1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm hứng và chất liệu tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử và Huy Cận

24 848 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 332,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dù màu sắc và mức độ khác nhau nhưng Hàn Mặc Tử và Huy Cận đều sử dụng khá nhiều chất liệu tôn giáo và lấy cảm hứng tôn giáo để sáng tạo những thi phẩm độc đáo, tạo nên một thế giới nghệ

Trang 1

Cảm hứng và chất liệu tôn giáo trong thơ Hàn Mặc

Tử và Huy Cận : / Nguyễn Thị Yến ; Nghd : PGS.TS Trần Khánh Thành - H : ĐHKHXH &

NV, 2009 - 71 tr + CD-ROM

1 Lý do chọn đề tài

Tôn giáo là một một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, ra đời sớm và có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tinh thần của nhân loại Đã từ lâu, tôn giáo và nghệ thuật có mối quan hệ gắn bó và thâm nhập lẫn nhau, đôi khi thật khó phân biệt đâu là tác phẩm văn học và đâu là giáo lý của tôn giáo Tôn giáo là đề tài hấp dẫn và là nguồn cảm hứng vô tận của các nhà thơ, nhà văn Nhiều kiệt tác nghệ thuật thế giới hướng về đề tài tôn giáo Tôn giáo là vùng lãnh địa hấp dẫn để các nhà thơ, nhà văn thể hiện khao khát tột cùng của mình về cái đẹp và về miền bí ẩn khuất lấp trong tâm hồn con người, góp phần hướng con người vươn tới cái thiện

Trong lịch sử văn học Việt Nam, mối quan hệ giữa văn học và tôn giáo khá mật thiết Thời kì trung đại, văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng khá đậm của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo Đặc biệt thời Lý -Trần, Phật giáo chi phối rất sâu rộng đề tài, cảm hứng văn học, tạo nên dấu ấn đặc sắc trong tiến trình văn học Việt Nam

Bước sang thời kỳ hiện đại, cùng với sự giao lưu văn hóa Đông – Tây, mối quan hệ giữa văn học và tôn giáo có thêm nhiều sắc thái mới Bên cạnh

sự ảnh hưởng qua lại giữa văn học và các tôn giáo truyền thống phương Đông, lại có thêm sự ảnh hưởng không kém phần mạnh mẽ của Thiên Chúa giáo được truyền bá từ phương Tây trong thế kỷ XIX vào đầu thế kỷ XX Những nguồn ảnh hưởng qua lại đó được thể hiện khá tập trung ở thơ Hàn Mặc Tử và Huy Cận Dù màu sắc và mức độ khác nhau nhưng Hàn Mặc Tử

và Huy Cận đều sử dụng khá nhiều chất liệu tôn giáo và lấy cảm hứng tôn giáo để sáng tạo những thi phẩm độc đáo, tạo nên một thế giới nghệ thuật hấp

Trang 2

dẫn, đầy không khí thiêng liêng Đó chính là lý do thôi thúc chúng tôi chọn

Cảm hứng và chất liệu tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử và Huy Cận làm đề tài

luận văn thạc sĩ, xem đó như là một hướng để khám phá và nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử và Huy Cận

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Hàn Mặc Tử

Năm 1987, khi Nhà xuất bản Văn học ấn hành Tuyển tập Hàn Mặc Tử nhà thơ Chế Lan Viên viết lời giới thiệu có cái nhan đề khá độc đáo: Hàn Mặc

Tử, anh là ai? Cho đến bây giờ giới nghiên cứu dù tốn biết bao giấy mực

cũng chưa thể trả lời cho thật thấu đáo câu hỏi “Hàn Mặc Tử, anh là ai?” Hàn Mặc Tử là một tài năng lớn, độc đáo với một hồn thơ mãnh liệt mà kì dị Thơ ông có cảnh quê, tình quê nồng nàn, rạo rực và có cả cảnh máu cuồng, hồn điên rất kinh dị Hàn Mặc Tử tự nhận mình là “thi sĩ của đội quân thánh giá”, khơi mạch thơ ở Đức Chúa trời Chính cảm hứng và chất liệu tôn giáo đã góp phần tạo nên một thế giới thơ độc đáo nhưng cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về cảm hứng và chất liệu tôn giáo

trong thơ Hàn Mặc Tử

Nhìn tổng quan, lịch sử nghiên cứu Hàn Mặc Tử có ba giai đoạn lớn với những mốc thời gian tương đối xác định: Một là trước 1945, hai là từ 1945-1987, ba là từ 1987 đến nay

