1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong thơ nôm nguyễn khuyến, trần tế xương

128 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong thơ nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương
Tác giả Trịnh Thị Bích Hằng
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Nương
Trường học Trường đại học Hồng Đức
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lí do chọn đề tài (8)
  • 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu (9)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (0)
  • 4. Mục đích nghiên cứu (14)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (15)
  • 6. Đóng góp mới của đề tài (15)
  • 7. Kết cấu luận văn (16)
  • Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI (16)
    • 1.1. Các bộ phận hợp thành ngôn ngữ thơ Nôm Đường luật (17)
      • 1.1.1. Ngôn ngữ ngoại nhập (17)
      • 1.1.2. Ngôn ngữ dân tộc (17)
    • 1.2. Giá trị văn chương của từ láy trong văn học và chức năng biểu đạt của từ láy trong thơ Nôm Đường luật (18)
      • 1.2.1. Khái niệm từ láy và giá trị văn chương của từ láy trong văn học 11 1.2.2. Chức năng biểu đạt của từ láy trong thơ Nôm Đường luật (18)
    • 1.3. Thống kê, phân loại hệ thống từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương (29)
      • 1.3.1. Tiêu chí thống kê, phân loại (29)
      • 1.3.2. Kết quả phân loại (29)
      • 1.3.3. Hệ thống từ láy trong trong thơ Nôm Đường luật Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương (34)
    • 2.1. Giá trị biểu đạt (46)
      • 2.1.1. Giá trị biểu đạt âm thanh (46)
      • 2.1.2. Giá trị tạo hình (55)
      • 2.1.3. Giá trị biểu ý (64)
  • Chương 3. GIÁ TRỊ BIỂU CẢM VÀ THẨM MỸ CỦA HỆ THỐNG TỪ LÁY TRONG THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN, TRẦN TẾ XƯƠNG (16)
    • 3.1. Giá trị biểu cảm (81)
      • 3.1.1. Cảm hứng về thiên nhiên, đất nước con người và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX (81)
      • 3.1.2. Cảm hứng trào lộng gần gũi với nghệ thuật trào phúng dân gian 79 3.2. Giá trị thẩm mỹ (86)
      • 3.2.1. Từ láy tạo ra tính dân tộc đậm nét cho lớp từ thuần Việt trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương (90)
      • 3.2.2. Từ láy góp phần tạo nên phong cách nghệ thuật của nhà thơ (96)
    • 3.3. Tương đồng và khác biệt về giá trị biểu cảm và thẩm mỹ của hệ thống từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương (101)
      • 3.3.1. Tương đồng (101)
      • 3.3.2. Khác biệt (102)
  • KẾT LUẬN (104)

Nội dung

Riêng ở lĩnh vực ngôn ngữ nghệ thuật của thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Tú Xương, bước đầu các công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến việc sử dụng các thành tố ngôn ngữ của các nhà thơ như từ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 822.01.21

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Nương

THANH HÓA, NĂM 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố

Người cam đoan

Trịnh Thị Bích Hằng

Trang 3

Bằng lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến

TS Lê Thị Nương - người đã tận tình động viên, hướng dẫn em trong quá

trình hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, cán bộ, giáo viên Trường THPT Nguyễn Thị Lợi - Sầm Sơn đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Thực hiện luận văn trong thời gian có hạn cộng với trình độ bản thân còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và bạn đọc

Thanh Hóa, tháng 8 năm 2020

Tác giả

Trịnh Thị Bích Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp mới của đề tài 8

7 Kết cấu luận văn 9

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 10

1.1 Các bộ phận hợp thành ngôn ngữ thơ Nôm Đường luật 10

1.1.1.Ngôn ngữ ngoại nhập 10

1.1.2.Ngôn ngữ dân tộc 10

1.2 Giá trị văn chương của từ láy trong văn học và chức năng biểu đạt của từ láy trong thơ Nôm Đường luật 11

1.2.1 Khái niệm từ láy và giá trị văn chương của từ láy trong văn học 11 1.2.2 Chức năng biểu đạt của từ láy trong thơ Nôm Đường luật 15

1.3 Thống kê, phân loại hệ thống từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương 22

1.3.1 Tiêu chí thống kê, phân loại 22

1.3.2 Kết quả phân loại 22

1.3.3 Hệ thống từ láy trong trong thơ Nôm Đường luật Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương 27

* Tiểu kết chương 1 38

Trang 5

Chương 2 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA HỆ THỐNG TỪ LÁY TRONG

THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN, TRẦN TẾ XƯƠNG 39

2.1 Giá trị biểu đạt 39

2.1.1 Giá trị biểu đạt âm thanh 39

2.1.2 Giá trị tạo hình 48

2.1.3 Giá trị biểu ý 57

* Tiểu kết chương 2 72

Chương 3 GIÁ TRỊ BIỂU CẢM VÀ THẨM MỸ CỦA HỆ THỐNG TỪ LÁY TRONG THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN, TRẦN TẾ XƯƠNG 74

3.1 Giá trị biểu cảm 74

3.1.1 Cảm hứng về thiên nhiên, đất nước con người và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX 74

3.1.2 Cảm hứng trào lộng gần gũi với nghệ thuật trào phúng dân gian 79 3.2 Giá trị thẩm mỹ 83

3.2.1 Từ láy tạo ra tính dân tộc đậm nét cho lớp từ thuần Việt trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương 83

3.2.2 Từ láy góp phần tạo nên phong cách nghệ thuật của nhà thơ 89

3.3 Tương đồng và khác biệt về giá trị biểu cảm và thẩm mỹ của hệ thống từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương 94

3.3.1 Tương đồng 94

3.3.2 Khác biệt 95

*Tiểu kết chương 3 96

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC P1

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Thống kê số lượng từ láy trong thơ Nôm Đường luật 22Bảng 1.2 Phân loại từ láy theo phương thức láy 24Bảng 1.3 Phân loại từ láy theo phương tiện sử dụng 25Bảng 1.4 Từ láy phân loại theo phương thức láy trong Thơ Nôm Đường luật Nguyễn Khuyến 30Bảng 1.5 Từ láy phân loại theo phương tiện sử dụng trong Thơ Nôm Đường luật Nguyễn Khuyến 31Bảng 1.6 Từ láy phân loại theo phương thức láy trong Thơ Nôm Đường luật Trần Tế Xương 35Bảng 1.7 Từ láy phân loại theo phương tiện sử dụng trong Thơ Nôm Đường luật Trần Tế Xương 37

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong tiến trình Thơ Nôm Đường luật (TNĐL), Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương là hai tác gia tiêu biểu đã kế thừa và phát triển TNĐL ở tầm khái quát nghệ thuật mới Chức năng phản ánh xã hội của TNĐL không chỉ dừng lại ở mức “trữ tình thế sự”, “tư duy thế sự”, “trào phúng thế sự” mà còn vươn tới chỗ phản ánh xã hội với những chi tiết sinh động, phong phú Trong đó, những thành công trong việc vận dụng ngôn ngữ dân tộc đã góp phần tạo nên nét đặc sắc riêng của hai tác giả

1.2 Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về giá trị văn chương và tài năng nghệ thuật của thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Tú Xương trên cả phương diện nội dung nghệ thuật, kể cả các vấn đề về phong cách tác giả và phong cách thời đại Riêng ở lĩnh vực ngôn ngữ nghệ thuật của thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Tú Xương, bước đầu các công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến việc sử dụng các thành tố ngôn ngữ của các nhà thơ như từ Hán Việt, điển cố, thi liệu Hán học (thuộc bộ phận ngôn ngữ ngoại nhập); từ Việt, ngôn ngữ văn học dân gian, ngôn ngữ đời sống (thuộc bộ phận ngôn ngữ dân tộc), trong đó

có cả nghệ thuật sử dụng từ láy Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu nào đặt vấn đề tìm hiểu một cách hệ thống và toàn diện về nghệ thuật sử dụng từ láy cũng như giá trị biểu đạt văn chương đa dạng và sinh động trong việc thể hiện tư tưởng - chủ đề, cảm xúc - thẩm mỹ trong thơ Nôm của hai tác

giả Đây chính là lý do chủ yếu để chúng tôi lựa chọn vấn đề tìm hiểu “Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn

1.3 Thơ Nôm Đường luật nói chung, thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, Tú Xương nói riêng đã và đang được nghiên cứu và giảng dạy ở các bậc đại học, sau đại học chuyên ngành cũng như các cấp học phổ thông Vì thế, nghiên

cứu “Giá trị văn chương của thệ thống từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến,

Trang 9

Trần Tế Xương” còn góp phần tích cực cho việc dạy - học tác gia, tác phẩm

văn học dưới góc độ thể loại và so sánh

thơ Nguyễn Khuyến được tổ chức 1985; “Địa vị của Nguyễn Khuyến trong

lịch sử văn học Việt Nam”, Nguyễn Văn Hoàn Tạp chí văn học số 4 năm 1985; Nguyễn Khuyến tác phẩm (Nguyễn Văn Huyền chủ biên, Đỗ Huy

Vinh, Mai Anh Tuấn, Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, biên soạn, GS Nguyễn Đình Chú giới thiệu), Nxb Hội Văn học - nghệ thuật Hà Nam Ninh,1986;

