Sự minh định về tr-ờng liên t-ởng trong sáng tác thơ Hàn Mặc Tử góp phần lí giải hành trình tinh thần và thơ ca của nhà thơ tài hoa, bất hạnh này một cách có cơ sở.. Về mặt lí luận và lị
Trang 1Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong khi đi tìm chân dung nghệ thuật của các nhà văn, các nhà phê bình nghiên cứu th-ờng cố gắng khái quát các chân dung nghệ thuật ấy trong những từ, cụm từ mang tính bao quát, cô đúc về đặc tr-ng phong cách của các
nhà văn Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh - Hoài Chân đã có một loạt khái
quát thâu tóm đ-ợc thần thái của các nhà thơ lãng mạn Việt Nam thời kì 1932-
1945 [124, 42] Và, Hàn Mặc Tử được đánh giá là một hồn thơ “kì dị” Những ng-ời đến sau lại tiếp tục tìm kiếm, khai phá những tầng vỉa mới, với những cách gọi khác nhau, nhưng không ra ngoài những ám ảnh về một sự “bí ẩn” (Bích Thu), “lạ nhất” (Chu Văn Sơn), “dị biệt” (Ngô Văn Phú), [38] Hiện t-ợng Hàn Mặc Tử chứa đựng điều gì v-ợt ra ngoài khuôn khổ, thoát khỏi biên độ của cái thông th-ờng, trở thành cái khác th-ờng ? Điều gì đã lôi cuốn, mê hoặc những
ng-ời yêu mến văn ch-ơng nghệ thuật mải miết đi tìm ?
Mặc dù đời sống ngắn ngủi và thời gian dâng hiến cho thơ quá ít ỏi, nh-ng Hàn Mặc Tử đã trở thành một tác giả độc đáo, đặc sắc, đ-ợc giới nghiên cứu quan tâm, đ-ợc ng-ời đọc yêu mến, trân trọng, đ-ợc đ-a vào ch-ơng trình giảng dạy ở nhiều bậc học, Không những thế, cuộc đời, sự nghiệp thơ ca của ông còn trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo cho nhiều loại hình nghệ thuật khác: âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh,
Trong đời sống văn học (không chỉ trong n-ớc), Hàn Mặc Tử trở thành đối t-ợng nghiên cứu đầy lôi cuốn, mê hoặc dẫn dụ b-ớc chân những ng-ời yêu mến văn ch-ơng Từ nguồn gốc gia đình, dòng họ đến cuộc đời bất hạnh, ngắn ngủi,
từ căn bệnh quái ác đến những “bóng dáng khuynh thi”, từ phương pháp sáng tác
đến cảm hứng nghệ thuật, từ yếu tố tôn giáo đến những dấu ấn ph-ơng Đông, ph-ơng Tây trong thơ ông, tất thảy đều được các “tín đồ” của văn học say sưa tìm kiếm, khám phá, những mong giải nghĩa cho những ám ảnh về hồn thơ “kì dị” vào bậc nhất của thi ca Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 Tuy nhiên, mọi sự nghiên cứu về Hàn Mặc Tử ch-a phải đã hoàn tất Nhiều vấn đề đang còn bỏ ngỏ, nhiều vỉa tầng vẫn chờ tay ng-ời đánh thức Trong đó tr-ờng liên t-ởng trong mĩ cảm, t- duy sáng tạo nghệ thuật của thi nhân là một h-ớng tiếp cận đầy hứa hẹn Sự minh định về tr-ờng liên t-ởng trong sáng tác thơ Hàn Mặc Tử góp phần lí giải hành trình tinh thần và thơ ca của nhà thơ tài hoa, bất hạnh này một cách có cơ sở
1.2 Một vấn đề quan trọng trong việc đổi mới thi pháp, cách tân thể loại, thúc đẩy nền văn học vận động, chính là sự vận động của t- duy nghệ thuật, các quan niệm về con ng-ời, không gian và thời gian, Văn học Việt Nam bốn m-ơi lăm năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt là giai đoạn 1930 - 1945 đã hoàn tất quá trình
Trang 2hiện đại hoá, chuyển từ hệ hình t- duy văn học trung đại sang văn học hiện đại Thơ ca Hàn Mặc Tử đã phản ánh khá cô đọng quá trình diễn biến mau lẹ ấy Và nh- thế, tìm hiểu t- duy sáng tạo nghệ thuật của Hàn Mặc Tử sẽ góp phần giúp chúng ta hiểu rõ hơn về diễn biến t- duy nghệ thuật văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, lí giải cơ sở của "một cuộc cách mạng trong thơ ca" (Huy Cận, Hà Minh Đức)
1.3 T- duy sáng tạo nghệ thuật là một phạm trù hết sức rộng lớn, phức tạp
trong quá trình nghiên cứu Lao động nhà văn (Xâylin) Cùng với việc phát triển
của mĩ học tiếp nhận, tính chất đồng sáng tạo của độc giả lại càng làm cho thế giới nghệ thuật đ-ợc mở rộng biên độ về nhiều mặt T- duy sáng tạo nghệ thuật của Hàn Mặc Tử vốn đã phức tạp, trong quá trình tiếp nhận, nghiên cứu lại tạo sinh những giá trị mới, vỉa tầng mới, v-ợt ra khỏi khuôn khổ của một luận văn Thạc sĩ Mong muốn lí giải một cách triệt để vấn đề mình đặt ra, chúng tôi lựa chọn một thao tác cơ bản trong t- duy nghệ thuật của Hàn Mặc Tử làm đề tài
nghiên cứu: Tr-ờng liên t-ởng trong thơ Hàn Mặc Tử
1.4 Kết quả nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa thiết thực trong công tác nghiên cứu, phê bình, tiếp nhận không chỉ đối với riêng hiện t-ợng Hàn Mặc Tử
1.4.1 Về mặt lí luận và lịch sử văn học, nghiên cứu tr-ờng liên t-ởng trong sáng tác thơ của Hàn Mặc Tử góp phần xác lập một mô hình nghiên cứu t- duy sáng tạo nghệ thuật của chủ thể văn học Từ đó có căn cứ để lí giải sự vận
động của thơ ca Việt Nam trong tiến trình hiện đại hoá Mở rộng ra, ta thấy đ-ợc quy luật phát triển nội tại của văn học xuất phát từ khía cạnh chủ thể sáng tạo gắn với thời đại, xã hội, dân tộc và các hệ t- t-ởng chính trị, triết học, mĩ học,
1.4.2 Về mặt thực tiễn tiếp nhận và giảng dạy tác giả, tác phẩm văn học trong nhà tr-ờng, vấn đề nghiên cứu ở đây giúp giáo viên, học sinh có tài liệu
tham khảo để dạy tốt, học tốt bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử trong
ch-ơng trình Ngữ văn THPT (Sách giáo khoa Ngữ văn 11, Nhà xuất bản Giáo dục) Ng-ời đọc hiểu và đồng cảm hơn với hồn thơ Hàn Mặc Tử, từ đó yêu thiên nhiên, cuộc sống, con ng-ời, bồi d-ỡng tâm hồn, tình cảm, vun đắp các giá trị nhân văn, thẩm mĩ
2 Lịch sử vấn đề
Nếu tính từ ngày Hàn Mặc Tử mãi mãi nằm xuống, tạp chí Ng-ời mới số 5,
ngày 23/11/1940 - chuyên đề đặc biệt về Hàn Mặc Tử - ra đời, lịch sử nghiên cứu về thi nhân tài hoa bạc mệnh này đã có gần hai phần ba thế kỉ Do những tác
động của thời đại, các quan điểm đánh giá về Thơ mới nói chung và Hàn Mặc Tử nói riêng cũng có những khác nhau dựa trên những ph-ơng pháp luận khác nhau Mặt khác, do đất n-ớc bị chiến tranh chia cắt từ sau 1954, những vấn đề về Hàn Mặc Tử cũng nh- sáng tác của ông chủ yếu l-u hành ở Huế và Sài Gòn Sau ngày đất n-ớc thống nhất (1975), và đặc biệt là sau Đổi mới (1986), nhiều vấn
Trang 3đề của văn học đ-ợc nhìn nhận kĩ l-ỡng, toàn diện, khách quan hơn trong đó có vấn đề Hàn Mặc Tử Theo quy luật vận động tất yếu của đời sống văn học, phê bình, lí luận, hiện t-ợng Hàn Mặc Tử ngày càng thu hút đ-ợc sự quan tâm của
độc giả và các nhà nghiên cứu không chỉ trong n-ớc
Gần bảy m-ơi năm nghiên cứu hiện t-ợng Hàn Mặc Tử, giới nghiên cứu
đã có trong tay hàng trăm công trình, bài viết lớn nhỏ: chuyên luận, luận án, luận văn, khoá luận, các bài báo, s-u tầm, khảo cứu, dịch thuật, điêu khắc, hội hoạ,
điện ảnh, âm nhạc, Điều đó cho thấy sức hấp dẫn khó c-ỡng lại của hiện t-ợng văn học này Hàn Mặc Tử đã đ-ợc nghiên cứu ở nhiều ph-ơng diện: Thi pháp học, Phong cách học, Ngôn ngữ học, Phân tâm học, Văn hoá học, Văn học so sánh, liên ngành các ngành nghệ thuật, khoa học, Mỗi h-ớng đi là một con
đ-ờng mong tiếp cận đ-ợc gần hơn với thế giới "bí ẩn" của Hàn Mặc Tử Tuy nhiên, cho đến nay, những băn khoăn, hoài nghi về Hàn Mặc Tử vẫn còn đó, thi nhân vẫn ẩn sâu trong thế giới đầy khói s-ơng, huyền hoặc của mình Những thành tựu nghiên cứu đã có về Hàn Mặc Tử khiến những ng-ời đi sau vững tâm hơn bởi dấu chân của tiền nhân trên hành trình còn vô minh, đầy khó khăn nh-ng cũng thật lí thú này Trên tinh thần của đề tài đã nêu ra, chúng tôi chia lịch sử nghiên cứu Hàn Mặc Tử thành hai bộ phận: nghiên cứu chung và nghiên cứu tr-ờng liên t-ởng trong thơ Hàn Mặc Tử Sự phân chia này chỉ mang tính chất thao tác t-ơng đối, nhằm có cái nhìn biện chứng, mạch lạc về lịch sử nghiên cứu Hàn Mặc Tử
2.1 Lịch sử nghiên cứu chung về Hàn Mặc Tử
Có rất nhiều ý kiến cho rằng Hàn Mặc Tử mang tầm vóc của một thiên tài nghệ thuật Một cuộc đời bất hạnh, ngắn ngủi, một di sản tinh thần to lớn ch-a thể bao quát hết giá trị, sự "kì dị", "bí ẩn" xung quanh đời và thơ Hàn Mặc Tử
đang mê hoặc, lôi cuốn b-ớc chân những ng-ời yêu mến tìm đến với thi nhân
đông đảo công chúng bạn đọc Ngoài việc nhận ra tài năng nghệ thuật của Hàn Mặc Tử, trong tập sách Trần Thanh Mại đã tiên đoán khá chính xác "hậu vận" của của nhà thơ tài hoa bạc mệnh này
Năm 1942, công trình phê bình Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và
Hoài Chân ra đời, tiếp tục có những nhận định, khám phá mới về Hàn Mặc Tử
Trang 4Với ph-ơng pháp phê bình ấn t-ợng chủ quan, Hoài Thanh, Hoài Chân đã cảm nhận đ-ợc sự "kì dị" của hồn thơ Hàn Mặc Tử Dù mĩ cảm của hai nhà phê bình này có phần bó hẹp trong phạm trù của thơ lãng mạn, nh-ng các tác giả đã tinh
tế nhận ra trong thơ Hàn Mặc Tử sự bức bối, quẫy đạp, "v-ợt ra ngoài vòng nhân gian" [124, 291] để bung thoát đến những giới hạn rộng xa hơn của thi ca
Cũng năm 1942, Vũ Ngọc Phan hoàn thành tập tiểu luận phê bình Nhà văn hiện đại Bài viết về Hàn Mặc Tử trong tập sách này dù có khách quan hơn
nh-ng cơ bản vẫn xuất phát từ cảm nhận của bản thân tác giả Vũ Ngọc Phan đã
có lý khi cho rằng: cái điên trong thơ Hàn Mặc Tử mang ý nghĩa khác, "không phải điên nh- ng-ời ta đã t-ởng" [105, 141]
Năm 1963 - 1965, Phan Cự Đệ viết Phong trào "thơ mới", năm 1978 -
1981 tác giả sửa lại và tái bản lần thứ hai (1982) [37] Đây là một công trình nghiên cứu khá công phu về "thơ mới" Trên tinh thần phản ánh luận Mác xít, tác giả đã soi chiếu vào nhiều vấn đề của "thơ mới" trong đó có hiện t-ợng Hàn Mặc
Tử Đánh giá mặt tích cực và tiêu cực của "thơ mới" Phan Cự Đệ đã có những suy xét khá xác đáng trong bối cảnh xã hội và mĩ học lúc bấy giờ Tình yêu thiên nhiên, cuộc sống, tình yêu tiếng Việt, tâm sự yêu n-ớc thầm kín, là khía cạnh tích cực của "thơ mới" Theo thời gian cùng với những Đổi mới của đất n-ớc, giới hạn của những khuôn th-ớc cũ cũng dần đ-ợc nới rộng, ta lại sẽ bắt gặp Hàn Mặc Tử trong cách nhìn mới mẻ của Phan Cự Đệ ở những trang viết sau,
Do hoàn cảnh đặc biệt của đất n-ớc, từ sau 1945, đặc biệt sau 1954 đến
1975, nghiên cứu vấn đề Hàn Mặc Tử cũng nh- việc xuất bản thơ của tác giả chủ yếu diễn ra ở Huế và Sài Gòn Trong giai đoạn này ta thấy xuất hiện những bài
viết của Thái Văn Kiểm (Một thi hào Việt Nam: Hàn Mặc Tử, 1960), Huỳnh Phan Anh (Hàn Mặc Tử hay là sự hiện hữu của thơ, 1967), Nguyễn Tấn Long (Hàn Mặc Tử, 1969), Đào Tr-ờng Phúc (Hàn Mặc Tử, trăng và thơ, 1971),
[38]
Sau ngày đất n-ớc thống nhất, giới nghiên cứu và những ng-ời yêu mến lại càng có điều kiện để bàn tới Hàn Mặc Tử một cách khách quan, công bằng hơn Luồng gió Đổi mới đem theo những quan niệm mới mẻ về con ng-ời, về các chuẩn mực, các giá trị, thị hiếu thẩm mĩ, đã mở rộng giới hạn nghiên cứu
về Hàn Mặc Tử Giai đoạn này ta bắt đầu thấy những công trình nghiên cứu Hàn
Mặc Tử của Hoàng Ngọc Hiến (Tiếp cận cái "siêu"trong thơ Hàn Mặc Tử, 1990), Lê Đình Kỵ (Hàn Mặc Tử, 1993), Hà Minh Đức (Hàn Mặc Tử một hồn thơ lạ mà rất quen, 1997), Vũ Quần Ph-ơng (Hàn Mặc Tử, 1997),
Hơn ba m-ơi năm đi qua sau ngày công trình Phong trào "thơ mới" ra đời,
Phan Cự Đệ đã có dịp nhìn lại một trong những đại diện tiêu biểu của Thơ mới
Việt Nam 1932 - 1945 Công trình Hàn Mặc Tử tác phẩm phê bình và t-ởng
Trang 5niệm, xuất bản năm 1993 của Phan Cự Đệ thể hiện một nhãn quan mới mẻ về
Hàn Mặc Tử mà ở giai đoạn tr-ớc hoàn cảnh "ch-a thuận" để tác giả có thể nói
tới ở phần nghiên cứu mới này tác giả nhận ra Thế giới nghệ thuật độc đáo của Hàn Mặc Tử, tiếp tục bàn đến những vấn đề đang còn tranh luận về Hàn Mặc Tử:
yếu tố t-ợng tr-ng, siêu thực, tôn giáo, dấu ấn ph-ơng Đông, ph-ơng Tây, không gian, thời gian nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử [39, 7 - 110] Quả thực, đây là những vấn đề cho đến nay vẫn ch-a có sự minh định thoả đáng
Trên ph-ơng diện loại hình học tác giả văn học, năm 2006, tác giả Đàm
Thị Ngọc Ngà trong luận văn Thạc sĩ Ngữ văn có tên: Loại hình tác giả thơ mới
1932 - 1945 một số đặc tr-ng cơ bản (Đại học Vinh), đã nhận xét rất chính xác
khi bàn về vấn đề cách tân thể loại trong thơ Hàn Mặc Tử Tác giả viết: "Đặc sắc
nhất của Hàn Mặc Tử trong cách tân thể loại chính là ở Thơ điên, nó không phải
là một phát minh hoàn toàn mới về thể loại, nó vẫn là thơ mới với những đặc tr-ng cơ bản nhất, nh-ng là sáng tạo độc đáo của Hàn Mặc Tử với nỗ lực tích hợp nhiều yếu tố thi ca (lãng mạn, t-ợng tr-ng, siêu thực) để tạo ra một diện mạo
có ý nghĩa loại hình mới" [89, 80] Với loại hình thơ mang nhiều yếu tố cách tân
ấy, Hàn Mặc Tử đã làm cho nền thơ ca Việt Nam tiến xa hơn vào phạm trù của thơ hiện đại, cách nhìn nhận và thể hiện thế giới cũng vì thế mà phong phú, đa dạng hơn
Tháng 9 năm 2008, kỉ niệm 96 năm ngày sinh Hàn Mặc Tử, Tạp chí văn hoá quân sự tại Đà Nẵng, Tạp chí thế giới ảnh tại Miền Trung - Tây Nguyên đã
tổ chức Hội thảo về Hàn Mặc Tử mang tên: Gọi trăng về với sông Hàn Nhiều ý
kiến tham luận của các nhà nghiên cứu, các giảng viên, giáo viên, linh mục, các nhà văn, nhà thơ, đã đ-ợc trình bày tại Hội thảo Trong lời khai mạc có tính chất tổng quan, nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn đã cho rằng đời và thơ Hàn Mặc
Tử gắn với số 3 và số 5 Hàn Mặc Tử là nhà thơ bất hạnh nhất, phức tạp nhất, kì lạ nhất vì thế nhà thơ phải chịu ba cái chết: cái chết vì bị kì thị, cái chết vì sự cô
đơn quá tải, cái chết sinh mệnh Tại hội thảo, Chu Văn Sơn đã nêu lên năm vấn
đề về Hàn Mặc Tử đang đ-ợc nghiên cứu hiện nay: vấn đề tình cảm cảm xúc trong thơ, bản chất của trạng thái điên, đau th-ơng là cội nguồn của cảm xúc sáng tạo, vấn đề khuynh h-ớng thi ca và cuối cùng là sự tích hợp các tôn giáo để biểu đạt tôn giáo của mình trong thơ Hàn Mặc Tử Đó là "ngũ hành" tạo nên vũ trụ thơ Hàn Mặc Tử
2.1.2.D-ới góc nhìn thi pháp học
Từ góc độ thi pháp tác giả, bài viết Tiếp cận cái "siêu" trong thơ Hàn Mặc
Tử của Hoàng Ngọc Hiến đã sớm có những quan điểm mới mẻ khi nhìn nhận
đánh giá về hiện t-ợng phức tạp này Trong bài, tác giả đã sử dụng khái niệm
"siêu thức" và "siêu ngã" với ý nghĩa trình độ "siêu" của nhận thức và cái tôi thi
Trang 6sĩ [53, 199] Lối t- biện này hoá ra lại đến gần đ-ợc với thế giới kì bí của Hàn Mặc Tử
Là một nhà nghiên cứu có nhiều năm tìm hiểu vấn đề Hàn Mặc Tử, năm
2001 trong luận án Tiến Sĩ Ngữ văn: Thế giới nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử, Chu
