Ngoài ra, còn có những h-ớng nghiên cứu khác: Đỗ Lai Thuý chú trọng đến t- duy thơ độc đáo, Lại Nguyên Ân tìm hiểu khí chất miền Trung trong thơ Hàn, Phan Cự Đệ thiên về thế giới nghệ th
Trang 1Lời cảm ơn!
để hoàn thành khoá luận này, tôi đã nhận đ-ợc sự quan tâm giúp
đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, trong tổ Ngôn ngữ, đặc biệt của thầy giáo Đoàn Mạnh Tiến
Tôi cũng xin cảm ơn những ng-ời thân trong gia đình, những ng-ời bạn đã chia sẽ mọi khó khăn cho tôi
Vinh ngày 10/05/2007
Tác giả
Trang 2Mục lục
Trang
Mở đầu……… 3
1 Lí do chọn đề tài………3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu………5
3 Đối t-ợng và ph-ơng pháp nghiên cứu……….5
4 Lịch sử vấn đề……… 6
5 Đóng góp của khoá luận……… 12
6 cấu trúc khoá luận……… 12
Ch-ơng 1: Một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài………… 13
1.1 Hàn Mặc Tử - ngôi sao lạ trên thi đàn văn học dân tộc………… 13
1.2 Ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử……… 18
1.3 Giới thuyết về từ láy trong tiếng Việt……… 23
Ch-ơng 2: Từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử xét ở ba ph-ơng diện: cấu tạo, từ loại và chức năng ngữ pháp……… … 26
2 1 Từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử xét về mặt cấu tạo……… 26
2 2 Từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử xét về mặt từ loại……… 38
2 3 Từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử xét về mặt chức năng ngữ pháp 41
Ch-ơng 3: Đặc điểm và vai trò ngữ nghĩa của từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử……… 45
3.1 Vai trò ngữ nghĩa của từ láy trong tác phẩm văn ch-ơng……… 45
3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử………… 47
3.3 Hiệu quả nghệ thuật……… 50
Kết luận……… 63
Tài liệu tham khảo……… 64
Trang 3hệ ngữ âm với âm tiết gốc Từ láy có vai trò quan trọng trong hoạt động ngôn ngữ Nếu nh- từ ghép cấu tạo theo ph-ơng thức ghép, có ý nghĩa phân loại hoặc tổng hợp, thì từ láy ngoài ý nghĩa đó còn mang sắc thái biểu tr-ng hoá,
có tác động rất lớn đến đối t-ợng tiếp nhận khi giao tiếp Vì vậy, ng-ời Việt rất -a sử dụng từ láy cả trong đời sống hàng ngày và trong sáng tác văn ch-ơng
Trong sáng tác văn ch-ơng, nhất là trong lĩnh vực thơ ca, từ láy đ-ợc xem nh- một ph-ơng tiện đắc lực nhằm thể hiện những cảm xúc tinh tế và ý
đồ nghệ thuật Không phải ngẫu nhiên mà khi làm nên tác phẩm của mình, nhiều nhà văn, nhà thơ đã đ-a vào số l-ợng rất lớn từ láy Có thể kể: Nguyễn
Du, Hồ Xuân H-ơng, Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Quỳnh
Hiện nay, trong nhà tr-ờng, nhiều tác phẩm văn học sử dụng từ láy có giá trị cao về nghệ thuật, đ-ợc đ-a vào giảng dạy Thế nh-ng, trên thực tế, số l-ợng từ láy này vẫn ch-a đ-ợc nghiên cứu, tìm hiểu chu đáo Giáo viên khi thực hiện bài dạy gần nh- chỉ mới dừng lại ở việc điểm qua nó với t- cách là một biện pháp tu từ Vì vậy, qua việc nghiên cứu từ láy ở công trình này, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần khẳng định, lí giải vai trò của từ láy, giúp cho việc giảng dạy tác phẩm văn học trong nhà tr-ờng đạt hiệu quả hơn
1.2 Về thực tiễn
Hàn Mặc Tử là một trong những g-ơng mặt thơ tiêu biểu và “ lạ” của phong trào “ thơ Mới” Đến nay Hàn Mặc Tử vẫn là một hiện t-ợng thơ bí
Trang 4hiểm, có nhiều ý kiến đánh giá trái ng-ợc nhau Câu hỏi “ Hàn Mặc Tử anh là ai” vẫn ch-a có câu trả lời thích đáng
Hàn Mặc Tử đã đ-ợc quan tâm nghiên cứu từ nhiều ph-ơng diện, từ
cuộc đời đến sự nghiệp, t- t-ởng, phong cách Trong công trình Thi nhân
Việt Nam, với những nhận định sắc sảo nghiêng về cảm giác (kiểu phê bình
ấn t-ợng), tác giả Hoài Thanh và Hoài Chân đã “ nhận diện” Hàn Mặc Tử theo trình tự thời gian của các tập thơ Sau đó, Vũ Ngọc Phan có cái nhìn
khoa học hơn trong công trình Nhà văn Việt Nam hiện đại Tác giả đã đánh giá về “ thi hứng, ý thơ” , về “ những cảnh chết chóc rùng rợn” và cho rằng lời
thơ Hàn Mặc Tử nhiều khi “ rất thô” Một nhà nghiên cứu khác là Bùi Xuân
Bào khi bàn về những hình ảnh trong thơ, nhận xét: “ hấp thụ mọi tinh hoa
ngoại giới gồm bốn yếu tố: trăng, hoa, nhạc, h-ơng rồi biến luồng cảm hứng thành thơ, tận h-ởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời rồi trút vào linh hồn ng-ời ta những nguồn khoái lạc đê mê, thanh sạch” [16, 246]
Về sự ảnh h-ởng của tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử, Võ Long Tề đã dày công chứng minh rằng hành trình nghệ thuật của Hàn Mặc Tử là sự vận động biện chứng khiến nhà thơ từ một “ tín hữu công giáo làm thơ trở thành Hàn
Mặc Tử nhà thơ công giáo” [16, 377] Ng-ợc lại, Chế Lan Viên trong bài
Hàn Mặc Tử anh là ai (1987), đã hết sức phê phán những ý kiến cho rằng
“thơ Hàn Mặc Tử là tiếng nói của tôn giáo Thiên Chúa giáo”, “đừng đ-a thơ anh lên cao nh-ng cũng đừng lợi dụng Frued, lợi dụng phân tâm học hạ anh xuống một nhà thơ xác thịt” [16, 247] Ngoài ra, còn có những h-ớng nghiên cứu khác: Đỗ Lai Thuý chú trọng đến t- duy thơ độc đáo, Lại Nguyên Ân tìm hiểu khí chất miền Trung trong thơ Hàn, Phan Cự Đệ thiên về thế giới nghệ thuật, chất đạo và chất đời trong thơ Hàn Mặc Tử…
Có thể thấy thơ Hàn Mặc Tử đã làm tốn khá nhiều giấy mực trong giới văn ch-ơng, ng-ời ta đã tìm hiểu thơ ông trên nhiều góc độ của lí luận Tuy nhiên, trên góc độ ngôn ngữ, thơ Hàn Mặc Tử vẫn giành riêng một khoảng
Trang 5trống, nhất là vấn đề từ láy Tìm hiểu từ láy cũng là một cách tiếp cận khoa học để góp phần lí giải đặc điểm thơ của tác giả
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài Từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử, chúng tôi muốn thực
hiện những mục đích sau:
- Khảo sát số l-ợng từ láy đ-ợc sử dụng trong thơ Hàn Mặc Tử
- Phân tích những giá trị về nội dung và nghệ thuật mà việc sử dụng từ láy mang lại, qua đó khẳng định tài năng độc đáo của nhà thơ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài Từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử, chúng tôi xác định
những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Thống kê và phân loại từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử qua cuốn Thơ
Hàn Mặc Tử, (Vân Long biên soạn), nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin,
2006
- Khảo sát và miêu tả vốn từ láy đ-ợc sử dụng trong thơ Hàn Mặc Tử trên 3 ph-ơng diện: cấu tạo, từ loại và chức năng ngữ pháp của từ láy trong thơ
- Lí giải giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử; trong những văn bản thơ tiêu biểu, đi sâu phân tích những giá trị ngữ nghĩa cụ thể (của từ láy)
3 Đối t-ợng và ph-ơng pháp nghiên cứu
3.1 Đối t-ợng nghiên cứu
Với đề tài Từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử, chúng tôi chọn đối t-ợng nghiên cứu chính là những từ láy trong truyển tập Thơ Hàn Mặc Tử, Vân
Long tuyển chọn, nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, 2006
3.2 Ph-ơng pháp nghiên cứu
- Ph-ơng pháp thống kê, phân loại
Trang 6Năm 1931, sau khi Thực nghiệp dân báo đăng chùm thơ gồm ba bài
của Hàn Mặc Tử (Chùa hoang, Gái ở chùa, Thức khuya), Phan Bội Châu đã
phải thốt lên: “ Từ ngày về n-ớc tôi đ-ợc xem thơ quốc âm cũng khá nhiều Song ch-a bài thơ nào hay đến thế Ôi, hồng nam nhạn bắc, -ớc có một ngày
gặp gỡ, bắt tay nhau c-ời lên một tiếng ấy là thoả mãn hồn thơ đó” [11, 73],
và viết luôn ba bài hoạ vận lại với nhà thơ Đ-ờng trẻ tuổi
Năm 1936, Hàn Mặc Tử xuất bản tập Gái quê Tập thơ đ-ợc đánh giá
nh- một luồng gió mới làm xôn xao d- luận Đặc biệt sau khi lập ra tr-ờng
thơ loạn và tập Thơ điên ra đời, Hàn Mặc Tử trở thành tâm điểm của mọi sự
chú ý trong làng văn học
Trong cuốn Thi nhân việt Nam, công trình đầu tiên khám phá và đánh
giá những thành tựu của phong trào “ Thơ Mới” , Hoài Thanh đã nói về Hàn
Mặc Tử: “ Tôi đã nghe nhiều ng-ời ca tụng Hàn Mặc Tử Trong ý họ thi ca
Việt nam chỉ có Hàn Mặc Tử Bao nhiêu thơ Hàn Mặc Tử làm ra họ đều chép
và thuộc hết Nhiều bài thơ đã biến thành bài kinh và ng-ời thơ đã trở nên
thành một vị giáo chủ” (trang 196)
Xuân Diệu, trên báo Ngày nay, ra ngày 7- 8- 1938, trong bài Thơ của
ng-ời lại ra sức phủ nhận vị giáo chủ của tr-ờng thơ loạn, tác giả tập Thơ
điên, ông viết: “ Hãy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ những nhà chân
Trang 7thi sĩ) với những cảnh đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà c-ời, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: tôi điên đây! tôi điên đây - điên cũng không phải dễ làm nh- ng-ời ta t-ởng đâu Nếu không biết điên tốt hơn cứ tỉnh táo nh- th-ờng mà yên lặng sống” [12, 195].