“Thơ Nôm Nguyễn Khuyến” trong cuốn Nguyễn Khuyến về tác giả và tác phẩm (Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007; Nguyễn Khuyến tác phẩm và lời bình, Nxb Văn học 2011; Nguyễn Khuyến thơ và đời, (Nhóm trí thức Việt tuyển chọn và giới thiệu), Nxb Văn học

Trang 10

Nguyễn Khuyến giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu, những từ lấp láy được ông khai thác rất nhiều, như nhập nhèm, khấp khểnh, le te, lập lòe, ve ve, tênh hếch, tẻo teo, làng nhàng” [60, tr.764]

Lã Nhâm Thìn trong cuốn Thơ Nôm Đường luật (1998), đề cao sáng tạo của Nguyễn Khuyến trong tiến trình phát triển thơ Nôm Đường luật: “Đặc

biệt trong Hồng Đức Quốc âm thi tập, trong thơ Hồ Xuân Hương và trong thơ Nguyễn Khuyến có sự sáng tạo tài tình những từ láy có khuôn vần khá hóc hiểm” [88, tr.161] Sau khi phân tích, trích dẫn những bài thơ tiêu biểu, tác giả công trình khẳng định: “Từ láy trong thơ Nguyễn Khuyến là cả một sự dụng công nghệ thuật Nhiều từ láy vần thật đặc biệt” [88, tr.165]

Lê Bảo trong công trình Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường - Nguyễn Khuyến (1999) cũng nhận thấy: “Trước hết là khả năng sử dụng từ

láy Từ láy trong ngôn ngữ cộng đồng người Việt vốn diễn tả một khái niệm linh hoạt, đa chiều, gợi nhiều liên tưởng Đến thơ Nguyễn Khuyến, phẩm chất

ấy được phát huy đến mức tài tình” [5, tr.44]

Lê Chí Dũng với bài “Sáng tạo trong thơ luật Đường” trong công trình

Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm (2007) đã nêu cụ thể đóng góp của

Nguyễn Khuyến về mảng từ láy: “Trong những bài thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Khuyến, tỷ lệ bài thơ sử dụng từ láy rất lớn: 69/87 bài Những từ láy

và những từ mô phỏng âm vang láy quả thực đã giúp nhà thơ tạo dựng những hình tượng có tính chất thị giác, không hiếm những trường hợp đã giúp ông viết những câu thơ có nhạc điệu” [21, tr.528]

Biện Minh Điền trong cuốn Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến

(2008) đã khẳng định biệt tài của Nguyễn Khuyến trong sáng tác thơ Nôm:

“Nguyễn Khuyến là người có biệt tài về sử dụng từ láy, đặc biệt trong thơ Nôm” [23, tr.342] Qua việc nghiên cứu từ láy ở cả thơ Nôm và thơ chữ Hán, tác giả công trình nhấn mạnh: “Có thể khẳng định được rằng phương thức láy với Nguyễn Khuyến rất quan trọng và được dùng với ý thức nghệ thuật cao kể

cả trong thơ Nôm và thơ chữ Hán, tuy nhiên từ láy trong thơ Nôm chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều, gấp 4 lần ở thơ Hán [23, tr.344]

Trang 11

Vũ Thanh trong Giáo trình văn học trung đại Việt Nam, tập 2 (2016)

cũng khẳng định về ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến: “Nguyễn Khuyến là một phong cách lớn trong văn học dân tộc, một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn

từ nghệ thuật” [86, tr.365] Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh những đóng góp của nhà thơ thôn quê về cách sử dụng từ láy: “Nhưng biểu hiện độc đáo nhất của ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến chính là tài năng trong việc sử dụng

từ láy và ngôn ngữ chỉ màu sắc Gần như bài thơ nào của ông cũng có từ láy

và nghệ thuật láy cũng hết sức đa dạng” [86, tr.367]

Các công trình nghiên cứu trên phần lớn đã khẳng định những thành tựu nghệ thuật đặc sắc của thơ Nôm Nguyễn Khuyến, trong đó việc sử dụng ngôn ngữ tăng tính dân tộc cho câu thơ, bài thơ, hạn chế bớt vẻ “ quý tộc”, “ bác học” vốn có của thể Đường luật Các nhà nghiên cứu cũng đã khẳng định những thành công của Nguyễn Khuyến trong việc sử dụng từ láy trong một số sáng tác tiêu biểu

2.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu về hệ thống từ láy trong thơ Nôm Trần Tế Xương

Ở nội dung này, chúng tôi lựa chọn những công trình nghiên cứu tiêu

biểu sau đây: Trông dòng sông vị (Trần Thanh Mại), Nxb Giáo dục, H.1953;

Hệ thống trào phúng của Trần Tế Xương (Trần Sĩ Tế), Nxb Giáo dục, Hà

Nội, 1957; Đỗ Đức Dục: “Vị trí của Tú Xương trên dòng văn học hiện thực

chủ nghĩa Việt Nam”, Tạp chí Văn học, số 2, 1986; Tú Xương con người và tác phẩm (Ngô Văn Phú), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 1988; Tú Xương thơ và đời (Lữ Huy Nguyên), Nxb Văn học, Hà Nội, 1996; Vũ Tiến Quỳnh ( 1991), Bình luận văn học Trần Tế Xương, Nxb Tổng hợp, Khánh Hòa, 1988; Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX (Nguyễn Lộc), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999; Thơ Nôm Đường luật (Lã Nhâm Thìn), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997; Tú Xương tác giả và tác phẩm (Nguyễn Lộc), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007; Lê Thu Yến ( 2002), Văn học Việt Nam – Văn học trung đại, những công trình nghiên cứu, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002; Vũ Minh Sĩ

Trang 12

– Đinh Minh Hằng – Nguyễn Hữu Sơn (Tuyển chọn và giới thiệu), Trần Tế Xương về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007; Đoàn Hồng Nguyên: Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa, Nxb Văn học, Hà Nội,

Nguyễn Đình Chú với bài “Tú Xương bậc thần thơ thánh chữ” trong

công trình Chu Mạnh Trinh - Trần Tế Xương (2000) khẳng định đóng góp của

Tú Xương về mặt ngôn ngữ thơ Nôm: “Tú Xương đã cắm thêm một cái mốc trên bước đường phát triển nghệ thuật ngôn ngữ thơ ca tiếng Việt Trong thơ

Tú Xương, ngôn ngữ của cuộc sống bình thường, khẩu ngữ dân gian đã chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật một cách triệt để, bề thế và vẻ vang” [14, tr.138]

Trong bài “Tú Xương, nhà thơ lớn của dân tộc” trích trong công trình Trần Tế Xương về tác gia tác phẩm (2007), một lần nữa tác giả chỉ rõ đặc điểm ngôn

ngữ thơ Tú Xương hướng về đời thường: “Tú Xương xứng đáng là nhà thơ tiên phong và cũng là tiêu biểu nhất trong việc viết về người thực việc thực Ngôn ngữ thơ của Tú Xương là ngôn ngữ lấy từ cuộc sống bình thường, trần trụi, từ khẩu ngữ dân gian” [61, tr.506]

Đỗ Đức Dục trong bài “Vị trí của Tú Xương trên dòng văn học hiện

thực chủ nghĩa Việt Nam” trích trong công trình Trần Tế Xương về tác gia tác phẩm (2007) cũng cho rằng: “Một nhà thơ lớn thường cũng là một nhà ngôn

ngữ học kỳ diệu Chủ nghĩa hiện thực của Tú Xương không chỉ thể hiện ở chỗ ông đã khái quát hóa một xã hội, điển hình hóa một tầng lớp người, mà nó còn thể hiện một cách sâu sắc trong ngôn ngữ chân thực, chính xác của nhà thơ” [61, tr.578]

Trang 13

Các công trình trên đã nêu khái quát những đóng góp về mặt ngôn ngữ nói chung của thơ Nôm Tú Xương Các tác giả công trình cũng đã nhấn mạnh vai trò, vị trí của ngôn ngữ đời thường mang đậm tính chân thực, hiện thực trong sáng tác thơ của nhà thơ Bên cạnh đó, có một số công trình cũng đã nghiên cứu trực tiếp, cụ thể về nghệ thuật vận dụng từ láy trong thơ Tú Xương, đồng thời khẳng định vai trò của nhà thơ trên chặng đường cuối của văn học trung đại

Lã Nhâm Thìn trong cuốn Phân tích tác phẩm văn học trung đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại (2009) đã nghiên cứu và phân tích cụ thể một số

bài thơ tiêu biểu của Tú Xương, qua bài Đêm hè, tác giả công trình phát hiện thấy sự xuất hiện của từ láy: “Hình thức điệp từ láy đi láy lại (khăn khăn, áo

áo, bút bút, nghiên nghiên) kết hợp với các từ “rầy chuyện”, “giở tuồng” thể hiện sự đay đả, mỉa mai của Tú Xương với chính cái vô tích sự của bản thân” [89, tr.118]