Văn Sơn đã có sự khái quát về cái tôi trữ tình của thi nhân Đó là "Một cái tôi bốc lửa, khao khát nh-ng dằn lòng khắc chế", "Một cái tôi khao khát trần giới
mà phải lìa bỏ trần gian" [116] B-ớc vào thế giới nghệ thuật của Hàn Mặc Tử ta cảm nhận đ-ợc sự thống nhất của những đối cực mang tính nghịch dị làm nên cái tôi trữ tình Hàn Mặc Tử Đó phải chăng là "Cảm xúc đối nghịch" mà
L.X.V-gôtxki đã nêu ra trong công trình Tâm lý học nghệ thuật của mình [138]
Cũng bàn về Cái tôi thi nhân trong thơ mới Phan Huy Dũng đã nhận ra
"Cõi trời cách biệt" đầy nhạc, đầy h-ơng và lênh lang một màu trăng phi thực, có khả năng đồng hoá tuyệt đối mọi sự vật hữu hình hoặc vô hình, có trọng l-ợng lẫn vô l-ợng" tiêu biểu cho thế giới của cái tôi thi nhân Hàn Mặc Tử" [32, 146] Nh- thế, thế giới khách quan vào trong thơ Hàn Mặc Tử đã đ-ợc nội cảm hoá bởi tâm hồn rất phong phú, ảo diệu của thi nhân, thế giới đó là "bản tổng phổ" của trăng, hoa, nhạc, h-ơng đầy mê ly
Hàn Mặc Tử là một trong những trụ cột, một "đỉnh cao"(chữ dùng của Chu Văn Sơn) của phong trào thơ mới Việt Nam Nghiên cứu về Thơ mới, ng-ời ta không thể không nhắc đến, thậm chí phải nhắc nhiều đến Hàn Mặc Tử "Quang phổ" của "hành tinh" bí hiểm này bao trùm Thơ mới, quỹ đạo của nó là quỹ đạo
của Thơ mới Năm 2002, trong chuyên luận Giọng điệu trong thơ trữ tình tác giả
Nguyễn Đăng Điệp đã đi sâu nghiên cứu giọng điệu trong thơ trữ tình nh- là một ph-ơng thức để đánh giá các phong cách nghệ thuật và lí giải tiến trình văn học Lấy Thơ mới Việt Nam 1932 - 1945 làm đối t-ợng khảo sát, tác giả giúp ng-ời
đọc có đ-ợc sự hình dung về một bản đại hợp x-ớng đa thanh, phức điệu của thời
đại thơ ca rực rỡ này Quy chiếu hệ thống giọng điệu Thơ mới Việt Nam trên những điểm hội tụ điển hình, tác giả chuyên luận đã "điểm huyệt" bản thể Thơ mới trên bốn "huyệt đạo" chủ yếu: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính Từ đó tác giả nhận ra giọng điệu trong thơ Hàn Mặc Tử là "giọng thơ đau th-ơng, rên siết, rạn vỡ nhất của thời đại thơ mới" [40, 307]
Đánh giá Đau th-ơng là tập thơ quan trọng, tiêu biểu cho phong cách thơ
và cũng là tập thơ giá trị nhất của Hàn Mặc Tử, Chu Văn Sơn trong tập tiểu luận
phê bình Ba đỉnh cao thơ mới đã phác thảo khuôn hình thi pháp Thơ điên của
Hàn Mặc Tử Theo tác giả, Thơ điên là "thi học của cái tột cùng" [114, 226] Thi học ấy đ-ợc kiến tạo bởi năm yếu tố: đau th-ơng là nguồn gốc của cảm xúc, cái tôi li hợp bất định, kênh hình ảnh kì dị, lớp ngôn từ cực tả, liên kết siêu lôgíc Từ thi pháp đặc biệt ấy, Chu Văn Sơn đã gợi ra h-ớng nghiên cứu Hàn Mặc Tử trên cơ sở sự "tột cùng" của những đối cực Đó là cốt lõi, là cái trục thống nhất của
Trang 7khối rubich, dù những mảng miếng bên ngoài có rời rạc thế nào vẫn châu tuần xung quanh trục thống nhất kì diệu ấy
Bàn đến vấn đề màu sắc trong thơ thực ra là bàn đến một khía cạnh thuộc
phạm trù thi pháp học Năm 2008, trên Tạp chí khoa học, tr-ờng Đại học Vinh,
số 3B, tập XXXVII, có bài viết của Nguyễn Thanh Tâm: Màu sắc của "cõi trời
cách biệt" trong thơ Hàn Mặc Tử Trong bài viết này tác giả đã nhận ra sự vận
động tinh tế của màu sắc trong thơ Hàn Mặc Tử Màu sắc đ-ợc nội cảm hoá bởi
tâm hồn thi sĩ rất đỗi phong phú nên có độ phân giải rất cao Màu sắc của "cõi trời cách biệt" ấy là màu sắc trong tâm t-ởng, -ớc ao của thi nhân Một điều nữa,
qua khảo sát tác giả thấy màu đỏ và những sắc độ của màu đỏ chiếm -u thế trong thơ Hàn Mặc Tử, sau đó là màu vàng rồi mới đến màu trắng Điều đó làm thay đổi thói quen lâu nay trong một số ng-ời đọc cho rằng màu trắng thanh khiết, trinh trắng chiếm -u thế trong thơ Hàn Mặc Tử Thực ra màu đỏ ấm áp, thân tình, gần gụi, màu đỏ của sự chín, màu đỏ của máu huyết đau th-ơng, mới
là nỗi -ớc ao, ám ảnh lớn nhất của thi nhân, sau đó đến màu vàng sang trọng quý phái, giàu có của thế giới giải thoát, màu vàng của ánh trăng vừa êm dịu m-ợt
mà vừa ma quái phiêu linh, Đọc thơ Hàn Mặc Tử, hiểu con ng-ời và cuộc đời
ông ta thấy bảng màu ấy nói lên rất nhiều điều về tinh thần nhà thơ thể hiện qua
sự cảm nhận thế giới
2.1.3 Tiếp cận từ ph-ơng diện Ngôn ngữ học
Năm 1991, với những cảm nhận có phần đ-ợc khơi mở từ trực giác, Lại
Nguyên Ân đã nêu lên mối liên hệ giữa Khí chất Miền Trung và nhà thơ Hàn Mặc Tử Dải đất miền Trung khổ nghèo đã ôm trọn cuộc đời thi nhân từ lúc sinh
ra cho đến khi mãi mãi nằm xuống Ngôn ngữ, văn hoá, khí chất con ng-ời nơi
đây nh- một lẽ tự nhiên, một sự "di truyền" đã hiện hình trong thơ ca Hàn Mặc
Tử
Trên tinh thần và kết quả của quá trình chuẩn hoá ngôn ngữ văn học dân
tộc, chú ý đến sắc thái địa ph-ơng trong ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử, Phan Huy
Dũng cho rằng đó là một thủ pháp đắc dụng trong việc gây dựng một cái gì "xa lạ, hoang dã, bí hiểm" Hàn Mặc Tử dùng ngôn ngữ địa ph-ơng nh- một thủ pháp làm "lạ hoá" những cảm nhận của mình, tạo hiệu ứng cảm giác đặc biệt cho
độc giả khi b-ớc vào thế giới riêng của thi nhân Chính sắc thái địa ph-ơng của ngôn ngữ, của cách nói ấy là một phần máu thịt làm nên sự độc đáo, hấp dẫn riêng của Hàn Mặc Tử
Rất đáng chú ý ở h-ớng nghiên cứu này là bài viết Âm điệu trong thơ Hàn Mặc Tử của tác giả Lý Toàn Thắng Từ sự đối chiếu với các mô hình âm điệu
trong thơ thất ngôn bát cú Đ-ờng luật, tác giả đã phát hiện ra cơ chế ngữ âm của
bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ - một thi phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ Hàn Mặc
Trang 8Tử Bài thơ là một bản nhạc cổ điển trên nền của những thanh Bằng với các âm sắc cao, trong trẻo, thiết tha [125]
Không thể tách văn ch-ơng khỏi ngôn ngữ, cũng không thể tách t- duy khỏi vỏ vật chất của nó Trong quá trình tiếp cận thơ Hàn Mặc Tử, ngôn ngữ thơ của thi nhân đã đ-ợc bàn đến Theo Phan Cự Đệ, ngôn ngữ thơ của Hàn Mặc Tử giàu tính nhạc, sử dụng nhiều bình thanh Yến Lan lại cho rằng ngôn ngữ thơ của Hàn Mặc Tử mang hơi h-ớng cung văn, đồng bóng, Nguyễn Bá Tín lại quả quyết chất giọng Nam ai, Nam bình - hai làn điệu dân ca xứ Huế - đã vang vọng trong ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử [38, 32]
Có thể nói ngôn từ nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử còn là một vấn đề ch-a đ-ợc nghiên cứu một cách hệ thống Trên ph-ơng diện nghiên cứu t- duy nghệ thuật của Hàn Mặc Tử chúng tôi luôn để tâm đến ngôn ngữ thơ nh- là biểu hiện của tr-ờng liên t-ởng - vấn đề mà luận văn đang tập trung nghiên cứu
2.1.4 Từ góc độ s-u tầm, biên khảo
ở góc độ s-u tầm, khảo cứu, năm 1997, Nhà xuất bản Văn học cho ra mắt
cuốn sách Đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử của Phạm Xuân Tuyển [131] Cuốn
sách là thành quả của hơn ba m-ơi năm tìm tòi, khảo cứu các vấn đề liên quan
đến Hàn Mặc Tử của tác giả Có thể nói đây là công trình s-u khảo công phu nhất về Hàn Mặc Tử Nhiều t- liệu mới có cơ sở, khác với những gì lâu nay chúng ta đã biết góp phần giải toả bớt ngộ nhận và "bạch hoá" một số hoài nghi
với đời và thơ Hàn Mặc Tử Đây là nơi thăng hoa những rung động ái tình, nơi
vũ trụ vỡ toang trong thảm cảnh ngày tận thế bởi tình yêu không trọn vẹn, nơi đã
khóc, đã gào, "đã kêu rên thống thiết", "nơi chôn hận nghìn thu" bởi giấc mộng
tình trầm luỵ, tang th-ơng Hiểu rõ những điều này sẽ giúp ng-ời nghiên cứu Hàn Mặc Tử lí giải cặn kẽ hơn đời sống tinh thần của thi nhân, trong niềm mê say và đau đớn của tình yêu
Nguyện gắn bó cả đời mình với thơ Hàn Mặc Tử, ba m-ơi năm qua Dzũ Kha đã sống trong niềm thuỷ chung của một "goá phụ" bên mộ Hàn Mặc Tử Anh thắp tình yêu thơ Hàn Mặc Tử thành ngọn lửa, miên du trên những bức th-
pháp để trở thành "Ng-ời giữ lửa thơ Hàn" Bằng niềm đam mê ấy, Dzũ Kha đã biên soạn cuốn sách nhỏ Hành trình đến với Hàn Mặc Tử [65] Cuốn sách nh-
một lời giới thiệu khái quát về đời và thơ Hàn Mặc Tử Đáng l-u ý ở đây là một
số hình ảnh bạn bè, ng-ời thân, đặc biệt là những nàng thơ một thời của Hàn
Trang 9Mặc Tử Hiện nay Dzũ Kha đang sở hữu những bức ảnh rất quý liên quan đến
việc nghiên cứu Hàn Mặc Tử: Khung cảnh ga Quy Nhơn lúc Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn làm báo 1934, Quang cảnh Ghềnh Ráng năm 1959 (Cải táng mộ Hàn
Mặc Tử từ Quy Hoà về đồi Thi Nhân, ghềnh Ráng)
2.1.5 Từ góc nhìn tôn giáo, văn hoá
Trên tinh thần của đức tin tôn giáo, Đặng Tiến cho rằng: "Thơ Hàn Mặc
Tử cũng nh- lòng lê thứ là hoài vọng bất lực về một hạnh phúc sơ khai, một tráng lệ đã phôi pha" [38, 396] Tác giả này đã dựa hẳn vào tín niệm tôn giáo để khẳng định sự kết hợp giữa đức tin và bệnh trạng ghê gớm đã "tạo nên một linh thị cho nhà thơ" Linh thị ấy thực ra là thế giới quan của thi nhân, dẫn dắt liên t-ởng, t-ởng t-ợng kiến tạo thế giới nghệ thuật của Hàn Mặc Tử Quan điểm này
của Đặng Tiến không xa rời cách lý giải của Võ Long Tê về Kinh nghiệm thơ và hành trình tinh thần của Hàn Mạc Tử [38, 377] Võ Long Tê nhận thấy sự
chuyển hoá nghệ thuật của đau th-ơng trong nhiệm cục Thiên chúa giáo hình thành vũ trụ thi ca của Hàn Mặc Tử Tác giả này cũng cho rằng đau th-ơng và tôn giáo là chất liệu cho sáng tạo nghệ thuật ở Hàn Mặc Tử
Trên Website: http://www.khoahoc.net, tác giả Lê Văn Lân có bài viết Hàn Mặc Tử và những vần thơ mang dấu Chúa Tác giả này đã dựa hẳn vào
thánh kinh để lý giải thơ Hàn Mặc Tử từ cảm hứng cho đến hình ảnh, hình t-ợng thơ Theo Lê Văn Lân, thế giới trong sáng, đầy hào quang, lộng lẫy trong thơ Hàn Mặc Tử xuất phát từ việc thi nhân đã đem vào trong thơ mình thị kiến
của Thánh Gio-an về thành Thánh Giêrusalem Đó là thế giới Khải Huyền tái sinh sau Ngày phán xét [74]
Từ góc độ văn hoá, Đoàn Thị Đặng H-ơng cho rằng thế giới nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử đ-ợc kiến tạo qua "con mắt tâm linh văn hoá ph-ơng Đông" [38, 607] Con mắt tâm linh, điểm nhìn đậm sắc thái văn hoá ph-ơng Đông đã tạo nên "thế giới thơ kì diệu ảo hoá trong thơ Hàn Mặc Tử" Thế giới nhìn qua con mắt văn hoá ph-ơng Đông đã bị ảo hoá bởi s-ơng khói của tâm linh, miên man giấc mộng liêu trai Theo tác giả, đối với thơ văn Hàn Mặc Tử "việc đem hệ thống thi pháp và những t- t-ởng văn hoá, văn học ph-ơng Tây để giải mã là hoàn toàn xa lạ" [38, 615] Chất siêu thực trong thơ Hàn Mặc Tử không phải là sản phẩm của bút pháp siêu thực ph-ơng Tây mà là cái lung linh ảo huyền của tâm linh văn hoá ph-ơng Đông
Trên Tạp chí Văn học số 6 năm 2006, Nguyễn Văn Hạnh có bài viết Quan
hệ giữa tôn giáo và thơ ca trong thế giới biểu t-ợng Tác giả bài báo nhận định:
"Trong thơ Hàn Mặc Tử, thế giới biểu t-ợng không mang màu sắc tôn giáo thuần khiết Hầu hết các biểu t-ợng đều gần gũi với cuộc đời, đ-ợc linh hoá, đ-ợc bổ sung nhiều nét nghĩa thầm kín" [48, 62]
Trang 102.1.6.Tiếp cận từ góc độ so sánh văn học
Đặt Hàn Mặc Tử trong t-ơng quan với các tác giả Thơ mới khác (Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên), năm 2001, V-ơng Trí Nhàn ra
mắt tập tiểu luận phê bình mang tên Nghiệp văn Việc so sánh các trụ cột của
phong trào thơ mới là điều không đơn giản, không thể giải quyết chỉ bằng một bài viết nhỏ Tuy nhiên, qua cách giải quyết của tác giả ta thấy năm nhân vật kiệt xuất của Thơ mới Việt Nam đã không bị nhoà lẫn khi họ đứng bên cạnh nhau Nếu hồn thơ Xuân Diệu bay bổng nh- cánh diều nh-ng vẫn bám chặt vào mặt
đất thì Hàn Mặc Tử nh- con diều đứt dây quay cuồng, lồng lộn không biết đâu là nơi níu giữ tâm hồn mình Nếu hồn thơ Huy Cận hiền lành, cúi đầu cầu mong Th-ợng đế vỗ về an ủi nỗi cô đơn sầu tủi thì Hàn Mặc Tử "r-ợt nà" truy đuổi Th-ợng đế và sẵn sàng Thánh hoá để đ-ợc gặp Th-ợng đế Bởi chỉ có Th-ợng đế mới là ng-ời tri âm, tri kỉ của hồn thơ "dị biệt" Hàn Mặc Tử Chế Lan Viên đến tiềm thức rồi quay về để chiêm nghiệm về nó, còn Hàn Mặc Tử "dừng lại vĩnh viễn ở tiềm thức" Chế Lan Viên là "kinh dị một nửa" còn Hàn Mặc Tử đã tan mình vào thế giới kinh dị mênh mang, thành một niềm kinh dị hoàn toàn So sánh Hàn Mặc Tử với nhà thơ "chân quê" Nguyễn Bính, tác giả giúp ta hình dung hai trạng thái của đời sống tinh thần con ng-ời Thơ Nguyễn Bính là cái
"hàng ngày" còn thơ Hàn Mặc Tử là lúc ta xuất thần, lúc ta "thánh hoá" [100, 157-158]
Nghiên cứu một vấn đề khoa học chúng ta luôn phải tuân thủ nguyên tắc toàn diện, tránh sự cực đoan, phiến diện Chính vì điều đó, đặt Hàn Mặc Tử trong t-ơng quan với các nhà thơ thuộc nhóm Bình Định là một việc cần thiết và hết
sức có ý nghĩa Năm 2007, chuyên luận Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Bình Định của
Nguyễn Toàn Thắng đã ra đời trên tinh thần đó [126] Tập sách đề cập đến nhiều vấn đề nh- ảnh h-ởng của Chủ nghĩa lãng mạn, T-ợng tr-ng, Siêu thực trong thơ Hàn Mặc Tử và Tr-ờng thơ loạn, chất đạo chất đời, cái tôi trữ tình, không gian, thời gian nghệ thuật, giọng điệu, Tuy nhiên, chuyên luận vẫn ch-a thể lí giải một cách thoả đáng những vấn đề đã nêu ra
Nguyên lý lý luận văn học so sánh không đề ra vấn đề hơn thua khi đặt các nền văn học bên cạnh nhau Mục đích của việc so sánh văn học là nhằm tìm
ra sự t-ơng đồng, khác biệt, những dấu ấn giao l-u, ảnh h-ởng của các nền văn hoá, văn minh biểu hiện trong các nền văn học Trên cơ sở đó, năm 2007, trong
chuyên luận Thơ mới với thơ Đ-ờng tác giả Lê Thị Anh đã có những nghiên cứu
khá sâu sắc về sự hài hoà của thơ đ-ờng với thơ T-ợng tr-ng Pháp trong sự tiếp thu của thơ mới Việt Nam 1932 - 1945 [5] Trên cấp độ nhà thơ, tác giả cũng chỉ
ra thơ Hàn Mặc Tử là một minh chứng điển hình cho sự xuyên thấm, hoà quyện
Đông Tây trong Thơ mới Việt Nam
Trang 11Không phủ nhận yếu tố siêu thực trong thơ mới Việt Nam và thơ Hàn
Mặc Tử, Hoàng Nhân trong bài viết André Breton và Hàn Mặc Tử đã nhận ra sự
gặp gỡ của chất siêu thực đậm màu sắc ph-ơng Đông trong thơ Hàn Mặc Tử với
Chủ nghĩa siêu thực ph-ơng Tây mà đại diện là André Breton [92]
Cũng trên tinh thần của thi học so sánh, Thuỵ Khuê nhận thấy ảnh h-ởng của thơ Pháp trong Thơ mới và thơ Bích Khê, Hàn Mặc Tử [71] Theo tác giả,
bích Khê và Hàn Mặc Tử đã tiếp nhận những nguồn cảm xúc đau th-ơng và kỳ