Năm 1940, Hàn Mặc Tử qua đời, giới nghiên cứu - phê bình và công chúng yêu thơ nh- chợt bừng tỉnh, những lời ca tụng ông liên tục xuất hiện trong các bài viết của các thi hữu cùng thời Đó là bài viết của các tác giả: Bích Khê, Chế Lan Viên, Hoàng Trọng Miên, Quách Tấn, Trần Tái Phùng, Trần Thanh Địch
Hoàng Trọng Miên, một ng-ời bạn thân của nhà thơ nhận xét: “ Hoàn cảnh đặc biệt đời sống Hàn Mặc Tử đã để lại cho thi sĩ một thi nghi khác th-ờng và dành riêng cho thi văn Việt Nam Giá trị thơ Hàn Mặc Tử cũng nh- giá trị đạo giáo, gần gũi mà xa xôi với cuộc sống Song sự truyền cảm mãnh liệt của thi sĩ rung động ng-ời đọc đ-ợc sâu xa, vì Hàn Mặc Tử đã yêu th-ơng, đau khổ với tất cả những thiết tha thành thực của con ng-ời” [11, 73]
Sau khi đất n-ớc thống nhất, b-ớc vào thời kì đổi mới, những công trình nghiên cứu về Hàn Mặc Tử ngày càng nhiều, có những ý kiến đánh giá sâu sắc và toàn diện Nhà nghiên cứu Thế Phong phân tích thơ Hàn Mặc Tử trên ph-ơng diện t- t-ởng triết học: “ Phân tích cuộc đời thơ Hàn Mặc Tử không thể tách rời t- t-ởng triết học Một nhà thơ triết học phải là một nhà thơ nghệ thuật, có t- t-ởng đặc hữu” [11, 5] Đỗ Lai Thuý lại giải mã tác phẩm của Hàn Mặc Tử qua mô hình sáng tạo khá hợp lí và thuyết phục, đó là
“t- duy tôn giáo kết hợp nhuần nhuyễn với chất trữ tình trên cơ sở cái tôi cá
nhân hiện đại” [14, 226]
Nhìn chung, tất cả các vấn đề giới nghiên cứu đề cập đến là khá đa dạng Dù tìm hiểu thơ Hàn Mặc Tử trên nhiều ph-ơng diện, nhiều quan điểm khác nhau, nh-ng tất cả đều bắt gặp ở sự ngợi ca một tài năng thiên bẩm, sự cảm th-ơng một cuộc đời đặc biệt khổ đau và sự trân trọng một khát vọng sống mãnh liệt
Trang 8Những cống hiến của Hàn Mặc Tử trong phong trào “ Thơ Mới” nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung là không thể phủ nhận Chế Lan Viên đã viết: “ Mai sau, những cái tầm th-ờng mực th-ớc sẽ biến đi, và còn lại của cái thời kì này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử” [14, 213]
4.2 Lịch sử nghiên cứu từ láy trong tiếng Việt
Từ láy là kết quả của một ph-ơng thức tạo từ đặc biệt trong tiếng Việt Đây là lớp từ có vai trò quan trọng trong đời sống và văn học, cũng là lớp từ phức tạp đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Bàn về từ láy, chúng tôi tiến hành khảo sát các quan niệm của các tác giả: Nguyễn Hữu Quỳnh, Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Văn Hành, Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Đỗ Thị Kim Liên… Tuỳ theo mỗi thời kì mà mỗi tác giả có những cách nhìn nhận khác nhau
Từ tr-ớc đến nay, khái quát chung, có hai cách nhìn về từ láy sau:
- Cách nhìn thứ nhất : Coi láy là ghép: Theo h-ớng này có Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Hữu Quỳnh, Nguyễn Văn Tu
Nguyễn Tài cẩn trong cuốn Ngữ pháp Tiếng Việt cho rằng:“ Từ láy là
một loại từ ghép, trong đó theo con mắt nhìn của ng-ời Việt Nam hiện nay, các thành tố trực tiếp đ-ợc kết hợp lại với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ
âm” [2,109] ở đây, Nguyễn Tài Cẩn đã nhấn mạnh đến quan hệ ngữ âm trong từ láy, một yếu tố bản chất của lớp từ này Tuy vậy, ông cũng không
phủ nhận sự tồn tại của quan hệ ngữ pháp trong một số tr-ờng hợp nh-: đất
đai, làm lụng Ông cho rằng những yếu tố mất nghĩa không phải đã hoàn
toàn mất tác dụng về mặt ngữ pháp và giữa hai thành tố không phải đã hoàn toàn không còn có thể tìm ra đ-ợc một thứ quan hệ ngữ pháp nào nữa Thừa nhận có sự tồn tại của quan hệ ngữ pháp trong một số tr-ờng hợp, nh-ng Nguyễn Tài Cẩn vẫn nhấn mạnh: “ Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải nhìn nhận rằng đây là một kiểu láy âm, vì dầu sao cái quan hệ ngữ âm giữa các thành tố cặp là cái quan hệ nổi bật nhất, chủ chốt nhất Có khi cái quan hệ ngữ âm đó
có tác dụng mạnh đến nỗi làm cho sự liên hệ giữa tổ hợp và yếu tố có nghĩa
Trang 9nọ mờ dần, khó nhận ra đ-ợc nữa hay thậm chí không còn nhận ra đ-ợc
nữa” Dựa trên tiêu chí số l-ợng các thành tố tham gia cấu tạo từ láy, tác giả
chia làm hai loại từ láy: từ láy đôi và từ láy ba, láy t- Trong láy đôi, tác giả chia làm hai loại: láy hoàn toàn và láy bộ phận
Nguyễn Văn Tu trong công trình Từ và vốn từ Tiếng Việt hiện đại,
quan niệm: “ Trong Tiếng Việt hiện đại có những từ gồm hai từ tố có quan hệ ngữ âm th-ờng đ-ợc gọi bằng tên: từ lấp láy, từ lắp láy, từ trùng điệp, từ láy
âm hoặc từ láy Thực ra trong số những từ kiểu này, có những từ thực sự là
từ láy âm và cũng có những từ láy âm ngẫu nhiên (đất đai, tuổi tác, hỏi han) vốn là những từ thực Nh-ng hiện nay về mặt quan hệ ngữ âm, chúng ta cũng gọi chung chúng là những từ láy âm” [15, 68] Tuy thừa nhận sự tồn tại của quan hệ ngữ âm trong từ láy, nh-ng Nguyễn Văn Tu vẫn cho rằng những từ láy âm này là những từ ghép, vì thực chất chúng đ-ợc tạo ra bởi từ một từ tố với bản thân nó không bị biến âm hoặc bị biến âm Trong công trình này, Nguyễn Văn Tu cũng đã phân loại từ láy âm căn cứ vào sự giống nhau hay khác nhau của các phụ âm đầu, vần hay thanh điệu để chia từ láy âm thành hai loại lớn: từ láy âm hoàn toàn và từ láy âm bộ phận Tác giả cũng đề cập tới nghĩa của từ láy âm, theo Nguyễn Văn Tu từ láy âm có ba kiểu nghĩa: nghĩa tổng hợp, nghĩa tổng hợp sắc thái tình cảm và nghĩa chuyên môn hoá
- Cách nhìn thứ hai, coi láy là sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu tr-ng hoá
Cách nhìn của các tác giả ở h-ớng ý kiến thứ nhất mới chỉ xem xét về mặt hình thức, nghĩa là chỉ chú ý đến hình thức mà ch-a chú ý đến mặt nghĩa của từ láy Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu khác nh-: Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành, Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Đỗ Thị Kim Liên đã đi theo h-ớng ý kiến thứ hai Cách nhìn này khắc phục đ-ợc nh-ợc điểm của cách nhìn thứ nhất, đó là sự xem xét từ láy trong cơ trình cấu tạo, vừa xem xét nó trong sự hành chức với t- cách là một loại tín hiệu đặc thù của ngôn ngữ
Đỗ Hữu Châu cho rằng: “ Từ láy là những từ đ-ợc cấu tạo theo ph-ơng thức láy, đó là ph-ơng thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm
Trang 10tiết của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [3, 41] Dựa vào số lần tác động của ph-ơng thức láy, ông chia ra láy đôi và láy ba, láy t- Để phân chia từ láy đôi, tác giả dựa vào cái đ-ợc giữ lại trong âm tiết của hình vị cơ sở làm tiêu chí, kết quả là có hai loại từ láy toàn bộ và từ láy bộ phận
Đỗ Thị Kim Liên cho rằng: “ Từ láy là những từ đ-ợc cấu tạo dựa trên ph-ơng thức láy ngữ âm, ví dụ: mấp mô, lấp lánh, chập chờn, chon von” [7, 32] Tác giả phân loại từ láy dựa trên các tiêu chí sau:
Dựa vào số l-ợng âm tiết có thể chia ra từ láy đôi, từ láy ba và láy t- Căn cứ vào bộ phận đ-ợc láy, có thể chia ra: từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận (gồm láy vần và láy phụ âm đầu)
Căn cứ vào tính chất mô phỏng hay không mô phỏng (biểu tr-ng) có thể chia ra: từ t-ợng thanh, từ t-ợng hình và từ láy biểu tr-ng
Cũng nh- các tác giả khác, Đỗ Thị Kim Liên đã đề cập đến vai trò ngữ nghĩa của từ láy Tác giả viết: nghĩa của từ láy khá phong phú, đa dạng, nhiều vẻ, có giá trị biểu cảm cao, nó th-ờng đ-ợc sử dụng trong văn bản nghệ thuật để tạo ra hình ảnh, hình t-ợng riêng
Hoàng Văn Hành là một trong những ng-ời dày công nghiên cứu về
từ láy Trong cuốn sách Từ láy trong tiếng Việt, tác giả xem xét láy nh- một
cơ chế, tức là xem xét láy với t- cách là một biện pháp cấu tạo từ theo những quy tắc nhất định, từ đó tìm ra đặc điểm riêng về cấu trúc và ngữ nghĩa của
từ láy Tác giả viết: “ Khi thừa nhận láy là sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu tr-ng hoá thì cũng có nghĩa là chúng ta đã coi láy nh- một cơ chế Quá trình cấu tạo từ láy không chỉ cốt làm cho trong cấu trúc của từ có một thứ quan
hệ ngữ âm ở trạng thái tĩnh, giản đơn mà phải thấy đó là một cơ trình sống
động và phức tạp” [5, 25] Qua khảo sát tác giả khẳng định: Cơ trình cấu tạo
từ láy của tiếng Việt chịu sự chi phối của xu h-ớng hoà phối ngữ âm Xu h-ớng này đ-ợc biểu biểu hiện ở quy tắc điệp và quy tắc đối Điệp là sự lặp lại, sự đồng nhất về âm, về nghĩa; còn đối là sự sai khác, sự dị biệt Đồng nhất và dị biệt có quy tắc chứ không phải là tuỳ tiện, là ngẫu nhiên Sự tác
Trang 11động của quy tăc điệp và quy tắc đối trong quá trình cấu tạo từ láy những tác
động có quan hệ chi phối và những ràng buộc lẫn nhau Khi phân loại từ láy tác giả tiến hành theo 3 b-ớc B-ớc thứ nhất là lấy số bậc trong quá trình cấu tạo từ láy làm tiêu chí Kết quả có từ láy bậc một và từ láy bậc hai B-ớc hai, lấy “ mức độ tác động của cơ chế láy vào từ gốc” hay “ mức độ điệp trong quan hệ giữa các tiếng trong từ láy” làm tiêu chí Kết quả có từ láy hoàn toàn
và từ láy bộ phận B-ớc ba, lấy “ tính chất điệp đối hoặc khuôn vần” làm tiêu chí Kết quả có 4 kiểu từ láy: từ láy hoàn toàn điệp vần, từ láy hoàn toàn đối vần, từ láy bộ phận điệp vần, từ láy bộ phận đối vần Cũng nh- các nhà nghiên cứu khác, Hoàng Văn Hành thừa nhận: “ Từ láy là ph-ơng tiện có tác dụng trong phong cách nghệ thuật, đặc biệt là trong thơ ca’’ [5, 40]
Nh- vậy, từ láy là kết quả của một ph-ơng thức tạo từ đặc biệt, nó làm phong phú và đa dạng vốn từ vựng tiếng Việt, nó có giá trị biểu cảm cao Tuy nhiên, từ láy cũng là một hiện t-ợng hết sức phức tạp với nhiều h-ớng ý kiến tranh luận khác nhau
4.3 Lịch sử nghiên cứu từ láy trong tác phẩm văn học
So với từ ghép, từ láy là những từ có giá trị gợi tả, giá trị biểu cảm, và giá trị phong cách Vì vậy từ láy đ-ợc xem là một công cụ đắc lực trong sáng tác nghệ thuật, nhất là trong văn học Hầu nh- nhà thơ, nhà văn nào cũng sử dụng từ láy trong tác phẩm của mình, xem đó là một biện pháp nghệ thuật để tác động sâu sắc đến ng-ời nghe, ng-ời đọc Những tác giả có tên tuổi th-ờng là những cây bút biết -u tiên cho việc sử dụng từ láy trong tác phẩm một cách sinh động và linh hoạt, tạo nên một phong cách riêng của chính họ Vì thế đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về từ láy trong tác phẩm văn học Có
thể kể: Thi pháp truyện Kiều (Trần Đình Sử), Từ láy trong thể ngâm khúc (Lê Thị Hà, Khoá luận tốt nghiệp đại học), Từ láy trong truyện ngắn Võ Thị Hảo (Nguyễn Thị Hải Yến, Khoá luận tốt nghiệp đại học), Từ láy trong thơ Xuân
Diệu và thơ Chế Lan Viên (Đặng Thị Lan, luận án thạc sĩ ngữ văn)
Trang 12Với Hàn Mặc Tử, nhiều nhà nghiên cứu đã phát hiện ra nét độc đáo về t- duy triết học, t- t-ởng tôn giáo, các hình t-ợng đ-ợc xây dựng trong thơ, nh-ng ch-a có sự quan tâm nhiều đến vấn đề từ láy - một ph-ơng tiện biểu
đạt rất hiệu quả trong hoạt động ngôn ngữ Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Từ
láy trong thơ Hàn Mặc Tử làm nội dung nghiên cứu cho khoá luận của mình,
mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử nói chung, từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử nói riêng
5 Đóng góp của khoá luận
- Tiến hành khảo sát số l-ợng sử dụng từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử; phân loại từ láy dựa trên 3 ph-ơng diện: cấu tạo, từ loại và chức năng ngữ pháp
- phân tích giá trị ngữ nghĩa và giá trị nghệ thuật của việc sử dụng từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử
- B-ớc đầu mở ra một h-ớng nghiên cứu khá mới mẻ về tác giả Hàn Mặc Tử, đó là nghiên cứu trên ph-ơng diện ngôn ngữ, từ đó khẳng định phong cách độc đáo của nhà thơ
6 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và trích dẫn, khoá luận gồm có 3 ch-ơng chính:
Ch-ơng 1: Một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài
Ch-ơng 2: Từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử xét trên 3 ph-ơng diện: Cấu tạo, từ loại và chức năng ngữ pháp
Ch-ơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử
Trang 13Ch-ơng 1 Một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Hàn Mặc Tử - ngôi sao lạ trên thi đàn văn học dân tộc
1.1.1 Cuộc đời
Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22/ 9/ 1912, tại một làng nhỏ ven biển Đồng Hới - Quảng Bình Sinh ra trong một gia đình ngoan đạo và có nề nếp, Hàn Mặc Tử đ-ợc lớn lên trong tình yêu th-ơng,
đùm bọc của mẹ (Nguyễn Thị Duy- một ng-ời đàn bà xứ Huế hiền lành, trung hậu), của bố (chủ sự th-ơng chánh Nguyễn Văn Toản) cùng ba anh em ruột
Tuổi thơ Hàn Mặc Tử gắn bó với hai yếu tố thiên nhiên: trời và biển; núi cao và sông rộng - “ Sông Nhật Lệ, núi Đâu Mâu cao ngất chọc trời.”