Trần Thị Hoa Lê trong cuốn Giáo trình văn học trung đại Việt Nam, tập

2 (2016) đã đề cao ngôn ngữ đời sống của Tú Xương: “Ngôn ngữ thơ Tú Xương được viết theo xu hướng khẩu ngữ hóa, đời sống hóa ngôn ngữ thơ ca

mà vẫn đảm bảo âm điệu trữ tình của bài thơ” [90, tr.392] Tác giả cũng chỉ ra phong cách riêng của Trần Tế Xương: “Cái riêng của Tú Xương khi đóng góp vào “phong cách ngôn ngữ dân gian” chính là tính chất khẩu ngữ thời đại, tính chất cụ thể - lịch sử đậm đặc” [90, tr.392] Trong công trình Văn học trào phúng Việt Nam thời trung đại (2017), tác giả cũng khẳng định sự đóng góp

về từ láy của Tú Xương bên cạnh các thủ pháp nghệ thuật khác: “Trong thơ

Tú Xương, có một số lượng lớn tính từ, động từ, từ láy được sử dụng với hình thức đảo ngữ phổ biến – tính từ/động từ nằm ở vị trí đầu câu trong liên thơ thứ hai và thứ ba của bài bát cú, khác với cú pháp thông thường Đây là thủ pháp ngôn ngữ đạt hiệu quả cao khi diễn tả vẻ ồn ã sôi động của đời sống đô thị” [90, tr.246]

Phần lớn các công trình nghiên cứu trên đã khẳng định: Trong tiến trình thơ Nôm Đường luật, Trần Tế Xương là người đóng góp rất lớn trong việc

Trang 14

sáng tạo từ láy, đặc biệt là những từ láy với khuôn vần hóc hiểm, đem lại cho Đường luật Nôm tính dân tộc đậm đà, tạo sự khác biệt với Đường luật Hán

2.3 Tiểu kết vấn đề nghiên cứu, chỉ ra hướng nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã có về hệ thống từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, luận văn sẽ hướng tới tìm hiểu đặc điểm, chức năng biểu đạt của hệ thống từ láy trong thơ Nôm Đường luật của hai tác giả, từ đó làm rõ giá trị văn chương của từ láy trong việc thể hiện tư tưởng - chủ đề tác phẩm cũng như những đóng góp trên hành trình dân tộc hóa ngôn ngữ văn học

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung

+ Đặc điểm và giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương (Thơ Nôm Đường luật)

- Về tư liệu khảo sát: Luận văn khảo sát thơ Nôm Nguyễn Khuyến và

Trần Tế Xương dựa trên các tư liệu sau:

- Nguyễn Khuyến tác phẩm (Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, biên dịch,

giới thiệu) (1984), Nxb Khoa học Xã hội

- Lại Văn Hùng (Giới thiệu và tuyển chọn) (2009), Nguyễn Khuyến tác phẩm chọn lọc, Nxb Giáo dục Việt Nam

- Vũ Văn Sỹ - Đoàn Ánh Dương (Giới thiệu và tuyển chọn) (2009),

Trần Tế Xương - Tác phẩm chọn lọc, Nxb Giáo dục Việt Nam

4 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa các thành tựu khoa học đã có, luận văn hướng đến nghiên cứu một cách cụ thể và hệ thống về đặc điểm và giá trị biểu đạt văn chương (Giá trị biểu đạt, giá trị biểu ý, giá trị biểu cảm, giá trị thẫm mỹ và phong cách thời đại, phong cách tác giả) của hệ thống từ láy trong thơ Nôm

Trang 15

Đường luật Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương Từ đó thấy rõ hơn khả năng sáng tạo, bản lĩnh nghệ thuật của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương ở phương diện sử dụng nghệ thuật ngôn từ trong thơ Nôm Đường luật

5 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài “Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương”, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Luận văn sử dụng phương pháp này để tiến hành khảo sat, thống kê và phân loại số lượng từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương

5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Luận văn sử dụng phương pháp này để so sánh giá trị biểu đạt văn chương của hệ thống từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương

5.3 Phương pháp phân tích, đánh giá

Luận văn sử dụng phương pháp này với mục đích phân tích, đánh giá

để làm rõ hơn giá trị biểu ý, biểu cảm, giá trị thẩm mỹ… của hệ thống từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương

5.4 Phương pháp khái quát, tổng hợp

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để khái quát nội dung nghiên cứu

ở các chương, mục luận văn thành các luận điểm để làm sáng tỏ đối tượng và mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn

6 Đóng góp mới của đề tài

- Luận văn là công trình nghiên cứu cụ thể về giá trị văn chương của

hệ thống từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương

- Luận văn đã chỉ ra được khả năng sáng tạo, bản lĩnh nghệ thuật của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương ở phương diện sử dụng nghệ thuật ngôn

từ trong TNĐL

- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho

giáo viên và học sinh trong nhà trường các cấp

Trang 16

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề chung liên quan đến đề tài

Chương 2 Giá trị biểu đạt của hệ thống từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương

Chương 3 Giá trị biểu cảm và thẩm mỹ của hệ thống từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương

Trang 17

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Các bộ phận hợp thành ngôn ngữ thơ Nôm Đường luật

1.1.1 Ngôn ngữ ngoại nhập

Theo tác giả Lã Nhâm Thìn: “Hệ thống ngôn ngữ thơ Nôm Đường luật bao gồm hai bộ phận: bộ phận ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ đời sống và bộ phận ngôn ngữ ngoại nhập, ngôn ngữ sách vở Nhìn chung, bộ phận ngôn ngữ dân tộc thường gắn bó với ngôn ngữ đời sống và bộ phận ngôn ngữ ngoại nhập thường là ngôn ngữ sách vở” [88, tr.146] Đây là hai bộ phận chính hợp thành ngôn ngữ thơ Nôm Đường luật Văn học trung đại được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Chữ Hán được tiếp thu từ Trung Hoa Người Việt Nam đọc chữ Hán theo cách riêng gọi là cách đọc Hán Việt Chữ Nôm là chữ cổ của tiếng Việt, dựa vào chữ Hán mà đặt ra Tiếng Việt và tiếng Hán có sự gần gũi tương đồng

ở ba phương diện cơ bản nhất: không biến hình, đơn âm và tuyến tính

Chữ Nôm cũng là loại văn tự duy nhất viết bằng âm giọng ngôn ngữ Việt Nam Văn học trung đại Việt Nam bắt đầu từ thế kỷ thứ X và dùng văn

tự Hán trong mọi lĩnh vực Đến thế kỷ XIII mới xuất hiện chữ Nôm và phát triển rực rỡ ở các giai đoạn về sau Các thi nhân đều không ít thì nhiều cũng

đã dùng chữ Nôm để viết và đã để lại một gia tài văn chương Quốc âm lớn lao Những tác phẩm văn chương lớn nhất của nền văn học Việt Nam phần lớn cũng là sáng tác bằng chữ Nôm

Ngôn ngữ ngoại nhập xét từ góc độ thể loại thơ Nôm Đường luật là kết cấu chặt chẽ mang tính quy phạm, cách dùng từ Hán Việt, điển cố thi liệu Hán

và giá trị nội dung mang tư tưởng Nho giáo Do đó, ngôn ngữ ngoại nhập mang tính cao nhã, điển phạm

1.1.2 Ngôn ngữ dân tộc

Thành phần ngôn ngữ dân tộc trong thơ Nôm Đường luật bao gồm lớp

từ thuần Việt, ngôn ngữ văn học dân gian, ngôn ngữ đời sống Trong thơ Nôm Đường luật, từ Việt chiếm đa số, nhiều hơn từ Hán Việt

Trang 18

Khi gọi tên, miêu tả các sự vật hiện tượng mà từ Hán Việt không thể định danh, các tác giả nhất thiết sử dụng từ tuần Việt Đó là các từ chỉ sản vật của quê hương đất nước, những từ biểu đạt các mối quan hệ gia đình, thân tộc, cuộc sống, tâm hồn con người Việt Nam mà từ Hán không có được Người ta thường lấy tiêu chí cụ thể hay khái quát, đơn nghĩa hay đa nghĩa để khu biệt nét nghĩa của từ thuần Việt hay Hán Việt Từ thuần Việt có khả năng diễn tả mọi diễn biến tinh tế và sâu sắc nhất trong tâm hồn con người: “Từ thuần Việt có ưu thế trong việc phản ánh hiện thực đời sống, hiện thực tâm trạng ở những mặt thô tháp và nguyên sơ nhất” [88, tr.153]

Trong các lớp từ thuần Việt, từ láy âm có một vai trò, vị trí đặc biệt nổi bật, tạo nên giá trị biểu cảm và thẩm mỹ cho thơ Nôm Đường luật Ngôn ngữ dân tộc vì vậy mà mang tính bình dị, dân dã

1.2 Giá trị văn chương của từ láy trong văn học và chức năng biểu

đạt của từ láy trong thơ Nôm Đường luật

1.2.1 Khái niệm từ láy và giá trị văn chương của từ láy trong văn học

1.2.1.1 Khái niệm từ láy

Từ láy mang những đặc trưng có tính chất loại hình của tiếng Việt, cơ

sở của từ láy là ngữ âm nên từ láy mang đậm tính dân tộc Những sáng tác thơ văn vận dụng từ láy thể hiện rõ tinh thần dân tộc ấy Tuy nhiên, luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu từ láy ở góc độ văn chương mà không đi sâu vào nghiên cứu từ láy ở góc độ ngôn ngữ Để có cơ sở, tiền đề lý luận cho việc thống kê, phân loại từ láy và tìm hiểu giá trị văn chương của từ láy trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, chúng tôi đưa ra một số định nghĩa, quan niệm về từ láy của các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ tiếng Việt