Trước 1945, hầu hết là những ý kiến thiên về khẳng định, đề cao tài

năng Hàn Mặc Tử ở những công trình như Thi nhân Viêt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, nhất là công trình

Hàn Mặc Tử, thân thế và thi văn của Trần Thanh Mại và những bài báo khác

đều ca ngợi tên tuổi của Hàn Mặc Tử như một vì sao chổi lạ xoẹt ngang bầu trời thi ca Việt Nam

Trang 3

Từ 1945-1987, việc nghiên cứu Hàn Mặc Tử hình thành hai khu vực phía Bắc và phía Nam Phía Bắc do điều kiện chiến tranh và quan điểm nhìn nhận còn khắt khe nên việc khẳng định còn dè dặt và chật hẹp Trong khi đó ở phía Nam lại có phần thái quá trong việc đề cao thơ Hàn Mặc Tử

Từ 1987 đến nay, không khí đổi mới đã giải phóng tư duy, khơi nguồn sáng tạo cho các nhà phê bình nghiên cứu văn học, việc đánh giá các hiện tượng văn học trong quá khứ cởi mở và khách quan hơn Nhiều nhà Thơ mới

đã được nhìn nhận theo một tinh thần mới Lần đầu tiên Tuyển tập thơ Hàn

Mặc Tử được ấn hành trên toàn quốc Nhà thơ Chế Lan Viên đánh giá rất cao

người bạn thơ cùng trường phái với mình Từ đây, việc nghiên cứu Hàn Mặc

Tử lại trở nên hưng thịnh hơn bao giờ hết Thơ Hàn Mặc Tử được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông như một trong những gương mặt sáng giá nhất của phong trào Thơ mới, được đưa vào giảng dạy ở Đại học như một tác gia của văn học Việt Nam hiện đại Thơ văn Hàn Mặc Tử được tái bản nhiều lần Những công trình nghiên cứu, sưu tầm, hồi ký, chuyên khảo, chuyên luận, bình giảng về tác phẩm của Hàn Mặc Tử lần lượt ra đời Các nhà nghiên cứu

đã tìm tòi, khám phá ngày càng sâu sắc hơn về những di sản tinh thần của Hàn Mặc Tử, có một số nhà nghiên cứu đã tìm đến miền linh thiêng, bí ẩn

trong thơ ông Tiêu biểu là các bài: Ảnh hưởng Đạo phật trong thơ Hàn Mặc

Tử (Quách Tấn), Hàn Mặc Tử với đức tin, Đạo và đời trong thơ Hàn Mặc Tử

(Yến Lan) Những bài viết này bước đầu đã phân tích mối quan hệ giữa tôn giáo và cảm hứng sáng tạo nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử, tạo những điểm tựa quan trọng để tác giả thực hiện luận văn này Yếu tố tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử là điều dễ nhận thấy Nhưng ảnh hưởng của nó thuộc những phương diện nào trong thế giới nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử? Thuộc phạm trù tình cảm (Đức tin tôn giáo?) hay tư duy nghệ thuật (Tư duy tôn giáo)? Và tôn giáo ở Hàn Mặc Tử chỉ thuần là Công giáo hay gồm cả Phật giáo? Từ những

Trang 4

câu hỏi đó người viết có thể tìm câu trả lời trong khi đến với thế giới nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử

có tính chất hệ thống và khái quát hơn trên góc độ thi pháp, thế giới nghệ thuật thơ Huy Cận

Các nhà thơ, các nhà phê bình nghiên cứu văn học như Xuân Diệu, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Trương Chính, Lê Đình Kỵ, Trinh Đường, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Văn Long, Trần Khánh Thành, Trần Đình Sử, Vũ Quần Phương, Đỗ Lai Thúy đều có những bài tiểu luận, chuyên luận sâu sắc về Huy Cận Các tác giả đều trân trọng những đóng góp của Huy Cận trên cả hai chặng đường thơ, trước và sau cách mạng Nhiều ý kiến đã lý giải được quá trình vận động cảm hứng sáng tạo của Huy Cận qua các tập thơ, phác thảo được những nét đặc sắc phong cách thơ Huy Cận về tình yêu sự sống, nỗi khắc khoải không gian, giọng điệu trầm lắng,… những tiểu luận đánh giá phê bình này được tập hợp

lại khá đầy đủ trong hai công trình: Huy Cận đời và thơ - Trần Khánh Thành tuyển chọn và giới thiệu [31]; Huy Cận về tác gia và tác phẩm - Trần Khánh