dị ở E.Poe và Ch.Baudelaire Trong thơ của họ đều có địa ngục và thiên đàng, hạnh phúc lẫn khổ đau, sống và chết Không xa lạ với các thi sĩ xứ ng-ời, thơ Hàn Mặc Tử và bích Khê là tổng phổ của trăng, hoa, nhạc, h-ơng, giàu t-ởng t-ợng, giàu nhạc điệu, Tất cả những điều đó làm nên địa vị vững chãi của Hàn Mặc Tử và Bích Khê trong nền thơ trữ tình Việt Nam
động sâu xa tân kì Đó là một thế giới hiện hữu những -ớc ao trong khi thức, những hiện thực trong chiêm bao Tất cả nhoà hiện trong nhau tạo nên cõi giới riêng của Hàn Mặc Tử Thế giới ấy là sản phẩm của một trí t-ởng t-ợng phong phú, khả năng liên t-ởng đầy bất ngờ, thể hiện một năng lực nghe, nhìn, cảm nhận, thể hiện hết sức tinh tế, đầy ảo diệu của thi nhân
Tình yêu là đề tài lớn của thơ mới Nh-ng thơ tình của mỗi nhà thơ lại mang những sắc điệu, cung bậc khác nhau Nghiên cứu về thơ tình Hàn Mặc Tử
trong các tập Gái quê, Đau th-ơng, Xuân nh- ý tác giả Lê Thị Hồ Quang đã viết:
"Thi sĩ đã biến nội tâm mình thành cả một thế giới và mỗi b-ớc ông đi là một b-ớc lạc xa hơn vào cái thăm thẳm của vô thức" [109, 201] Với bài viết này, tác giả đã đề cập đến những b-ớc vận động tinh thần của Hàn Mặc Tử từ hữu thức
đến vô thức và d-ờng nh- thi nhân dừng lại mãi mãi trong chiêm bao, nơi tình yêu là sự cứu rỗi của tâm hồn Thơ ông là thế giới của những ảnh hình ảo diệu, huyền vi, lạ lẫm với cuộc đời
Cũng ở h-ớng tiếp cận này, chúng ta còn thấy những bài viết khá sắc sảo
của Thuỵ Khuê trên Website http://www.thuykhue.free.fr: Hàn Mặc Tử trong H-ơng thơm - nguồn thơ hạnh phúc [68]; Thơ Hàn Mặc Tử: Máu cuồng và Hồn
điên [69] ở những bài viết này, Thuỵ Khuê đã nhận ra sự đồng hiện của những
đối lập trong thơ Hàn Mặc Tử nh- chính cuộc đời hai mặt Thế giới nhiễm bệnh
Trang 12cùng Hàn Mặc Tử nên cũng quằn quại, rên siết trong cơn hấp hối, khi cơn đau lắng dịu thi nhân và thế giới ấy lại óng ả, thanh tân, ngời chiếu muôn đạo hào quang Dẫu luôn ám ảnh bởi bóng đêm của địa ngục, nh-ng thơ Hàn Mặc Tử là
sự nỗ lực siêu thăng đến th-ợng tầng cao khiết trong quang năng nhiệm màu bên kia cõi sống
ở h-ớng phân tích và cảm thụ tác phẩm này còn có tập sách do tác giả Lê
Huy Bắc tuyển chọn: Thẩm bình tác phẩm văn ch-ơng trong nhà tr-ờng, Tập 3,
Đây thôn Vĩ Dạ [11] Tập sách đã tập hợp khá đầy đủ những bài nghiên cứu, thẩm bình có chất l-ợng về thi phẩm Đây thôn Vĩ Dạ nổi tiếng của Hàn Mặc Tử (Đây thôn Vĩ Dạ - Vũ Quần Ph-ơng; Đây thôn Vĩ Dạ và nỗi niềm của Hàn Mặc
Tử - Phan Huy Dũng; Đây thôn Vĩ Dạ - Chu Văn Sơn, ) Mỗi bài viết là một
khám phá về các khía cạnh khác nhau của thi phẩm Phần lịch sử nghiên cứu bài
thơ Đây thôn Vĩ Dạ trong bài viết của Chu Văn Sơn rất lý thú và cô đọng [11,
81-110] Song d-ờng nh- độc giả vẫn ch-a bằng lòng với những kiến giải đã có
về tuyệt phẩm Đây thôn Vĩ Dạ Bài thơ có mặt trong sách giáo khoa Ngữ văn
trung học phổ thông càng làm cho nhiều ng-ời quan tâm, luận bàn Tuy nhiên, cho đến hôm nay, viên ngọc thôn Vĩ của Hàn Mặc Tử vẫn vẹn nguyên sức hấp dẫn của "niềm trinh" để lôi cuốn, mời gọi và thách thức
Có một giai đoạn cùng với Đây thôn Vĩ Dạ, Mùa xuân chín đ-ợc đ-a vào
giảng dạy trong nhà tr-ờng phổ thông Đây là một thi phẩm đẹp, khá tiêu biểu cho phong cách thơ Hàn Mặc Tử Đột phá vào các tầng vỉa, lớp lang của cấu trúc
thi phẩm, nhà nghiên cứu, phê bình Chu Văn Sơn trong công trình Thơ, điệu hồn
và cấu trúc đã lẩy ra đ-ợc thi tứ của tác phẩm, cảm nhận đ-ợc điệu hồn thi nhân qua kiến trúc ngôn từ nghệ thuật Mùa xuân chín là "chuỗi sực nhớ miên man hay dòng tâm t- bất định", là "cảnh chín hay tình chín" điệu hồn thi sĩ "vừa ngất ngây xuân chín đã nuối tiếc xuân thì" [115, 120-132] Bài viết này đ-ợc
ấp ủ năm năm trời cho thấy niềm đam mê, sự trở trăn đi tìm giá trị "tột cùng"
trong thơ Hàn Mặc Tử của tác giả Chu Văn Sơn
Theo h-ớng phân tích, cảm nhận tác phẩm, năm 1999, nhà xuất bản Thuận
Hoá Huế cho ra mắt tập sách Cảm nhận thơ Hàn Mặc Tử của thầy giáo Mai Văn
Hoan Theo tác giả, m-ời một bài thơ đ-ợc lựa chọn phân tích cảm nhận "thể hiện t-ơng đối rõ qua trình hình thành và phát triển phong cách thơ Hàn Mặc Tử
" [52, 7] Trong tập sách này, Mai Văn Hoan đã nêu những cảm nhận của mình
về một số bài thơ nh-: Đây thôn Vĩ Dạ, Bẽn lẽn, Đà Lạt trăng mờ, Nhớ Tr-ờng Xuyên, Mùa xuân chín, Những giọt lệ,
2.1.8 Từ góc độ phân tâm học
Trên Website http://www.thuykhue.free.fr, Thuỵ Khuê có bài viết T-ởng
t-ợng, h- ảo và vũ trụ luận mới trong thơ Hàn Mặc Tử cho thấy những tìm tòi,
Trang 13khám phá một cách nghiêm túc và sâu sắc của tác giả nữ này Tác giả cho rằng: trăng, n-ớc, không khí cùng với sức t-ởng t-ợng phong phú và khả năng h- ảo hoá thực tại đã kiến tạo nên vũ trụ thơ Hàn Mặc Tử Thuỵ Khuê đã vận dụng một
cách linh hoạt thuyết Phân tâm học về N-ớc và những giấc mơ của G.Bachelard
để lý giải sự chuyển hoá trăng n-ớc và những ám ảnh tan chảy trong thơ Hàn Mặc Tử [70]
Sử dụng một cổ mẫu (G.Jung), một bí tích tôn giáo - chim bồ nông - bác sĩ
Lê Văn Lân trong bài viết Hàn Mặc Tử và những vần thơ mang dấu Chúa trên
Website http://www.khoahoc.net đã lý giải nguyên nhân của sự xuất hiện biểu
t-ợng máu trong thơ Hàn Mặc Tử Theo tác giả, huyễn t-ởng chim bồ nông đã sống dậy trong nỗi đau th-ơng và niềm thành kính đức tin của Hàn Mặc Tử Hình ảnh loài thuỷ điểu này đ-ợc chạm khắc trên cánh cửa Nhà Tạm đựng Thánh Thể của Chúa hẳn đã tác động mãnh liệt vào tâm linh tín hữu Hàn Mặc
Tử Phải chăng thi nhân đã thấy nhiệm cục của mình trong sứ mệnh Thánh Chúa
? [74]
Nghiên cứu Hàn Mặc Tử từ góc độ phân tâm học là một h-ớng đi đầy hứa hẹn, và chắc chắn sẽ đem lại những khám phá mới về hiện t-ợng Hàn Mặc Tử Tuy nhiên h-ớng đi này cũng sẽ không ít chông gai
2.1.9 Kiểu dựng chân dung văn học
Năm 1987 trong lời giới thiệu Thơ văn Hàn Mặc Tử (Sở văn hoá thông tin Nghĩa Bình, 1988), Chế Lan Viên khắc khoải câu hỏi Hàn Mặc Tử anh là ai ?
Chế Lan Viên muốn phác hoạ chân dung của ng-ời bạn, ng-ời anh của mình
trong thi giới, nh-ng cuối cùng chính chủ nhân của thế giới Điêu tàn kinh dị vẫn
thấy Hàn Mặc Tử khác chúng ta, khác cả Chế Lan Viên và câu hỏi ấy vẫn mãi là một niềm ám ảnh
Cũng từ góc độ này, Hoài Anh trong tiểu luận phê bình Chân dung văn học đã gọi Hàn Mặc Tử là Một hồn thơ thanh sạch Đông Ph-ơng [6, 1072] Hồn
thơ đó dù có siêu thoát gặp gỡ với mĩ cảm của chủ nghĩa siêu thực ph-ơng Tây thì căn cốt cội rễ vẫn là văn hoá ph-ơng Đông, văn hoá dân tộc hàng ngàn năm
ấp ủ trong bản thể tinh thần của nhà thơ
Cùng với những công trình nghiên cứu theo h-ớng dựng chân dung nghệ thuật chúng ta cũng không thể bỏ qua những hồi ký vô cùng quan trọng của
Quách Tấn (Đôi nét về Hàn Mặc Tử) [99], và Nguyễn Bá Tín (Hàn Mặc Tử anh tôi) [99], Hàn Mặc Tử trong riêng t- [130] Những ký ức của ng-ời thân, bạn
hữu qua lớp màn thời gian đã tái hiện cuộc đời và con ng-ời cũng nh- đôi nét về thơ ca của Hàn Mặc Tử Đó là một cơ sở để ng-ời nghiên cứu có thể căn cứ trong quá trình đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử
Trở lên, chúng tôi đã cố gắng hết sức để có thể tiếp cận đ-ợc với các công trình nghiên cứu chung về Hàn Mặc Tử Sự thiếu vắng nhiều công trình nghiên
Trang 14cứu trong phần trình bày ở trên là do năng lực của ng-ời nghiên cứu, do sự eo hẹp về thời gian, Mặt khác, sau gần hai phần ba thế kỉ nghiên cứu, trải rộng trên nhiều không gian, trong nhiều bối cảnh, có công trình đến nay đã trở thành tài liệu hiếm, khó tìm Mặc dù vậy, với những gì đã có trong tay, chúng tôi nhận thấy sự phong phú, đa dạng trong việc nghiên cứu Hàn Mặc Tử Các công trình nghiên cứu, bài viết này đã gián tiếp, xa gần đề cập đến vấn đề tr-ờng liên t-ởng trong sáng tác thơ Hàn Mặc Tử
2.2 Lịch sử nghiên cứu tr-ờng liên t-ởng trong thơ Hàn Mặc Tử
Liên t-ởng và t-ởng t-ợng là phẩm chất hàng đầu trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của nghệ sĩ Không có t-ởng t-ợng, liên t-ởng, hình t-ợng trở nên nhợt nhạt, khô héo Chính vì thế, tìm hiểu thế giới nghệ thuật, thế giới tinh thần của nhà thơ không thể bỏ qua việc tìm hiểu cơ chế t-ởng t-ợng, liên t-ởng trong t- duy sáng tạo của nhà thơ đó Trong các công trình nghiên cứu, bài viết về Hàn Mặc Tử ở các cấp độ, sự liên t-ởng đã đ-ợc nhắc tới d-ới nhiều cách gọi tên khác nhau: sự hình dung, sự liên hệ, ám gợi, Nghĩa là những cách nói khác nhau về sự cảm nhận và thể hiện của Hàn Mặc Tử đối với không gian, thời gian
và con ng-ời Lẽ tất nhiên, mỗi nhà nghiên cứu đều dựa trên những cơ sở phản
ánh luận khác nhau, những hệ t- t-ởng, triết học, mĩ học khác nhau để biện giải
về cách xây dựng hình t-ợng cũng nh- cách tổ chức mạch thơ của Hàn Mặc Tử
Xem xét thơ Hàn Mặc Tử nhiều ng-ời sẽ sớm nhận ra sự "bất ổn" (Tr-ơng
Đăng Dung) của cấu trúc tác phẩm Các nhà nghiên cứu gọi sự bất ổn ấy là "siêu logíc" (Chu Văn Sơn), là "đầu Ngô mình Sở" (Vũ Quần Ph-ơng), là "những đứt nối" (Hà Minh Đức) Tuy nhiên, không ai phủ nhận hiệu quả nghệ thuật của nó Bởi cấu trúc ấy là sản phẩm tất yếu của một tâm hồn v-ợt ra khỏi sự thông th-ờng, của một trạng thái căng thẳng tột cùng, của những khoái lạc nghịch dị
Đó là lôgíc của phi logíc, là trật tự của những ngổn ngang, rơi vỡ, hoạ đồ của những quằn quại đau th-ơng Hà Minh Đức đã nói rất đúng về sự biện chứng ấy của tâm hồn Hàn Mặc Tử: "Bên trong cấu trúc của bài thơ là những liên hệ, những đ-ờng dây liên t-ởng chìm sâu, biến hoá theo mạch t- t-ởng, tình cảm của tác giả Bên trong những đứt nối là sự liên tục phát triển của tình thơ, tứ thơ" [77, 241]
Khá nhạy cảm và tinh tế, Vũ Quần Ph-ơng cảm nhận đ-ợc sự sáng tạo nghệ thuật của Hàn Mặc Tử diễn ra trong vô thức, bản năng, "tuân thủ theo một mạch lôgíc nội tâm say đắm và căng thẳng" Tác giả cũng khẳng định: "Sức t-ởng t-ợng phối hợp với một cảm giác mạnh tạo nên những câu thơ độc đáo ch-a từng có trong thơ Việt Nam" [38, 254-256]
Tác giả Lê Thị Hồ Quang khi thâm nhập vào thế giới Thơ tình Hàn Mặc
Tử (Qua các tập Gái quê, Đau th-ơng, Xuân nh- ý), cũng có quan điểm t-ơng
Trang 15đồng với các nhận định trên về lôgíc riêng của thế giới thơ Hàn Mặc Tử Đó là lôgíc của thơ điên [109]
Thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của chủ thể văn học, là thế giới
riêng của nhà văn Khi bàn về vấn đề này trong công trình Những thế giới nghệ thuật thơ, Trần Đình Sử đã cho rằng Hàn Mặc Tử "sống hoàn toàn trong thế giới
mộng ảo, không còn phân biệt h- thực, và tiếng thơ là tiếng đ-ợc viết ra từ cõi lòng ấy" [118, 50]
Cũng tiếp cận cõi thơ, cõi lòng của Hàn Mặc Tử, Phan Huy Dũng trong bài viết Đây thôn Vĩ Dạ và nỗi niềm của Hàn Mặc Tử đã nhận ra: "Cõi thơ cõi
lòng Hàn Mặc Tử thật gần gũi thân quen mà cũng thật lạ lùng" Cõi riêng ấy của Hàn Mặc Tử có những nét siêu việt bởi "tr-ờng liên t-ởng của thi nhân hết sức rộng xa" [11, 47]
D-ới góc độ thi pháp học, đánh giá Thơ điên là phần quan trọng nhất của
đời thơ Hàn Mặc Tử, Chu Văn Sơn đã khái quát thi pháp của Thơ điên: "thi học của cái tột cùng" Từ mô hình thi pháp ấy, Chu Văn Sơn chỉ ra liên t-ởng của Thơ điên là "liên t-ởng điên" [38, 563] điên đ-ợc hiểu nh- là trạng thái "tột cùng" của xúc cảm thẩm mỹ, những rung động mãnh liệt đến tê dại cả tâm can, không phải là cái điên loạn bệnh lý Nhận định về thế giới nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử là sự h-ớng tới cái "tột cùng" về cả hai thái cực, nhà nghiên cứu này đã
có những luận giải về cơ chế liên t-ởng trong Thơ điên, những liên t-ởng bị đẩy
về hai cực, rất xa nhau nh-ng lại là hệ quả tất yếu của nhau trong cơ chế tâm lý của "ng-ời thơ" Hàn Mặc Tử
Đột phá vào khía cạnh giọng điệu, thực ra cũng là xuất phát từ góc độ thi pháp học, tác giả Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: giọng điệu chủ yếu trong thơ Hàn Mặc Tử là rên siết, đau th-ơng Từ giọng điệu, tác giả đi đến khẳng định:
"Thế giới nghệ thuật của Hàn Mặc Tử chính là kinh nghiệm đau th-ơng đ-ợc biểu thị bằng ngôn từ, bằng nhạc, bằng h-ơng" [40, 297] Rõ ràng với cách biện giải ấy ta thấy rằng đau th-ơng là cơ sở chi phối sự cảm nhận và thể hiện thế giới của nhà thơ Cảm nhận về một thế giới trầm luỵ, khổ đau sẽ hiện hình trong giọng điệu bi th-ơng, rên siết, cảm nhận một thế giới t-ơi sáng, ấm áp lời thơ sẽ cất tiếng hân hoan, lạc quan
Phê bình phong cách Thơ mới, nhấn mạnh t- duy nghệ thuật độc đáo của
Hàn Mặc Tử, Đỗ Lai Thuý cho rằng t- duy thơ Hàn Mặc Tử là sự kết hợp tính trữ tình, t- duy tôn giáo và cá nhân hiện đại Cõi giới riêng của Hàn Mặc Tử
đ-ợc kiến tạo bởi "hoạ điệu của hồn ông" [133, 225]
Tiếp cận Hàn Mặc Tử và Thơ mới trên tinh thần của ph-ơng pháp so sánh văn học, ở bình diện đồng đại và lịch đại, trên những không gian văn hoá, văn học khác nhau, các nhà nghiên cứu cũng đã đạt đ-ợc những thành tựu hết sức
Trang 16có giá trị Đáng chú ý là công trình Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Bình Định của
Nguyễn Toàn Thắng Tác giả đã có phát hiện khá sâu sắc: "Hình nh- Hàn Mặc
Tử không coi trọng nhiều lắm cái mà "mắt nhìn thấy" mà chỉ h-ớng về cái mà
"hồn cảm thấy" [126, 109] Thực chất mối quan hệ giữa cái nhìn thấy và cái cảm thấy là cơ chế của liên t-ởng nghệ thuật
Từ ph-ơng pháp so sánh đi đến "thi học so sánh" (Ph-ơng Lựu), tác giả Lê
Thị Anh trong chuyên luận Thơ mới với thơ Đ-ờng, đã chỉ ra sự gần gũi của thơ
Hàn Mặc Tử với Đ-ờng thi trên các cấp độ: tứ thơ, hình t-ợng, kết cấu, tiêu đề tác phẩm, Bàn luận về khoảnh khắc đốn ngộ của Đ-ờng thi, soi chiếu vào Thơ mới, Hàn Mặc Tử tác giả chuyên luận khẳng định: "Thơ Hàn Mặc Tử chính là thơ trực giác phi lý tính, không còn nghi ngờ gì nữa" [5, 217]
Từ góc độ của phân tâm học và văn hoá tâm linh các nhà nghiên cứu cũng
đã tìm ra một số mật mã ẩn sâu trong tâm hồn, tâm linh Hàn Mặc Tử Chiêm nghiệm về hiện t-ợng Hàn Mặc Tử theo h-ớng này, Phan Cự Đệ thành thật nhận ra: "Giải thích những thời kỳ khác nhau trong quá trình sáng tác cũng nh- nội dung trong những bài thơ kinh dị của Hàn Mặc Tử là một thử thách khó v-ợt qua
đối với phản ánh luận Mác xít" [38, 11] Từ đó tác giả đồng cảm với nhận định của Nguyễn Bá Tín về thơ Hàn Mặc Tử từ góc độ phân tâm học: thơ Hàn Mặc Tử