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về từ láy ở nhiều bình diện khác nhau, tiêu biểu là các định nghĩa, quan niệm sau:

Tác giả Đinh Thanh Huệ (1995) cho rằng: “Từ láy là một kiểu từ được

cấu tạo do sự hòa phối âm thanh giữa các tiếng Phần lớn các từ láy trong

Trang 19

ra có kiểu từ láy được tạo thành do những tiếng không có nghĩa (lững thững, phất phơ…)” [44, tr.20] Từ định nghĩa đó, tác giả cũng chỉ ra có hai kiểu từ

láy cơ bản trong tiếng Việt là láy toàn bộ và láy bộ phận: “Láy toàn bộ: là

kiểu từ láy mà tiếng đứng sau lặp lại hoàn toàn tiếng gốc Láy bộ phận là kiểu

từ láy mà trong đó có sự phối hợp âm của từng bộ phận âm tiết của tiếng gốc theo những quy tắc ngữ âm nhất định Từ láy bộ phận có thể được tạo thành

do hai tiếng, mà mỗi tiếng đều không có nghĩa (mênh mông, lững thững, thướt tha…) hay một trong hai tiếng có nghĩa (vội vàng, lẻ loi, nhỏ nhắn…) [44, tr.20]

Tác giả Nguyễn Tài Cẩn (1998) quan niệm về từ láy trên cơ sở ngữ

âm: “Từ láy âm là loại từ ghép trong đó, theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu là theo quan

hệ ngữ âm Quan hệ ngữ âm được thể hiện ra ở chỗ là các thành tố trực tiếp phải có sự tương ứng với nhau về hai mặt: mặt yếu tố siêu âm đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa vần và

âm cuối vần)” [7, tr 109]

Tác giả Đỗ Hữu Châu (1999) định nghĩa: “Phương thức láy là phương

thức tác động vào một hình vị rời tự thân có nghĩa (hoặc một đơn vị phức hợp

có nghĩa) làm xuất hiện một hình vị láy có hình thức ngữ âm giống hoặc gần giống với nó Phương thức láy có thể tạo ra hình thái của từ, biểu thị các ý nghĩa tình thái và quan hệ ngữ pháp hoặc tạo từ mới, tức là tạo ra những từ có cấu trúc nghĩa mới, khác so với cấu trúc của đơn vị cơ sở” [10, tr.151] Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu rõ về tác dụng của phương thức láy: “Tác dụng đầu tiên về ngữ nghĩa của phương thức láy do sự lặp lại, tăng thêm một số lần có biến đổi ý nghĩa của hình vị cơ sở là tác dụng trạng thái hóa, tình trạng hóa với những sắc thái đi kèm: cảm giác hóa, hình tượng hóa và “cảm thụ hóa” cái

mà hình vị cơ sở biểu thị” [10, tr.192] Trong đó: “Các từ láy phần lớn có hình vị cơ sở gốc động từ và tính từ” [10, tr193]

Trang 20

Tác giả Hoàng Văn Hành cho rằng: “Từ láy là từ được cấu tạo bằng

cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, hài hòa với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị biểu trưng hóa” [37, tr.30] Đồng thời tác giả cũng nêu rõ: “Bản chất của từ láy là sự hòa phối về âm và về nghĩa Sự hòa phối này thể hiện ở quy tắc điệp và đối trên cả bình diện ngữ âm cũng như trên bình diện ngữ nghĩa giữa các tiếng trong cấu trúc của từ” [37, tr.33]

Như vậy, các định nghĩa trên đã khái quát những bình diện cơ bản của

từ láy trong tiếng Việt Trong đó, các định nghĩa có những điểm chung về từ láy như: Từ láy có sự lặp lại toàn bộ hoặc bộ phận của âm tiết, có sự biến đổi ngữ âm giữa hai âm tiết theo những cơ chế và quy tắc khác nhau Vì các từ láy phần lớn có hình vị cơ sở gốc động từ và tính từ nên từ láy có giá trị gợi tả

về âm thanh, hình ảnh giàu sắc thái biểu cảm

Dựa trên cơ sở những diễn giải về từ láy ở trên, luận văn sẽ vận dụng linh hoạt khái niệm về từ láy để khảo sát, thống kê, phân loại cũng như tìm hiểu giá trị biểu đạt văn chương của từ láy trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương

1.2.1.2 Giá trị văn chương của từ láy

Trong sáng tạo văn học, từ là đơn vị chất liệu cơ bản của ngôn ngữ để nhà văn thể hiện giá trị nội dung tư tưởng thông qua các ký hiệu ngôn ngữ Mỗi tác phẩm văn học là một sáng tạo độc đáo, trong đó nghệ thuật vận dụng

từ láy là một trong những yếu tố góp phần tạo nên phong cách riêng của mỗi tác giả Giá trị văn chương của từ láy trong văn học được thể hiện ở các

phương diện: Từ láy đóng vai trò như một sáng tạo kì thú của ngôn ngữ văn học; Từ láy được sử dụng như một phương tiện giàu giá trị thẩm mỹ

Thứ nhất, từ láy đóng vai trò như một sáng tạo kì thú của ngôn ngữ văn học

Sự ra đời của từ láy gắn bó chặt chẽ với quá trình hoàn chỉnh ngữ âm, thanh điệu tiếng Việt Văn học viết Việt Nam được hình thành từ khoảng thế

kỉ X, các tác giả dùng văn tự Hán để sáng tác văn học Trong khi đó, từ láy

Trang 21

vốn rất hiếm hoi xuất hiện trong văn tự ngoại nhập Từ khi chữ Nôm ra đời dùng để ghi âm tiếng Việt thì từ láy mới thực sự được vận dụng một cách đa dạng, phong phú như chính lời ăn tiếng nói hàng ngày Từ láy xuất hiện trong thơ Nôm Đường luật vốn là thể thơ có niêm luật chặt chẽ đã tạo nên những giá trị độc đáo riêng biệt Trong ý thức của người Việt, tiếng là đơn vị ngữ âm hoàn chỉnh, tương đương với âm tiết Vì vậy, mỗi từ, mỗi tiếng trong văn học vừa là đơn vị cấu trúc nên tác phẩm vừa là đơn vị chức năng nghệ thuật Theo tác giả Hoàng Văn Hành: “Sở trường của từ láy là làm chất liệu để xây dựng văn bản nghệ thuật, làm phương tiện cho tư duy nghệ thuật Sở dĩ như thế là

vì, từ láy là lớp từ giàu giá trị gợi tả, giá trị biểu cảm Mà văn bản nghệ thuật lại rất cần những phương tiện ngôn ngữ như thế để xây dựng hình tượng Cho nên các nhà văn, nhà thơ rất chú ý sử dụng từ láy” [37, tr.161] Như vậy, từ láy góp phần làm cho tính hình tượng được rõ nét và phong phú Giá trị gợi tả

và biểu cảm của từ láy có vai trò quan trọng đặc biệt trong sáng tác thơ ca vốn kiệm lời

Thứ hai, từ láy được sử dụng như một phương tiện giàu giá trị thẩm mỹ

Đối với văn học nói chung thơ ca nói riêng, từ láy có vai trò quan trọng

để nhà thơ tỏ bày được tư tưởng, cảm xúc của mình một cách đầy đủ nhất trong những câu thơ ngắn gọn nhất Vốn từ trong thơ phải là “quý hồ tinh bất quý hồ đa”, từ trong thơ không chỉ mang tính chất diễn tả lại thế giới khách quan và thế giới chủ quan của tác giả mà còn phải thể hiện được những rung động thẩm mỹ trong lòng người đọc Do đặc thù của thơ ca là có khả năng tác động trực tiếp vào tư tưởng, tâm hồn người đọc nên vốn từ được vận dụng phải tinh lọc để có khả năng biểu cảm cao nhất Mỗi bài thơ phải có “nhãn tự” cũng như những từ làm điểm nhấn cho toàn bài thơ Như tác giả Hoàng Văn Hành đã nhấn mạnh tầm quan trọng của từ láy: “Thủ pháp chung của nhà thơ

là lấy các phương tiện ngôn ngữ trung tính để miêu tả, để làm nền, còn từ láy

là những nét chấm phá, những khắc họa Có thể nói từ láy là một trong những yếu tố quan trọng, nếu không nói là quan trọng nhất, làm bộc lộ “cái thần” của

Trang 22

mỗi bức chân dung” [37, tr.165] Thơ Nôm Nguyễn Trãi, thơ Nôm của các tác giả thời Hồng Đức, thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, thơ Nôm Hồ Xuân Hương… đều đã vận dụng thành công từ láy phong phú đa dạng trong vốn từ thuần Việt để tạo nên những câu thơ giàu giá trị thẩm mỹ lưu lại cho hậu thế

Ngôn ngữ tiếng Việt thuộc hoại hình đơn lập - phân tích tính và là ngôn ngữ có thanh điệu nên có khả năng diễn đạt được các bình diện của cuộc sống của con người và thế giới khách quan trên cơ sở ngữ âm Biểu hiện rõ nhất là

từ láy có khả năng gợi hình ảnh, gợi âm thanh và biểu ý Sự mô phỏng những cung bậc của cuộc sống cho thấy từ láy thật gần gũi, thân thuộc với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân

1.2.2 Chức năng biểu đạt của từ láy trong thơ Nôm Đường luật

1.2.2.1 Hạn chế bớt tính công thức, ước lệ của thơ Nôm Đường luật

Một trong những đặc trưng tiêu biểu nhất của thơ Đường luật nói chung

là tính công thức, ước lệ, tính quy phạm chặt chẽ Tính chất này thể hiện ở cả nội dung tư tưởng và hình thức biểu hiện Thơ Nôm Đường luật được sáng tác trên cơ sở thơ Đường luật Hán nên ít nhiều cũng mang đặc trưng đó Tuy nhiên, để có sự khu biệt giữa Đường luật Nôm và Đường luật Hán, các tác giả trung đại đã vận dụng linh hoạt và sáng tạo lớp từ thuần Việt để sáng tác những vần thơ hạn chế tính quy phạm của thể thơ ngoại nhập

Sự xuất hiện của hệ thống từ láy trong thơ Nôm Đường luật góp phần tạo nên sự khác biệt và khẳng định vị thế của thơ Nôm Đường luật trong tiến trình phát triển của văn học trung đại: “Nhiều từ láy có chức năng hạn chế tính công thức, ước lệ vốn là một quán tính của văn học cổ có ảnh hưởng khá

rõ tới Đường luật Nôm” [88, tr.162] Hầu hết các tác giả tiêu biểu của văn học trung đại đều là những tác giả có nhiều sáng tác về thơ Nôm Đường luật và cũng là những tác giả vận dụng linh hoạt hệ thống từ láy trong thơ ca

Từ tập thơ Nôm của Nguyễn Trãi ở thế kỉ XV đến các tác giả cuối thế

kỉ XIX đều đã có những vận dụng sáng tạo để đưa ngôn ngữ văn học gần gũi hơn với đời sống hàng ngày, theo xu hướng dân tộc hóa Bởi theo tác giả Lã

Trang 23

Nhâm Thìn: “Chúng ta đều biết trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, từ láy là từ thể hiện rất rõ đặc tính dân tộc của ngôn ngữ Việc sử dụng nhiều từ láy làm cho “chất dân tộc” của sáng tác văn học được tăng cường” [88, tr.42] Thơ Nôm Đường luật của các tác giả trung đại đã thể hiện được “chất dân tộc” của ngôn ngữ tiếng Việt

Nguyễn Trãi khi về ẩn nhà ở Côn sơn đã vận dụng nhiều từ láy trong

sáng tác Quốc âm thi tập Từ láy lúc nhúc vừa gợi hình vừa biểu cảm khắc

họa khung cảnh đông đúc, sinh động cảnh bến sông:

Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi,

Hàu chất so le, khóm cuối làng

(Ngôn chí 8) Trong khi đó, từ láy thung thăng cũng có khả năng diễn đạt tài tình

hình ảnh thi nhân hài lòng với cuộc sống thanh bình yên ả mà tránh chốn quan trường lao xao:

Ngày tháng kê, khoai những sản hằng,

Tường đào ngõ mận ngại thung thăng

(Mạn thuật 1) Đặc biệt cách dùng từ láy Xuềnh xoàng đã làm hiện lên một lão ông tri

điền dân dã, mộc mạc chan hòa với cuộc sống của người dân bình dị, từ láy vừa mang tính gợi hình vừa gợi lên tư tưởng, cảm xúc của nhân vật trữ tình:

Miệt bả, hài gai, khăn cóc,

Xuềnh xoàng làm mỗ đứa thôn nhân

(Mạn thuật 11) Nửa sau thế kỉ XV, Hồng Đức Quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông và

các tác gia thời Hồng Đức đã có những sáng tạo vượt bậc trong sử dụng từ láy: “Tác phẩm này chiếm vị trí “quán quân” về việc dùng từ láy… Nỗ lực mới của tác giả chính là ở chỗ đã sáng tạo nên rất nhiều từ láy, phong phú và

đa dạng đến mức đáng ngạc nhiên… Nhờ có hệ thống từ láy mà tính chất khuôn sáo, ước lệ của những điển cố, những thi liệu Hán học đầy rẫy trong tác

Trang 24

phẩm đã phần nào được hạn chế” [88, tr.42] Khi khắc họa đến âm thanh của một số công cụ mang tính ước lệ như tiếng địch, tiếng cầm… vốn mang tính trang trọng, công thức, các thi nhân thời Hồng Đức đã ghi lại những âm sắc khác nhau gần gũi với âm thanh cuộc sống:

Ngư địch tiều ca đâu dắng dỏi,

Bến tai đồng vọng tiếng thiều tâu

(Vương Tường oán giang sơn)

Yêu yêu dấu dấu đàn ai gảy,

Tính tính, tình tình, tính tính tinh

(Họa vần bài vịnh trăng 10)

Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã vận dụng linh hoạt những từ láy trái nghĩa làm tăng thêm giá trị biểu đạt của bài thơ:

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao

(Thơ Nôm, bài 79)

Như vậy các thi nhân trung đại dù xuất thân từ “cửa Khổng sân Trình”

và đều đi thi, làm quan trong triều đình phong kiến nhưng vẫn luôn hướng ngòi bút gần gũi hơn đến ngôn ngữ thuần Việt Cách vận dụng linh hoạt và sáng tạo từ láy trong thơ Nôm đã góp phần hạn chế tính ước lệ, công thức và

tăng cường tính dân tộc hóa của văn học

1.2.2.2 Từ láy làm cho câu thơ trở nên nôm na, bình dị

Thơ Đường luật Hán thường mang đặc trưng của nhà nho thời trung đại

“thi dĩ ngôn chí”, nhà nho sáng tác thơ là để “tỏ lòng, tỏ chí” Để nói được chí lớn, thơ phải hướng thượng, cao nhã Từ hình ảnh đến ngôn từ phải quy phạm mang tính điển phạm Đối với thơ Nôm Đường luật, yếu tố Nôm lại chiếm ưu thế để tiến gần hơn tới hiện thực cuộc sống con người, cảnh vật của quê hương đất Việt Chính vì vậy, muốn khắc họa được bức tranh cuộc sống sinh động, chân thực, các thi nhân phải vận dụng chính âm thanh, hình ảnh của cuộc sống vốn đa dạng để đưa vào thơ Những từ láy mô phỏng âm thanh,

Trang 25

biểu đạt hình ảnh của hiện thực đã góp phần đưa thể thơ vốn có niêm luật chặt chẽ trở nên nôm na, bình dị hơn

Từ láy khiến cho hình ảnh ngư, tiều, canh, mục trong tập thơ vốn mang tính cung đình của các tác gia thời Hồng Đức trở nên sinh động, chân thực hơn:

Nửa tấm áo tơi che lủn củn, Một cần câu trúc uốn khom khom

(Họa bài người kiếm cá) Manh áo quáng mang lụp xụp,

Quai chèo xách, đứng lom khom

(Đèo Ba Dội)

Dù vịnh cảnh hay tả tình, các thi nhân đã khiến cho cảnh và tình ấy trở nên gần gũi trong cảm nhận của người đọc Những từ láy tạo nên điểm nhấn trong câu thơ Nôm, tạo nên sự bình dị, mộc mạc vốn có của cuộc sống

1.2.2.3 Từ láy đem đến cho thơ Đường luật Nôm sắc thái dân tộc đậm đà

Trong lớp từ thuần Việt, từ láy là lớp từ thể hiện rõ nét nhất đặc tính dân tộc của ngôn ngữ Từ láy góp phần tăng “chất dân tộc” trong sáng tác văn học Đây chính là điểm khu biệt giữa văn học dân tộc và văn học ngoại nhập:

“Đường luật Nôm sử dụng rất nhiều từ láy, trong lúc đó Đường luật Hán ít khi

sử dụng Đặc biệt trong thơ Đường, và cả thơ Tống, Minh, Thanh của Trung

Trang 26

Quốc quá hiếm từ láy Ngược lại có vô số từ láy trong Kinh Thi Về mặt này

Đường luật Nôm gần với truyền thống của văn học dân gian hơn văn học bác học” [88, tr.163]

Ngay cả tập thơ mang tính chất cung đình của các tác gia thời Hồng Đức cũng trở nên mộc mạc, bình dị với đời sống người dân quê khi các từ láy được vận dụng sinh động, chân thực Các thi nhân miêu tả cái nắng gay gắt của ngày hè miền Bắc Việt Nam với một loạt từ láy gợi hình, gợi thanh:

Nước nồng sừng sực đầu rô trỗi, Ngày nắng chang chang lưỡi chó lè

Cuốc cuốc, cuốc hằng khua mõ cuốc,

Ve ve, ve lại gảy cầm ve

(Lại vịnh nắng mùa hè)

Trong số các tác giả tiêu biểu của thơ Nôm Đường luật, Bà Huyện Thanh Quan có một phong cách thơ riêng mang tính trang trọng, cổ điển, gần với chất Đường thi Tuy nhiên, điểm nhấn làm nên sự khác biệt giữa thơ Đường luật Hán và thơ Nôm Đường luật đó chính là sự xuất hiện của hệ thống từ láy thuần Việt:

