiều tác
phẩm như: khăn vuông, khăn xếp, khăn xéo, vòng bạc, vòng vía, chim kỳ,
chim gõ kiến, rau má, rau cải, thuốc lá, thuốc phiện, thuốc lào, làm cơm, làm chăn, làm nhà, với việc sử dụng những từ ghép chính phụ loại biệt này, Tô
Hoài đã phản ánh sinh động cuộc sống sinh hoạt và phong tục tập quán của người dân tộc miền núi Tây Bắc
Tiếng mõ dội qua các đỉnh núi, nghe như chim kỳ kêu, chim gõ kiến
áo chẽn, bịt đầu, khăn trắng, thắt lưng màu thiên thanh [tr 323]
Bấy giờ gặt hái đã xong, thóc tốt chắc chân đã xếp bờ ruộng, ngày ngày mọi người chỉ sưởi lửa, đợ ấm trời mới đi kiếm ăn Người Dao ở Phàng
Chải thì xuống khe suối cạn hái rau má Trên lưng núi, nghe vang tiếng chuông ngựa làng Mèo ra nương thồ rau cải [tr 235]
Mỗi đợt bọn chức việc hút thuốc phiện xong, A Phủ lại phải ra quỳ
giữa nhà, lại bị người xô đến đánh [tr 310]
Trang 38- Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác dụng bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho
từ ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa Số lượng những từ này xuất hiện không nhiều trong tác phẩm chủ yếu là những
từ chỉ đặc điểm tính chất của thiên nhiên, có thể kể đến một số từ như: vàng
hoe, vàng hây, vàng ửng, vàng úa, đỏ hoe, xanh ngắt, trắng tinh, trắng xóa, đen xì,…
Buổi chiều vàng úa càng thấp xuống sát trên những mái lá chen chúc,
lụp xụp trong cái làng tập trung chật hẹp, ướt át dưới chân đồi [tr 276]
Những đêm giông bão, bà Ảng vẫn thức Mà sao bà Ảng không thấy điều gì quạnh quẽ trong lòng Bà Ảng ngồi im trong chiếc lều đảo điên giữa
cành cây trông ra những mô đá lúc đen xì lúc bóng nhoáng, nhô trên nương
[tr 228]
Hôm ấy trời trong như một bóng sáng Trông xuống thấy chảy qua
chân núi dòng suối ngọn nước trắng tinh [tr 325]
Đám mây lám đốm xám như đuôi con sóc nối nhau bay quần sát ngọn cây, thê đi mãi, bây giờ cứ loáng thoáng nhạt dần, thỉnh thoảng đứt quãng, đã
thấy lồ lộ đằng xa một bức vách đá trắng toát [tr 227]
- Về từ loại, từ ghép chính phụ trong tập Truyện Tây Bắc cũng có đủ
danh từ, động từ, tính từ Trong đó nổi bật hơn cả là danh từ Có thể kể đến
một số từ như: nương ngô, nương lúa, nương sắn, chuồng gà, mái bếp, bờ
rào, cánh đồng, bờ suối,
Trời đã tang tảng, bà kéo cái dây hạ chuồng gà trên cành xoan xuống Cho đến lúc có ánh nắng, bà Ảng mới thả gả Rồi bà dạo xem qua các dàn bí
bà sang nương sắn để xem đêm qua có rím về đào sắn không [tr 228]
Trang 39Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp đầy các nhà kho Trẻ con đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đã đốt những lều canh nương
để sưởi lửa [tr 306]
2.1.1.2 Từ láy
Xét về hình thức ngữ âm, từ láy có những kiểu láy khác nhau và việc sử dụng từ láy trong tác phẩm như thế nào để mang lại hiệu quả nghệ thuật cao không phải là điều đơn giản, dễ dàng Nó đòi hỏi sự công phu, kĩ lưỡng và cả năng khiếu nữa Kiểu láy thích hợp sẽ làm tăng hiệu quả diễn đạt và giá trị tác
phẩm được nâng cao Tiến hành phân loại 652 từ láy trong tập Truyện Tây Bắc
theo hình thức cấu tạo, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Từ láy đôi
Từ láy
ba
Từ láy
toàn giống nhau
Láy hoàn toàn giữa hai tiếng có sự biến đổi về thanh điệu
Từ láy
âm đầu
Từ láy
vần
Dựa vào kết quả thống kê, chúng tôi thấy: Trong tập Truyện Tây Bắc,
Tô Hoài chỉ sử dụng từ láy đôi Điều này cũng xuất phát từ thực tế ngôn ngữ, trong vốn từ tiếng Việt láy đôi không rườm rà, dài dòng, phạm vi biểu vật phong phú, so với kiểu láy ba và láy tư thì láy đôi phổ biến hơn Khi xét từ
láy đôi về mặt cấu tạo trong tập Truyện Tây Bắc chúng tôi xét ở hai kiểu cấu
tạo quen thuộc: láy đôi hoàn toàn và láy đôi bộ phận
a Từ láy hoàn toàn
Theo kết quả chúng tôi thống kê được có 138 từ láy đôi hoàn toàn, với
151 lần xuất hiện trong tổng số từ láy chiếm 21,1 % Xét về mặt ngữ âm, các
từ láy hoàn toàn trong tập Truyện Tây Bắc có những đặc điểm chung của quy
Trang 40luật hòa phối ngữ âm trong từ láy (lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có sự biến đổi
về thanh điệu và phụ âm cuối theo quy tắc nhất định) Hình thức này được biểu hiện cụ thể như sau:
- Từ láy có hình thức ngữ âm hoàn toàn giống nhau
Từ láy có hình thức ngữ âm hoàn toàn giống nhau trong tập Truyện Tây
Bắc là 82 đơn vị chiếm 59,4% tổng số từ láy hoàn toàn Có thể nêu ra một số
từ như: rào rào, mờ mờ, oang oang, đùng đùng, hầm hầm, xa xa, choang
choang, nhăm nhăm, đi đi, lại lại, đêm đêm, phè phè, xăm xăm, chăm chăm, đăm đăm,…
Đặc trưng của từ láy loại này là điệp toàn bộ âm tiết Trong điều kiện
ấy trọng âm trở thành nét dị biệt trong quan hệ giữa tiếng gốc và tiếng láy, đồng thời cũng tạo nên vế đối trong từ Các từ này ở trọng âm thường rơi vào tiếng thứ hai, khiến cho tiếng này được nhấn mạnh và có trường độ dài còn tiếng thứ nhất được đọc lướt nhẹ và ngắn hơn
- Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng có sự biến đổi về thanh điệu
Theo kết quả thống kê cho thấy có 56 từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng nhưng khác nhau về thanh điệu, chiếm 41,6 % tổng số từ láy hoàn toàn trong
tập Truyện Tây Bắc Nguyên nhân của hiện tượng này là do phát âm lướt nhẹ
ở tiếng đầu tiên nên xảy ra hiện tượng biến thanh theo quy luật cùng âm vực
Có thể kể ra một số từ như: mang máng, thăm thẳm, sừng sững, tang tảng,
ngờ ngợ, lanh lảnh, thoai thoải, nho nhỏ, ra rả, hây hẩy, chăm chắm,…
b Từ láy bộ phận
Trong tập Truyện Tây Bắc, từ láy bộ phận được sử dụng nhiều nhất 514
từ với 712 số lần xuất hiện chiếm 78,9 % trong tổng số từ láy Căn cứ vào sự phối hợp khác nhau của các âm tiết, có thể chia từ láy bộ phận trong tập
Truyện Tây Bắc thành hai dạng: từ láy âm đầu và từ láy vần