"siêu thăng những -ớc mơ không đ-ợc thoả mãn trong hạnh phúc và trong tình yêu" [38, 16] Còn ng-ời bạn thân thiết của Hàn Mặc Tử là Trần Tái Phùng lại
gọi cách thi nhân cảm thụ thế giới là Cảm ứng thần bí (thần giao cách cảm) [38,
Nhìn vào vĩnh cửu bằng con mắt tâm linh, Đoàn H-ơng nhận thấy: t- duy thơ Hàn Mặc Tử là "t- duy thơ tâm linh kiểu văn hoá ph-ơng Đông'' [38, 612]
Bằng một trực giác khá bén nhạy cộng với lối t- biện lý thú về khí chất con ng-ời Miền Trung, Lại Nguyên Ân đã gợi lên một ý h-ớng để nghiên cứu t- duy sáng tạo thơ Hàn Mặc Tử T- duy đó bắt nguồn từ khí chất sôi máu, quyết liệt, cực đoan, riết róng của con ng-ời Miền Trung, cùng với bản sắc ngôn ngữ trầm, đục, tối, Ngôn ngữ ấy là hình thức vật chất của khí tính con ng-ời nơi
đây, phù hợp với việc biểu đạt cảm xúc mãnh liệt, tột cùng, điên loạn, của Hàn
Mặc Tử, cũng nh- ảnh h-ởng đến liên t-ởng nghệ thuật của nhà thơ (Phan Huy
Trang 17Dũng cũng đã có những nghiên cứu khá cụ thể về sắc thái ngôn ngữ địa ph-ơng
và hiệu quả nghệ thuật của nó trong thơ Hàn Mặc Tử)
Nh- vậy, h-ớng nghiên cứu phân tâm học và tâm linh đã mở ra khả năng tìm hiểu tr-ờng liên t-ởng trong thơ Hàn Mặc Tử không chỉ ở phần ý thức mà cả trong vô thức, tiềm thức, trong tín ng-ỡng tâm linh,
Có thể nói, sự liên t-ởng trong sáng tác thơ của Hàn Mặc Tử đã đ-ợc nhắc
đến trong khá nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên, sự bàn luận đều mới mang tính chất gợi mở, điểm xuyết trong tổng thể của vấn đề khác, khía cạnh khác về Hàn Mặc Tử Các ý kiến ch-a đi vào khảo sát, mô tả, lí giải, đánh giá một cách hệ thống, chuyên sâu về cơ sở và cơ chế liên t-ởng nghệ thuật của Hàn Mặc Tử Cách thức liên t-ởng xây dựng hình ảnh, hình t-ợng thơ, liên t-ởng tạo dựng mạch thơ, các dấu hiệu của tr-ờng liên t-ởng trên ph-ơng diện hình thức nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử, vẫn ch-a có sự nghiên cứu sâu rộng dựa trên cơ sở lý thuyết liên t-ởng và thực tiễn sáng tác của thi nhân Mặc dù vậy, các ý kiến, nhận định ấy đã giúp chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn đề tr-ờng liên t-ởng trong thơ Hàn Mặc Tử từ một góc nhìn bao quát hơn
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Tìm hiểu cơ sở nội sinh, ngoại sinh chi phối tr-ờng liên t-ởng và những biểu hiện của tr-ờng liên t-ởng trong thơ Hàn Mặc Tử
3.2 Trong quá trình nghiên cứu chỉ ra cách liên t-ởng xây dựng hình ảnh, hình t-ợng thơ Hàn Mặc Tử
3.3 Tìm hiểu dấu ấn của tr-ờng liên t-ởng trong một số ph-ơng diện hình thức nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử, chỉ ra cách liên t-ởng để khơi tạo, phát triển mạch thơ của tác giả
3.4 Từ việc nghiên cứu tr-ờng liên t-ởng thấy đ-ợc những đóng góp mới
mẻ, độc đáo của Hàn Mặc Tử đối với thơ trữ tình Việt Nam trong tiến trình hiện
đại hoá, đặc biệt là trên ph-ơng diện mĩ cảm và t- duy nghệ thuật
Không có ph-ơng pháp nào là tối -u, toàn diện Chính vì thế, ph-ơng pháp tốt nhất là sự kết hợp nhiều ph-ơng pháp trong luận văn này chúng tôi vận dụng một số ph-ơng pháp nh-: phân tích- tổng hợp, ph-ơng pháp thống kê phân loại, ph-ơng pháp bình giảng, ph-ơng pháp tiếp cận hệ thống, ph-ơng pháp phối hợp liên ngành Văn học, Ngôn ngữ học, Tâm lý học sáng tạo văn học, ph-ơng pháp
so sánh - đối chiếu, ph-ơng pháp tiểu sử, ph-ơng pháp văn hoá học, Trong quá
Trang 18trình thực hiện đề tài, chúng tôi kết hợp cả việc nghiên cứu thực tế tại những nơi từng in dấu chân Hàn Mặc Tử: Vĩ Dạ, xóm Động, Gò Bồi, xóm Tấn, số nhà 20
đ-ờng Khải Định, Ghềnh Ráng, Đồi Thi nhân, Trại phong Quy Hoà - Quy Nhơn
- nơi Hàn Mặc Tử thọ bệnh những ngày cuối cùng và nằm lại mãi mãi
5 Đóng góp mới của luận văn
Lần đầu tiên tr-ờng liên t-ởng trong xúc cảm thẩm mỹ và t- duy sáng tạo thơ của Hàn Mặc Tử đ-ợc nghiên cứu một cách hệ thống trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn sáng tác
Tìm hiểu tr-ờng liên t-ởng trong thơ Hàn Mặc Tử chúng tôi hy vọng sẽ
có thể lí giải một cách có cơ sở cơ chế xây dựng thế giới hình ảnh, hình t-ợng, sự thống nhất, lôgíc trong mạch cảm xúc thơ ca, cách thức tổ chức văn bản ngôn từ nghệ thuật của Hàn Mặc Tử Từ việc nghiên cứu đề tài thấy đ-ợc sự độc đáo, tiên phong trong việc đổi mới thi pháp, hình thành một phong cách thơ rất riêng biệt của Hàn Mặc Tử
6 Cấu trúc của luận văn
Trên cơ sở nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần mở đầu và kết luận,
nội dung của luận văn đ-ợc triển khai trong ba ch-ơng:
Ch-ơng 1 Tr-ờng liên t-ởng và cơ sở của tr-ờng liên t-ởng trong thơ Hàn Mặc Tử
Ch-ơng 2 Tr-ờng liên t-ởng trong sáng tạo hình t-ợng không gian, thời gian, con ng-ời
Ch-ơng 3 Dấu ấn của tr-ờng liên t-ởng trong một số ph-ơng diện hình thức
Cuối cùng là phần Tài liệu tham khảo
Trang 19Ch-ơng 1 Tr-ờng liên t-ởng và cơ sở của tr-ờng liên t-ởng
trong thơ Hàn Mặc Tử
1.1 Giới thuyết về liên t-ởng và tr-ờng liên t-ởng
1.1.1 Liên t-ởng và tr-ờng liên t-ởng trong đời sống tâm lý con ng-ời
Liên t-ởng là hoạt động tâm lý thông th-ờng, phổ biến ở con ng-ời Không ai trong chúng ta lại không liên t-ởng khi bắt đầu sự hiện tồn của mình trong không gian, thời gian và nhân gian Dù trực tiếp hay gián tiếp, dù xa hay gần, lôgíc hay có vẻ phi lôgíc, hình thức liên kết các sự vật hiện t-ợng mà con ng-ời thụ cảm trên cơ sở những mối quan hệ nào đó chính là sự liên t-ởng
Liên t-ởng theo cách giải thích của Từ điển Tiếng Việt "là nhân sự việc,
hiện t-ợng nào đó mà nghĩ tới sự việc, hiện t-ợng khác có liên quan" [107, 568] Giáo s- Nguyễn Lân cho rằng: liên t-ởng "là hiện t-ợng tâm lý khiến ng-ời ta khi nghĩ đến một sự vật lại nghĩ đến những sự vật liên quan hoặc vì gần nhau hoặc vì giống nhau hoặc vì trái ng-ợc nhau" [75, 1062] Những cách giải thích này nói lên cơ chế chung của liên t-ởng là nghĩ tới, là liên kết trong t- duy các
sự vật hiện t-ợng dựa trên những mối liên hệ nào đó giữa chúng Chính vì thế, liên t-ởng gắn bó mật thiết với trí nhớ, góp phần duy trì trí nhớ Trí nhớ thiên về
lý trí, mang tính tái hiện, đòi hỏi sự chính xác, máy móc Theo các nhà tâm lý học, trí nhớ là "chức năng tâm lý giữ lại thông tin về các kích thích, sự kiện, hình
ảnh, ý kiến, khi kích thích ban đầu không còn nữa" [137, 387] Trong các loại
trí nhớ có "trí nhớ liên t-ởng" (associative memory) - một loại trí nhớ dài hạn
Trong thuật ngữ này, theo các nhà tâm lý học, từ liên t-ởng là bổ ngữ chỉ loại của trí nhớ, liên t-ởng là con đ-ờng duy trì và kéo dài trí nhớ
Vì liên t-ởng là quy luật tâm lý th-ờng nhiên của con ng-ời nên các ngành khoa học trực tiếp nghiên cứu tâm lý ng-ời đã vận dụng lý thuyết liên t-ởng trong quá trình nghiên cứu Liên t-ởng không chỉ diễn ra trong ý thức mà còn trong vô thức, tiềm thức biểu hiện qua những giấc mơ, những ám ảnh, những trực nhận siêu quy luật Từ cơ chế liên t-ởng, những mật mã của đời sống tinh thần con ng-ời dần đ-ợc hé mở
Tất cả mọi sự vật, hiện t-ợng trong thế giới đều có quy luật tồn tại của nó Tính biện chứng của thế giới nói lên mối quan hệ giữa các sự vật hiện t-ợng Triết học cổ điển ph-ơng Đông quan niệm năm yếu tố tạo nên vũ trụ là: Kim - Mộc - Thuỷ - Hoả - Thổ, gọi là ngũ hành Ngũ hành t-ơng, sinh t-ơng khắc chính là biểu hiện những mối quan hệ của vạn vật trong vũ trụ Không có sự vật hiện t-ợng nào tồn tại biệt lập, không có cái đơn nhất vĩnh viễn tuyệt đối Chính
Trang 20nhờ những mối liên hệ ấy của vũ trụ mà con ng-ời có thể nối kết các sự vật, hiện t-ợng với nhau Liên t-ởng nảy sinh từ đó
Động năng của liên t-ởng còn bắt nguồn từ bản thân con ng-ời Con ng-ời biết cách nối kết thế giới dựa trên những quy luật mà họ phát hiện ra Bên cạnh những mối liên hệ khách quan của sự vật hiện t-ợng, những liên hệ chủ quan, mang ý niệm tinh thần của con ng-ời khi tiếp cận thế giới cũng góp phần hình thành liên t-ởng Lômônôxốp cho rằng liên t-ởng "là năng khiếu tinh thần từ một vật đã đ-ợc thấy nghĩ ngay đến những vật khác liên quan chặt chẽ với nó" [103, 184] Liên t-ởng sắp xếp, xâu chuỗi những ấn t-ợng hỗn độn của con ng-ời về thế giới trong những dòng suy nghĩ, những chuỗi nhóm t-ơng ứng với các phạm vi mức độ quan hệ của chúng
Thế giới vi mô không hẹp hơn thế giới vĩ mô Mỗi con ng-ời là một tiểu
vũ trụ Vốn văn hoá, kinh nghiệm sống, trí tuệ, tâm lý khí chất của mỗi ng-ời là hoàn toàn không giống nhau Bởi vậy, liên t-ởng ở từng cá nhân cũng khác nhau L-u Trọng L- đã nói hộ các nhà thơ mới Việt Nam về sự thay đổi, khác biệt của lòng ng-ời trong cơn ba động của thời đại ở những thập kỉ đầu của thế kỉ XX:
"Các cụ ta -a những màu đỏ choét, ta lại -a những màu xanh nhạt, Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya ta lại nao nao vì tiếng gà đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ các cụ coi nh- đã làm một điều tội lỗi; ta thì ta cho là mát mẻ nh- đứng tr-ớc một cánh đồng xanh" [124, 20] Tuy nhiên, con ng-ời không thể tách mình ra khỏi môi tr-ờng sống Tính dân tộc và tính thời đại chính
là mẫu số chung của mỗi cá nhân, của mỗi tr-ờng liên t-ởng Đây chính là những chuẩn mực, đạo lý, thị hiếu mà cộng đồng xác lập trong quá trình tổ chức
đời sống
1.1.2 Quan niệm của Ngôn ngữ học về liên t-ởng và tr-ờng liên t-ởng
Liên t-ởng là một phạm trù của t- duy T- duy không thể tách rời khỏi ngôn ngữ bởi ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của t- duy, là vỏ vật chất của t- duy Không có một từ ngữ nào tồn tại mà không mang nội dung t- duy Mọi sắc thái biểu vật, biểu niệm, biểu thái cũng nh- ngữ âm, thanh điệu, cách kết hợp từ, đều gợi lên liên t-ởng trong t- duy con ng-ời F Saussure cho rằng: "Một
từ nào đó bao giờ cũng có thể gợi tất cả những gì có thể liên t-ởng với nó bằng cách này hay cách khác" Chính vì có bao nhiêu mối quan hệ mà từ gợi lên xung quanh nó nên cũng có bấy nhiêu liên t-ởng Trong ngôn ngữ có khái niệm Tr-ờng từ vựng, đó chính là tập hợp những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa Những nét nghĩa đó không đi xa khỏi liên t-ởng của con ng-ời Những tr-ờng từ vựng, chuỗi, nhóm liên t-ởng ấy có thể đ-ợc gọi bằng một khái niệm khác bao quát hơn là tr-ờng liên t-ởng Khái niệm tr-ờng liên t-ởng đ-ợc nhà ngôn ngữ học ng-ời Pháp Ch.Bally đ-a ra lần đầu tiên Nghiên cứu tr-ờng từ vựng - ngữ nghĩa nh- một khía cạnh của tr-ờng liên t-ởng, Đỗ Hữu Châu khẳng định: "Sự
Trang 21tồn tại của các tr-ờng liên t-ởng là có thật đối với các ngôn ngữ và đối với từng ng-ời" Dĩ nhiên nội hàm cũng nh- ngoại diên của khái niệm tr-ờng liên t-ởng rộng lớn hơn tr-ờng từ vựng, chuỗi, nhóm liên t-ởng Có những liên t-ởng, nhất
là trong nghệ thuật mà con ng-ời chấp nhận nó không đòi hỏi sự giải thích, điều
đó cũng có một phần nguồn gốc từ tính võ đoán của ngôn ngữ cũng nh- tính cá nhân và môi tr-ờng trừu xuất của liên t-ởng: "liên t-ởng kỳ lạ rằng nốt rê có màu nâu, nốt la có màu trắng Đôi khi nh- vậy đấy, không thực, nh-ng không nhất thiết phải giải thích" (Phan Triều Hải) Những liên t-ởng bất ngờ, kì lạ ấy
có lẽ chính là "sự t-ơng hợp bí hiểm" mà R Jakovson đã nói tới trong tiểu luận
Ngôn ngữ trong hoạt động của mình [60, 233] Sự t-ơng hợp kì bí của ngôn ngữ
có thể diễn ra ở nhiều cấp độ Nghệ thuật thơ ca th-ờng khai thác đặc tính âm học của nguyên âm, phụ âm, thanh điệu để tạo dựng những liên t-ởng thẩm mĩ
độc đáo, phong phú Sự phong phú trong liên t-ởng cho thấy sự giàu có của tâm hồn, trí tuệ, sự mẫn tiệp của con ng-ời Trần Ngọc Thêm cho rằng: "Sự liên t-ởng là quan hệ giữa hai từ bất kỳ mà sự xuất hiện của từ này kéo theo sự xuất hiện của từ kia trong kí ức" [127, 147] Kí ức ở đây không gì khác chính là kho kinh nghiệm sống, vốn văn hoá, ngôn ngữ của ng-ời phát ngôn, của cộng đồng, dân tộc, thời đại mà ng-ời đó thụ h-ởng Ng-ời Trung Quốc thích treo chữ
"Phúc" ng-ợc tr-ớc nhà, trên cánh cửa, nh-ng điều đó không có ý nghĩa thậm chí phản tác dụng đối với ng-ời Việt Nam Rõ ràng ngôn ngữ thể hiện sự tri nhận của con ng-ời đối với thế giới Tr-ờng liên t-ởng hình thành từ quá trình tri nhận ấy Ngôn ngữ biểu đạt liên t-ởng và chính ngôn ngữ lại cũng trở thành một
đối thể để con ng-ời tri nhận và liên t-ởng Giới hạn của ngôn ngữ chính là sự
"lão hoá" trên cả hai ph-ơng diện "cái biểu đạt" và "cái đ-ợc biểu đạt" Vì thế liên t-ởng sẽ "bạc màu" là điều không tránh khỏi
Nh- vậy, các nhà ngôn ngữ đã đánh giá mối quan hệ mật thiết nh- hình với bóng của ngôn ngữ và liên t-ởng Cùng với sự vận động của thời đại, ngôn ngữ, liên t-ởng cũng có những biến chuyển để t-ơng thích với những hệ quy chiếu mới
1.1.3 Liên t-ởng và tr-ờng liên t-ởng trong việc hình thành t- duy sáng tạo nghệ thuật
1.1.3.1 Phân biệt liên t-ởng với t-ởng t-ợng, suy t-ởng
Trong t- duy nghệ thuật, liên t-ởng, t-ởng t-ợng và suy t-ởng gắn bó chặt chẽ với cảm xúc, với các ý t-ởng xây dựng hình ảnh, hình t-ợng và cách thức tổ chức tác phẩm nghệ thuật Tuy nhiên giữa chúng có sự khác nhau về cơ chế thao tác cũng nh- phạm vi hoạt động và biểu hiện
Từ điển Tiếng Việt giải thích về t-ởng t-ợng nh- sau: "T-ởng t-ợng là tạo
ra trong trí hình ảnh những cái không có ở tr-ớc mắt hoặc ch-a hề có" [107, 1082] Theo cách giải thích này, hình ảnh của t-ởng t-ợng là những cái ch-a hề
Trang 22có hoặc không có tr-ớc mắt nh- ngày mai, t-ơng lai, Là một hoạt động rất
quan trọng trong Lao động nhà văn, "T-ởng t-ợng là khả năng cấu hợp theo một
cách mới các yếu tố của kinh nghiệm sống" [139, 168] Hình t-ợng nghệ thuật sẽ chỉ là sự sao chép cuộc sống một cách khô cứng, nhợt nhạt thậm chí không thể
có hình t-ợng nghệ thuật nếu ý t-ởng, hình ảnh không đ-ợc tôi luyện bằng t-ởng t-ợng Sản phẩm của trí t-ởng t-ợng là cái ch-a có, ch-a xuất hiện trong thực tại nh-ng lại là kết quả của quá trình cải biến những cái đã có Trí t-ởng t-ợng của con ng-ời vô cùng phong phú nh-ng không phải không có giới hạn Khuôn khổ của trí t-ởng t-ợng chính là "không ai có thể hình dung ra cái không gì cả thuần tuý" [86, 208] T-ơng lai của con ng-ời là một viễn cảnh ch-a xuất hiện Nh-ng hình ảnh đó có thể có đ-ợc trong tinh thần trên cơ sở những tiền đề thực tế đã có