Sau khi ng-ời cha yêu quý qua đời vì bệnh nặng, gia đình Hàn Mặc Tử chuyển vào Quy Nhơn, học ở đây ba năm và làm thơ lấy bút hiệu là Phong Trần
Năm 1932 - 1933, Hàn Mặc Tử vào làm ở sở Đạc Điền Quy Nhơn Mùa thu năm 1935, Hàn Mặc Tử thôi việc ở đó, và cũng do thất vọng
về mối tình đầu với Hoàng Cúc, anh vào Sài Gòn làm báo theo lời mời của một chủ bút Cuộc đời làm báo của Hàn Mặc Tử cũng chẳng sung s-ớng gì
“Một căn gác tồi tàn bẩn thỉu, đêm đêm hút thuốc phiện với me Tây, rồi khi
có hứng cảm làm thơ, qua ánh sáng ngọn đèn từ gốc me ngoài đ-ờng dọi vào” [11, 9] Trong thời gian này, Hàn Mặc Tử gặp gỡ với rất nhiều bạn thơ,
đổi bút danh là “ Lệ Thanh” rồi “ Hàn Mặc Tử”
Năm 1936, Hàn Mặc Tử gặp Mộng Cầm (tình cảm giữa họ càng thắm thiết) Hàn Mặc Tử đã đi du lịch Huế, Quy Nhơn, Đà Lạt, rồi định đi Sài Gòn thì biết mình mắc bệnh hủi Đến cuối năm bệnh càng nặng thêm, ông đành chia tay Mộng Cầm về Quy Nhơn trị bệnh Bản thân nhà thơ lúc này hết sức
đau khổ về thể xác và tinh thần Vì không muốn cho gia đình phải suy nghĩ
Trang 14về mình, ông đến ở Gò Bồi, một nơi hẻo lánh cách Quy Nhơn 15km Ông thuê nhà sống ở đây, không những tuyệt giao với gia đình mà còn tuyệt giao với cả bè bạn Tuy chịu sự giày xé của bệnh tật nh-ng Hàn Mặc Tử vẫn luôn nhen nhóm trong mình một hi vọng đ-ợc cứu chữa
Năm 1939, Hàn Mặc Tử dọn về ở với mẹ ở Quy Nhơn Ông viết th- cho bạn tâm sự: “ Trí về nhà, ngó ra đ-ờng, thấy trời tốt đẹp quá, mà sao lòng Trí lại không háo hức chút nào cả Địch ơi, mấy năm đau khổ, không ngờ
lòng Trí lại khô héo đến thế.” [11, 12]
Một thời gian sau, Hàn Mặc Tử lại thay đổi chỗ ở, đó là một “ cái nhà không đ-ợc kín đáo, có một mái nắng dọi nhiều quá, từ tr-a đến chiều in lên cả mặt gi-ờng không sao nằm đ-ợc chạy trời cũng không khỏi nắng” [11, 13] Sau đó, bệnh tình càng nặng thêm, tiền thuốc không có, Hàn Mặc Tử phải vào sống ở nhà th-ơng Quy Hoà
Suốt sáu năm cuối đời, Hàn Mặc Tử sống trong sự đau đớn hành hạ về thể xác, sự mâu thuẫn vò xé về tinh thần Mộng Cầm đã đi lấy chồng, dù Mai
Đình đến thăm nh-ng ông lánh mặt, Th-ơng Th-ơng cũng chỉ là cái bóng mơ hồ Hẫng hụt trong cảm giác bị ng-ời tình rũ bỏ, cộng với nỗi mặc cảm
về bệnh tật và nỗi cô đơn đến tột cùng, Hàn Mặc Tử gần nh- rơi vào trạng thái cuồng loạn Nh-ng khi biết mình sắp b-ớc vào cõi vô biên, chàng trở nên bình tĩnh, gác hẳn chuyện văn ch-ơng, sắp xếp hết mọi vấn đề và xem
đó là: “ Ng-ỡng cửa phải b-ớc qua để đi đến cõi vĩnh viễn”
Ngày 11-11-1940, ng-ời bệnh tên Nguyễn Trọng Trí, số thứ tự 1134 trong sổ ghi danh sách bệnh nhân của bệnh viện phong Quy Hoà, nhập viện ch-a tròn hai tháng đã trút hơi thở cuối cùng, khép lại một cuộc đời đau th-ơng, cô độc Phút ra đi của nhà thơ nh- chiếc lá rụng giữa đại ngàn, không ai hay ai biết, chỉ có tiếng cầu kinh của những ng-ời đồng bệnh
1.1.2 Những nét chính về sự nghiệp
Hàn Mặc Tử là một tài năng thiên bẩm về thơ Ông là ng-ời đã tích hợp đ-ợc nét cổ kính của Đ-ờng thi, những tinh hoa của văn mạch truyền
Trang 15thống và vẻ đẹp lộng lẫy kiêu sa của thơ lãng mạn, thơ t-ợng tr-ng pháp thế
kỉ XIX
Hàn Mặc Tử bắt đầu làm thơ và x-ớng hoạ với anh trai mình từ năm
15 tuổi Những bài thơ đầu tay của ông là thơ Đ-ờng luật, lấy bút danh Minh
Duệ Thị Với sự dìu dắt tận tình của anh trai Nguyễn Bá Nhân và tài năng
vốn có, Hàn Mặc Tử b-ớc vào làng thơ một cách vững vàng, tr-ớc sự ngỡ ngàng, kinh ngạc của nhiều ng-ời
Chẳng bao lâu, thân mẫu cho ông ra Huế theo học tr-ờng thầy dòng Pellerin Thêm một dịp, cảnh thiên nhiên yên bình của sông H-ơng núi Ngự
đã ảnh h-ởng tới tâm trí nhà thơ Ngoài giờ học, Hàn Mặc Tử dành thời gian thăm thú mọi nơi, mở lòng với chốn n-ớc non yên ả và quyến rũ Một tâm hồn nhạy cảm, say s-a với cuộc sống bắt gặp chốn sơn thuỷ hữu tình nh- một mối duyên tiền định Chính phong cảnh và con ng-ời xứ Huế đã có rất nhiều ảnh h-ởng đối với thơ Hàn Mặc Tử sau này
Năm 1931, với bút hiệu Phong Trần, Hàn Mặc Tử làm thơ đăng trên
các báo: Thực nghiệp dân báo, Phụ nữ tân văn, Lời thăm, Tiếng dân Với
một phong vị thơ Đ-ờng luật đạt đến trình độ mỹ học cổ điển, với thuật làm xiếc ngôn từ và một thứ ánh sáng khác lạ, Hàn Mặc Tử đã làm xôn xao làng thơ, mọi ng-ời hồi hộp chờ đợi, tò mò tìm hiểu
Cuối năm 1936, Hàn Mặc Tử bắt đầu phát hiện ra bệnh, ông thôi làm việc Nhà thơ đã gặp Yến Lan, Hoàng Diệp, Nguyễn Viết Lãm, Nguyễn
Minh Vĩ, Chế Lan viên, ra tập Nắng xuân và lập Tr-ờng thơ loạn, tuyên ngôn là tựa Điêu tàn Từ đó, các tập thơ: Gái quê, Thơ điên… lần l-ợt ra đời Tiếng tăm của vị chúa tr-ờng thơ loạn, con rồng trong nhóm Tứ linh ngày
càng bay xa
Thơ của Hàn Mặc Tử có sáu tập, ngoài ra còn hai vở kịch (kịch thơ)
Duyên kỳ ngộ, Quần tiên hội, một tập thơ văn xuôi: Chơi giữa mùa trăng
cùng với trên d-ới 24 bài thơ ch-a in vào tập
Lệ Thanh thi tập là tập thơ với phần lớn là những bài thơ Đ-ờng luật,
đ-ợc sáng tác trong thời gian Hàn Mặc Tử học ở Huế Thơ Hàn giai đoạn
Trang 16này chủ yếu nghiêng về tức cảnh, ngâm vịnh (Hoa cúc, hồn cúc, trồng hoa
cúc ) Tập thơ đã đạt đến trình độ mỹ học cổ điển với những câu:
“ Khóc dùm thân thế hoa rơi lệ Buồn giúp công danh dế dạo đàn”
(Thức khuya)
Tuy nhiên, cái khuôn khổ bó buộc của thơ Đ-ờng có lẽ không tiện cho sự nảy nở một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng nh- nguồn thơ Hàn Mặc Tử
Gái quê 1936) là tập thơ đầu tiên khẳng định thiên tài thơ ca Hàn
Mặc Tử trong địa hạt “ thơ Mới” Tập thơ thiên về miêu tả những mối tình quê trong cảnh quê cái tình quê trong Hàn Mặc Tử không quê mùa, chân chất nh- Nguyễn Bính, mà “ nồng nàn, lả lơi, rạo rực, đầy hình ảnh khêu gợi.” (Hoài Thanh) Tuy nhiên lời thơ còn có phần dễ dàng, tứ thơ bình dị
Trong Gái quê, Hàn Mặc Tử đã xác định cho mình một thế giới thơ trong