Thành, Lê Dục Tú tuyển chọn và giới thiệu [32]

Nhìn chung lịch sử nghiên cứu thơ Huy Cận có thể thấy chia làm hai giai đoạn, trước và sau Cách mạng Tháng Tám

Thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám: Năm 1940, tập thơ Lửa thiêng

của Huy Cận ra mắt bạn đọc cùng với lời giới thiệu hết sức nhiệt thành của

Trang 5

nhà thơ Xuân Diệu Với tâm hồn nhạy cảm, với sự thấu hiểu của một tri âm tri

kỉ, Xuân Diệu đã chỉ ra được những nỗi niềm của Huy Cận trong thơ Nỗi buồn nhân thế, tình cảm yêu đời tha thiết, khả năng lắng nghe linh hồn trời đất

của Huy Cận đã được Xuân Diệu lý giải thuyết phục Trong Thi Nhân Việt

Nam, Hoài Thanh đã chỉ ra một nét nổi trội trong hồn thơ Huy Cận: “Có lẽ thi

nhân trong cuộc viễn du đã có lần nhác thấy cái xa thẳm của thời gian và không gian, có lẽ người đã nghe trong hồn hơi gió lạnh buốt từ vô cùng đưa đến” [30] Như vậy, bên cạnh việc đánh giá Huy Cận như một tiếng thơ tiêu biểu, đặc sắc của phong trào Thơ mới, các nhà phê bình nghiên đã chỉ ra được một số đặc điểm trong cảm quan nghệ thuật của Huy Cận, bước đầu đã nhận

ra cõi thiêng liêng, cổ kính, thanh cao trong Lửa thiêng

Sau Cách mạng Tháng Tám, Huy Cận cho ra đời nhiều tập thơ: Trời

mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời, Hai bàn tay em, Những năm

60, Chiến trường gần đến chiến trường xa, Ngày hằng sống ngày hằng thơ,…

đã thu hút được sự chú ý của đông đảo giới phê bình nghiên cứu Hàng loạt các bài báo, tiểu luận đã kịp thời khẳng định những thành quả mới của Huy Cận Các tác giả đều chủ yếu tâp trung đi sâu vào những đổi mới cơ bản, tích cực trong hồn và trong thơ Huy Cận sau cách mạng Có hai chuyên luận khá

công phu về toàn bộ sự nghiệp thơ của Huy Cận Đó là Thế giới thơ Huy Cận (1987) của Xuân Diệu và Thi pháp thơ Huy Cận (2002) của Trần Khánh Thành Trong Thi pháp thơ Huy Cận, Trần Khánh Thành đã phân tích quan

niệm của Huy Cận về phần hồn của con người trong cuộc sống và trong cõi trời xưa cõi biếc Trong nhiều tiểu luận viết về thơ Huy Cận, chúng tôi đặc

biệt lưu tâm đến hai tiểu luận: Ngọn lửa thiêng trong đời và trong thơ của Hà Minh Đức và Huy Cận, sự khắc khoải không gian của Đỗ Lai Thúy Giáo sư

Hà Minh Đức tuy còn dè dặt nhưng bước đầu đã đặt vấn đề “Phải chăng Huy

Trang 6

Cận đã chịu ảnh hưởng của một tôn giáo nào để rồi hình dung ra bên cạnh cõi đời là một địa ngục hay thiên đường?’’ Còn Đỗ Lai Thúy cắt nghĩa nỗi khắc

khoải không gian trong Lửa thiêng là niềm tâm sự của kẻ mất Thiên đường

Ông đã chỉ ra ảnh hưởng của Thiên chúa giáo trong nhiều bài thơ của Huy Cận Đây cũng là những gợi mở cần thiết để tác giả tìm hiểu cảm hứng và chất liệu tôn giáo trong thơ Huy Cận

