Trong số các nhà thơ đó Hàn Mặc Tử đ-ợc đánh giá là một thiên tài, Hàn Mặc Tử đã có những đóng góp to lớn trong việc cách tân ngôn ngữ thơ.. Năm 2002 Phan Cự Đệ và Nguyễn Toàn Thắng tuy
Trang 1Tr-êng §¹i häc Vinh Khoa Ng÷ v¨n
=== ===
§Æc ®iÓm vÒ c¸ch sö dông tõ ng÷
vµ c©u th¬ trong th¬ Hµn MÆc Tö
Khãa luËn tèt nghiÖp
Gi¸o viªn h-íng dÉn: GS §ç ThÞ Kim Liªn
Sinh viªn thùc hiÖn: TrÇn Giang Nam Líp: 44E 4 - Ng÷ v¨n
Vinh – 2008
- -Chuyªn ngµnh: Ng«n Ng÷
Trang 2Lời cảm ơn
Để hoàn thành đề tài khóa luận này, ngoài năng lực và sự cố gắng của
bản thân, tôi còn nhận đ-ợc sự giúp đỡ rất tận tình, chu đáo của các thầy cô
giáo trong tổ bộ môn Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn Nhân dịp này chúng tôi xin
chân thành cảm ơn GS Đỗ Thị Kim Liên ng-ời trực tiếp h-ớng dẫn tôi thực
hiện đề tài này cũng nh- lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo trong tổ Ngôn
ngữ - Khoa Ngữ văn - Tr-ờng Đại học Vinh
Vinh, tháng 5 năm 2008
Tác giả
Trần Giang Nam
Trang 3Mở ĐầU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca là nghiên cứu một mảng đề tài của ngôn ngữ nghệ thuật - một bộ phận của ngôn ngữ Nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca nói chung và phong cách ngôn ngữ của một nhà thơ nói riêng là nghiên cứu ngôn ngữ trong sự hành chức của nó Đây là một h-ớng đi cần thiết của việc nghiên cứu ngôn ngữ Hoạt động này vừa có tính chuyên sâu, vừa có tính liên ngành 1.2 Trong quá trình đổi mới của nền văn học Việt Nam ở đầu những năm
ba m-ơi của thế kỉ XX, thơ ca là lĩnh vực có sự vận động mạnh mẽ và đạt
đ-ợc những thành tựu rực rỡ với sự ra đời của phong trào Thơ mới Để khẳng
định đ-ợc vị thế của mình bên cạnh các bài tranh luận trên các sách báo của
các tác giả thì phong trào Thơ mới xuất hiện một loạt các nhà thơ tài năng với
cá tính sáng tạo độc đáo cùng với những tác phẩm đặc sắc Trong số các nhà
thơ đó Hàn Mặc Tử đ-ợc đánh giá là một thiên tài, Hàn Mặc Tử đã có những
đóng góp to lớn trong việc cách tân ngôn ngữ thơ Trong khoảng m-ời năm trời Hàn Mặc Tử đã đi từ thơ Đ-ờng đến thơ lãng mạn t-ợng tr-ng rồi siêu thực (Hà Minh Đức) để trở thành một hiện t-ợng độc đáo của thi ca Việt Nam
thế kỉ XX Tuy có một vị trí đặc biệt nh- vậy nh-ng đến nay số ng-ời yêu thơ Hàn Mặc Tử, hiểu thơ Hàn Mặc Tử không nhiều Cuộc đời và sự nghiệp của Hàn Mặc Tử vẫn ch-a đ-ợc nghiên cứu đầy đủ Hàn Mặc Tử vẫn là một hiện
t-ợng lạ Chính điều đó đã thu hút chúng tôi nghiên cứu đề tài Đặc điểm về cách sử dụng từ ngữ và câu thơ đặc sắc trong thơ Hàn Mặc Tử
Trang 4ra số đặc biệt về Hàn Mặc Tử Cũng cuối năm 1940 tờ báo này liên tục đăng các bài viết của các tác giả: Chế Lan Viên, Hoàng Trọng Miên, Quách Tấn, Trần Thanh Địch, Bích Khê, Trần Tái Phùng, Trọng Qui… về Hàn Mặc Tử
Năm 1940 Trần Thanh Mai viết Hàn Mặc Tử - thân thế và thi văn (Nxb
Vỏ Doãn Mại) Trong công trình nghiên cứu này tác giả viết: Hàn Mặc Tử là ng-ời đầu tiên trong thế kỉ XX mở một cuộc cải cách cho văn ch-ơng Việt Nam và thành công một cách vinh quang rực rỡ Cũng trong năm 1940 Hoài Thanh, Hoài Chân giới thiệu Hàn Mặc Tử trong Thi Nhân Việt Nam Năm
1945 Vũ Ngọc Phan giới thiệu Hàn Mặc Tử trong Nhà văn Việt Nam hiện đại (quyển 3),Tân Dân xuất bản Năm 1950 Thái Văn Kiểm viết Un grand poè te Vietnamien - Han Mac Tu Năm 1960 Thế Phong viết cuốn Hàn Mặc Tử nhà thơ siêu thoát (Đại Nam Văn Hiến Sài Gòn) Cũng năm này Phan Cự Đệ có đề cập đến Hàn Mặc Tử trong bài viết Phong trào thơ mới 1932 - 1945 Năm