trẻo, thanh khiết và gần gũi với những v-ờn cau, vạt d-a, v-ờn cam, bóng trăng, h-ơng gió
Thơ điên, Xuân nh- ý, Th-ợng thanh khí là những tập thơ Hàn Mặc Tử
viết trong thời gian vật vã cùng bệnh tật, với tất cả rung động của cảm xúc yêu đ-ơng, đau khổ, vui buồn, hờn giận Chính những điều này đã tăng thêm
vẻ kỳ lạ cho t- duy nghệ thuật của thơ Hàn Hàn Mặc Tử đã xác định cho mình một thế giới nghệ thuật dị biệt, những hình t-ợng độc đáo, những cảm giác siêu thực và lời thơ thấm đẫm cảm xúc Trong những tập thơ này, trăng - hồn - máu là những hình ảnh liên tục xuất hiện, gây ám ảnh đối với độc giả
Duyên kỳ ngộ và Quần tiên hội là hai giấc mơ tình ái ngắn ngủi của
những xinh t-ơi đ-ợc đặt vào một khung cảnh tuyệt diệu, nơi có chim hót, suối reo, tiêu ngân và tình nhân là nàng Th-ơng Th-ơng kiều diễm Có lẽ
đây là tập thơ trong sáng, lời thơ trong trẻo hơn cả
Hàn Mặc Tử đ-ợc xem là tiếng thơ độc đáo nhất trong làng “ thơ Mới” Hành trình thơ của chàng thi sĩ họ Hàn bắt nguồn từ những bài thơ
Đ-ờng luật cổ kính nh-ng lại mê hoặc ng-ời đọc ở những bài thơ lãng mạn,
Trang 17siêu thực Có thể tổng kết cuộc hành trình ấy qua ý kiến nhận xét của Mã Giang Lân: “ Thơ Hàn Mặc Tử khởi đầu là Đ-ờng luật ph-ơng Đông tiến nhanh đến thơ hiện đại Ph-ơng Tây Thơ Hàn khởi đầu là cảm hứng hiện thực, v-ơn sang lãng mạn Thơ khởi đầu là nỗi niềm non sông đất n-ớc, v-ờn t-ợc, đồi quê, dân dã, rồi h-ớng tới chúa Jêsu, trời Đao ly, Đâu Suất, ba ngàn thế giới Và quan trạng vinh quy với bút xuân thu Cuối cùng là Th-ợng đế, cung quế, Quảng Hàn với những tiên nữ cõi đào nguyên Thơ Hàn khởi đầu
là hình ảnh hoài nịêm dân gian, ngôn ngữ bình dị rồi bùng nở trong sắc màu hiện đại” [6, 327]
1.1.3 Thơ Hàn Mặc Tử trong thơ ca Việt Nam hiện đại
Phong trào “ Thơ mới” (1932-1945) đã làm nên cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam hiện đại Thế Lữ đ-ợc xem là ng-ời đặt viên gạch đầu tiên
để Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử… xây nên toà “ lâu đài” lộng lẫy Nếu Nguyễn Bính góp một chút quê, Xuân Diệu góp một chút Tây thì Hàn Mặc Tử góp vào một lối t- duy độc đáo Nh- một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời thơ Việt Nam, Hàn Mặc Tử đã làm cho những ng-ời yêu thơ đến tới mãi
hôm nay vẫn ngỡ ngàng tự hỏi “ Hàn Mặc Tử, anh là ai?”
Sẽ không có một định nghĩa thật trọn vẹn dành cho Hàn Mặc Tử Ch-a
ai sống một cuộc đời khổ sở, thiếu thốn, cô đơn nh- ông, ch-a ai yêu và đau
đớn nh- ông và cũng ch-a ai có đ-ợc những vần thơ “ r-ớm máu” nh- ông
Là một nhà thơ lãng mạn, thơ Hàn Mặc Tử có những bài “ nhẹ nhàng, gợi cảm nh- thơ Thúc Tề, chân thật nh- thơ Nguyễn Bính” , nh-ng lại khác ở tình cảm“ nồng nàn, lả lơi, rạo rực” , ở “ hình ảnh khơi gợi” Thơ Hàn Mặc Tử không gọi là thơ truyền cảm mà là thơ gợi cảm, vừa kín đáo lại vừa lộ liễu Hàn Mặc Tử không trực tiếp miêu tả cảm xúc, không trần thuật, mà dùng tín hiệu ngôn ngữ để ng-ời đọc tự tìm thấy thứ cảm xúc tột cùng đang nằm trong con chữ của mình Mọi ng-ời tự thức dậy bản năng, khát vọng, rung
động của trái tim chứ nhà thơ không hề áp đặt:
Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Trang 18Hoa lá ngây tình không muốn đợi
Ngôn ngữ thơ tr-ớc hết là ngôn ngữ văn học, tức là “ ngôn ngữ mang tính nghệ thuật đ-ợc dùng trong văn học Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ có tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và biểu cảm” [10, 215]
Do những tính chất đặc tr-ng của thơ nên ngôn ngữ thơ cũng là một dạng ngôn ngữ đặc biệt, biểu hiện trên ba ph-ơng tiện: ngữ âm, từ vựng, ngữ
Nếu nh- văn xuôi, lặp từ là hiện t-ợng hi hữu, thì trong thơ, lặp trở thành một thủ pháp nghệ thuật phổ biến Những từ đ-ợc lặp lại không hề gây
ra sự nhàm chán mà xoáy sâu vào lòng ng-ời đọc, nhấn mạnh niềm vui, nỗi
Trang 19buồn của chủ thể trữ tình, tạo cảm giác d- âm cho ng-ời tiếp nhận Tính nhạc trong thơ hầu hết là nhờ những biện pháp tu từ nh- điệp, đối, láy, lặp
Vần và nhịp cũng góp phần quan trọng tạo nên nhạc tính cho ngôn ngữ thơ ca Thơ tr-ớc hết phải có vần và nhịp (quan niệm truyền thống) Tuy mỗi thể thơ có một cách gieo vần, ngắt nhịp khác nhau, nh-ng nhìn chung chúng đều làm cho câu thơ cân đối, hài hoà, tạo nên sự liên kết giữa các dòng thơ Câu thơ có gieo vần đọc lên trôi chảy, dễ nghe, dễ đi vào lòng ng-ời “ Câu thơ và vần có một cái duyên mà thậm chí khi lời, ý dở, nhà thơ vẫn có thể quyến rũ ng-ời nghe bằng nhịp điệu và sự cân đối” [1, 133]
Chính tính nhạc của ngôn ngữ thơ đã đ-a thơ xích gần với âm nhạc, tạo nên sự luyến láy trầm bổng khi lời thơ cất lên Tính nhạc không những tạo nên sự liên kết giữa các câu thơ, dòng thơ mà còn làm cho bài thơ trở thành một thể liên hoàn, thống nhất
1.2.1.2 Về mặt ngữ nghĩa
Khi bàn về thơ, trong một bức th- gửi Nguyên Chẩn, Bạch C- Dị có viết: Cái cảm hoá đ-ợc lòng ng-ời chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi tr-ớc đ-ợc ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Với thơ, gốc là tình cảm, mầm, lá, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa Vì vậy, trong thơ mỗi từ đ-ợc sử dụng là một sự lựa chọn khắt khe Khác với ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ đời th-ờng, trong thơ, mỗi từ ngữ khi đ-a vào sử dụng đều hoạt động rất linh hoạt và đa dạng về ý nghĩa Nó có thể tự mình tạo thêm những ý nghĩa mới ngoài ý nghĩa biểu niệm thông th-ờng
Cũng là tác phẩm văn ch-ơng, nh-ng văn xuôi không bị giới hạn về số l-ợng câu chữ, ng-ời cầm bút có thể sử dụng hết các từ ngữ trong vốn từ của mình để diễn đạt mục đích nói Ng-ợc lại, thơ luôn phải gò mình vào khuôn khổ, tr-ớc hết là số l-ợng từ ngữ Vì vậy, để thể hiện đ-ợc cái “ tôi” cũng nh- truyền cảm xúc đến ng-ời đọc, nhà thơ phải có sự lựa chọn công phu, sử dụng từ sao cho đắt nhất, đắc địa nhất Maia côpxki đã nói: “ Quá trình sáng