Lom khom dưới núi, tiều vài chú, Lác đác bên sông, chợ mấy nhà

Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia

(Qua Đèo Ngang)

Như vậy, dù các tác giả trung đại Việt Nam vẫn vận dụng những yếu tố Đường thi trong sáng tác thơ Nôm nhưng người đọc vẫn cảm nhận được cảnh sắc, con người Đại Việt thật thân quen, gần gũi Điều đó cho thấy vai trò của

từ láy trong việc thể hiện sắc thái dân tộc trong thơ Nôm Đường luật

1.2.2.4 Từ láy góp phần thể hiện phong cách thời đại, phong cách tác giả

Trong tiến trình phát triển của thơ Nôm Đường luật, càng về giai đoạn sau, thơ Nôm càng gần gũi và bám sát hơn với ngôn ngữ đời sống hàng ngày

Trang 27

của đông đảo người dân Từ những vần thơ của Quốc âm thi tập, Hồng Đức Quốc âm thi tập cho đến thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Tú Xương là một hành

trình tinh lọc, gọt giũa để ngôn ngữ thơ trở nên tinh tế và giàu khả năng biểu cảm hơn, đồng thời thể hiện đặc điểm, phong cách riêng của từng tác giả

Tác giả Hoàng Văn Hành cho rằng: “Ở mặt thực dụng trong nghĩa của từ láy, bên cạnh giá trị biểu cảm, còn có giá trị phong cách Nói đến giá trị phong cách của từ là nói đến cái phạm vi quen dùng hay sự thích ứng của từ trong một phong cách nào đó, đã được định hình như một đặc trưng, một màu sắc riêng của từ trong sử dụng” [37, tr.158] Mỗi tác giả thường có “phạm vi” vốn từ láy riêng mà không trộn lẫn với các tác giả khác dù ở cùng một chủ đề, nội dung tư tưởng Sự độc đáo và khác biệt đó cho thấy: “Từ láy là phương tiện rất có tác dụng trong phong cách nghệ thuật, đặc biệt là trong thơ ca” [37, tr.159]

Ở giai đoạn đầu của thơ Nôm Đường luật, từ láy xuất hiện trong Quốc

âm thi tập và Hồng Đức Quốc âm thi tập mang tính chất mộc mạc, hồn nhiên,

mô phỏng những âm thanh, hình ảnh ngẫu hứng của cảnh vật và con người

Từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Trãi vừa diễn tả được các cung bậc chiều sâu tâm trạng nhân vật trữ tình, vừa đặc tả cảnh thiên nhiên chốn ẩn nhàn:

Tựa gốc cây ngồi hóng mát,

Đìu hiu ta hãy một đìu hiu

(Thuật hứng 22) Hương cách gác vân thu lạnh lạnh, Thuyền kề bãi tuyết nguyệt chênh chênh

(Bảo kính cảnh giới 31)

Trong khi đó, thơ Nôm đề vịnh của các tác gia thời Hồng Đức lại vận dụng hệ thống từ láy gợi lên khung cảnh và con người an vui trong cuộc sống thái bình, thịnh trị:

Phong nguyệt một đòn mang lếch thếch, Yên hà đôi bó quảy khom khom

(Vịnh người hái củi)

Trang 28

Đầu ngàn, êu ểu cỏ xanh om, Thả thả, chăn chăn, ít lại nom

(Vịnh người chăn trâu) Ruộng xanh, nước biếc ngát lom om,

Xê xế canh phu đã tới nom

Đỗi Vũ tắm mưa tai nhấp nhấp Nội Châu cuốc nguyệt cật khom khom

(Họa bài người đi cày)

Đến thế kỉ XVII, Nguyễn Bỉnh Khiêm đưa thơ Nôm trở thành thơ mang tính giáo huấn, triết lý Sự xuất hiện dày đặc của từ láy vừa điệp vừa đối trong bài thơ đã tăng khả năng biểu đạt của bài thơ và có ý nghĩa phản ánh “thói đời” trong xã hội:

Anh anh chú chú mừng hơ hải, Rượu rượu chè chè thết tả tơi

(Bài 80)

Thơ Nôm Đường luật đến Hồ Xuân Hương đã có bước phát triển mạnh

mẽ, thể thơ vốn có niêm luật chặt chẽ ấy lại có khả năng diễn tả mọi khía cạnh của cuộc sống tâm hồn phong phú, đa dạng của con người Vốn từ láy mà nữ

sĩ sử dụng trong thơ không những gần gũi, quen thuộc với cuộc sống đời thường mà còn có sự sáng tạo độc đáo:

Trước nghe những tiếng thêm rền rĩ, Sau giận vì duyên để mõm mòm

(Tự tình I) Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con

(Tự tình II)

Là những người kết thúc vẻ vang cho nền văn học trung đại nói chung

và thơ Nôm Đường luật nói riêng, Nguyễn Khuyến và Tú Xương đã tạo nên phong cách độc đáo riêng của mình trong việc sử dụng vốn từ thuần Việt, đặc biệt là cách sử dụng từ láy

Trang 29

Có thể nói, tiến trình phát triển của thơ Nôm Đường luật chính là tiến trình phát triển của sự phát triển về ngôn ngữ tiếng Việt Thơ ở những giai đoạn đầu mang tính “ngôn chí” chuyển dần đến thơ “quý chân” ở những giai đoạn sau Sự xuất hiện của từ láy cũng vì vậy mà có những đặc điểm độc đáo riêng ở từng giai đoạn, từng tác giả

Từ những tiền đề cơ sở về từ láy cũng như diễn tiến phát triển của từ láy trong thơ Nôm Đường luật của các tác giả trung đại trước Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, luận văn sẽ đi vào tìm hiểu cụ thể hệ thống giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong thơ của hai tác giả tiêu biểu nửa cuối thế kỉ XIX

1.3 Thống kê, phân loại hệ thống từ láy trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương

1.3.1 Tiêu chí thống kê, phân loại

- Khái niệm và quan niệm về từ láy

- Các phương thức láy: Láy hoàn toàn, láy hoàn toàn biến thanh, láy bộ phận (láy phụ âm đầu và láy phần vần)

- Các phương tiện sử dụng từ láy: Từ láy tượng thanh, từ láy tượng hình, từ láy biểu ý

1.3.2 Kết quả phân loại

Bảng 1.1 Thống kê số lượng từ láy trong thơ Nôm Đường luật

Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương

Tên tác

phẩm

Tổng

số bài thơ

Tổng số bài thơ Nôm Đường luật

Tổng số câu thơ

Tổng số

từ láy

Tỷ lệ câu thơ/ từ láy

Trang 30

* Nhận xét:

- Về tài liệu thống kê, phân loại:

Luận văn khảo sát thơ Nôm Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương dựa

trên các tư liệu sau:

+ Nguyễn Khuyến tác phẩm (Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, biên dịch,

giới thiệu) (1984), Nxb Khoa học Xã hội

+ Nguyễn Khuyến tác phẩm chọn lọc (Lại Văn Hùng giới thiệu và

tuyển chọn) (2009), Nxb Giáo dục Việt Nam

+ Trần Tế Xương - Tác phẩm chọn lọc (Vũ Văn Sỹ - Đoàn Ánh Dương

Giới thiệu và tuyển chọn) (2009), Nxb Giáo dục Việt Nam

- Về số lượng bài thơ

+ Trong cuốn Nguyễn Khuyến tác phẩm (Nguyễn Văn Huyền sưu tầm,

biên dịch, giới thiệu) (1984), Nxb Khoa học Xã hội: Có 86 bài thơ Nôm bao gồm cả hát nói, song thất lục bát, lục bát Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu

đề tài, luận văn chỉ khảo sát 74 bài thơ Nôm Đường luật (trong đó có 52 bài

có từ láy trích ở phần Phụ lục) Đồng thời luận văn cũng vận dụng cuốn

Nguyễn Khuyến tác phẩm chọn lọc (Lại Văn Hùng giới thiệu và tuyển chọn)

để đối sánh với phần thơ Nôm tự dịch

+ Trong cuốn Trần Tế Xương - Tác phẩm chọn lọc (Vũ Văn Sỹ - Đoàn

Ánh Dương giới thiệu và tuyển chọn): Có 124 bài thơ Nôm bao gồm cả thơ lục bát, hát nói Luận văn cũng chỉ khảo sát từ láy trong 112 bài thơ Nôm Đường luật (trong đó có 59 bài có từ láy trích ở phần Phụ lục)

- Về số lượng từ láy:

+ Thơ Nôm Đường luật Nguyễn Khuyến: Trong tổng số 74 bài TNĐL

có tổng số câu thơ là 576 câu với 135 từ láy, trung bình 4,2 câu thơ/1 từ láy, chiếm 23,4%

+ Thơ Nôm Đường luật Trần Tế Xương: Trong tổng số 112 bài TNĐL

có tổng số câu thơ là 804 câu với 123 từ láy, trung bình 6,5 câu thơ/1 từ láy, chiếm 15,3%

Trang 31

Kết quả bảng khảo sát thống kê cho thấy, tỷ lệ từ láy trong TNĐL

Nguyễn Khuyến (23,4%) chiếm ưu thế hơn so với tỷ lệ từ láy trong TNĐL

Trần Tế Xương (15,3%)