về con ng-ời, về cuộc sống Từ những chất liệu đó con ng-ời tổng hợp, biến cải tạo nên hình ảnh cuộc sống mai sau, t-ơng lai chỉ có trong ý nghĩ
T-ởng t-ợng có hai loại là t-ởng t-ợng tái tạo và t-ởng t-ợng sáng tạo Theo Henri Benac, t-ởng t-ợng tái tạo là "khả năng tái hiện lại những hình ảnh
đến trực tiếp từ những giác quan hay đ-ợc giữ lại trong trí nhớ" Còn t-ởng t-ợng sáng tạo là "khả năng kết hợp những hình ảnh, mặc dù đ-ợc vay m-ợn ở tự nhiên, vẫn tạo nên một tổng thể không tồn tại trong thực tiễn" [12, 426-427] t-ởng t-ợng có vai trò hết sức to lớn đối với nghệ thuật, không chỉ ở sáng tạo
mà cả trong tiếp nhận Baudelaire gọi t-ởng t-ợng là "bà hoàng của mọi khả năng" Không có t-ởng t-ợng, dải yếm, cành hồng sao thành đ-ợc nhịp cầu yêu
đ-ơng, cô Tấm sao có thể b-ớc ra từ quả thị thơm, nàng Bạch Tuyết sao có thể sống lại bằng nụ hôn của chàng hoàng tử, Trí t-ởng t-ợng đ-a Tôn Ngộ Không
đi xa hàng vạn dặm chỉ với một cái lắc mình và sở hữu cây gậy nh- ý ngàn cân
có thể cất trong lỗ tai Pablo Picasso bằng trí t-ởng t-ợng vô cùng phong phú đã nhìn thấy biểu t-ợng đầu bò từ sự kết hợp tuyệt vời của ghi đông và yên xe
đạp, [3, 259] Tuy nhiên không phải lúc nào và ở thời đại nào t-ởng t-ợng cũng
đ-ợc đánh giá cao Chủ nghĩa cổ điển thế kỷ XVII, XVIII trên tinh thần nhận thức luận của khoa học thực nghiệm đã đề cao lý trí và kh-ớc từ vai trò của t-ởng t-ợng trong nghệ thuật Thậm chí các nhà t- t-ởng của chủ nghĩa cổ điển còn lên án t-ởng t-ợng: t-ởng t-ợng là cơ sở của sai lầm, ngăn cản trí tuệ đi đến chân lý, làm con ng-ời kiêu ngạo và dễ phô tr-ơng, Từ chối lý thuyết và trừu t-ợng, tuyệt đối hoá vai trò của lý trí trên con đ-ờng đi đến chân lý, các nhà t- t-ởng của chủ nghĩa cổ điển đã khai trừ t-ởng t-ợng ra khỏi lộ trình của t- duy Chỉ có lý trí thông qua con đ-ờng thực nghiệm mới đ-a con ng-ời đến những chân lý vĩnh cửu [98, 120] Các nhà văn của chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự nhiên lấy thực nghiệm làm chuẩn mực cũng phủ nhận đến mức cực đoan vai trò của t-ởng t-ợng (E Zola)
Trang 23Trí t-ởng t-ợng là tài sản vô giá của nhân loại, là đặc tính mang bản chất ng-ời Các nhà văn của chủ nghĩa cổ điển, hiện thực, tự nhiên phủ nhận vai trò của t-ởng t-ợng nh-ng chính họ đang sử dụng t-ởng t-ợng khi sáng tạo nghệ thuật Lẽ nào những tác phẩm của Molière, Balzac lại hoàn toàn vắng bóng t-ởng t-ợng Ngay bản thân Descartes - đại diện -u tú của lý luận nhận thức lý tính thuần tuý, khi phát biểu mệnh đề nổi tiếng "Tôi t- duy ấy là tôi tồn tại" cũng không tránh đ-ợc hoài nghi khi ngay sau câu nói trên là câu "Th-ợng đế nhân từ
lẽ nào lừa dối tôi" [22, 31]
Chủ nghĩa lãng mạn, hậu lãng mạn với những khát vọng giải phóng tình cảm, nhận thức hiện thực một cách chân thực hơn là mảnh đất phì nhiêu cho t-ởng t-ợng -ơm mầm T-ởng t-ợng đ-ợc đánh giá là khơi nguồn cho sáng tạo nghệ thuật, là thành phần cơ bản của các phát minh khoa học, giải thoát con ng-ời khỏi buồn rầu chán nản, mang đến lý t-ởng, sáng tạo ra hạnh phúc, làm phong phú cảm xúc, Trên tinh thần biện chứng, Lênin cho rằng: "Trong mọi sự khái quát dù đơn giản nhất, trong mọi ý niệm dù sơ đẳng nhất cũng đều có một mẩu nhất định của t-ởng t-ợng" [129, 112]
Nh- vậy, có thể thấy t-ởng t-ợng gắn bó chặt chẽ với đời sống tinh thần con ng-ời T-ởng t-ợng dù phong phú đến đâu cũng không đi xa khỏi lý trí, khỏi lôgíc cuộc sống nếu không muốn trở thành bịa đặt Đúng nh- Konxtantin Fhêđin
đã nói: "Trí t-ởng t-ợng không đ-ợc tách hình t-ợng khỏi lôgíc cuộc sống, không đ-ợc biến hình t-ợng thành hoang đ-ờng nhảm nhí" [63, 248]
Liên t-ởng cũng là một hoạt động tâm lý của con ng-ời Sự tồn tại của khái niệm này bên cạnh t-ởng t-ợng, suy t-ởng, trí nhớ, khiến ng-ời ta phải chú ý đến cơ sở tồn tại cũng nh- cơ chế hoạt động của nó Liên t-ởng không tách rời trí nhớ, cảm xúc, diễn ra trên địa hạt của văn hóa, ngôn ngữ, kinh nghiệm, trí tuệ của cá nhân và những dấu ấn của thời đại, dân tộc Cơ chế của liên t-ởng là sự nối kết các sự vật, hiên t-ợng mà con ng-ời thụ cảm với nhau
dựa trên những mối liên hệ nào đấy Từ điển Tiếng Việt giải thích: liên t-ởng "là
nhân sự việc hiện t-ợng nào đó mà nghĩ tới sự việc, hiện t-ợng khác có liên quan" [107, 568] Liên t-ởng hẹp hơn t-ởng t-ợng, ở khía cạnh nào đó liên t-ởng là một thao tác của t-ởng t-ợng Liên t-ởng là năng lực của t- duy góp phần vào việc nhận thức của con ng-ời Con ng-ời không thể nhận thức đối t-ợng trong tính biệt lập, siêu hình của nó Để thoả mãn ham muốn tri nhận thế giới, con ng-ời luôn bằng cách này hay cách khác nắm bắt các quy luật về đối t-ợng dựa trên những mối quan hệ bên trong hay bên ngoài của chúng Trong nghệ thuật, liên t-ởng còn phong phú hơn rất nhiều Những kết hợp bất ngờ, táo bạo, những mối liên hệ không ngờ mà rất có lý luôn tạo nên khoái cảm thẩm mĩ, tạo nên "độ dày" của ngôn ngữ, hình t-ợng Bàn về liên t-ởng Lê L-u Oanh lý giải: "Giữa hai sự vật và hiện t-ợng chừng tách rời nhau, tựa hồ không thể đứng
Trang 24bên nhau trong một mạch suy nghĩ đã xuất hiện mối liên hệ để chúng đột nhiên trở nên gần gũi, Mối liên hệ này có đ-ợc chính nhờ một thao tác t- duy, một năng khiếu tinh thần trong hoạt động nhận thức, một hiện t-ợng tâm lý: sự liên t-ởng" [101, 133] Tác giả này cũng cho rằng có hai loại liên t-ởng: liên t-ởng tái tạo và liên t-ởng sáng tạo Liên t-ởng sáng tạo vô cùng quan trọng đối với nghệ thuật Liên t-ởng kiểu này tìm ra những mối liên hệ bất ngờ giữa những đối t-ợng có khi rất xa lạ Liên t-ởng trong sáng tạo nghệ thuật diễn ra cả ở ý thức, vô thức, tiềm thức Những cơn "kịch phát" của cảm xúc, tâm trạng, v-ợt quá những lôgíc thông th-ờng sẽ tạo nên những liên t-ởng bất th-ờng, siêu quy luật
mà rất có lý Đó là "mối t-ơng quan huyền bí tạo nên sự thống nhất âm u và sâu
xa vũ trụ, v-ợt ra ngoài cảm giác hời hợt của giác quan thông th-ờng" [136]
Điều gì ám ảnh Hoàng Cầm ở những vần thơ nhiều liên t-ởng này: Ngủ lại giấc mơ dang dở / Chũm cau căng nứt mạch tằm / Yếm may ba ngày mẹ vá lại / Khuya nghe buồng động bóng trăng rằm (Đêm mộc) Liên t-ởng tái tạo diễn ra
chủ yếu trong đời sống th-ờng nhật dựa nhiều vào trí nhớ và kinh nghiệm Cách
nói dân gian phổ biến: trắng nh- bông, xanh nh- tàu lá, hiền nh- bụt, là một
dạng của liên t-ởng tái tạo
Liên t-ởng định h-ớng t-ởng t-ợng, nối kết các sự vật hiện t-ợng trong quá trình t-ởng t-ợng hoặc nối kết t-ởng t-ợng để tạo thành chỉnh thể Không có liên t-ởng, t-ởng t-ợng dễ sa vào bịa đặt Ng-ợc lại, không có t-ởng t-ợng, liên t-ởng sẽ nghèo nàn, nhợt nhạt, Mĩ cảm mới trong quá trình tri nhận thế giới vì thế cũng không xuất hiện, hình t-ợng và tác phẩm nghệ thuật cũng sẽ không có
Cũng là một hoạt động của t- duy, nh-ng suy t-ởng thiên về lý trí mang tính chiêm nghiệm về một vấn đề nào đó nhằm tìm ra quy luật, kết luận, hệ
quả, Từ điển Tiếng Việt giải thích: suy t-ởng là "suy nghĩ sâu lắng về những
vấn đề chung, vấn đề có ý nghĩa lớn" [107, 876] Khi t-ởng t-ợng, liên t-ởng
đ-ợc đặt d-ới sự kiểm soát, sự phân tích, lí giải của lý trí chính là lúc cơ chế suy t-ởng diễn ra Suy t-ởng giúp cho liên t-ởng khỏi bị tán lạc, tập trung vào lôgíc nội tại của tác phẩm và tinh thần nghệ sĩ Suy t-ởng làm cho cảm xúc, liên t-ởng thêm sâu sắc, có độ chín Trong thơ Chế Lan Viên chất suy t-ởng là một vẻ đẹp thuộc về phong cách Thơ ông sang trọng, hàm súc bởi những triết lý giàu chất trí tuệ:
Thuở nhỏ tôi mê chim và chán những bài hình học Thơ phải là vô định vô hình bát ngát bay bay bay
Nào biết đâu chim viễn du theo đội hình tam giác Bài toán tôi làm dở ở tr-ờng chim giải đáp giữa trời mây
(Đội hình chim viễn du)
Trang 25Suy t-ởng làm cho thơ có vẻ gân guốc, kém m-ợt mà, nh-ng đó lại chính là vẻ
đẹp của loại thơ này Hà Minh Đức đã khái quát rất chính xác: "Thực chất của sự suy nghĩ trong thơ là biết đi sâu vào bản chất của đối t-ợng, phát hiện và rút ra ý nghĩa khái quát nhất, xác lập những liên t-ởng sâu xa giữa đối t-ợng và những hiện t-ợng khác" [42, 203] Giản dị và cô đọng hơn Chu Văn Sơn gọi suy t-ởng trong thơ là "gia tăng chất nghĩ'' [81, 417]
Nh- vậy liên t-ởng nghiêng về mĩ cảm, diễn ra trong ý thức, vô thức, tiềm thức Suy t-ởng chủ yếu nằm trong lôgíc của lý trí Thực ra, t-ởng t-ợng, liên t-ởng, suy t-ởng không tách rời mà len thấm, đan bện, chuyển hoá trong một mạch cảm xúc dồi dào và thống nhất, có khi cái này là toàn thể, cái kia là bộ phận và ng-ợc lại
1.1.3.2 Liên t-ởng trong sáng tạo và tiếp nhận nghệ thuật
Có thể thấy liên t-ởng không thể thiếu trong t- duy sáng tạo và tiếp nhận của bất kỳ loại hình nghệ thuật nào Mĩ học Mác - Lê nin quan niệm: "Loại hình nghệ thuật là một lĩnh vực hoạt động nghệ thuật đặc biệt của con ng-ời, đ-ợc phân biệt dựa theo đối t-ợng của sự phản ánh, dựa theo tính chất và kiểu loại hình t-ợng, theo ph-ơng thức thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ của con ng-ời, theo chất liệu và theo các quy luật xây dựng hình t-ợng nghệ thuật đặc tr-ng của mình" (dẫn theo [101, 96]) Từ định nghĩa loại hình nghệ thuật có thể thấy rõ những môi tr-ờng và khả năng để liên t-ởng có thể phát huy, thể hiện Trong tất cả các khâu đoạn của các loại hình nghệ thuật, liên t-ởng vẫn là thao tác cơ bản
để sáng tạo và tiếp nhận
Đối với ng-ời hoạ sĩ, chất liệu, màu sắc, đ-ờng nét, hoạ tiết, hình khối đều
có những đặc tính biểu hiện khác nhau, gắn với các ý nghĩa, ý t-ởng, quy -ớc khác nhau Khi lựa chọn, phối hợp và sử dụng hoạ sĩ phải hình dung đ-ợc hiệu quả biểu đạt, hình t-ợng phải đ-ợc hoàn thiện từ tr-ớc trong tâm t-ởng Không thể có điều đó nếu liên t-ởng không tham gia vào quá trình t- duy nghệ thuật của nghệ sĩ Khoảng sáng tối của vệt màu tạo hiệu ứng ba chiều trên không gian hai chiều của bức vẽ hay độ loang nhoè của mực n-ớc, các quy luật viễn cận trong quan sát, rõ ràng phải có sự dẫn đ-ờng của liên t-ởng để có thể mang sinh mệnh nghệ thuật trong tác phẩm
Kết hợp cái đẹp với tính thực dụng nhằm kiến tạo không gian sinh tồn của con ng-ời, kiến trúc là một nghệ thuật thể hiện tinh tế đời sống vật chất và tinh thần của con ng-ời Liên t-ởng trong kiến trúc bắt nguồn từ ý t-ởng mang tính văn hoá dân tộc, khu vực, vùng miền, tâm thức con ng-ời, thị hiếu thời đại sau
đó là khả năng của chất liệu, Kiến trúc đình làng, chùa chiền, nhà ở cổ truyền của Việt Nam đã thể hiện những khả năng t-ởng t-ợng, liên t-ởng đặc thù của tín ng-ỡng, văn hoá tâm linh, tôn giáo của c- dân lúa n-ớc Mái đình, chùa th-ờng vút cong lên, nhiều tầng bậc thể hiện ý niệm v-ơn lên, nối kết với thiên
Trang 26nhiên, vũ trụ Các hoạ tiết, chạm khắc trên cột gỗ, đá, các bức hoành phi, câu đối trong công trình kiến trúc x-a của ng-ời Việt Nam thể hiện niềm tin thành kính vào siêu nhiên vạn pháp Chùa một cột ở thủ đô Thăng Long là một đoá sen khổng lồ h-ớng về Đức Phật Quan Âm, Tháp bút viết vào trời xanh thiên thu vạn
đại về đạo học, văn hoá, văn hiến n-ớc Nam
Âm nhạc là loại hình nghệ thuật của thính giác, tác động tinh tế đến tâm hồn, tình cảm con ng-ời Liên t-ởng ở loại hình này càng phải phát huy hết sức bởi tính trừu t-ợng và phi vật thể của âm nhạc Mỗi thanh âm, giai điệu, tiết tấu với tr-ờng độ, c-ờng độ, âm vực khác nhau h-ớng con ng-ời đến những miền liên t-ởng, t-ởng t-ợng khác nhau về cuộc sống của con ng-ời và thời đại
ở các loại hình nghệ thuật khác nh-: kịch, múa, điện ảnh, liên t-ởng cũng phát huy sức mạnh của mình trong quá trình sáng tác và tiếp nhận Biểu đạt
ý t-ởng nghệ thuật qua các động tác hình thể của diễn viên, nghệ thuật múa đòi hỏi ở con ng-ời sự liên t-ởng rất cao bởi sự gián tiếp của ph-ơng tiện biểu đạt hình t-ợng
Sáng tạo và tiếp nhận là những phạm trù quan trọng của khoa học nghiên cứu văn học Thi pháp học truyền thống là thi pháp học sáng tạo văn học, còn thi pháp học hiện đại là thi pháp học tiếp nhận Lý luận văn học truyền thống chú ý
đến vấn đề tác giả thì lý luận văn học hiện đại chú ý đến văn bản và độc giả Phê bình văn học cũng nằm trong lộ trình ấy khi các tr-ờng phái phê bình văn học
đ-ơng đại d-ờng nh- đều tập trung vào tác phẩm và sự tiếp nhận Cho dù quan
niệm Tác phẩm văn học nh- là quá trình (Tr-ơng Đăng Dung) liên tục tạo sinh
các ý nghĩa mới thì sáng tạo và tiếp nhận vẫn là hai "ga" lớn trên hành trình của khách thể tinh thần - tác phẩm Trong sáng tạo cũng nh- tiếp nhận, nếu không có liên t-ởng, hình t-ợng chỉ là sự sao chép cuộc sống một cách máy móc, nô lệ Tính khái quát của hình t-ợng vì thế cũng không đạt đ-ợc Tính "trinh nguyên" của tiếp nhận nghệ thuật sẽ không còn nữa Liên t-ởng trong sáng tạo tạo tiền đề
cho liên t-ởng trong tiếp nhận Không thể phủ nhận ảnh h-ởng của Kim Vân Kiều truyện (Thanh Tâm Tài Nhân) trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Sự liên
t-ởng của tác giả ng-ời Trung Quốc dĩ nhiên sẽ tái sinh ở chừng mực nào đó
trong Truyện Kiều cũng nh- ng-ời đọc sau sẽ có những liên t-ởng khác từ những
điều Nguyễn Du đã nghĩ: Thông minh vốn sẵn tính trời / Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm / Cung th-ơng làu bậc ngũ âm / Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một tr-ơng / Khúc nhà tay lựa nên ch-ơng / Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân(Truyện Kiều) Nghĩ về thân phận nàng Kiều, Tố Hữu liên t-ởng: Giữa dòng trong đục cánh bèo lênh đênh Nén nghẹn xuân thì, Lỗi hẹn cùng ca dao, Thanh
Nguyên liên t-ởng kiếp tài hoa bạc mệnh x-a với em nay trĩu nặng nỗi ngậm ngùi:
Trang 27Đàn Kiều đ-ợc mấy khúc vui, Thơ Kiều có vận vào đời em chăng ? Tình so ch-a đủ ngũ âm,
áo chồng con đã nặng oằn dây phơi
Tác giả Hồ Thế Hà khi nhận xét về liên t-ởng trong thơ Chế Lan Viên cho rằng: cõi đi về của liên t-ởng Chế Lan Viên là bộ ba thế giới: Bãi tha ma - Cái tôi - Vũ trụ Cái tôi là nơi gặp gỡ giao l-u của trăng sao và ma quỷ Soi mình qua cái tôi cuồng loạn ấy mọi vật đều bị nhuốm một sắc màu khủng khiếp của địa ngục máu
x-ơng Có lẽ vì thế khi tiếp cận thế giới Điêu tàn của Chế Lan Viên có ng-ời
thốt lên rằng mình đã gặp ma !