Trang 20tạo ngôn ngữ thơ ca cũng giống nh- những ng-ời lọc quặng, lọc ra cái tinh chất Thơ là cái tinh hoa tối cao của ngôn ngữ, là cái ánh ngời phi th-ờng của nó” Từ ngữ trong thơ th-ờng đ-ợc chọn lọc theo trục dọc, tức là liên t-ởng và thay thế Trong rất nhiều những từ cùng tr-ờng, cùng nghĩa, nhà thơ phải có sự dày công suy nghĩ để tìm ra một từ phù hợp nhất, đắt giá nhất Nhiều khi một từ làm toả sáng cả bài thơ, thâu tóm toàn bộ cái hồn của bài thơ, ng-ời ta gọi đó là “ nhãn tự”
Thực tế nghiên cứu cho thấy, có nhiều từ ngữ khi đi vào thơ, ngoài nghĩa đen, nghĩa ban đầu của nó thì sẽ xuất hiện thêm nghĩa mới, tinh tế, đa dạng và hấp dẫn hơn Đó là nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ hay còn gọi là nghĩa biểu tr-ng của ngôn ngữ thơ ca Quá trình chuyển nghĩa này diễn ra đa dạng
và phức tạp Tuỳ theo mỗi ng-ời, mỗi thời đại sẽ có cách cảm nhận riêng Thơ không phải là một khối chữ nhà thơ sinh ra và trao tặng nguyên vẹn cho công chúng Trong quá trình tiếp nhận, sẽ có những sự thay đổi so với ý nghĩa ban đầu, ng-ời ta gọi đó là hiện t-ợng đồng sáng tạo Thơ đến với độc giả không chỉ bằng tai, bằng mắt mà còn bằng cảm xúc, bằng trí t-ởng t-ợng Tiếp nhận thơ ca (tác phẩm nói chung) là một quá trình mở, trên cùng một văn bản thơ, sẽ có nhiều cách khám phá và cảm nhận khác nhau, nó không chi phối bởi dự định ban đầu của ng-ời sáng tác Có khi ý nghĩa của
nó qua cảm nhận của độc giả v-ợt thoát ngoài ý nghĩa trên văn bản thơ, khi
đó ngôn ngữ thơ “ là ngôn ngữ đồng thời là sự phủ nhận ngôn ngữ Đó là cái v-ợt ra ngoài giới hạn” (Ôcxta viốt Pat) Có đ-ợc điều này là do cách sử dụng
từ ngữ đặc biệt, gắn với sự đa nghĩa, chuyển nghĩa
Thơ ca là “ ý tại ngôn ngoại” , là dồn nén chữ nghĩa Mỗi từ ngữ đ-ợc
sử dụng trong thơ là một viên ngọc, nó không bị hao mòn mà ngày càng toả sáng ý nghĩa ban đầu chỉ là cái gốc, còn sự cảm nhận là vô bờ bến Khoảng không ngữ nghĩa của ngôn ngữ thơ ca là vô tận, vì vậy muốn thành công khi
đi vào địa hạt này, mỗi ng-ời phải có trí t-ởng t-ợng phong phú, tình cảm
Trang 21dồi dào và kinh nghiệm sống dày dặn để có thể thâm nhập đ-ợc những tầng sâu ngữ nghĩa của tác phẩm
1.2.1.3 Về mặt ngữ pháp
Khi đi vào nghiên cứu cấu trúc ngữ pháp của một ngôn ngữ, ng-ời ta không thể dựa vào thơ ca, vì nh- có ng-ời đã nhận xét: “ thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản” Vậy nh-ng, sự tổ chức ngôn ngữ không theo
đúng khuôn mẫu ngữ pháp này trong thơ ca không hề bị phê phán mà nó
đ-ợc xem là một đặc tr-ng, một ph-ơng tiện nghệ thuật đắc lực có tác động sâu sắc đến ng-ời đọc Cách tổ chức ngôn ngữ quái đản ấy thể hiện ở mối quan hệ giữa các câu thơ và dòng thơ Trong thơ, ranh giới giữa các câu và dòng t-ơng đối mờ nhạt, ít có sự trùng khít Một dòng thơ ch-a hẳn đã là một câu và ng-ợc lại Có khi một dòng chứa nhiều câu, cũng có khi một dòng chỉ là một vế câu Nếu nh- văn xuôi chú trọng vào câu thì trong thơ, câu thơ ch-a hẳn đã quan trọng, ng-ời ta th-ờng chú trọng đến dòng thơ Trong thơ th-ờng xuất hiện hiện t-ợng vắt dòng (thơ hiện đại)
Trong cấu trúc của một câu thơ cũng hết sức phức tạp Các thành phần ngữ pháp trong câu thơ th-ờng không đ-ợc sắp xếp theo một trật tự bình th-ờng Rất nhiều câu thơ không có chủ ngữ, hiện t-ợng đảo ngữ xuất hiện khá lớn Cách cấu trúc này rất khác với cấu trúc của câu văn xuôi Tuy nhiên khi phân tích thơ, ng-ời ta không hoàn toàn dựa vào cấu trúc chuẩn ngữ pháp
để hiểu, những hiện t-ợng cấu trúc đặc biệt này đ-ợc xem nh- là một thủ pháp nghệ thuật, làm cho sự tác động đối với ng-ời nghe sâu sắc hơn
Xét trên mặt hình thức, các dòng thơ, các vế câu, các ý nhiều khi không ăn khớp vào nhau, không có tính liên kết chặt chẽ, nhiều khi ng-ời ta cảm thấy phi lí Tuy nhiên, khi đọc toàn bộ tác phẩm, ng-ời đọc vẫn nhận ra mạch ngầm liên kết giữa chúng Bởi thế không phải là miêu tả, là t-ờng thuật
mà nó là cảm xúc của tâm hồn Cảm xúc không bao giờ tuân theo một lôgic nào cả Không nên dựa vào lí trí cứng nhắc để hiểu thơ, thơ phải là sự giao cảm của tâm hồn, tự tâm hồn sẽ thấu hiểu
Trang 22Nh- vậy ngôn ngữ thơ là một thứ ngôn ngữ rất đặc thù Nó không chỉ thể hiện tài năng của ng-ời sáng tạo mà còn là nơi khơi mầm trí t-ởng phong phú của ng-ời đọc Ngôn ngữ thơ thể hiện cảm xúc tinh tế, sâu kín của tâm hồn không chỉ thông qua cách xây dựng từ ngữ có chọn lọc mà còn qua cách kết hợp giữa chúng, tạo nên những ý nghĩa bất ngờ ngoài văn bản
từ sự đau đớn, cuồng loạn Đó là thứ ngôn ngữ không gọt giũa, không chuẩn
bị tr-ớc Nữ sĩ Xuân Quỳnh đã từng nói, “ đừng lo đi tìm ngôn ngữ, cảm xúc
sẽ tự lựa chọn đ-ợc ngôn ngữ của mình” Với Hàn Mặc Tử điều ấy càng
đúng Hàn Mặc Tử đã không có ý định viết để trở thành nhà thơ mà viết để giải thoát Quằn quại trong niềm đau thể xác và tâm hồn, Hàn Mặc Tử đã viết nên những bài thơ làm kinh động lòng ng-ời, câu chữ ma quái đến kì lạ
Có thể vì bị nỗi đau bệnh tật giằng xé mà trong thơ Hàn Mặc Tử xuất hiện rất nhiều động từ mạnh và tính từ chỉ cảm giác Những động từ mạnh nh-: trào, vọt, cắn, gào thét, khạc, rú… đ-ợc Hàn Mặc Tử sử dụng rất nhiều, bên cạnh đó là những tính từ nh-: ngất ngả, choáng váng, hoi hóp, nức nở… cho ta liên t-ởng đến một con ng-ời đang vật vã giữa đau th-ơng tột cùng
Xét trên ph-ơng diện ngôn ngữ, thơ Hàn Mặc Tử có sự kết hợp từ ngữ hết sức lạ lùng Trong một câu, rất ngạc nhiên, khi ta bắt gặp những kiểu kết hợp nh-: trăng nằm sóng soãi, uống trăng, trăng tự tử… Nếu những kết hợp
ấy đ-a ra khỏi bài thơ thì đó là một sự phi lôgic ngữ nghĩa Nh-ng với thơ
Trang 23Hàn Mặc Tử, tất cả đều có lí lẽ riêng của nó, tất cả đều có thể hiểu đ-ợc nếu
ta biết đi sâu vào thế giới bí ẩn của ông, một tâm hồn cô đơn, khổ đau và