1968 Hoàng Diệp viết Hàn Mặc Tử - thi sĩ tiền chiến (Nxb khai Trí Sài Gòn) Năm 1972 Võ Long Tê Viết L Experience poétique et LItiné raise sprituel de Han Mac Tu (kinh nghiệm thơ và hành trình tinh thần của Hàn Mặc Tử) Cũng năm này Phan Cự Đệ viết: Hàn Mặc Tử phê bình và t-ởng niệm
2.2 Sau 1975
Năm 1991Trần Thị Huyền Trang viết Hàn Mặc Tử - H-ơng thơm và mật
đắng (Nxb Hội nhà văn) Năm 1997 Phan Xuân Tuyển biên soạn Đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử (Nxb văn học Hà Nội) Năm 1998 Mã Giang Lân và Hà Vinh biên soạn Hàn Mặc Tử - thơ và giai thoại (Nxb văn hóa - thông tin, Hà
Nội) Năm 2002 Phan Cự Đệ và Nguyễn Toàn Thắng tuyển chọn và giới thiệu Hàn Mặc Tử - tác giả và tác phẩm (Nxb giáo dục - Hà Nội)… Bên cạnh việc nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Hàn Mặc Tử còn phải kể đến những công trình bài viết tìm hiểu về ngôn ngữ thơ ông của các tác giả nh-: Nguyễn
Thị Thanh Đức với công trình: Các từ chỉ không gian trong thơ Hàn Mặc Tử, Chu Văn Sơn với bài Thơ điên Hàn Mặc Tử - thi học của cái tột cùng, Trần
Đức với Đặc tr-ng phản ánh nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử…
Trang 5Nhìn chung các bài viết trong các công trình nghiên cứu về Hàn Mặc Tử cũng đã đ-a ra nhiều ý kiến đánh giá khác nhau thậm chí trái ng-ợc nhau Bên cạnh nhiều công trình đề cao ca ngợi thơ Hàn Mặc Tử của các tác giả: Chế Lan Viên, Phan Cự Đệ, Vũ Ngọc Phan, Quách Tấn… cũng có những ý kiến chê hoặc còn khá dè dặt khi nhận xét đánh về tác giả này: Chế Lan Viên ca
ngợi và khẳng định giá trị thơ Hàn Mặc Tử: Tôi xin hứa hẹn với các ng-ời rằng, mai sau, những cái tầm th-ờng, mực th-ớc kia sẽ biến tan đi và còn lại của cái thời kỳ này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử (Ng-ời mới, số 5, ra
ngày 23/11/1940) Còn Hoài Thanh thì rất dè dặt khi đánh giá về thơ Hàn Mặc
Tử trong thi nhân Việt Nam: Ngót một tháng trời tôi đã đọc thơ Hàn Mặc Tử, tôi đã theo Hàn Mặc Tử từ lối thơ Đ-ờng tới vở kịch bằng thơ "Quần tiên hội" Và tôi đã mệt lã Chính nh- lời Hàn Mặc Tử nói trong bài tựa "Thơ
điên", v-ờn thơ của ng-ời rộng rinh không bờ bến càng đi xa càng ớn lạnh
3 Nhiệm vụ và đối t-ợng nghiên cứu
3.1 Đối t-ợng nghiên cứu
Đối t-ợng nghiên cứu của công trình này là tập Hàn Mặc Tử thơ và đời, Lữ Huy Nguyên s- tầm và tuyển chọn, (NXB Văn học, Hà Nội, 2005)
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phác thảo đôi nét về thi pháp thơ Hàn Mặc Tử, những đóng góp làm đổi
mới thơ và vị trí của Hàn Mặc Tử trong phong trào Thơ mới
- Khảo sát đặc điểm về cách sử dụng từ ngữ , biện pháp tu từ và đặc biệt
là cấu trúc câu thơ Hàn Mặc Tử, qua đó góp phần tìm hiểu đặc diểm ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu
Ph-ơng pháp nghiên cứu chủ yếu đ-ợc sử dụng ở công trình này là: ph-ơng pháp thống kê, phân loại, ph-ơng pháp phân tích, tổng hợp, ph-ơng pháp so sánh, đối chiếu
Trang 65 Cái mới của đề tài
ở công trình này chúng tôi tập trung nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử trên các mặt: từ ngữ, biện pháp tu từ, đặc điểm cấu trúc câu thơ Bằng ph-ơng pháp nghiên cứu ngôn ngữ học, qua khảo sát các dẫn liệu cụ thể, luận văn này sẽ làm nổi bật những đặc tr-ng cơ bản về ngôn ngữ của một nhà thơ có vai trò và vị trí quan trọng trong nền thơ Việt Nam hiện đại