Cùng ở thể loại truyện ngắn, cùng là những cây bút nữ, nh-ng tác phẩm của Trần Thuỳ Mai v-ơng v-ơng một nỗi huyền hồ, lãng đãng khói s-ơng nh- trong những giấc mơ của ng-ời con gái cố đô Thế giới nghệ thuật của Trần Thuỳ Mai vừa phảng phất cái khí hậu liêu trai ph-ơng Đông, lại vừa có bóng
dáng của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo ph-ơng Tây, nên ám ảnh ng-ời đọc (Lửa hoàng cung - Nxb Văn nghệ, 2007) Nguyễn Ngọc T-, Đỗ Hoàng Diệu, Y Ban, mạnh mẽ, táo bạo, tung phá nh-ng T- thao thiết hơn (Cánh đồng bất tận, Cải
ơi, ), Đỗ Hoàng Diệu thẳng thắn, mãnh liệt nên dễ gây sốc cho độc giả vốn quen với thuần phong mĩ tục ph-ơng Đông (Bóng đè, Dòng sông hủi, Vu quy, )
Tr-ờng liên t-ởng của mỗi cá nhân đã chi phối rõ rệt đến việc kiến tạo thế giới nghệ thuật riêng của từng tác giả
Liên t-ởng trong sáng tạo nghệ thuật mang tính chất nền tảng, cơ sở cho liên t-ởng trong tiếp nhận Liên t-ởng sáng tạo mã hoá thế giới thành hình t-ợng Liên t-ởng trong tiếp nhận là quá trình vừa giải mã vừa tiếp tục sáng tạo Liên t-ởng trong sáng tạo diễn ra ở cả ý thức vô thức và tiềm thức Còn liên t-ởng trong tiếp nhận diễn ra nhiều hơn trong ý thức bởi chủ thể tiếp nhận cần một hệ quy chiếu, những chìa khoá mang tính ph-ơng pháp luận để giải mã tác phẩm Sự tiếp nhận trong vô thức, tiềm thức chỉ thực sự xuất hiện khi hình t-ợng trở thành nỗi ám ảnh không nguôi hay chủ thể tiếp nhận lâm vào trạng thái tâm
lý t-ơng đồng với tác giả
Xem liên t-ởng nh- một thao tác chủ đạo của sáng tạo và tiếp nhận văn học, Nguyễn Phan Cảnh lý giải cơ chế "tổ chức kép các l-ợng ngữ nghĩa" của tác phẩm ngôn từ trên cơ sở "sử dụng một cách mĩ học chiều dày của chất liệu ngôn ngữ" [14, 82] Ng-ời nghệ sĩ xây dựng hình t-ợng từ sự nối kết các yếu tố rời rạc, riêng lẻ trên cơ sở tìm ra những mối liên hệ giữa chúng Chiều dày của ngôn ngữ có thể hiểu là nhờ một phần vào sự phong phú, giàu có của liên t-ởng Ngôn
từ trong tác phẩm nghệ thuật phải nỗ lực v-ợt qua tầng "nghĩa tiêu dùng" (Lê
Đạt) để tạo sinh những tầng nghĩa mới Đối với ng-ời tiếp nhận "liên hội tín hiệu
Trang 28này với tín hiệu kia theo đúng quy luật tri giác nghệ thuật" sẽ làm xuất hiện những tổ chức ngữ nghĩa đa tầng mang giá trị mĩ học [14, 83] A.N Kôlmôgôrốv trong một nỗ lực lý giải "đại l-ợng Entropie của ngôn ngữ thơ" - độ lớn của thông tin trong ngôn ngữ thơ - đã gọi "nghĩa xác định", nghĩa từ điển của ngôn
ngữ là h1, "sự mềm dẻo của ngôn ngữ" là h2 Thông tin thơ chính là kết quả của việc nhà thơ sử dụng h2 một cách hiệu quả nhất Dĩ nhiên, A.N Kôlmôgôrốv đã
tính đến sự hao phí của thông tin thơ trong những hạn vận nào đó của ngôn ngữ -
ông kí hiệu sự hao phí đó là β - sự sáng tạo thơ chỉ có đ-ợc khi h2 > h1, h2 > β
[82, 57] Liên t-ởng nghèo nàn, thông th-ờng chỉ có thể tạo ra những "tổ chức
đơn các l-ợng ngữ nghĩa", ở đó h1 = h2 = β và nh- thế hình t-ợng chỉ tồn tại với
nghĩa đen đ-ợc tri nhận từ chính bề mặt ngôn từ Ng-ợc lại, từ những siêu quy
luật của tâm lý, của cuộc sống, của chất liệu ngôn ngữ, phần chìm của tảng băng trôi sẽ đ-ợc phát hiện nhờ liên t-ởng phong phú ở cả khâu sáng tác và tiếp nhận
Các loại hình nghệ thuật phân biệt với nhau dựa trên nhiều tiêu chí (không gian - thời gian, vật thể - phi vật thể, thị giác - thính giác, ) Với các chất liệu và cách thức biểu đạt khác nhau, nh-ng các loại hình nghệ thuật này đều h-ớng đến con ng-ời và cuộc sống con ng-ời Là sản phẩm đặc thù của loài ng-ời nên chắc chắn các loại hình nghệ thuật không thể biệt lập với liên t-ởng của con ng-ời Liên t-ởng trở thành thao tác chủ đạo trong mọi khâu đoạn của các loại hình nghệ thuật
1.1.4 Các hoạt động liên t-ởng
Liên t-ởng là một hoạt động của tâm lý con ng-ời Vì thế, liên t-ởng cũng phức tạp nh- chính đời sống tinh thần của con ng-ời và sự đa dạng, phong phú trong tính biện chứng của thế giới
ở phần tr-ớc chúng tôi đã đề cập đến quan điểm của Tâm lý học, Ngôn ngữ học, về liên t-ởng Trong bản chất các quan điểm không đối lập nhau, có chăng là cách nhìn nhận, khám phá sự liên t-ởng cũng nh- ứng dụng của nó trong việc phục vụ đối t-ợng của từng khoa học, từng bộ phận khác nhau hình thành cách định danh và phân loại liên t-ởng khác nhau Xem liên t-ởng là một ph-ơng thức liên kết văn bản tiếng Việt, Trần Ngọc Thêm chia liên t-ởng thành
bảy kiểu theo hai nhóm Bảy kiểu này là: liên t-ởng bao hàm, liên t-ởng đồng loại, liên t-ởng định l-ợng thuộc nhóm đồng chất Liên t-ởng định vị, liên t-ởng
định chức, liên t-ởng đặc tr-ng, liên t-ởng nhân quả thuộc nhóm không đồng chất [127, 149] Rõ ràng cách phân chia này dựa trên tính chất của mối quan hệ
giữa các yếu tố trong liên kết văn bản Liên t-ởng ở đây là một phép liên kết tạo
nên mạch lạc của văn bản tiếng Việt Ví dụ: Mặt trời chiếu sáng mái ngói giống nh- một bác thợ lợp nhà dậy sớm bắt tay ngay vào công việc để khỏi đánh thức
Trang 29phố ph-ờng còn ngon giấc Không gian tĩnh lặng làm nổi bật sự tháo vát của ng-ời thợ [104, 366]
Bàn về liên t-ởng trong Quá trình sáng tạo thơ ca, tác giả Bùi Công Hùng
dựa trên mối quan hệ giữa các sự vật, hiện t-ợng, khoảng cách giữa các đối t-ợng, cơ chế không bắt buộc bên ngoài hay tất yếu bên trong của chúng để phân
loại liên t-ởng Từ đó tác giả gọi ra các loại liên t-ởng nh-: liên t-ởng gần giống, liên t-ởng giống nhau, liên t-ởng t-ơng phản, liên t-ởng trực tiếp, gián tiếp, liên t-ởng ký ức, liên t-ởng bên ngoài không bắt buộc, liên t-ởng bên trong tất yếu
sự lựa chọn quan niệm ở đây mang tính chất t-ơng đối nhằm tìm kiếm một công
cụ để làm việc dựa trên thực tiễn của vấn đề đang nghiên cứu trong luận văn
Liên t-ởng t-ơng cận hay còn gọi là liên t-ởng gần nhau, là khi thấy sự vật, hiện t-ợng này nghĩ đến sự vật hiện t-ợng khác gần gũi với nó:
Còn em, tiếng ghi ta Bập bùng
Tự sự Châm lửa điếu thuốc cuối cùng Xập xoà
Kỷ niệm
Đêm Kinh Kì thuở ấy Xanh lơ
(Hà Nội phố - Phan Vũ)
Liên t-ởng t-ơng đồng là khi thấy cái này lại nghĩ đến cái khác t-ơng
đồng với nó Thanh Tùng đi giữa Thời hoa đỏ và nghĩ về tuổi trẻ, thắp nhóm mà
nôn nao tiếc nhớ Hoa của chói chang ngày hạ, hoa của tuổi trẻ bỏng cháy -ớc mơ và khát vọng, vẫn những mùa hoa rực lửa nh-ng có thể sẽ trở thành những
vết x-ớc trong tim khi ta đi qua thời hoa đỏ của mình: Hoa cứ rơi ồn ào nh- tuổi trẻ / Không cho ai có thể lạnh tanh / Hoa đặt vào lòng ta một vệt đỏ / Nh- vết x-ớc của trái tim (Thời hoa đỏ - Thanh Tùng) Chạnh th-ơng cho bóng nhỏ mong manh chấp chới giữa mênh mông cuộc đời Trịnh Công Sơn liên t-ởng: Vai
em gầy guộc nhỏ, Nh- cánh vạc về chốn xa xôi (Nh- cánh vạc bay)
Liên t-ởng đối lập là từ sự vật hiện t-ợng này nghĩ đến sự vật hiện t-ợng khác trái ng-ợc với nó Đêm - ngày, thức - ngủ, ấm - lạnh, ý thức và vô thức tiềm
Trang 30thức, ph-ơng Bắc và ph-ơng Nam, là những yếu tố trái ng-ợc th-ờng xuất hiện trong liên t-ởng của con ng-ời:
ở thành phố khi ý thức đã đi ngủ anh bay bằng triệu cánh tình yêu về làng quê ph-ơng Bắc nơi
em đang xoã vùng tóc lạnh run rẩy thân mai trong rét chờ anh phủ hơi ấm ph-ơng Nam
(Yêu nhau 3thì, Inrasara)
Liên t-ởng nhân quả là từ một sự vật, hiện t-ợng tr-ớc mắt nghĩ đến nguyên nhân hoặc kết quả của nó Bất chợt gặp ngôi mả cũ bên đ-ờng, Tản Đà
chạnh lòng liên t-ởng đến thân phận kẻ gửi mình d-ới cỏ: Hay là thuở tr-ớc kẻ văn ch-ơng / Chen hội công danh nhỡ lạc đ-ờng / Tài cao phận thấp chí khí uất / Giang hồ mê chơi quên quê h-ơng (Thăm mả cũ bên đ-ờng) Liên t-ởng về
ng-ời nằm d-ới mộ cũng chính là h-ớng liên t-ởng tạo dựng mạch cảm xúc về thân phận con ng-ời và kết cục của đời ng-ời Tản Đà gieo vào lòng ng-ời đọc nỗi khắc khoải nhân sinh phảng phất chút h- vô của kẻ ôm ấp nhiều giấc mộng
bởi những quy luật, những giới hạn: Em ngồi đăm đắm trong đêm / Thấy mình chín khi tuổi còn xanh lắm / Ký ức thức / Tuổi thơ trôi nh- giấc ngủ sâu (Tiếc nuối, Vi Thuỳ Linh)
Từ các phân tích, luận giải ở trên, trong quá trình đi tìm một định nghĩa để
làm việc chúng tôi quan niệm: Liên t-ởng là một hoạt động của t- duy sáng tạo, diễn ra trong ý thức, vô thức và tiềm thức Thao tác chủ đạo của liên t-ởng là sự liên kết về mĩ cảm của chủ thể khi cảm nhận và thể hiện một đối t-ợng nào đó Các liên t-ởng này liên hệ với nhau theo những quy luật, cách
thức nhất định tạo thành những chuỗi, nhóm, tập hợp các liên t-ởng, hay có thể
gọi là một tr-ờng liên t-ởng Tr-ờng liên t-ởng trong sáng tạo nghệ thuật là tập hợp các liên t-ởng, là giới hạn mang tính chỉnh thể của những liên kết về
mĩ cảm của chủ thể sáng tạo ở đây chúng tôi nhấn mạnh "tr-ờng" tr-ớc hết là
Trang 31một tập hợp, mang tính chỉnh thể, luôn "khoả kín", "lấp đầy" bởi tính thống nhất
trong t- duy, tinh thần và các khả năng liên kết của chủ thể sáng tạo
Tr-ờng liên t-ởng mang tính dân tộc, tính thời đại và cá nhân (Đỗ Hữu Châu) Trong đó, chi phối mạnh mẽ nhất đến liên t-ởng là những yếu tố nội sinh thuộc về chủ quan, cá nhân tr-ờng liên t-ởng rộng hay hẹp, phong phú đa dạng hay nghèo nàn, hời hợt, là do vốn sống, kho kinh nghiệm, văn hoá, trí tuệ của từng cá nhân trên nền tảng của các yếu tố ngoại sinh thuộc về dân tộc và thời
đại Tính dân tộc và thời đại xem nh- là mẫu số chung của mỗi cá nhân, mỗi tr-ờng liên t-ởng Trên tinh thần đó, Phan Huy Dũng cho rằng: "Một cá tính sáng tạo dù độc đáo đến đâu cũng không thể thoát khỏi những ràng buộc của thời đại, của môi tr-ờng văn hoá thẩm mĩ, của truyền thống sáng tạo" [30, 82] Tuy nhiên, có những liên t-ởng v-ợt ra khỏi những khuôn th-ớc, những định chuẩn của thời đại, dân tộc, trở thành những t- duy sáng tạo khác biệt, "đột biến" cần có sự nghiêm túc và khách quan, công bằng khi nhìn nhận, đánh giá những hiện t-ợng này Nghiên cứu Truyện Kiều ta thấy phần làm nên giá trị kiệt tác chính là phần sáng tạo của Nguyễn Du Trải qua mấy trăm năm đi cùng đời
sống tinh thần ng-ời việt, Truyện Kiều đến giờ vẫn là tác phẩm "nói mãi không
cùng" (Trần Đình Sử) Mộng Liên Đ-ờng chủ nhân đã nhận ra phẩm chất và tầm vóc bậc thầy của ngòi bút Nguyễn Du: "Tố Nh- tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trong thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời, thì tài nào có đ-ợc cái bút lực ấy" [120, 12] Nguyễn Du vừa đại diện xuất sắc cho thời đại của ông, vừa đi tr-ớc thời đại bởi những t- t-ởng, xúc cảm đầy nhân văn, nhân bản Truyện Kiều biết đâu chẳng ẩn chứa cái cốt lõi là câu chuyện của Nguyễn Du !