Theo khảo sát của một số nhà nghiên cứu, số lượng từ láy trong TNĐL

của các tác giả trung đại như sau: Quốc âm thi tập (12%), Hồng Đức quốc âm

thi tập (26,6%), Bạch Vân quốc ngữ thi tập (10,2%), Thơ Hồ Xuân Hương

(29,4%), Thơ Nguyễn Công Trứ (10,5%), Thơ Bà Huyện Thanh Quan (18,7%)

Như vậy, số lượng từ láy trong TNĐL Nguyễn Khuyến và Trần Tế

Xương chiếm tỷ lệ nhiều hơn so với Quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi

tập, Thơ Nguyễn Công Trứ, Thơ Bà Huyện Thanh Quan và chỉ đứng sau

Hồng Đức quốc âm thi tập, Thơ Hồ Xuân Hương

Bảng 1.2 Phân loại từ láy theo phương thức láy

Láy hoàn toàn biến thanh

Láy phụ âm đầu

Láy phần vần

Số lượng

Tỷ lệ

%

Số lượng

Tỷ lệ

%

Số lượng

Tỷ lệ

%

Số lượng

Tỷ lệ

% Thơ

Bảng thống kê, phân loại từ láy theo phương thức láy cho thấy tần suất

sử dụng từng kiểu từ láy của hai tác giả, các số liệu cho thấy:

Tỷ lệ từ láy hoàn toàn trong thơ Trần Tế Xương (16,2%) cao gần gấp

ba so với Nguyễn Khuyến (6%) Trong đó, những từ láy hoàn toàn trong thơ

Nguyễn Khuyến đều là động từ, tính từ như “khò khò”, “xanh xanh”, “cười

Trang 32

cười”, “nói nói”… trong đó từ “cười cười”, “nói nói” được dùng lặp lại hai lần Tú Xương lại vận dụng nhiều danh từ và từ phiếm chỉ trong 22 từ láy hoàn toàn: “tượng tượng”, “xe xe”, “thầy thầy”, “tớ tớ”, “ai ai”, “này này”,

“đâu đâu”… Đây là hiện tượng mà tiếng Việt hiện đại xem đó như hiện tượng lặp từ, điệp từ Tuy nhiên, xét trong hoàn cảnh sử dụng thì chúng được dùng như từ láy và cũng giàu sắc thái biểu cảm, biểu ý

Trong bảng thống kê, phân loại cũng chỉ rõ: Ở từ láy bộ phận thì từ láy phụ âm đầu của hai tác giả chiếm ưu thế hơn so với từ láy phần vần: Từ láy

phụ âm đầu trong thơ Nguyễn Khuyến (64,7%), Trần Tế Xương (69,1), trong khi từ láy phần vần chiếm tỷ lệ thấp hơn: Nguyễn Khuyến (22%), Trần Tế Xương (8,1%) Tỷ lệ này cũng hoàn toàn hợp với quy luật phát triển của từ

láy trong tiếng Việt ở giai đoạn cuối của văn học trung đại Bởi từ láy vần chỉ

có một âm tiết mang nghĩa, hoặc cả hai âm tiết hợp lại mới tạo nghĩa, còn ở từ láy phụ âm đầu, trong nhiều trường hợp cả hai âm tiết nếu tách độc lập đều có nghĩa Như vậy tỷ lệ từ láy phụ âm đầu chiếm ưu thế hơn so với từ láy phần vần cũng cho thấy cách dùng từ láy của tác giả ngày càng tinh lọc hơn, từ láy cũng mang trường nghĩa rộng hơn và giàu giá trị biểu cảm, biểu ý

Bảng 1.3 Phân loại từ láy theo phương tiện sử dụng

Từ láy tượng hình

Từ láy vừa tượng hình vừa tượng thanh

Từ láy biểu ý

Số lượng

Tỷ lệ

%

Số lượng

Tỷ lệ

%

Số lượng

Tỷ lệ

%

Số lượng

Tỷ lệ

% Thơ

Trang 33

* Nhận xét:

Trong bảng phân loại từ láy theo phương tiện sử dụng, thơ Nôm

Nguyễn Khuyến có 9 từ láy tượng thanh (6,62%); 55 từ láy tượng hình (40,44%); 4 từ láy vừa tượng thanh vừa tượng hình (2,94%); 67 từ láy biểu ý (49,62%)

Số lượng từ láy trong thơ Nôm Trần Tế Xương cụ thể như sau: 8 từ láy

tượng thanh (6,5%); 60 từ láy tượng hình (48,7%); 7 từ láy vừa tượng thanh vừa tượng hình (5,7%); 48 từ láy biểu ý (39%)

Bảng thống kê cho thấy: số lượng từ láy tượng hình xuất hiện với tỷ lệ

cao và chiếm ưu thế trong cả thơ Nguyễn Khuyến (40,44%) và Trần Tế Xương (48,7%) Tỷ lệ này cho thấy tính chất đặc trưng của từ láy là mang

tính tượng hình, đồng thời phù hợp với lối sáng tác thơ Đường là “thi trung hữu họa” Cách vận dụng nhiều từ láy tượng hình cho thấy các tác giả vẫn vận dụng và kế thừa thi pháp sáng tác thơ cổ điển Đồng thời tỷ lệ từ láy tượng hình còn cho thấy chất “ngôn chí” của giai đoạn trước dần nhường chỗ cho thơ “tả chân” ở giai đoạn kết thúc của văn học trung đại Những hình tượng văn học ngày càng được chú ý khắc họa chân thực, đầy đủ và cụ thể hơn

Bên cạnh từ láy tượng hình, từ láy biểu ý cũng được sử dụng nhiều trong

thơ Nguyễn Khuyến (49,62%), Trần Tế Xương (39%) Số lượng lớn từ láy

biểu ý xuất hiện trong thơ giai đoạn này không chỉ thể hiện tư tưởng, tình cảm phong phú của tác giả mà còn góp phần phản ánh hiện thực rộng lớn của xã hội đương thời Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương đều đã thành công trong việc khắc họa hiện thực rộng lớn của xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX ở nông thôn và thành thị với nhiều tầng lớp người khác nhau Vậy nên, sự xuất hiện nhiều từ láy biểu ý cũng phù hợp với các sáng tác thơ giai đoạn này

Trong bảng thống kê cũng cho thấy số lượng từ láy tượng thanh chiếm

tỷ lệ chưa nhiều: Nguyễn Khuyến (6,62%) và Trần Tế Xương (6,5%) Tuy

vậy, hệ thống từ láy tượng thanh góp phần phản ánh sinh động âm thanh của cuộc sống con người giai đoạn này Từ tượng thanh trong thơ Nguyễn

Trang 34

Khuyến mô tả âm thanh của thôn quê miền Bắc Việt Nam còn từ tượng thanh trong thơ Trần Tế Xương chủ yếu mô phỏng lại âm thanh hỗn tạp, nhốn nháo chốn trường thi và thành thị buổi giao thời

Ngoài ra, cả hai tác giả cũng sử dụng một số từ láy vừa gợi âm thanh vừa gợi hình ảnh nhằm diễn đạt sâu sắc nhất những cảm nhận tinh tế của nhà thơ về bức tranh xã hội đương thời

1.3.3 Hệ thống từ láy trong trong thơ Nôm Đường luật Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương

Ngoài phần Phụ lục trích dẫn các bài thơ có sử dụng từ láy, chúng tôi

đã thống kê phân loại hệ thống từ láy trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương theo các nội dung trên bảng thống kê là theo phương thức láy và phương tiện sử dụng

1.3.3.1 Hệ thống từ láy trong trong thơ Nôm Đường luật Nguyễn Khuyến

3 Gái goá than lụt man mác, phập phồng, kình rình 3

4 Bỡn cô tiểu ngủ ngày khò khò, mát mẻ , hi hóp, gật gù 4

11 Chế học trò ngủ gật Trò trẹt, Gật gà gật gưỡng, nồng 5

Trang 35

nặc, lim dim, la liệt

12 Học trò phụ công thầy mênh mông, lai láng, Nâng niu,

14 Về hay ở Văng vẳng, vui vẻ, quang quác

quác, tẻ tè te, giục giã, khoẻ khoe 6

16 Núi lão huyện ta phơi phới, Đìu hiu, Tí tẻo, xa

xăm, ngất ngưởng, sắm sửa 6

7

23 Cuốc kêu cảm hứng Khắc khoải, lửng lơ, ròng rã,

24 Vịnh lụt thấp thoáng, long bong, Sửa sang 3

27 Thu ẩm le te, lập loè, phất phơ, lóng lánh 4

30 Không chồng trông bông Tơ tưởng, ngao ngán, ngẩn ngơ, 5

Trang 36

lông cười cười, nói nói

31 Mắc tay Hoạn Thư lỏng lẻo, ngẩn ngơ, tưng hửng 3

32 Khuyên Từ Hải hàng ngơ ngác, bèo bọt, nỉ non, run rủi 4

33 Lụt hỏi thăm bạn Lụt lội, chơi bời, Thung thăng 3

36 Mừng ông nghè mới đỗ rẻ rúng, nhẽ che 2

44 Cáo Quan Về Ở Nhà rạch ròi, đo đắn, lờ mờ 3

45 Ngày Xuân dặn các con lơ láo, ngất ngơ, Lẩn thẩn, say sưa 4

Trang 37

Bảng 1.4 Từ láy phân loại theo phương thức láy trong Thơ Nôm Đường

luật Nguyễn Khuyến

tẻ tè te khoẻ khoe phơi phới Chom chỏm tẻo teo

dơ dở vòi vọi

tương tư, man mác, phập phồng, mát mẻ, hi hóp, gật

gù, Nhấp nhoáng, Mơ màng, Nhắn nhủ, trang trải, túng tiêu, Trò trẹt, Gật gà gật gưỡng, nồng nặc, la liệt, mênh mông, lai láng, Nâng niu, Dìu dắt, vùng vẫy, rỉ răng, bay bổng, vui vẻ, quang quác quác, giục giã,