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn đ-ợc cấu
trúc làm ba ch-ơng
Ch-ơng 1: Những vấn đề lí thuyết xung quanh đề tài
Ch-ơng 2: Đặc điểm về cách sử dụng lớp từ ngữ và câu thơ đặc sắc trong
thơ Hàn Mặc Tử
Ch-ơng 3: Một số biện pháp tu từ trong thơ Hàn Mặc Tử
Trang 7Ch-ơng 1 Những vấn đề lí thuyết xung quanh đề tài
1.1 Thơ và đặc điểm của thơ
1.1.1 Thơ là gì?
Thơ là một hình thái văn học đầu tiên của nhân loại trên toàn thế giới Trong một thời gian dài, các tác phẩm văn học đều đ-ợc viết bằng thơ Vì thế trong thời gian đó thuật ngữ thơ đ-ợc dùng để chỉ chung cho văn học Thơ có lịch sử lâu đời, mỗi thời đại đều có những quan niệm khác nhau về thơ, cho nên để tìm một khái niệm chỉ hết đặc tr-ng, bản chất của thơ thật không dễ ở ph-ơng Đông nhà lí luận văn học cổ điển Trung Quốc - L-u Hiệp là ng-ời
sớm đề cập việc phân loại thể loại văn học Với cuốn Văn tâm điêu long, trong
cuốn sách này ông đã chỉ ra ba yếu tố làm thành một bài thơ: tình cảm, ý nghĩa (tình văn); ngôn ngữ (hình văn) và âm thanh (thanh văn) Đến đời
Đ-ờng nhà thơ Lí Bạch cũng chỉ ra một cách hình ảnh các yếu tố làm nên một
bài thơ:"Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ , hoa là âm thanh, quả
là ý nghĩa" Lí Bạch đã chỉ ra các yếu tố làm nên một bài thơ và mối quan hệ
giữa các yếu tố đó
ở Việt Nam khái niệm thơ là gì cũng đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm và mỗi ng-ời lại có một khuynh h-ớng riêng Hàn Mặc Tử cho rằng: "Thơ
là một tiếng kêu rêu thảm thiết của một linh hồn th-ơng nhớ, -ớc ao trở lại trời, là nơi đã sống ngàn kiếp vô thủy vô chung, với những hạnh phúc bất tuyệt" (Quan niệm thơ - Hàn Mặc Tử - Thơ và đời - trang 155) Nhà thơ Sóng Hồng định nghĩa thơ: "Thơ là sự thể hiện con ng-ời và thời đại một cách cao
đẹp Thơ không chỉ nói lên tình cảm của riêng nhà thơ mà nhiều khi thông qua tình cảm đó nói lên niềm hi vọng của cả dân tộc, những -ớc mơ của nhân dân,
vẽ lên những nhịp đập của trái tim quần chúng và xu thế chung của lịch sử
Trang 8loài ng-ời Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi, ng-ời làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nh-ng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật"
Nhà thơ Tố Hữu Trong một chuyên luận về thơ phát biểu tr-ớc các văn nghệ sĩ
đã định nghĩa "Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình"
- Các nhà lí luận văn học, các nhà nghiên cứu và phê bình Văn học cũng
đã tìm tòi và đ-a ra rất nhiều định nghĩa về thơ nhom tác giả Lê Bá Hán,Trần
Đình sử,Nguyễn Khắc Phi cho rằng: thơ là hình thức sáng tác văn học phản
ánh cuộc sống ,thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc,giàu hình ảnh va nhất là co nhịp điệu Theo chúng tôi định nghĩa thơ trong cuốn Từ điển thuật ngữ Văn học của các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình
Sử, Nguyễn Khắc Phi trên đây đã nêu ra ba đặc tr-ng cơ bản của ngôn ngữ thơ Ba đặc tr-ng này khác biệt hoàn toàn so với ngôn ngữ văn xuôi Ba đặc tr-ng cơ bản của ngôn ngữ thơ đó là:
1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ thơ
a Ngôn ngữ thơ có tính hàm súc
Tính hàm súc là đặc điểm chung của ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm Văn ch-ơng Nó đ-ợc thể hiện rõ nhất trong thơ ở tác phẩm tự sự do bám vào phản ánh sự kiện và con ng-ời nh- những gì đã diễn ra trong cuộc sống, và do không bị hạn chế về dung l-ợng ngôn từ, cho nên ngôn ngữ của tác phẩm tự sự
là ngôn ngữ gắn với đời th-ờng Nó sử dụng mọi lớp từ, thậm chí cả tiếng lóng
để phản ánh muôn mặt của cuộc sống, cũng nh- tâm lí phức tạp, nhiều chiều của con ng-ời Ng-ợc lại, ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ có tính chọn lựa rất cao
Thời trung đại, việc lựa chọn từ ngữ để tạo nên những "Nhãn tự" cho bài
thơ là việc làm đòi hỏi ng-ời làm thơ phải hết sức già dặn và uyên bác trong lĩnh vực ngôn ngữ Mỗi chữ trong một bài thơ giống nh- một ông Hiền, ông
Thánh Họ quan niệm: Tự bất kinh tâm tử bất h-u Nghĩa là: dùng chữ mà
không làm cho ng-ời ta kinh sợ thì chế rồi vẫn không đ-ợc nghỉ ngơi Vì tính
Trang 9hàm súc của bài thơ mà Giả Đảo đã không làm chủ đ-ợc trạng thái bình
th-ờng của mình khi lựa chọn từ "thôi" hay từ "xao" cho hai câu thơ sau này
trở thành giai thoại lí thú của văn ch-ơng:
Điểu túc trì biên thụ Tăng thôi (xao) nguyệt hạ môn
Tính hàm súc là khả năng miêu tả thể hiện mọi hiện t-ợng của đời sống
một cách rõ ràng nhất cụ thể nhất bằng một l-ợng ngôn ngữ hạn chế nhất, "ý tại ngôn ngoại", lời hữu hạn mà ý thì vô cùng Hồ Chí Minh đã dùng một từ