Liên t-ởng mang tính chất cá nhân bởi kho kinh nghiệm, văn hoá, ngôn ngữ, cá tính, phẩm chất tinh thần của mỗi ng-ời khác nhau Trót mang thân phận tha h-ơng nên trong liên t-ởng của Nguyễn Bính quê h-ơng là niềm đau đáu khôn nguôi ở quê ng-ời thao thiết nhớ quê mình, nghĩ về quê mình lại ngậm
ngùi nhận ra thân phận tha h-ơng khắc khoải "kiếp con chim lìa đàn" Hoàng
Cầm lại khác, đi về trong liên t-ởng của thi nhân là những áo yếm, môi h-ờng,
bờ xa, gò nổi, búp tròn, căng nuột, những từ ngữ chỉ hoạt động "tính giao", "áp má', "áp môi", "xoa nắn đôi bầu vú lửa", "búp dài thon nhún vội", những cảm
giác tê mê, rộn rực, Bám riết vào cơn mơ nén nghẹn của gã trai "nòi tình" là những ẩn ức tình yêu, tình dục không đ-ợc giải toả, "siêu thăng" (Baudelaire) thành những hình ảnh, hình t-ợng thơ ca mang đậm dấu ấn của tín ng-ỡng phồn thực
Không thể không nhắc tới ở đây vấn đề điểm nhìn nghệ thuật và khả năng
tự biểu hiện của chủ thể sáng tạo Nếu nh- Marcel Prousd nói "phong cách chính
Trang 32là điểm nhìn" thì ta có thể hiểu rằng ở một giới hạn nào đấy, liên t-ởng chính là
sự nối kết các điểm nhìn nghệ thuật trong tr-ờng nhìn của tác giả
Liên t-ởng còn mang tính chất dân tộc và thời đại bởi đây chính là môi tr-ờng sinh tồn của chủ thể liên t-ởng Từ thế kỉ XV, Nguyễn Trãi đã có những
quan điểm khá rạch ròi về dân tộc (Bình Ngô đại cáo) Tính dân tộc trong mỗi
nền văn học là khác nhau do sự khác nhau về văn hóa, văn hiến, truyền thống, phong tục, tập quán, của mỗi dân tộc Có thể thấy: "Tính dân tộc của văn nghệ
là phạm vi thể hiện tính quy luật đặc thù dân tộc trong đời sống tinh thần, nhận thức đời sống, biểu hiện nghệ thuật và con đ-ờng phát triển của văn nghệ" [85, 106] Tính dân tộc chi phối mĩ cảm trong sáng tạo nghệ thuật Mĩ học Trung Hoa -a những cái kỳ vĩ, hoành tráng còn ng-ời Việt Nam lại h-ớng tới những đối t-ợng nhỏ nhắn, xinh xắn ảnh h-ởng nhiều của văn hóa Hán, ng-ời Việt Nam
sở hữu một kho tàng đồ sộ văn ch-ơng, thơ phú bằng cả chữ Hán và chữ Nôm, nh-ng nghệ thuật kiến trúc lại tản mạn, nhỏ nhoi với chất liệu chủ yếu là gỗ Ng-ợc lại, do tiếp thu nguồn văn hoá ngoại sinh từ ấn độ với niềm say mê tôn giáo, đền chùa, nền nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của ng-ời Campuchia lại hết sức phát triển với những công trình đồ sộ nh- ăngkor Vat, Ăngkor Thom, [242, 29] Những công trình kiến trúc sống động, trầm hùng, du d-ơng mà tráng
lệ thể hiện khát vọng v-ơn lên, hoà đồng, gặp gỡ với ý niệm tôn giáo, thánh thần trong niềm tin mãnh liệt vào thế lực siêu nhiên của ng-ời dân Campuchia
Thời đại cũng in dấu rất rõ trong liên t-ởng Mĩ học đồng nhất của văn học trung đại thấy bóng dáng con ng-ời trong hình ảnh thiên nhiên:
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh (Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Đến văn học hiện đại, con ng-ời lại lấy mình làm chuẩn mực để soi ngắm thiên thiên:
Lá liễu dài nh- một nét mi (Xuân Diệu)
Cùng với những biến chuyển của thời đại là những thay đổi trong hệ hình t- duy, liên t-ởng vì thế cũng có những thay đổi trên tinh thần của thời đại
Liên t-ởng là một thao tác của t- duy góp phần vào việc nhận thức thế giới Sự hình thành liên t-ởng bị chi phối bởi các yếu tố thuộc cả về chủ quan và khách quan Các yếu tố dân tộc, thời đại và cá nhân không tách rời mà t-ơng tác lẫn nhau trong quá trình liên t-ởng của chủ thể sáng tạo Tính dân tộc, thời đại không làm mất tính cá nhân trong liên t-ởng cũng nh- tính cá nhân không độc
đoán để ngăn cản, đào thải hay chối từ những ảnh h-ởng của dân tộc, thời đại 1.1.5.2 Biểu hiện của tr-ờng liên t-ởng trong t- duy sáng tạo thơ trữ tình
Trang 33Các thể loại văn học nghệ thuật nói chung và thơ trữ tình nói riêng th-ờng
cố gắng v-ợt qua sự đơn nghĩa để tạo sinh những tầng bậc ý nghĩa phong phú, đa dạng hơn Nguyễn Phan Cảnh gọi những tác phẩm nh- thế là sự "tổ chức kép các l-ợng ngữ nghĩa" [81, 14] hay phần chìm của tảng băng trôi trong quan niệm của
E Hêminguê Kiến trúc đa tầng của những cái đ-ợc biểu đạt hay nói cách khác
là cái đ-ợc biểu đạt vừa xuất hiện lập tức chuyển hoá thành cái biểu đạt để kêu gọi, dẫn dụ cái đ-ợc biểu đạt khác Thơ trữ tình là một thể loại hết sức kiệm lời, nh-ng lại có khả năng vô biên trong việc biểu đạt tinh thần, t- t-ởng, tình cảm
của con ng-ời: Chùa chùa gióng chuông chiều / Âm vang vọng, tiếng ngân nga / A! Cuộc đối thoại đầy đặn ! (Buson) "Cái nghe vô niệm mở ra cái biết trực cảm
thấu suốt" [50, 101] Một sự trực nhận nằm ngoài lí lẽ, hồn nhiên nh-ng minh triết Tiếng chuông vang vọng trong một khoảnh khắc nh-ng lại tạo nên một cuộc đối thoại đầy ý nghĩa với h- vô vạn pháp Liên t-ởng của Buson thể hiện niễm tịch lặng của tâm hồn con ng-ời trong cảnh giới tối th-ợng của nhận thức Cái nghe, cái thấy của một linh giác trong cõi vô thanh, vô hình, vô sắc
Đi sâu vào quá trình t- duy sáng tạo thơ trữ tình, ta thấy rằng cùng với t-ởng t-ợng, suy t-ởng, liên t-ởng góp phần phát triển ý thơ, hình thành tứ thơ, xây dựng hình ảnh, hình t-ợng cũng nh- chi phối việc tổ chức văn bản nghệ thuật Thi nhân trong một khoảnh khắc "bừng ngộ", "loé sáng" của nhận thức phát hiện ra những ý nghĩa của đời sống, của bản thân ý thơ xuất hiện và hoá thân vào các hình t-ợng mang ý nghĩa khái quát, có giá trị mĩ học trở thành tứ thơ Cấu tứ của một thi phẩm đòi hỏi ở nhà thơ một khả năng thâu tóm, bao quát cuộc sống, sự trải nghiệm cũng nh- một tình cảm sâu sắc, mãnh liệt và dứt khoát
không thể vắng mặt các thao tác t- duy nghệ thuật Chùm thơ Thu hứng của Đỗ
Phủ là một ví dụ tiêu biểu cho những luận giải ở trên Hai học giả ng-ời Mỹ gốc Trung Hoa là Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân đã phân tích rất kĩ l-ợng từ góc độ ngôn ngữ học, đặc biệt là cấu trúc ngữ pháp chiều sâu của chùm thơ này để từ đó thấy đ-ợc tính đa nghĩa của hình t-ợng thơ, tài năng lỗi lạc của Đỗ Phủ trong việc sử dụng âm hình, âm điệu và cấu trúc ngữ pháp [17, 25] Từ bài viết xuất sắc này, hai tác giả đã gián tiếp cho chúng ta thấy vai trò quan trọng của liên t-ởng trong việc phát triển ý thơ và kiến tạo thi phẩm Xin dẫn ra một ví dụ từ
bài thứ nhất của chùm thơ này để minh chứng: Tùng cúc l-ỡng khai tha nhật lệ / Cô chu nhất hệ cố viên tâm (Thu hứng) Khóm cúc hai lần nở hoa hay b-ớc đi
lặng lẽ của thời gian, giọt s-ơng trên cánh hoa hay giọt n-ớc mắt khóc cho quá khứ lận đận, gian truân và t-ơng lai mờ mịt bất định Con thuyền cô độc bị neo chặt hay cuộc đời cô đơn, nghèo túng bị mắc kẹt chốn quê ng-ời, vò võ nỗi niềm tha h-ơng Hình ảnh thơ bất động, lặng lẽ mà gợi lên sự dằn vặt, xao động của tâm hồn kẻ xa quê "Cấu trúc bề sâu" của ngữ pháp trong hai câu thơ đã làm lộ ra
Trang 34chiều sâu, sự phong phú trong liên t-ởng và tài năng tổ chức ngôn ngữ của bậc thánh thơ
Mĩ cảm của thơ ca bắt nguồn một phần từ chính những độc đáo, bất ngờ trong liên t-ởng xây dựng hình ảnh, hình t-ợng và tổ chức tác phẩm Liên t-ởng giúp hình thành không gian, thời gian nghệ thuật, khai phóng cảm xúc, mở rộng các giới hạn mĩ cảm, làm cho hình t-ợng có đ-ợc tầm vóc khái quát Ng-ng
đọng tinh thần trong một khoảnh khắc vi diệu của cuộc sống, có điều gì đã v-ợt
ra khỏi tri giác thông th-ờng d-ới cái nhìn của thiền giả Basho: Trên cành cây / Chim quạ đậu / Chiều thu Khoảnh khắc dồn chứa cả vũ trụ trong một phút tịch
lặng và ta thấy hơi thở của mình giữa dòng thời gian Sự liên t-ởng của thi nhân nh- quá trình ủ men làm thăng hoa, ng-ng đọng giọt Sakê trong veo hay chén trà
đạo ẩn chứa triết lý cao thâm về nhân sinh, bản ngã và thế giới
Liên t-ởng thẩm mĩ không tách rời cảm xúc Cảm xúc rất cần có liên t-ởng để tìm kiếm những hình hài tồn tại Trần Đăng Khoa đã thấy dáng hình
quê h-ơng trong mái tranh nâu, thâm trầm và nhẫn nại: Mái tranh ơi hỡi mái tranh / Trải bao m-a nắng mà thành quê h-ơng
Có khi liên t-ởng lại giúp con ng-ời "bừng ngộ", "loé sáng" những nhận thức còn mơ hồ, khải thị những ý niệm con ng-ời ch-a thấu triệt, Tồn tại ng-ời
là một vấn đề lớn trong nhận thức nhân loại Con ng-ời ở thời đại nào cũng cố gắng đi tìm câu trả lời cho sự tồn tại của mình trong nhân gian, vũ trụ Thiền s-
Vạn Hạnh khi sắp viên tịch đã khuyên đệ tử của mình: Thân nh- điện ảnh hữu hoàn vô / Cây cối xuân vinh, thu hựu khô / Nhậm vận thịnh suy vô bố uý / Thịnh suy nh- lộ thảo đầu phô Nhận thức ở trình độ "nhậm vận" đem đến thái độ an
nhiên, bình thản tr-ớc biến thông của vũ trụ sinh diệt Khoảnh khắc đốn ngộ mà thấu triệt đ-ợc những quy luật của sự vĩnh hằng, vĩnh cửu
Nh- vậy, có thể nói liên t-ởng đóng vai trò hết sức quan trọng trong t- duy sáng tạo thơ trữ tình Liên kết mĩ cảm để tạo nên một bài thơ th-ờng diễn ra theo hai h-ớng, tạo thành tr-ờng thẩm mĩ của tác phẩm, giúp ng-ời đọc có thể
"phăn lần" ra t- duy nghệ thuật, diễn biến tinh thần của nhà thơ đồng thời hai h-ớng liên t-ởng này sẽ định h-ớng cho những liên t-ởng tiếp theo trong quá trình tiếp nhận, đồng sáng tạo của ng-ời đọc
H-ớng liên t-ởng thứ nhất theo chiều ngang Đây là những liên t-ởng trong việc cảm nhận và thể hiện về không gian, thời gian và con ng-ời, liên t-ởng xây dựng hình ảnh, hình t-ợng thơ Liên t-ởng này th-ờng đ-ợc biểu hiện trong cách sử dụng các biện pháp tu từ nh- ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, nhân hoá, các điển cố, bí tích tôn giáo, Các thao tác này làm xuất hiện hình ảnh và giúp liên t-ởng luôn vận động không ngừng Tr-ờng liên t-ởng vì thế cũng đ-ợc mở
rộng Liên t-ởng có thể tạo dựng hình ảnh bằng cách so sánh: Cổ tay em trắng
Trang 35nh- ngà / Đôi mắt em liếc nh- là dao cau / Miệng c-ời nh- thể hoa ngâu / Cái khăn đội đầu nh- thể hoa sen (Ca dao) Khi vế đ-ợc so sánh ẩn đi, chỉ còn vế so sánh, hình ảnh liên t-ởng hiện lên trong phép ẩn dụ: Em về trắng đầy cong khung nhớ / M-a mấy mùa / Mây mấy độ thu / V-ờn thức một mùi h-ơng đi vắng / Em vẫn đây mà em ở đâu / Chiều Âu Lâu / Bóng chữ động chân cầu (Bóng chữ - Lê
Đạt) Biện pháp nhân hoá cũng có hiệu quả rất cao trong việc tạo ra hình ảnh, hình t-ợng cho liên t-ởng: Mấy là th-ơng, mấy là yêu / Mắt trăng độ ấy mấy chiều đỏ hoe (Mai sau dù có bao giờ - Hoàng Cầm) Liên t-ởng của thi nhân
khi nối kết các sự vật, hiện t-ợng với những câu chuyện, sự kiện đời x-a hay những dấu vết văn ch-ơng trong sách cũ cũng tạo nên hình ảnh, hình t-ợng thơ
Đây là cách sử dụng điển cố trong văn học Tuy nhiên, để nắm bắt đ-ợc hệ thống liên t-ởng này của thi nhân độc giả cần phải có một "tầm đón nhận" t-ơng thích Liên t-ởng này nhằm gây sự chú ý thẩm mĩ vào các tầng nghĩa sâu của sự việc, hiện t-ợng đ-ợc nói tới khi liên hệ nó với những sự kiện đã xảy ra trong lịch sử
"Dụng sự" (Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân) không nhằm miêu tả sự việc của quá khứ mà cốt biểu đạt cái tình trong sự ấy:
Gi-ờng kia treo những hững hờ
Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn (Khóc D-ơng Khuê - Nguyễn Khuyến)
Liên t-ởng tới tình bạn x-a giữa Trần Phồn và Từ Trĩ - đời Hậu Hán - mối tình tri âm tri kỉ của Bá Nha và Tử Kỳ, Nguyễn Khuyễn muốn bày tỏ tình cảm sâu sắc của mình với ng-ời bạn thân từ buổi đăng khoa
H-ớng liên t-ởng thứ hai theo chiều dọc Đây là những liên t-ởng trong quá trình tạo dựng mạch thơ Liên t-ởng này biểu hiện trong cách tổ chức văn bản ngôn từ nghệ thuật Từ một phát hiện ban đầu về cuộc sống và con ng-ời qua dụng công nghệ thuật hình thành tứ thơ Mạch cảm xúc đ-ợc phát triển nhờ những liên hệ ngang dọc, xa gần, trực tiếp hoặc gián tiếp, trong ý thức hoặc trong vô thức, tiềm thức, ý gọi ý, hình gọi hình, nhạc lay thức nhạc trong một tr-ờng cảm xúc thẩm mĩ mãnh liệt biểu hiện thành lời thơ, thi phẩm "Kết thúc quá trình liên t-ởng cũng là đến chỗ trọn vẹn của cảm xúc" [101, 138] Tình cảm
là gốc của mọi triển khai, tổ chức nghệ thuật trong tác phẩm Tuy nhiên, thơ là
"cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản" (Phan Ngọc), là sự lệch chuẩn, sự phá
vỡ các lôgíc thông th-ờng Chính sự bất th-ờng trong tổ chức ngôn từ của thơ trữ tình đặt ng-ời đọc vào một tình thế phải chú ý và giải mã sự bất th-ờng, "quái
đản" ấy Và liên t-ởng với những cơ chế đặc thù của nó đã góp phần tạo nên những lệch chuẩn mang giá trị mĩ học trong địa hạt thơ Giới hạn của liên t-ởng thẩm mĩ thuộc về cả ý thức, vô thức và tiềm thức Chính vì thế, mạch thơ cũng vận động trong những giới hạn hết sức sâu rộng Thuyết phân tâm học của S
Trang 36Freud và G Jung đã đề cao những tác động mạnh mẽ từ vô thức, tiềm thức đối với quá trình sáng tạo nghệ thuật Sự "dịch chuyển" những ham muốn vô thức
mà trung tâm là những ẩn ức "tình dục" (libido) chính là khởi nguyên của mọi sáng tạo nghệ thuật trong quan niệm của S Frued Và nh- vậy, những liên t-ởng gắn với ám ảnh tình dục sẽ là h-ớng phát triển của hình ảnh, hình t-ợng và mạch cảm xúc Không hoàn toàn tán đồng với ng-ời thầy của mình, G Jung cho rằng vô thức của con ng-ời là một cấu trúc kép bao gồm vô thức cá nhân và vô thức tập thể Những xúc cảm, hình ảnh trong nghệ thuật đôi khi là sự tái sinh của những ám ảnh vô thức giống loài mã hoá, l-u giữ trong vô thức của một cá thể
nghệ sĩ [45] Liên t-ởng thẩm mĩ không đi xa khỏi những ám ảnh ấy: Hàm răng nuột nà xít xa dóng mía / Vú xuân đ-ờng phèn căng b-ởi Nga My / Môi hè thạch non hé d-a hấu tía / Cốm sen cuối cành gói lá đài bi (Vợ liệt sĩ - Hoàng Cầm)
Liên t-ởng của Hoàng Cầm diễn ra phía thẳm sâu của những xúc cảm "đờ đẫn",
"tê mê", làm hiện sinh chất phồn thực của đời sống, của văn hoá mà cái tôi "nòi tình" thi sĩ ngụp lặn, khát uống