mơ màng, thanh thả, Tí tẻo,

xa xăm, ngất ngưởng, sắm sửa, thấm thoắt, lo lắng, Sầm sập, lung lay, Nhập nhèm, Khấp khểnh, Ình ịch, nhấp nhô, thập thò, Khắc khoải, lửng lơ, ròng rã, ngẩn ngơ, thấp thoáng, Sửa sang, vo ve, len lỏi, xáo xác, Nợ nần, lập loè, phất phơ, lóng lánh, lạnh lẽo, lơ lửng, quanh co, hắt hiu, Tơ tưởng, ngao ngán, ngẩn ngơ, lỏng lẻo, ngẩn

kình rình long đong đinh ninh lim dim chót vót Bảng lảng Đìu hiu làng nhàng lốm đốm lủng củng lẹt đẹt long bong lung tung

le te

lơ phơ tưng hửng chơi bời nhẽ che Lóc cóc Chót vót tênh nghếch lom khom

lờ mờ

Trang 38

ngơ, ngơ ngác, bèo bọt, nỉ non, run rủi, Lụt lội, Thung thăng, mất mảy, ky cóp, hiu hắt, rẻ rúng, duyên dáng, hở hang, gật gù, phất phới, rạch ròi, đo đắn, lơ láo, ngất ngơ, say sưa, xa xôi, vắng vẻ, man mác, phôi pha, Bỏ bê, Vội vàng, bập bồng, hờ hững, Tần tiện

Lẩn thẩn

Li ti,

Lố nhố loáng thoáng

lơ thơ

êm ái

Bảng 1.5 Từ láy phân loại theo phương tiện sử dụng trong Thơ Nôm

Đường luật Nguyễn Khuyến

Sầm sập long bong cười cười nói nói

tương tư, tình tinh,

man mác, mát mẻ, hi hóp, Mơ màng, Nhắn nhủ, long đong, đinh ninh, chi chi, trang trải, túng tiêu, Trò trẹt, nồng nặc, Nâng niu, Dìu dắt, rỉ răng, vui

vẻ, bay bổng, giục giã,

Trang 39

Nhập nhèm, Khấp khểnh, nhấp nhô, Xanh xanh, thập thò, thấp thoáng, len lỏi, le

te, lập loè, phất phơ, lóng lánh, tẻo teo, lơ lửng, quanh co, lơ phơ, lỏng lẻo, Lụt lội, hiu hắt, duyên dáng,

hở hang, gật gù, Chót vót, phất phới, tênh nghếch, lom khom, lơ láo, Li ti, Lố nhố, xa xôi, loáng thoáng, vắng vẻ, lơ thơ, Vội vàng, bập bồng, hờ hững, Đìu hiu, xa xăm, ngất ngưởng

khoẻ khoe, Mơ màng, năm nào năm nảo, thanh thả, mong mỏi, thấm thoắt, lo lắng, lủng củng , Khắc khoải, lửng lơ, ròng

rã, ngẩn ngơ, Sửa sang, xáo xác, Nợ nần, lung tung, lạnh lẽo, hắt hiu, Tơ tưởng, ngao ngán, ngẩn ngơ, , ngẩn ngơ, êm ái, thôi thôi, tưng hửng, ngơ ngác, bèo bọt, run rủi, hào hoa, chơi bời, Thung thăng, mất mảy,

ky cóp, rẻ rúng, nhẽ che, dơ dở, Thôi thôi, rạch ròi, đo đắn, lờ

mờ, ngất ngơ, Lẩn thẩn, say sưa, man mác, phôi pha, Bỏ bê, Tần tiện, phơi phới, Tí tẻo, sắm sửa

Trang 40

1.3.3.2 Hệ thống từ láy trong trong thơ Nôm Đường luật Trần Tế Xương

17 Nhớ bạn phương trời vui vẻ, lạ lùng, Tương tư 3

18 Cháu khóc cô chồng Xác xơ, Nung nấu, lênh đênh 3

Ngày đăng: 17/07/2023, 23:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2003), Từ điển Hán Việt, tái bản, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
2. Arixtốt (1964), Nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Arixtốt
Nhà XB: Nxb Văn hóa Nghệ thuật
Năm: 1964
3. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
4. Lại Nguyên Ân - Bùi Văn Trọng Cường (2001), Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX, tái bản lần thứ 4, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX, tái bản lần thứ 4
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
5. Lê Bảo (Tuyển chọn và biên soạn) (1999), Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường - Nguyễn Khuyến, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường - Nguyễn Khuyến
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
6. Lê Bảo, Hà Minh Đức, Đỗ Kim Hồi... (2000), Giảng văn văn học Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng văn văn học Việt Nam
Tác giả: Lê Bảo, Hà Minh Đức, Đỗ Kim Hồi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
7. Nguyễn Tài Cẩn (1998), Ngữ pháp tiếng Việt , Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
8. Trần Văn Chánh (1993), Từ điển Hán Việt hiện đại và cổ, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt hiện đại và cổ
Tác giả: Trần Văn Chánh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1993
9. Đỗ Hữu Châu (1962), Từ phản điệp, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ phản điệp
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1962
10. Đỗ Hữu Châu (1999), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
11. Nguyễn Đổng Chi (1993), Việt Nam cổ văn học sử, tái bản, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam cổ văn học sử
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1993
12. Nguyễn Huệ Chi (Chủ biên) (1994), Thi hào Nguyễn Khuyến - Đời và thơ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hào Nguyễn Khuyến - Đời và thơ
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
13. Nguyễn Huệ Chi (2013), Văn học cổ cận đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học cổ cận đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
14. Nguyễn Đình Chú (1985), “Nguyễn Khuyến với thời gian”, Tạp chí Văn học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khuyến với thời gian
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1985
15. Phan Huy Chú (1960), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1960
16. Phan Trần Chúc (1944), Văn chương quốc âm về thế kỉ XIX, Nxb Đổi mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương quốc âm về thế kỉ XIX
Tác giả: Phan Trần Chúc
Nhà XB: Nxb Đổi mới
Năm: 1944
17. Thiều Chửu (2002), Hán Việt tự điển, Tái bản, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt tự điển
Tác giả: Thiều Chửu
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
18. Đoàn Trung Còn (dịch) (2000), Tứ Thư, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ Thư
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2000
19. Xuân Diệu (2001), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Tái bản, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2001
21. Lê Chí Dũng (2001), Tính cách Việt Nam trong thơ Nôm luật Đường, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính cách Việt Nam trong thơ Nôm luật Đường
Tác giả: Lê Chí Dũng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thống kê số lượng từ láy trong thơ Nôm Đường luật - Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong thơ nôm nguyễn khuyến, trần tế xương
Bảng 1.1. Thống kê số lượng từ láy trong thơ Nôm Đường luật (Trang 29)
Bảng 1.2. Phân loại từ láy theo phương thức láy - Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong thơ nôm nguyễn khuyến, trần tế xương
Bảng 1.2. Phân loại từ láy theo phương thức láy (Trang 31)
Bảng 1.3. Phân loại từ láy theo phương tiện sử dụng - Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong thơ nôm nguyễn khuyến, trần tế xương
Bảng 1.3. Phân loại từ láy theo phương tiện sử dụng (Trang 32)
Bảng 1.4. Từ láy phân loại theo phương thức láy trong Thơ Nôm Đường - Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong thơ nôm nguyễn khuyến, trần tế xương
Bảng 1.4. Từ láy phân loại theo phương thức láy trong Thơ Nôm Đường (Trang 37)
Bảng 1.5. Từ láy phân loại theo phương tiện sử dụng trong Thơ Nôm - Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong thơ nôm nguyễn khuyến, trần tế xương
Bảng 1.5. Từ láy phân loại theo phương tiện sử dụng trong Thơ Nôm (Trang 38)
Bảng 1.6. Từ láy phân loại theo phương thức láy trong Thơ Nôm Đường - Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong thơ nôm nguyễn khuyến, trần tế xương
Bảng 1.6. Từ láy phân loại theo phương thức láy trong Thơ Nôm Đường (Trang 42)
Bảng 1.7. Từ láy phân loại theo phương tiện sử dụng trong Thơ Nôm - Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong thơ nôm nguyễn khuyến, trần tế xương
Bảng 1.7. Từ láy phân loại theo phương tiện sử dụng trong Thơ Nôm (Trang 44)
Bảng lảng lòng quê khôn chợp được. - Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong thơ nôm nguyễn khuyến, trần tế xương
Bảng l ảng lòng quê khôn chợp được (Trang 114)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w