"hồng" (trong câu "Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng") để làm đối trọng với những
từ còn lại thể hiện cái tối tăm, lạnh lẽo, mờ mịt của phong cảnh trong bài thơ
Mộ (phần I) Tính hàm súc cũng chính là tính chính xác, tính hình t-ợng Ví
dụ cụm từ "lửa cháy" trong câu thơ Em đi lửa cháy trong bao mắt (bài áo đỏ của nhà thơ Vũ Quần Ph-ơng) là một kết hợp có tính hàm súc rất cao Có thể
dùng nhiều từ khác thay thế nh-ng giá trị biểu đạt sẽ không cao bằng hai từ
này Hai từ "lửa cháy" vừa gợi cảm giác cân bằng về gam màu với các từ khác
trong bài thơ, vừa cụ thể hoá một cách sinh động những rung động mãnh liệt trong tình cảm vốn là vô hình của con ng-ời
Từ tính hàm súc của ngôn ngữ thơ nhiều khi còn làm cho từ ngữ đ-ợc sử
dụng một cách linh động, tạo nên những chệch chuẩn đ-ợc cộng đồng chấp
nhận, và nó làm cho ngôn ngữ biến ảo tinh tế hơn, ví dụ: Phùng Quán có câu
thơ Có những lúc ngã lòng tôi vịn câu thơ đứng dậy Trong ngôn ngữ hằng ngày khi ta nói đến từ "vịn" (một động từ) thì đi kèm đó phải là một sự vật cụ
thể có hình khối hoặc là một con ng-ời, nh-ng nhà thơ lại cho nó kết hợp với
một sự vật trừu t-ợng - câu thơ Điều đó cho ta thấy với tác giả thì câu thơ nh-
là một ng-ời bạn hoặc một ng-ời nâng đỡ, một điểm tựa tinh thần gần gũi và quan trọng
Trang 10đến Ng-ợc lại, ở trong thơ, nhạc tính là yếu tố mang đặc tr-ng ngôn ngữ của thể loại, nó giúp ta phân biệt thơ ca với các thể loại khác Thế giới nội tâm, cảm xúc của tác giả nhiều khi không thể hiện hết ra ngoài bằng ý nghĩa của từ ngữ khi đó nó sẽ đ-ợc bộc lộ bằng nhạc điệu của bài thơ Ví dụ, để thể hiện sức mạnh của quân và dân ta trong kháng chiến chống Thực dân Pháp Tố Hữu viết:
Những đ-ờng Việt Bắc của ta,
Đêm đêm rầm rập nh- là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng,
ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
yêu cầu quan trọng đối với thơ Đ-ờng luật, còn với thơ hiện đại yêu cầu này không còn quá khắt khe, nó không bắt buộc tuy nhiên các nhà thơ vẫn chú ý khai thác để tạo nên hiệu quả nghệ thuật cho bài thơ
Trang 11Sự trầm bỗng của một bài thơ đ-ợc tạo nên bởi cách phối hợp âm thanh, hoặc thay đổi độ cao giữa hai nhón thanh điệu: Bằng / trắc (trầm / bổng, cao / thấp) Tản Đà thể hiện cuộc đời bất đắc chí, thể hiện cuộc đời mình là một
"khối mâu thuẫn lớn" bằng hai câu thơ với hai "âm vực" đối lập nhau hoàn toàn: "Tài cao, phận thấp chí khí uất / Giang hồ mê chơi quên quê h-ơng"
Bích Khê tạo đ-ợc tên tuổi của mình trong Thơ mới cũng bằng những vần thơ giàu nhạc tính
Vàng sao nằm in trên hoa gầy / T-ơng t- ng-ời x-a tôi qua đây / Ôi nàng năm x-a quên lời thề / Hoa vừa đ-a h-ơng gây đê mê (Tỳ Bà) Đọc đoạn thơ
này lên ta có cảm giác lâng lâng nh- đang nghe một bản nhạc du d-ơng êm ái
Đây chính là âm thanh vọng ra từ tâm hồn nhà thơ, cái nhịp nhàng của cảm xúc đã trở thành cái nhịp nhàng của đoạn thơ Sự trầm bổng trong thơ còn
đ-ợc tạo ra bởi cách ngắt nhịp, ví dụ: để thể hiện cái hồn nhiên, nhanh nhẹn, nhí nhảnh của chú bé L-ợm Tố Hữu sử dụng nhịp thơ 2/2 trong những câu thơ ngắn:
Chú bé / loắt choắt, Cái xắc / xinh xinh
ng-ợc lại để thể hiện cảm xúc nhẹ nhàng lan toả trong lòng mình nhà thơ lại dùng những câu thơ trải dài với nhiều thanh bằng:
"Gió lộng xôn xao sóng biển đu đ-a
Mát r-ợi lòng ta ngân nga tiếng hát."
(Mẹ Tơm)
Nhạc tính trong thơ còn đ-ợc tạo dựng bởi sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ Sự trùng điệp thực chất là việc nhà thơ sử dụng biện pháp điệp từ, điệp ngữ hoặc điệp cú pháp, qua đó nhằm nhấn mạnh nội dung cần khắc hoạ, tạo
đ-ợc sự liền mạch và âm h-ởng riêng của đoạn thơ, bài thơ Để khẳng định chủ quyền của dân tộc Nguyến Đình Thi đã sử dụng biện pháp điệp từ, điệp ngữ và điệp cú pháp trong hai câu thơ:
Trang 12Trời xanh đây là của chúng ta, Núi rừng đây là của chúng ta
(Đất n-ớc) Nhạc điệu là đặc tr-ng nổi trội của ngôn ngữ thơ Ngày nay thơ đ-ợc làm theo lối tự do, vì thế tính nhạc trong thơ cũng có phần vơi giảm Tuy nhiên nó vẫn tồn tại trên nhiều hình thức: sự cân đối các dòng, các đoạn thơ, tiết tấu của câu thơ
c Ngôn ngữ thơ có tính truyền cảm
Ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ khách quan yên tĩnh nh- ngôn ngữ của tác phẩm tự sự Nó là ngôn ngữ bão hoà cảm xúc Tr-ớc hết đó là lời bộc lộ t- t-ởng, tình cảm trực tiếp của tác giả
Chiều ơi hãy xuống thăm ta với Thiên hạ lìa xa đời trống không Nắng xế ngậm ngùi bên mái cũ