Có thể nói, hai h-ớng liên t-ởng nh- đã trình bày luôn đồng hành trong t- duy sáng tạo thơ trữ tình Không có h-ớng nào chiếm -u thắng, nh-ng liên t-ởng ngang nghiêng về miền vô thức, tiềm thức, còn liên t-ởng dọc lại bị chi phối bởi t- duy tổ chức mang tính duy lý ý h-ớng này mang tính t-ơng đối, không hoàn toàn phổ quát cho mọi chủ thể sáng tạo nghệ thuật Đi nghiên cứu, lí giải cơ chế liên t-ởng trong sáng tạo thơ trữ tình chính là một con đ-ờng để đi vào thế giới nghệ thuật, thế giới tinh thần của nhà thơ
1.2 Cơ sở của tr-ờng liên t-ởng trong thơ Hàn Mặc Tử
1.2.1 Gia đình - Quê h-ơng - Thời đại
Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22 tháng 9 năm
1912, trong một gia đình công giáo toàn tòng d-ới chân toà thánh Tam Toà, Lệ
Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình Hàn Mặc Tử thuộc dòng dõi họ Phạm ở Xứ Thanh H-ởng ứng Chiếu Cần V-ơng, ng-ời cố nội là Phạm Ch-ơng - một võ quan phong kiến - và con trai là Phạm Bồi đ-a quân vào Thừa Thiên cứu giá Quốc sự bất thành, bị truy nã, họ Phạm phải định c- tại làng Thanh Tân, Thừa Thiên Huế
và đổi sang họ Nguyễn, theo đạo Thiên Chúa Cha Hàn Mặc Tử sinh ra ở đây lấy tên là Vincent Nguyễn Văn Toản Họ ngoại của Hàn Mặc Tử gốc ở Trà Kiệu, Quảng Nam, ông ngoại là một ngự y có danh d-ới triều Tự Đức tên là Nguyễn Long Bà Maria Nguyễn Thị Duy là con gái thứ chín của cụ Nguyễn Long, sau này đ-ợc gả cho Vincent Nguyễn Văn Toản Đôi vợ chồng thuần thành, ngoan
đạo đã sinh hạ những ng-ời con: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Hiếu nh- chính tâm niệm, -ớc nguyện về cuộc đời của họ
Gia đình chính là chiếc nôi hình thành và nuôi d-ỡng tâm tính Hàn Mặc
Tử Ng-ời cha công chức hiền lành của nhà thơ là một giáo dân ngoan đạo, cần
Trang 37mẫn, chăm lo kinh nghĩa và bảo ban con cái Bà Maria Duy là một ng-ời mẹ chí
từ, tảo tần và hết mực th-ơng con Bà sớm từ bỏ những xa hoa quyền quý để làm một ng-ời mẹ nhân từ, nuôi nấng đàn con trong khó nhọc và đau khổ Những
đức tính ấy của cha mẹ rồi đây sẽ in dấu lên tính tình đứa con thi sĩ đáng th-ơng của họ Hàn Mặc Tử có ng-ời anh trai là Nguyễn Bá Nhân cũng là một thi sĩ
Đây là ng-ời phát hiện và dìu dắt Hàn Mặc Tử vào con đ-ờng thi ca từ những lần x-ớng hoạ tâm đắc của hai anh em Vốn Hán học vẫn còn khá sâu sắc của ng-ời cha cộng với kinh nghiệm Đ-ờng thi của ng-ời anh trai là vốn liếng đầu tiên để Hàn Mặc Tử b-ớc vào nghiệp thơ ca Sinh ra ở một làng ven biển Quảng Bình, nh-ng Hàn Mặc Tử và gia đình phải di chuyển nhiều nơi dọc dải đất Miền Trung theo lộ trình tòng sự của ng-ời cha Những nơi gia đình đi qua, ở lại, với những
ấn t-ợng mãnh liệt sẽ hiện lên trong thơ ca chàng thi sĩ trẻ tuổi
Trong thơ Hàn Mặc Tử, hình ảnh Đức Bà, Đức Mẹ luôn là niềm thành kính thiêng liêng, ấy là sự hiện hữu của dáng hình ng-ời mẹ th-ơng con trong
đau đớn, xót xa, là chị Lễ thanh sạch, vẹn tuyền nh- Thánh nữ đồng trinh Ng-ời chị hiền lành, hết mực th-ơng yêu, chăm sóc đứa em thi sĩ đa mang, thành thật
đã đi vào thơ Hàn Mặc Tử biết bao lần
Quê h-ơng là một khái niệm trừu t-ợng, nh-ng lại là tên gọi thiêng liêng, quen thuộc của tất cả mọi ng-ời Ai chẳng có quê h-ơng Chẳng cần phải ví von cây đa, bến n-ớc, sân đình, bờ tre mái rạ nh- x-a, nhắc đến quê h-ơng ta thấy nôn nao kì lạ bởi những dáng hình đã trở thành máu thịt Hàn Mặc Tử cũng vậy, quê h-ơng đã in hằn những dấu ấn đặc biệt trong tâm hồn ông để hoá thân vào thơ ca, nghệ thuật Nguyên quán ở Thanh Hoá, sinh quán ở một làng ven biển Quảng Bình, trú quán nhiều nơi dọc duyên hải Miền Trung, sống, làm việc, yêu
đ-ơng và nằm lại vĩnh viễn ở miền Trung, dải đất này đã gói trọn cuộc đời Hàn Mặc Tử Những động cát dài loang loáng d-ới trăng, diễm lệ mà ma quái, phiêu linh ở thôn Chùa Mo, Bình Sơn, biển ở Sa Kỳ, những đêm trăng trên sông, trên biển, trên khóm rừng phi lao, trên cát vàng óng chiếu, giọng hò Nam Ai, Nam Bình xứ Huế, nhịp Bài chòi Bình Định, rồi đây sẽ tái sinh trong thơ Hàn Mặc
Tử (Chơi giữa mùa trăng, Đây thôn Vĩ Dạ, ) Hàn Mặc Tử không gọi quê trong
sáng tác của mình, không giới thiệu nguồn cội gốc gác nh- Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm mà quê h-ơng nh- máu thịt, nh- hơi thở cứ tự nhiên hiện hữu trong thơ ông Có điều đặc biệt nữa, Hàn Mặc Tử ít gọi tên địa danh, quê quán nh- một số nhà thơ cùng thời Quê h-ơng, địa danh với những dấu ấn mãnh liệt, sâu sắc đã đ-ợc chuyển hoá qua nội cảm của cái tôi thi sĩ thành hình t-ợng nghệ thuật mang tính biểu tr-ng Và nh- thế, đâu đó trong dáng hình quê h-ơng của Hàn Mặc Tử ta thấy hiện về nơi ta đã sinh ra, lớn lên hay đã từng gắn bó
Có thể đ-ợc chăng khi xem miền Trung là quê h-ơng của Hàn Mặc Tử ? Hai m-ơi tám tuổi đời mất bồn mùa "th-ơng khó" trong cô độc và đau đớn, tuổi
Trang 38hoa niên đi qua những vùng miền khác nhau đều để lại những ấn t-ợng khó phai
trong tâm hồn chàng thi sĩ trẻ tài hoa Khi phát hiện ra mối quan hệ giữa Khí chất miền Trung và nhà thơ Hàn Mặc Tử, Lại Nguyên Ân có lẽ đã nghĩ đến dấu
ấn của quê h-ơng trong sáng tác của thi nhân Sau đó, Phan Huy Dũng cũng đã
xem xét vấn đề Sắc thái địa ph-ơng trong ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử (tài liệu tác
giả cung cấp) Cái trầm, đục, hoang dã của ngôn ngữ là sự biểu hiện của khí chất riết róng, quyết liệt, táo bạo, cực đoan của con ng-ời miền Trung Nh-ng vào thơ Hàn Mặc Tử, ngôn ngữ đó lại là chất liệu tối -u để diễn tả những tâm trạng mãnh liệt ở chót cùng của sự sống ở n-ớc ngoài, Thuỵ Khuê lí giải sự chuyển hoá trăng n-ớc tạo thành vũ trụ luận của Hàn Mặc Tử cũng có một phần dựa trên những dấu ấn của trăng, của biển trên mảnh đất hẹp miền duyên hải này [70] Chiêm nghiệm sâu sắc về những đối cực đầy bi kịch nh-ng cũng thật nhiệm màu của dải đất miền Trung, Chu Văn Sơn cho rằng: "Là miền đất của những đối cực, miền Trung đã hoài thai nên Hàn Mặc Tử Trời xanh và cát trắng, t-ơi đẹp và khổ nghèo, thanh cao và dữ dội, ngọt bùi và đắng cay, tài hoa và bất hạnh, những đối cực miền Trung đã va xiết theo một quy luật huyền bí nào đó mà nhào nặn nên một cốt cách thơ" [114, 211]
Xuyên qua lớp trầm tích của thời gian, của lịch sử, văn hoá, trở về với cội nguồn con ng-ời buổi sơ khai để lần tìm một dấu vết cổ x-a những t-ởng đã ngủ yên trong tiềm thức, chúng tôi thử nêu ra một suy ngẫm, biết đâu lại tìm thêm một dấu ấn của quê h-ơng, gia đình trong con ng-ời và thơ ca Hàn Mặc Tử Nguồn gốc bên nội Hàn Mặc Tử là ng-ời Thanh Hoá, thuộc Bắc Trung Bộ Ng-ời Thanh Hoá - Nghệ An có nguồn gốc là c- dân Thái cổ, l-u trú trong các thung lũng và dần định c- ra đồng bằng gắn với nền văn hoá lúa n-ớc Nhóm ng-ời Thái cổ này nằm trong địa bàn văn hoá bản địa đồng bằng sông Hồng Ng-ời Thái cổ có bản tính nhẹ nhàng, khoan thai, dịu dàng, kín đáo nh- những thung lũng buổi hoang sơ Ng-ợc lại, họ ngoại của Hàn Mặc Tử thuộc vùng đất Trà Kiệu - Quảng Nam, là kinh đô của n-ớc Chămpa x-a Ngôn ngữ và văn hoá nơi đây thuộc "cơ tầng" Nam Đảo, gắn bó chặt chẽ với biển, nghề biển, cát trắng, sóng trắng, -a màu trắng, Ng-ời Chăm có một bộ phận là ng-ời Việt đ-ợc Chàm hoá gọi là "Kinh cựu" Ng-ời Chăm theo mẫu hệ, thờ "Thần mẹ xứ sở", [29] Từ một vài cứ liệu trên, chúng tôi chợt có những liên t-ởng, suy ngẫm về kết quả của sự kết hợp hai nền văn hoá ấy với nhau trong con ng-ời Hàn Mặc Tử Trong thơ Hàn Mặc Tử vừa có cái rụt rè, e lệ, nhút nhát, vừa có cái táo bạo, róng riết, thích màu trắng, màu vàng, thích cát, thích sông biển, liệu có phải là "tính trội" của những mã gen cổ x-a ? Việc đổi từ họ Phạm sang họ Nguyễn - theo mẫu tánh - thật gần gũi với truyền thống mẫu hệ của ng-ời dân Chămpa, nơi có kinh đô Trà Kiệu, thánh địa Mỹ Sơn và Chiêm cảng Những dáng hình xa xôi, x-a cũ hiện về thấp thoáng trong hiện tại, gợi nhắc tới cội nguồn đó là biểu hiện
Trang 39của quy luật phát triển của loài ng-ời Ông cha ta đã từng khuyên nhủ con cháu những kinh nghiệm ứng xử tinh tế trong chuyện dựng vợ gả chồng:
Trăm năm tính cuộc vuông tròn Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông (Ca dao)
Lý luận nhận thức hiện đại với nhà phân tâm học ng-ời Thuỵ Điển G Jung cũng chỉ rõ dấu ấn của vô thức giống loài trong cá thể qua việc đ-a ra cấu trúc kép trong vô thức con ng-ời Có lẽ những luận giải này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn niềm say mê của Hàn Mặc Tử với trăng, với những động cát mát rợn, kì ảo Mặt khác, bên cạnh những khát khao mãnh liệt là những rụt rè, nhút nhát của ng-ời thơ Hàn Mặc Tử Tất cả đều phải có nguyên do của nó, dù có thể rất xa xôi Thời đại chính là môi tr-ờng rộng ảnh h-ởng mạnh mẽ đến thế giới quan, nhân sinh quan và chi phối việc hình thành phong cách nhà văn Khi Hàn Mặc
Tử b-ớc chân vào làng thơ cũng là lúc cuộc giao tranh giữa những giá trị mới -
cũ, truyền thống và hiện đại, ph-ơng Đông và ph-ơng Tây đang vào hồi quyết liệt Dáng dấp một thời đại mới hoài thai từ cuộc hôn phối vật vã và mầu nhiệm giữa hai nền văn hoá đang dần định hình Hàn Mặc Tử và bạn bè cùng trang lứa
đã hít thở không khí của thời đại ấy và có những cách tr-ởng thành khác nhau Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, khi những kì thi Hán học dần đ-ợc bãi bỏ (Nam
Kỳ - 1864, Bắc Kỳ - 1915, Trung Kỳ - 1918), nho sĩ phong kiến không còn giữ vai trò là lực l-ợng trí thức chủ đạo của xã hội nữa mà là trí thức Tây học đ-ợc
đào tạo từ các tr-ờng Pháp - Việt Hình ảnh tóc búi củ hành, lều chõng tay nải dần trở nên x-a cũ Những lề lối mới làm rạn nứt những giềng mối cũ hàng ngàn
năm qua "không di dịch" trên mảnh đất này Trong bài tiểu luận xuất sắc Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh - Hoài Chân đã nhận định: "Cho đến những nơi
hang cùng ngõ hẻm, cuộc sống cũng không còn giữ nguyên hình ngày tr-ớc" [124, 18] Một xã hội hiện đại đang dần hình thành với những đô thị kiểu ph-ơng Tây, sự phân hoá giai tầng mãnh liệt, các nhà máy, công x-ởng, hầm mỏ, tạo nên một hạ tầng mới h-ớng tới việc tạo thiết những địa hạt mới của t- t-ởng và thị hiếu Đội ngũ sáng tác văn nghệ lúc này là trí thức Tây học, ảnh h-ởng sâu sắc văn hoá Âu Tây Thị dân là bộ phận độc giả mới với những yêu cầu thẩm mĩ, thị hiếu khác tr-ớc đã tạo nên một "cú hích" để văn học phát triển theo h-ớng chuyên nghiệp hơn Sự thay đổi toàn diện, sâu sắc và mau lẹ của thời đại đã tác
động rất lớn đến nhận thức, mĩ cảm của ng-ời nghệ sĩ, từ đó t- duy nghệ thuật có những b-ớc chuyển biến mới mẻ theo h-ớng hiện đại, làm nên "một cuộc cách mạng trong thi ca" Hàn Mặc Tử không thể đứng ngoài thời đại ấy
Mặc dù b-ớc chân vào làng thơ từ khá sớm với những sáng tác mang dấu
ấn Đ-ờng thi, nh-ng Hàn Mặc Tử ở lại địa hạt ấy không lâu Nhanh chóng tiếp cận với những giá trị mới mang tính thời đại, thơ Hàn Mặc Tử có thể xem nh-
Trang 40mô hình thu nhỏ của thơ mới Việt Nam 1932 - 1945, thậm chí là gói gọn một trăm năm thơ Pháp trong hơn m-ời năm sáng tác của mình Nếu Hoài Thanh - Hoài Chân gọi thời đại thơ mới 1932 - 1945 là thời đại "chữ tôi" thì có thể xem Hàn Mặc Tử là ng-ời đi xa nhất trên hành trình tìm kiếm "con ng-ời toàn nguyên", cái tôi thành thật đang đòi hỏi đ-ợc khẳng định, đ-ợc phơi trải lòng mình Lúc này chữ Tôi đ-ợc viết hoa, trịnh trọng đặt ở trung tâm của đời sống xã hội, con ng-ời, văn hoá văn nghệ Có thể nói, về cơ bản Thơ mới Việt Nam thuộc khuynh h-ớng lãng mạn, ngoại trừ một số yếu tố t-ợng tr-ng, siêu thực xuất hiện ở Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Đinh Hùng, nhóm Xuân thu nhã tập Đó là kết quả của quá trình hiện đại hoá thơ ca một cách mau lẹ gắn với những ảnh h-ởng rõ rệt từ các nhà hậu lãng mạn Pháp (Baudelaire, Rimbaud, Verlaine, Mallarmé, ) Thơ lãng mạn Pháp hay thơ lạng mạn Việt Nam (1932 - 1945) đều là sản phẩm tất yếu của một xã hội chứa trong lòng nó bao nhiêu những bất hoà, bế tắc Không khí ngột ngạt, o bế của đời sống xã hội đã dẫn đến cảm hứng thoát li, chối bỏ thực tại trong thơ ca Thoát li chính là cách ứng xử của văn nghệ sĩ với thực tại bất nh- ý lúc bấy giờ Buồn tủi, bơ vơ, ngơ ngác, lạc lõng là âm điệu, tâm trạng chung của thời đại Cảm giác tha h-ơng ngay trên quê h-ơng ám ảnh nghệ sĩ nhất là các nhà thơ Giang hồ, xê dịch, truỵ lạc, tha hoá,
là những đứa con ngoài ý muốn trong nỗi chán ch-ờng thực tại của kẻ ý thức về mình đang bị thực tại nuốt chửng Về bản chất, các cách hành xử ấy đều là thoát li: "Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu du trong tr-ờng tình của L-u Trọng L-, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta say đắm cùng Xuân Diệu Nh-ng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận" [124, 72] Dù có tạo dựng một thế giới khác trong thơ ca, thì các nhà thơ vẫn từng ngày phải b-ơn bả, ngụp lặn trong thực tại khổ sở Vì thế, thoát li mà đâu đã thoát Hàn Mặc Tử cũng không thể bứt ra khỏi từ tr-ờng của thời đại ấy dù "chất đốt tên lửa" (Chế Lan Viên) của ông rất mãnh liệt Cơ bản, thơ Hàn Mặc Tử vẫn thuộc địa hạt lãng mạn, điểm xuyết chút t-ợng tr-ng và "c-ờm" vài nét siêu thực Đó là bóng dáng của cả một thời đại Để có đ-ợc điều đó, Hàn Mặc Tử đã đi với tốc độ của một ngôi sao băng Không phải là làm xiếc ngôn từ, càng không phải là giả vờ điên dại, Hàn Mặc Tử quả đã trải qua những ngày tháng đầy khó khăn của phận ng-ời Sống, với Hàn Mặc Tử tức là chạy đua với tử thần Chính vì thế thơ ca của
ông mới có thể tích hợp đ-ợc những biến chuyển mau lẹ của thời đại trên hành trình bạt vía ấy Điều đó càng chứng tỏ tốc độ sống, c-ờng độ sống và trải nghiệm của Hàn Mặc Tử mãnh liệt nh-ờng nào
Nh- vậy có thể khẳng định rằng, gia đình, quê h-ơng, thời đại có những tác động hết sức to lớn đối với việc hình thành và nuôi d-ỡng tính tình con ng-ời, cá tính, phong cách sáng tạo của nhà văn Định hình một cuộc sống bất