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là cảm hứng và chất liệu tôn

giáo được thể hiện trong thơ Hàn Mặc Tử và thơ Huy Cận

* Phạm vi nghiên cứu: Tất cả các tác phẩm thơ viết về tôn giáo và có

liên quan đến tôn giáo trong thơ của Hàn Mặc Tử và Huy Cận

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp hệ thống

Để chỉ ra những nét đặc trưng, khác lạ về Tôn giáo trong thơ Hàn Mặc

Tử và thơ Huy Cận Coi thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử và thơ Huy Cận như một chỉnh thể thống nhất, là một thế giới tinh thần của thi sĩ Trong đó tôn giáo đóng vai trò như thế nào trong sáng tạo nghệ thuật?

4.2 Phương pháp khảo sát thống kê

Nhằm chứng minh thế giới thơ Hàn Mặc Tử dày đặc những cảm hứng

và niềm tin tôn giáo chúng tôi tiến hành thống kê những bài thơ có liên quan đến tôn giáo để tiến hành khảo sát tìm ra những đặc điểm riêng trong thế giới nghệ thuật của hai tác giả

4.3 Phương pháp phân tích, so sánh

Trang 7

Để thấy được cái riêng, cái nổi bật, đặc trưng trong thơ Hàn Mặc Tử so với Huy Cận và so với các tác giả khác cùng thời (1930-1945) Từ đó thấy được giá trị, chỗ đứng của niêm tin tôn giáo trong cuộc sống và trong sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ

5 Kết cấu của luận văn

Gồm phần mở đầu, ba chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Chương 1: Tôn giáo và mối quan hệ giữa tôn giáo và nghệ thuật

Chương 2: Cảm hứng và chất liệu tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử

Chương 3: Cảm hứng và chất liệu tôn giáo trong thơ Huy Cận

Trang 8

Chương 1

TÔN GIÁO VÀ CẢM HỨNG TÔN GIÁO TRONG VĂN HỌC

1.1 Giới thuyết chung về tôn giáo

1.1.1 Tôn giáo và nguồn gốc của tôn giáo

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, nguồn gốc

nhận thức chỉ là tiền đề làm nảy sinh hiện tượng tôn giáo, chính nguồn gốc xã

hội, sự bất lực của con người trong các hoạt động thực tiễn cải tạo xã hội mới là

nguồn gốc cơ bản, chủ yếu nhất tạo nên tôn giáo

Trong thực tế, những nguồn gốc dẫn đến sự ra đời, tồn tại của tôn giáo luôn quan hệ chặt chẽ, thành một thể thống nhất không tách rời nhau Song vai trò của chúng không ngang bằng nhau Vai trò đó phụ thuộc vào điều kiện lịch

sử cụ thể Tuy nhiên, ở bất cứ đâu, trong bất cứ thời điểm nào, nguồn gốc xã hội, vẫn là cơ bản, chủ yếu nhất Nó quyết định xu hướng, nội dung, hình thức, tồn tại phát triển của nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý; quyết định sự ra đời của tôn giáo Ngược lại, nguồn gốc nhận thức, nguồn gốc tâm lý cũng tác động trở lại rất to lớn đến sự hình thành, phát triển của tôn giáo và góp phần làm sâu sắc, phong phú hơn nguồn gốc xã hội

1.1.2 Bản chất của tôn giáo

Từ tư tưởng của các nhà kinh điển có thể khẳng định, bản chất tôn giáo là

sự phản ánh hư ảo thế giới khách quan vào trong đầu óc những con người chưa tìm thấy mình, hoặc tự đánh mất mình một lần nữa

Như vậy, nội dung phản ánh của tôn giáo luôn luôn là sự thống nhất giữa cái hư và cái thực, trong đó cái hư ảo, cái bịa đặt chiếm tỉ trọng tuyệt đối, giữ vai trò chủ đạo, lấn át, che lấp hầu như toàn bộ cái thực Cái thực, được hiện ra như một nhu cầu được bù đắp tình cảm, lý trí và sức mạnh để vươn tới cuộc sống ấm

no, hạnh phúc; một khát vọng thoát ra và phản kháng lại cái xã hội buộc con

Trang 9

người sinh ra tôn giáo, cần đến tôn giáo Tuy bị suy biến, bị phủ định và chiếm một tỉ lệ vô cùng nhỏ, song không bao giờ cái thực mất đi hoàn toàn, nó vẫn là điều kiện, tiền đề cho sự tồn tại của cái ảo, của tôn giáo Đúng như Phoiơbắc đã viết: "Trong tôn giáo, ngoài ảo tưởng ra, mặt thực tế tìm tòi cái tốt hơn tìm sự che chở, sự giúp đỡ là cực kỳ quan trọng" [20, tr 63] Hơn nữa, toàn bộ quá trình ra đời, tồn tại, vận động, phát triển của tôn giáo cũng như các hoạt động tôn giáo vừa là sự biểu hiện, vừa là quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa cái hư và cái thực