Đìu hiu bên phố nhớ bên lòng
Để bộc lộ tình cảm của mình và để truyền tình cảm đó đến ng-ời đọc cho nên các nhà thơ th-ờng lựa chọn những từ ngữ và biện pháp tu từ rất kĩ, nhằm làm cho nội dung của cảm xúc, thái độ đánh giá hiện ra rõ nét nhất
Bát cơm chan đầy n-ớc mắt Bay còn giành khỏi miệng ta Thằng giặc Tây, thằng chúa đất
Đứa đè cổ, đứa lột da
(Nguyễn Đình Thi) Trong đoạn thơ này, mỗi câu thơ đều chứa những động từ thể hiện nỗi thống khổ của nhân dân ta, đây cũng chính là đ-ờng dẫn đ-a ta vào khám phá
Trang 13tâm hồn của tác giả Bên cạnh việc sử dụng từ ngữ, các biện pháp tu từ thì các nhà thơ cũng dùng nhạc điệu thơ để tạo nên tính truyền cảm trong thơ Ví dụ:
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang (Hàn Mặc Tử) Kết thúc câu thơ cuối của bài thơ Mùa xuân chín là bốn âm tiết có độ vang lớn Đó cũng chính là
cảm xúc vang vọng ngân nga trong tâm hồn của tác giả
1.2 Vấn đề câu và cấu trúc câu
1.2.1 Vấn đề câu
1.2.1.1 Định nghĩa câu
Câu không phải là đơn vị có sẵn nh- từ mà là một đơn vị do ng-ời sử dụng dùng từ cấu tạo nên trong quá trình suy nghĩ thông báo
Về định nghĩa câu cho đến nay có trên 300 định nghĩa (theo A.Akhmanôva
- từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học) Từ thời cổ đại, Aristote đã có định nghĩa về
câu nh- sau: "Câu là một âm phức hợp có ý nghĩa độc lập mà mỗi bộ phận riêng biệt trong đó cũng có ý nghĩa độc lập" (8 tr100) ở việt Nam các nhà
nghiên cứu cũng đã đ-a ra rất nhiều định nghĩa khác nhau Chúng tôi chọn
định nghĩa của Giáo s- Đỗ Thị Kim Liên: Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, đ-ợc gắn với ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ
điệu kết thúc (8 tr101)
1.2.1.2 Đặc điểm của câu
Từ định nghĩa trên ta rút ra các đặc điểm của câu nh- sau
a Câu có chức năng thông báo
Câu là đơn vị đ-ợc tạo nên bởi từ, nhằm mục đích giao tiếp hay tỏ thái
độ Vì vậy câu phải có chức năng thông báo Chức năng thông báo của câu
đ-ợc thể hiện:
- Câu mang nội dung thông tin
Ví dụ: + Tôi là sinh viên khoa ngữ văn tr-ờng Đại học Vinh
Trang 14+ Bên ngoài gió to lắm
- Câu đ-ợc dùng để bày tỏ cảm xúc, thể hiện thái độ tình cảm
Ví dụ: + Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Nguyễn Đình Thi
+ Ôi thôi thế là hỏng hết việc rồi
- Câu đ-ợc dùng để tác động đến hành động nhận thức của ng-ời khác
Ví dụ: + Ra khỏi đây ngay !
+ Giữ trật tự !
b Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập
Ngữ pháp độc lập của câu thể hiện ở chỗ câu th-ờng có cấu trúc C - V Ngoài ra câu còn có cấu trúc đặc biệt, chỉ có một thành phần hay còn gọi là câu đơn thành phần
d Câu gắn với một ngữ cảnh nhất định
Câu là đơn vị ngôn ngữ đ-ợc dùng để giao tiếp của con ng-ời trong xã hội, vì thế câu bao giờ cũng phải gắn với không gian, thời gian và đối t-ợng cụ thể Có thể có câu đúng trong hoàn cảnh này nh-ng lại không đúng trong hoàn cảnh khác
Trang 15- Về từ loại: chủ ngữ th-ờng do danh từ đảm nhiệm Tuy nhiên cũng có thể do động từ, tính từ, đại từ, số từ, đảm nhiệm
Ví dụ: - Lá vàng tr-ớc gió khẽ đ-a vèo
-Về cấu trúc: chủ ngữ có thể là từ, cụm từ, hoặc một kết cấu C - V
Ví dụ: - Anh là nhân viên mới à ?
nhau ng-ời ta có thể đảo vị ngữ lên tr-ớc chủ ngữ
Ví dụ: Bạc phơ mái tóc ng-ời Cha
- Về từ loại: vị ngữ th-ờng do động từ, tính từ đảm nhiệm
Ví dụ: - Hôm nay trời lạnh quá !
T
- Tôi đang học bài
Đg
Trang 16Ngoài ra vị ngữ cũng có thể do các từ loại khác đảm nhận nh-: danh từ,
Số từ
- Về cấu trúc: Vị ngữ có thể là một từ, một cụm từ, hoặc một kết cấu C - V
Ví dụ: Em / là con gái bên khung cửi
Cụm từ (Nguyễn Bính)
Ham muốn tột bậc của tôi / là đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo
C V mặc, ai cũng đ-ợc học hành
- Trạng ngữ:
Trạng ngữ th-ờng đứng đầu câu, th-ờng dùng để biểu thị tình huống, cách thức, thời gian, địa điểm, mục đích, điều kiện nh-ợng bộ, nhằm làm rõ thêm nội dung thông báo của câu
Ví dụ: Trên trời mây trắng nh- bông,
ở d-ới cánh đồng bông trắng nh- mây
(Tố Hữu)
Trang 17- Đề ngữ:
Đề ngữ là thành phần phụ của câu, th-ờng đứng tr-ớc nòng cốt câu chính
để nêu lên một sự vật, sự việc, tình trạng với mục đích nhấn mạnh một chủ
đề Đề ngữ có quan hệ với cả nòng cốt C - V
Ví dụ: Tôi, thì tôi xin chịu
Giàu, lão cũng giàu rồi
- Tình thái ngữ:
Tình thái ngữ là thành phần phụ của câu, th-ờng bộc lộ thái độ tình cảm của ng-ời nói về hiện thực đ-ợc thể hiện trong câu nói hoặc để gọi đáp
Ví dụ: Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ!