điên loạn
Thơ Hàn Mặc Tử sử dụng rất nhiều thủ pháp nh- ẩn dụ, so sánh, nhân hoá Đây là những thủ pháp nhằm tăng sức biểu cảm cho thơ, làm cho câu thơ đa tầng, đa nghĩa, kích thích trí t-ởng t-ợng và đồng sáng tạo ở ng-ời
đọc Đồng thời, nhà thơ cũng sử dụng nhiều loại câu hỏi, câu cảm thán và câu cầu khiến Đây là những loại câu thể hiện trực tiếp tâm trạng, cảm xúc của ng-ời viết, làm cho hình t-ợng nhân vật trữ tình xuất hiện trực tiếp, nh-
đang đối diện tr-ớc mặt độc giả Nhiều câu hỏi, nhiều câu cảm thán th-ờng
có thêm chức năng biểu cảm, biểu thị thái độ của ng-ời nói, dễ xoáy sâu vào
lòng ng-ời đọc
Hàn Mặc Tử là tiếng thơ độc đáo, một hơi gió lạ thổi qua làng “ thơ Mới” làm dấy lên bao tiếng khen chê Ngày nay nhìn lại, tất cả những ai yêu thơ đều cảm thông với ông và đều đánh giá cao vị trí của ông trong thi đàn dân tộc Ông là ng-ời đã có những đóng góp thực sự cho tiếng nói của nghệ thuật văn học, đồng hành với quá trình ấy ông còn đóng góp lớn lao vào việc làm phong phú và sinh động vốn từ tiếng Việt
1.3 Giới thuyết về từ láy trong tiếng Việt
1 3.1 Khái niệm
Láy là một ph-ơng thức cấu tạo từ đặc biệt trong tiếng Việt, đó là ph-ơng thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh) của một hình vị hay đơn vị có
nghĩa, dựa trên quan hệ ngữ âm
1.3.2 Phân loại
Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về từ láy, t-ơng ứng với mỗi quan niệm có một tiêu chí phân loại Theo chúng tôi, để phân chia từ láy cần căn cứ vào các tiêu chí sau:
Trang 24Căn cứ vào số l-ợng âm tiết, có thể chia ra: từ láy đôi, từ láy ba và từ láy t-
- Từ láy đôi là những từ láy có hai âm tiết (còn gọi là từ láy bậc một)
Ví dụ: sạch sẽ, long lanh…
- Từ láy ba là những từ láy có ba âm tiết Ví dụ: sạch sành sanh
- Từ láy t- là những từ láy có bốn âm tiết Ví dụ: lóng la lóng lánh
Từ láy ba, từ láy t- đ-ợc gọi là từ láy bậc hai
Căn cứ vào bộ phận đ-ợc láy, có thể chia ra:
- Từ láy hoàn toàn: gồm từ láy có toàn bộ âm tiết giữ nguyên (xanh xanh, vàng vàng) và từ láy biến đổi thanh điệu (đo đỏ, tim tím)
- Từ láy bộ phận: gồm từ láy phần vần (l-a th-a, lập cập…) và từ láy phụ âm đầu (vu vơ, thấp thỏm…) Căn cứ vào tính chất mô phỏng, có thể chia ra:
- Từ láy biểu tr-ng hoá ngữ âm giẩn đơn
- Từ láy biểu tr-ng hoá ngữ âm cách điệu
- Từ láy vừa biểu tr-ng hoá ngữ âm vừa chuyên biệt hoá về nghĩa
1 3.3 Đặc điểm từ láy
Từ láy là kết quả của một ph-ơng tức cấu tạo từ tiếng Việt, ngoài những đặc điểm chung của từ tiếng Việt, từ láy còn có những đặc tr-ng riêng sau:
1.3.3.1 Đặc điểm về mặt cấu tạo
Cơ trình cấu tạo của từ láy chịu sự chi phối của xu h-ớng hoà phối ngữ
âm, biểu hiện quy tắc điệp và đối
Từ láy không đơn thuần là sự lặp lại âm thanh nguyên vẹn mà bao giờ cũng kèm theo một sự biến đổi âm thanh nhất định theo những quy luật chặt chẽ Sự biến đổi âm thanh này th-ờng đều đặn theo quy tắc hoà phối ngữ âm
để có thể tạo cái thể vừa giống vừa khác Cái thể ấy gọi là thể vừa điệp vừa
đối
Trang 25Hoàng Văn Hành giải thích: “ Điệp (hay thể điệp) là trạng thái đồng nhất trong quan hệ giữa các tiếng của từ láy, là hệ quả của sự biến đổi hay kết hợp ở tiếng láy để đảm bảo có sự hoà phối về âm và nghĩa với tiếng gốc” [5, 26].
Sự tác động của quy tắc điệp và quy tắc đối trong quá trình cấu tạo từ láy là sự tác động có quan hệ chi phối và ràng buộc nhau để đảm bảo làm sao
có đ-ợc sự hoà phối về âm và về nghĩa của tiếng láy với tiếng gốc trong từ
1.3.3.2 Đặc điểm về mặt ngữ nghĩa
Nhìn một cách bao quát, đặc tr-ng chung về nghĩa của từ láy là đ-ợc hình thành từ nghĩa của hình vị gốc, theo h-ớng mở rộng hoặc thu hẹp, tăng c-ờng hay giảm nhẹ, tổng hợp hay chuyên biệt hoá (sắc thái hoá) Nghĩa của
từ láy khác với nghĩa của hình vị gốc
Nghĩa của từ láy biểu thị mức độ mạnh hơn so với hình vị gốc: sạch sành sanh, sát sàn sạt, dửng dừng d-ng
Nghĩa của từ láy biểu thị m-ớc độ nhẹ hơn so với hình vị gốc: nhàn nhạt, đo đỏ, là lạ…
Nghĩa của từ láy có tính chất khái quát tổng hợp so với hình vị gốc: cây cối, chim chóc, chùa chiền…
Nghĩa của từ láy có phạm vi thu hẹp hơn so với hình vị gốc: xanh xao, nhỏ nhắn, lạnh lùng…
Tóm lại, từ láy có ý nghĩa khá phong phú, đa dạng, nhiều vẻ, có giá trị biểu cảm cao, th-ờng đ-ợc sử dụng trong văn bản nghệ thuật để tạo hình ảnh, hình t-ợng riêng
Trang 26Ch-ơng 2
Từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử xét ở ba ph-ơng diện:
cấu tạo, từ loại và chức năng ngữ pháp
2 1 Từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử xét về mặt cấu tạo
Nh- đã trình bày trong ch-ơng 1, từ láy chia làm ba loại xét về mặt cấu tạo: từ láy đôi, từ láy ba, từ láy t-
Qua khảo sát tuyển tập Thơ Hàn Mặc Tử, (Vân Long tuyển chọn, Nxb
Văn hoá - Thông tin, 2006), chúng tôi thấy Hàn Mặc Tử không sử dụng bất
cứ một từ láy ba hoặc láy t- nào, mà tất cả những từ láy ông sử dụng đều là láy đôi Chính vì lẽ đó nên nói từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử xét về mặt cấu tạo nh-ng thực chất là xét trong nội bộ từ láy đôi mà thôi Khi xét về cấu tạo
từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử, chúng tôi xét ở hai kiểu cấu tạo quen thuộc: láy đôi hoàn toàn và láy đôi bộ phận (láy phụ âm đầu và láy phần vần)
2.1.1 Từ láy hoàn toàn
Từ láy hoàn toàn là loại từ láy có thành tố láy lặp lại gần nh- nguyên vẹn ngữ âm của thành tố gốc trong từ láy hoàn toàn, có thể chia thành hai loại: từ láy hoàn toàn giữ nguyên thanh điệu (nguyên khối) và từ láy hoàn toàn biến đổi thanh điệu (đối thanh)
2.1.1.1 Từ láy hoàn toàn giữ nguyên thanh điệu (nguyên khối)
Từ láy hoàn toàn giữ nguyên thanh điệu (nguyên khối) có thể lấy ví dụ nh-: rào rào, ngây ngây, buồn buồn, r-ng r-ng, xinh xinh…