1.2 Cảm hứng tôn giáo trong văn học

Không phải ngẫu nhiên, không phải chỉ kinh thánh mà kinh Coran, kinh veda đều là những kiệt tác văn học Đạo đức, triết học, tôn giáo và nghệ thuật

là những đối tượng thuộc thượng tầng kiến trúc, từ lâu đã có mối quan hệ mật thiết và qua lại Đạo đức, nhất là triết học tác động mạnh mẽ đến nghệ thuật, nhưng Tôn giáo lại gắn bó chặt chẽ với nghệ thuật theo một con đường riêng Triết học dù có sâu sắc bao nhiêu, đạo đức dù có cao cả đến đâu, cũng là nhằm giải thích thế giới hoặc hướng đạo cuộc sống thực tại Còn tôn giáo bao giờ cũng hướng về một thế giới khác, cho nên nó dễ bắt gặp tính chất lý tưởng vươn lên trên thực tế của nghệ thuật Feurerbach đã có một nhận xét khá sâu sắc: Tôn giáo là thơ, người ta có thể nói như vậy bởi vì lòng tin bằng sản phẩm của tưởng tượng

Văn học chân chính bao giờ cũng hướng con người vươn tới cái đẹp, cái thiện, làm cho con người càng ngày càng hoàn thiện hơn Nghệ thuật ra đời trong thời kỳ bình minh của lịch sử nhân loại Xuất phát từ nhu cầu lao động và nhận thức thế giới, xuất phát từ nhu cầu giao tiếp tư tưởng tình cảm, nghệ thuật đã hình thành và phát triển không ngừng Khi tư duy của con người phát triển, nền nghệ thuật phát triển đến trình độ cao thì tác phẩm nghệ thuật trở thành món ăn tinh thần cho con người

Trang 10

Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực cuộc sống của con người nơi trần thế, nơi con người sống với ngổn ngang những suy tư dằn vặt, với những niềm vui, nỗi buồn, nơi con người có sinh thành, phát triển và có già cỗi, mất đi, nơi những kiếp người có sinh có diệt Văn học nghệ thuật không bao giờ thoát li đời sống Nó lấy chất liệu từ đời sống phong phú phức tạp rồi sàng lọc qua quá trình sáng tạo của nhà văn để xây nên những hình tượng nghệ thuật

Khác với nghệ thuật, Tôn giáo là hình thức phủ nhận thực tại, là cuộc trốn chạy hiện thực đời sống trần thế Tôn giáo hướng con người đến thế giới thiêng liêng cao cả, nơi trú ngụ của thần thánh cao sang, bất diệt Thế giới của Tôn giáo là thế giới được xây bằng trí tưởng tượng, xây bằng niềm mơ ước thánh thiện Đó là thế giới có sự sống vĩnh cửu, nơi đó là tâm hồn con người

sẽ được thanh thản, bình yên trong sự cưu mang của Đấng tối cao

Nghệ thuật và Tôn giáo là hai hình thái ý thức xã hội khác nhau Bản chất của Tôn giáo và nghệ thuật không giống nhau, nhưng hai hình thái ý thức

ấy lại có những điểm gặp gỡ, giao thoa nhất định Điểm hội tụ ấy chính là những miền bí ẩn nơi tâm hồn con người, là khao khát đền bù những hạn chế, thiếu hụt trong đời sống con người ở thực tại

Chính vì thế mà đã từ lâu Tôn giáo đã trở thành để tài hấp dẫn cho nghệ thuật Không riêng gì văn học, ở lĩnh vực nhạc, họa, điêu khắc cũng có khá nhiều tác phẩm nổi tiếng hướng vào đề tài Tôn giáo Không chỉ là đề tài mà Tôn giáo còn trở thành nguồn cảm hứng vô tận của các nhà thơ…