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn
(Chế Lan Viên)
Ô hay! Buồn v-ơng cây ngô đồng,
Vàng rơi vàng rơi thu mênh mông
đến câu ví dụ nh-: bình luận, giải thích, xuất xứ, làm rõ thái độ, cách thức
Về cấu tạo, giải thích ngữ th-ờng do một cụm danh từ hoặc một kết cấu C - V
Trang 18- Liên ngữ:
Liên ngữ là thành phần phụ, th-ờng đứng đầu câu để liên kết các câu chứa nó và câu đứng phía tr-ớc
Ví dụ: Tôi đã dặn kĩ rồi Thế mà anh ấy vẫn quên
hay: Gió mơn man nh- dục lòng kẻ ra đi Thế rồi Trũi lên đ-ờng
(Tô Hoài) Liên ngữ th-ờng do các quan hệ từ, đại từ, tổ hợp từ đảm nhận nh-:
nh-ng, và, về, rồi, vì vậy, nên, do đó, nói tóm lại
1.3 Hàn Mặc Tử - tác giả và tác phẩm
1.3.1 Về tác giả Hàn Mặc Tử
Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, tên thánh là Phêrô Phanxicô, sinh ngày 22 - 9 - 1912, tại Lệ Mĩ - Đồng Hới Tổ tiên của Hàn Mặc Tử vốn
họ Phạm, gốc ở Thanh Hoá Ông cố của Hàn Mặc Tử tên là Phạm Ch-ơng, do liên can về quốc sự, gia đình bị truy nã nên ng-ời con là Phạm Bồi phải trốn vào Thừa Thiên rồi đổi sang họ mẹ là họ Nguyễn Bố của Hàn Mặc Tử là ông Nguyễn Văn Toản, con trai tr-ởng của cụ Phạm Bồi Hàn Mặc Tử là con thứ t- trong gia đình có sáu ng-ời con
Lúc sinh Hàn Mặc Tử thì bố của thi sĩ làm ở sở Th-ơng chánh Nhật Lệ ở
Đồng Hới Lớn lên Hàn Mặc Tử theo bố đi nhiều nơi và theo học ở các tr-ờng tiểu học Sa Kỳ (1920), Quy Nhơn, Bồng Sơn (1921-1923), Sa Kỳ (1924) Năm 1926, bố Hàn Mặc Tử qua đời, Hàn Mặc Tử theo mẹ vào Quy Nhơn và sau đó ra học ở tr-ờng Pèlerin - Huế Năm 1930, Hàn Mặc Tử thôi học về Quy Nhơn cùng mẹ, học ở đây ba năm, làm thơ và lấy bút hiệu là Phong Trần, vào làm ở Sở đạc điền một thời gian Năm 1935, Hàn Mặc Tử bị đau rồi thôi việc
Và cũng vì thất vọng về mối tình với Hoàng Cúc, Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn làm báo ở đây Hàn Mặc Tử gặp gỡ rất nhiều bạn thơ, rồi đổi bút danh là Lệ Thanh, sau đó là Hàn Mặc Tử
Năm 1936, Hàn Mặc Tử gặp Mộng Cầm và tình cảm giữa họ ngày càng thắm thiết Nh-ng đến cuối năm, khi bệnh nặng thêm, Hàn Mặc Tử chia tay Mộng Cầm trở về Quy Nhơn
Trang 19Những năm cuối đời, Hàn Mặc Tử sống trong sự đau đớn của thể xác, cô
đơn tuyệt vọng về tinh thần, Mộng Cầm đi lấy chồng, Mai Đình ra thăm nh-ng do mặc cảm bệnh tật Hàn Mặc Tử trốn không gặp, Th-ơng Th-ơng tuy
là một trong những bóng dáng khuynh thi, nh-ng ngoài đời cũng hết sức mơ
hồ, xa xăm Tuyệt vọng về tinh thần, mặc cảm về bệnh tật, Hàn Mặc Tửc rơi vào trạng thái cuồng loạn khủng khiếp Tr-ớc số phận bi đát đó thì tình cảm bạn bè dành cho anh, và tình yêu của anh đối với cuộc đời, với thơ ca đã xoa dịu cõi lòng tan nát của anh Các tập thơ, kịch thơ, thơ văn xuôi lần l-ợt ra đời,
đó cũng chính là cách Hàn Mặc Tử v-ợt ra khỏi sự truy đuổi của đau th-ơng
và cái chết Tr-ớc khi chết Hàn Mặc Tử đã gác lại chuyện văn ch-ơng, lấy lại trạng thái tĩnh tại trong tâm hồn để đi vào cõi vĩnh hằng một cách nhẹ nhàng vào ngày 11 tháng 11 năm 1940
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác
Tài năng thơ ca của Hàn Mặc Tử bộc lộ rất sớm, Hàn Mặc Tử vốn là
ng-ời tình cũ của thơ Đ-ờng luật Khi mới 15 tuổi với bút danh là Minh Duệ
Thị, Hàn Mặc Tử đã làm nhiều bài thơ x-ớng hoạ với anh trai của mình là Mộng Châu (tức Nguyễn Bá Nhân), Mộng Châu là một nhà thơ Đ-ờng luật sành nghề Chính nhờ anh mà sự nghiệp học hành và sáng tác của Hàn Mặc
Tử vẫn đ-ợc tạo đà phát triển sau khi bố qua đời
Với hi vọng phát triển một tài năng, mẹ Hàn Mặc Tử đã gửi anh ra Huế học, Hàn Mặc Tử nhanh chóng hoà nhập và thích nghi với xứ Huế yên ả, thanh bình, phong cảnh nên thơ Những yếu tố đó sau này in dấu khá rõ trong thơ Hàn Mặc Tử
Khi Phan Bội Châu mở Mộng du thi xã và tổ chức thi thơ Hàn Mặc Tử đã