Dạng láy hoàn toàn trong thơ Hàn Mặc Tử chiếm số l-ợng không nhiều, chỉ 18 từ với 29 l-ợt dùng Tuy đ-ợc dùng với số l-ợng hạn chế nh-ng không có nghĩa là từ láy hoàn toàn ít có giá trị biểu cảm, gợi hình
Tr-ớc sân anh thơ thẩn
Đăm đăm trông nhau về
Mây chiều còn phiêu bạt
Trang 27Lang thang trên đồng quê
(Tình quê)
Từ đăm đăm đã thể hiện rất trọn vẹn sự chờ đợi, sự chú ý của chủ thể
trữ tình D-ờng nh- nhà thơ đang dõi mắt nhìn về ph-ơng trời xa xăm mà
quên đi mọi thứ xung quanh Đi cùng với từ thơ thẩn, từ láy đăm đăm thể
hiện một tâm trạng đợi chờ trong nỗi buồn vô cớ
Cũng có khi láy hoàn toàn đ-ợc đ-ợc dùng để mô phỏng âm thanh của
tự nhiên:
Rào rào gió thổi ph-ơng xa lại
Buồn đâu say ngấm áo xuân ai
(Buồn ở đây)
Mặc dù đ-ợc sử dụng với số l-ợng ít nh-ng không vì thế mà loại từ láy này giảm đi bản sắc riêng Ngoài việc miêu tả âm thanh tự nhiên hay hình dáng sự vật, loại từ này còn có tác dụng rất lớn trong việc khắc hoạ tâm trạng chủ thể trữ tình
2.1.1.2 Từ láy hoàn toàn biến đổi thanh điệu (đối thanh)
Từ láy hoàn toàn biến đổi thanh điệu có thể lấy ví dụ nh-: hô hố, lành lạnh, ngâm ngấm, vời vợi, san sát, rờn rợn…
Cũng nh- từ láy nguyên khối, từ láy hoàn toàn biến đổi thanh điệu trong thơ Hàn Mặc Tử th-ờng mang ý nghĩa tăng hoặc giảm nhẹ so với từ gốc, ít khi miêu tả cảm xúc trực tiếp Ví dụ:
Tôi cũng trông thấy ng-ời tôi yêu Ngồi cạnh suối trong cởi yếm đào
Len lén đ-a tay vốc n-ớc rửa
Trong khi cành trúc động và xao
(Tôi không muốn gặp)
Từ len lén đ-ợc Hàn Mặc Tử sử dụng rất tài tình, thể hiện một hành
động rất nhẹ nhàng, hành động mà t-ởng chừng nh- trong trạng thái tĩnh Từ
“lén” th-ờng chỉ sự nhẹ nhàng khi hành động để tránh ảnh h-ởng đến ng-ời
khác Từ láy len lén đ-ợc giảm nhẹ hơn, gợi cho ng-ời đọc hình ảnh ng-ời
Trang 28con gái giữa buổi chiều êm bên bờ suối, vừa nhẹ nhàng, chầm chậm và hồi hộp
2.1.2 Từ láy bộ phận
Đây là từ láy mà chỉ có một bộ phận của âm tiết đ-ợc giữ lại Từ láy
bộ phận chiếm tỉ lệ rất lớn trong kho từ láy tiếng Việt, cao hơn rất nhiều so với từ láy hoàn toàn Từ láy bộ phận có thể chia thành hai dạng: từ láy phụ
âm đầu và từ láy vần
2.1.2.1 Từ láy phụ âm đầu
Đây là dạng láy lặp lại phụ âm đầu mà biến đổi phần vần Tuy nhiên,
sự biến đổi này phải tuân theo quy luật đối ứng hoặc đối xứng
Trong từ láy phụ âm đầu, hình vị cơ sở đứng tr-ớc đ-ợc sử dụng khá nhiều: chán chê (chán), xanh xao (xanh), say s-a (say), thơm tho (thơm), mong mỏi (mong)… Các từ láy hình vị sơ sở đứng sau ít hơn: bối rối (rối), phơn phớt (phớt), xí xoá (xoá) Đây cũng là điều dễ hiểu, vì từ láy đ-ợc cấu tạo từ hình vị gốc, từ tiếng gốc mà tiếng láy láy lại toàn bộ hay bộ phận để tạo nên từ láy Vì vậy hình vị gốc th-ờng đứng tr-ớc là hợp thói quen sử dụng của ng-ời Việt
Trong thơ Hàn Mặc Tử, láy phụ âm đầu đ-ợc sử dụng nhiều nhất, có
215 từ với 322 l-ợt dùng, hệ số sử dụng là 1,5 Có nhiều từ láy Hàn Mặc Tử
sử dụng rất sáng tạo, mới mẻ, nh- là của riêng tác giả:
Hồn đã cấu, đã cào nhai ngấu nghiến Thịt da tôi s-ợng sần và tê điếng
Đặc biệt trong dạng láy phụ âm đầu có những hiện t-ợng biến âm nh-
não nê (biến âm của từ não nề), chan chói (biến âm của từ chan chứa), thầm
Trang 29thĩ (biến âm của từ thầm thì) Đó là sự sáng tạo độc đáo của Hàn Mặc Tử,
không những góp phần thể hiện tinh tế cảm xúc, tâm trạng, mà còn tạo thêm một lớp nghĩa mới, mang tính biểu cảm cao hơn so với từ gốc
Trời t- bi cảm động ứa s-ơng mờ Sai gió lại say hồn trong kẻ lá
Trăng choáng váng với hoa tàn cùng ngả
(Hãy nhập hồn em) Anh đã gặp hồn em chới với
Bảng 1: Các kiểu loại từ láy bậc 1 trong thơ Hàn Mặc Tử
Trang 30Bảng 2: Các dạng từ láy hoàn toàn trong thơ Hàn Mặc Tử
Đối thanh
Qua khảo sát 77 bài thơ rút ra từ tuyển tập Thơ Hàn Mặc Tử, chúng tôi
thấy có 327 từ láy với 476 l-ợt dùng Xét về mặt cấu tạo, đó hoàn toàn là từ láy đôi, không có từ láy ba và láy t- Trong số l-ợng từ láy đôi thu đ-ợc, từ láy phụ âm đầu chiếm số l-ợng nhiều nhất 215 từ với 322 l-ợt dùng, sau đó
là từ láy vần, có 75 từ với 102 l-ợt dùng, từ láy hoàn toàn có 37 từ với 52 l-ợt dùng
Các dạng láy có số l-ợng từ và l-ợt dùng khác nhau nh-ng chúng đều góp phần biểu hiện sắc thái tình cảm, cảm xúc của chủ thể tr-ớc cuộc sống
Trang 31Tiến hành khảo sát từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử, chúng tôi nhận thấy một số điểm đáng l-u ý sau:
- Những khuôn vần của từ láy có tần số xuất hiện cao:
+ Trong từ láy hoàn toàn
Vần “ ao” : nao nao, rào rào, hao hao
Để ta dây, ta mời ta giải thoát Nếm cho b-a mùi vị n-ớc tràng sinh
Ôi tiếng kêu đâu hay ra man mác Khiến nao nao nguồn thanh tịnh quanh mình
(Duyên kỳ ngộ)
Vần “ ây” : hây hây, ngây ngây
Từ khi đôi má đỏ hây hây
Em tập thêu thùa tập vá may Chim sáo tr-ớc sân hay tới đậu
Tôi với hồn hoa vẫn nín thing
Ngấm ngầm trao đổi những ân tình
Để thêm ấm áp nguồn t- t-ởng
Để bóng trời khuya chợt giật mình
(Huyền ảo)
Trang 32Thơ em cũng giống lòng em vậy
Là nghĩa thơm tho nh- ánh trăng Mềm mại nh- lời tơ liễu rũ
âm thầm trong ánh gió băn khoăn
(L-u luyến)
- Những phụ âm đầu trong từ láy có tần số xuất hiện cao
+ Trong từ láy hoàn toàn
Phụ âm “ l” : lâng lâng, lần lần, lẳng lặng, lồng lộng, lành lạnh, len
lén, loang loáng
ánh nắng lao xao trên đọt tre Tiếng ca lanh lảnh trong v-ờn me Tiếng xa im bặt rồi thấp thoáng Vạt áo màu nâu hiện tr-ớc hè
(Quả d-a)
Phụ âm “ s” : sang sáng, song song, s-ờng s-ợng
T-ơng t- nàng khi cao dày âm h-ởng Không nao nao về sợ ngợp đ-ờng duyên Lòng níu lòng cho đoàn hợp bình yên
Song song bay về nội tình khí giới
(Tình hoa)
Phụ âm “ r” : r-ng r-ng, rào rào, rờn rợn, rầu rầu
Rào rào gió thổi s-ơng xa lại
Buồn đau say ngắm áo xuân ai Lay bay lời hát, ô buồn lạ
Em buồn trong mộng có đêm nay
(Buồn ở đây)
+ Trong từ láy bộ phận
“ ch” : 4 lần: chán chê, chán ch-ờng, chan chứa, chập chờn