Thơ là hiện thực cuộc sống được kết tinh, là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp Thơ không nói chuyện đời mà còn nói đến chuyện đạo, thơ không chỉ phản ánh các mối quan hệ tình cảm giữa người và người

mà còn phản ánh ý thức của con người và giới tự nhiên Thơ phản ánh biểu

Trang 11

hiện con người xã hội nhưng cũng phản ánh con người tâm linh.Tôn giáo đã mượn hình thức nghệ thuật để chuyển tải nội dung giáo lý, đức tin của mình

Vì vậy ở một số nhà thơ cảm hứng Tôn giáo thâm nhập vào nội dung cảm hứng thơ ca, trong đó có thi sỹ Hàn Mặc Tử và Huy Cận

Thơ của 2 thi sỹ này vừa phản ánh cuộc đời nơi trần thế vừa phản ánh thế giới tâm linh con người ở miền cực lạc Có điểm giao thoa giữa tôn giáo và nghệ thuật trong hai nhà thơ này, có điều mức độ đậm nhạt khác nhau Một người là con chiên ngoan đạo, được mệnh danh là “thi sỹ của đạo quân thánh giá” nói thứ tiếng của Tôn giáo mình, còn người kia là kẻ ngoại đạo (Huy Cận) có cái nhìn của người ngoài cuộc.Nhưng nếu như Tôn giáo là nguồn cảm hứng vô tận đối với Hàn Mặc Tử để tác giả trải niềm đau thì nó lại là chất liệu sống động và hữu hiệu nhất để Huy Cận từ tôn giáo nói đên cuộc đời

Tôn giáo mà hai nhà thơ này hướng tới không phải là giáo phái nào khác mà chính là Phật giáo và Thiên chúa giáo Đây là hai trong số những Tôn giáo lớn nhất trên thế giới và có hệ thống tín đồ đông đảo

Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ngay từ đầu Công nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử học đạo của một nhà sư Ấn Độ Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trị sở của quận Giao Chỉ sớm trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La (Ksudra) trong khoảng các năm 168-189

Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (bậc giác ngộ) được phiên âm trực tiếp thành "Bụt", từ "Bụt" được dùng nhiều trong các truyện dân gian Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Tiểu thừa, Bụt được coi như một vị thần chuyên cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu Sau này, vào thế

kỷ thứ 4-5, do ảnh hưởng của Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ "Bụt" bị mất đi

Trang 12

và được thay thế bởi từ "Phật" Trong tiếng Hán, từ Buddha được phiên âm thành "Phật đà", "Phật đồ" rồi được rút gọn thành "Phật"

Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm Đến đời nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất

cả mọi vấn đề trong cuộc sống Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái Đến đầu thế kỷ 17, vua Quang Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên việc này không có nhiều kết quả Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu

Thành tựu lớn nhất của Phật giáo là đã tìm ra Tứ diệu đế: Đạo Phật quan niệm cuộc đời là bể khổ(Khổ đế), tất cả mọi ham muốn của con người không đạt được đều khổ Nguyên nhân sinh ra khổ là ái dục và vô minh (Tập đế) Đạo Phật còn chỉ ra con đường để thoát khỏi khổ đau đấy chính là Diệt

đế Họ cho rằng sở dĩ con người rơi vào vòng đau khổ chính là có nhiều ham muốn Do vậy phải tìm cách diệt mọi ham muốn thì con người mới thoát khỏi vòng luân hồi của bể khổ Đạo đế chính là con đường tu luyện để thoát khỏi vòng luân hồi ấy

Ngày nay, nhìn vào đời sống văn hoá của xã hội Việt Nam ta có thể thấy các tôn giáo, nhất là hai tôn giáo lớn là Phật giao và Thiên chúa giáo đã và đang

để lại những dấu ấn văn hóa sâu sắc không chỉ trong thơ văn mà còn cả trong hội hoạ, điêu khắc… Ngày nay, bên cạnh sự phát triển ngày một lớn mạnh của kiến trúc hiện đại, Việt Nam vẫn phục hồi kiến trúc cổ xưa, qua việc tu sửa lại nhàthờ, đền, chùa, miếu mạo, những danh lam thắng cảnh

Ngày đăng: 13/08/2016, 19:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w