gửi mấy bài dự thi (kí tên là Phong Trần) và đạt giải nhất Phan Bội Châu đã
hết lời ca ngợi: Từ về n-ớc đến nay, tôi đ-ợc xem thơ quốc âm cũng khá nhiều, song ch-a gặp đ-ợc bài nào hay đến thế Ôi hồng Nam nhạn Bắc, -ớc ao có ngày gặp gỡ để bắt tay nhau c-ời lên một tiếng lớn ấy là thoả hồn thơ đó Từ
đó tên tuổi của Hàn Mặc Tử càng đ-ợc khẳng định, đ-ợc tôn vinh
Trang 20Năm 1931, Hàn Mặc Tử có thơ đăng các báo: Phụ nữ tân văn, Lời Thăm, Tiếng dân với một phong vị Đ-ờng luật, đặc biệt làm xôn xao làng thơ
Với tài năng của Hàn Mặc Tử, Hội Nhà Tây Du học đã ghi tên anh vào danh sách những ng-ời đ-ợc sang Pháp du học, nh-ng do Hàn Mặc Tử có làm thơ x-ớng hoạ và ra thăm nhà cách mạng Phan Bội Châu nên anh bị xoá khỏi danh sách và anh tiếp tục gắn bó với sự nghiệp thơ nh- một định mệnh
Tháng 6 năm 1934 L-u Trọng L- vào Huế diễn thuyết tại hội học Quy Nhơn để bênh vực cho Thơ mới thì lúc đó Hàn Mặc Tử mới thực sự chọn Thơ mới làm ph-ơng tiện để thể hiện thế giới tình cảm của mình và anh bắt đầu gửi các bài thơ đăng ở các báo Sài Gòn
Năm 1936, Hàn Mặc Tử phát hiện mình mắc bệnh, anh thôi làm báo rồi cùng Yến Lan, Hoàng Diệp, Nguyễn Viết Lâm, Nguyễn Minh Vĩ, Chế Lan
Viên lập nên tr-ờng thơ loạn rồi cho đời tập Nắng xuân Từ đó các tập Gái quê, Thơ điên (sau gọi là Đau th-ơng) lần l-ợt ra đời, tiếng tăm Hàn Mặc Tử
càng bay xa
Thơ Hàn Mặc Tử có sáu tập, ngoài ra còn có vở kịch thơ là Duyên kỳ ngộ
và Quần Tiên hội, một tập thơ văn xuôi: Chơi giữa mùa trăng và trên d-ới hai
m-ơi bốn bài thơ khác ch-a in vào tập
- Lệ Thanh thi tập Với phần lớn là những bài thơ Đ-ờng luật đ-ợc sáng
tác trong thời gian Hàn Mặc Tử theo học ở Huế ở giai đoạn này thơ Hàn Mặc
Tử chủ yếu nghiêng về khoái cảm, tức cảnh, ngâm vịnh, thể hiện nỗi niềm -u thời mẫn thế:
Non sông bốn mặt ngủ mơ màng
Thức chỉ mình ta dạ chẳng an
(Thức khuya)
- Gái quê xuất bản năm 1936 Lúc bấy giờ Hàn Mặc Tử đã chuyển sang
làng Thơ Mới Đây là tập thơ khẳng định thiên tài thơ ca Hàn Mặc Tử Lời thơ nhẹ nhàng duyên dáng, cảnh quê, tình quê gắn với những hình ảnh những sự
Trang 21vật quen thuộc: Nắng mới, đọt tre, hàng cau, vạt d-a, bóng trăng và gợi cảm
nhất là bóng dáng một gái quê, một tình yêu nhẹ nhàng trong sáng
- Các tập: Thơ điên, Xuân nh- ý, Th-ợng thanh khí Tập trung tất cả mọi
rung động, cảm xúc, yêu th-ơng, đau khổ, buồn vui, hờn giận càng làm cho thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử thêm kỳ lạ, độc đáo Chính tài năng
đã làm cho Hàn Mặc Tử trở thành một hồn thơ dị biệt Những hình t-ợng độc
đáo, trí t-ởng phong phú, những cảm giác siêu thực, tạo nên sự lôi cuốn hấp dẫn của thơ Hàn Mặc Tử
- Duyên kỳ ngộ và Quần Tiên hội Là những vở kịch thơ viết ch-a hoàn
thành Lúc bấy giờ Hàn Mặc Tử đang ở trên ranh giới giữa sự sống và cái chết, thế nh-ng lời thơ vẫn rất trong sáng, thiết tha, niềm khát sống càng mạnh mẽ Trong hai vở kịch thơ này, không gian trần tục đ-ợc thay thế bởi không gian
thơ mộng, cao sang của cõi tiên với bóng trăng, tiếng chim hót, lời suối reo, tiếng tiêu ngân, với một giai nhân tuyệt sắc Th-ơng Th-ơng cùng với chính
thi sĩ đã tôn thêm vẻ đẹp và tình yêu làm nên một thế giới riêng
- Chơi gữa mùa trăng và những bài thơ ch-a in vào tập càng khẳng định
tài năng, tình yêu cuộc sống, một nghị lực và một bản lĩnh hiếm có của Hàn Mặc Tử Thế giới trong tập thơ văn xuôi này là thế giới Hàn Mặc Tử ngất
ngây ở đó có N-ớc nh-ợc, Non bồng, nhà thơ tự do để chơi, để chiêm bao, để hát Khúc ly tao
- Điểm trung tâm để làm cho thơ Hàn Mặc Tử trở thành một nguồn thơ dị biệt đó là trong thơ Hàn Mặc Tử, tình yêu đời, niềm khát sống, tình yêu thơ ca
và chất đạo (cả đạo Phật và đạo Thiên chúa) hoà quyện vào nhau cộng với những rung cảm và trí t-ởng t-ợng độc đáo đã làm nên một thế giới thơ bí ẩn, hấp dẫn
Trang 22phù hợp để nghiên cứu: Từ là một đơn vị của ngôn ngữ gồm một hoặc một số
âm tiết có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và đ-ợc vận dụng tự do để cấu tạo nên câu (Đỗ Thị Kim Liên, Ngữ pháp tiếng Việt, tr.18)
ăn, ở, xe, nhà, vội vàng, lấp lánh, nóng nảy
Các từ: ăn, ở, xe, nhà là những từ gồm một âm tiết Còn các từ: vội vàng, nóng nảy là những từ có hai âm tiết, trong đó một âm tiết mang nghĩa
gốc (vội, nóng), còn âm tiết còn lại chỉ là đơn vị khu biệt nghĩa (vàng, nảy)
b Từ có cấu tạo hoàn chỉnh
Từ luôn xuất hiện với t- cách là một khối chặt chẽ cả về nội dung ngữ nghĩa lẫn hình thức cấu tạo Chúng ta không thể chêm xen bất cứ một yếu tố
phụ nào vào giữa các yếu tố cấu thành một từ nh- ở cụm từ ở ví dụ trên, vội vàng là một từ, ta không thể chêm xen yếu tố phụ vào giữa vội và vàng, nóng
và nảy Còn ở tr-ờng hợp khác nh- ao cá là cụm từ ta có thể thêm yếu tố phụ vào giữa: ao và cá để thành: ao nuôi cá, ao thả cá
Trang 23Tính hoàn chỉnh của từ giúp chúng ta xem xét trong cấu tạo nội bộ của
từ, phân biệt từ với cụm từ
c Từ có khả năng vận dụng tự do để tạo câu
Khả năng tự do này thể hiện ở chỗ từ có thể kết hợp với nhiều từ khác
để tạo nên các câu Hình vị cũng giống từ ở chỗ là đơn vị nhỏ nhất nh-ng hình
vị không có khả năng hoạt động tự do mà luôn bị ràng buộc trong từ Đây là
đặc điểm để ta phân biệt từ với hình vị
Ví dụ:
Biệt thự là một từ độc lập, nó có khả năng kết hợp tự do với căn này
để thành: căn biệt thự này Còn biệt (hình vị) không thể kết hợp nh- vậy
2.2 Cách sử dụng các từ ngữ đặc sắc trong thơ Hàn Mặc Tử
trong thơ của mình Hàn Mặc Tử sử dụng hai lớp từ với một tần số cao và đọc
đáo có nhiều nét đặc sắc, đó là từ láy và từ tình thái
2.2.1 Từ láy
a khái niệm:
Từ láy là những từ đ-ợc cấu tạo theo ph-ơng thức láy, đó là ph-ơng thức lặp lại toàn bộ hay một phần hình thức của âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa
Các từ láy có thể phân thành nhiều kiểu khác nhau, từ lớn đến nhỏ dựa vào từng tiêu chí khác nhau
a1 Dựa vào số lần tác động của ph-ơng thức láy ta có:
Láy đôi: gọn gàng, đẹp đẽ, đỏ đắn, xinh xắn
Láy ba: sạch sành sanh, tẻo tèo teo, cỏn còn con
Láy bốn: ríu ra ríu rít, khấp kha khấp khểnh, chần chần chừ chừ
Trang 24a2 Dựa vào yếu tố đ-ợc giữ lại trong âm tiết ta có:
Láy hoàn toàn (láy toàn bộ): xanh xanh, tim tím, chang chang Láy âm: thơ thẩn, th-ớt tha, náo nức, nghẹn ngào
Láy vần: triền miên, âm thầm, thiêng liêng
b Cách sử dụng
Nổi bật nhất về mặt từ ngữ trong thơ Hàn Mặc Tử là việc sử dụng từ láy b1 Về cấu tạo
Từ láy xuất hiện dày đặc trong thơ Hàn Mặc Tử (với số lần xuất hiện là
463 lần), có 98 bài sử dụng từ láy trên tổng số 111 bài thơ 100% số từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử là láy đôi Trong số đó, có hơn 66% là láy âm (láy phụ
âm đầu), 20% là láy vần, gần 14% là láy hoàn toàn
Các từ láy âm: hững hờ, bẽ bàng, lai láng, thiệt thòi, mờ mịt, khăng khít
Các từ láy vần: mơn trớn, âm thầm, bẽn lẽn, tê mê, lao xao
Các từ láy hoàn toàn: xa xa, the thé, hây hây, chang chang, rào rào, rầu rầu, bời bời , có khi đảo vị trí: láng lai, s-ợng sần, thĩ thầm, nhơ nhỡn…
b2 Về ngữ nghĩa
Phần lớn trong số các từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử là những từ miêu tả
cảm xúc, trạng thái, cảm giác: buồn buồn, au au, chầm chậm, hờ hững, chơi vơi, im lìm, bối rối, băn khoăn, v-ơng vấn, vui vẻ Các từ láy này góp phần
làm cho thơ Hàn Mặc Tử dồi dào cảm xúc, làm cho bức tranh thơ mang đầy sự sống
- Căn cứ vào sự phát triển nghĩa so với yếu tố gốc, ta có thể bắt gặp Hàn Mặc Tử sử dụng từ láy thuộc hai nhóm:
Lớp từ láy biểu thị mức độ giảm nhẹ so với yếu tố gốc: xa xa, the the, hây hây, rầu rầu, bời bời, chang chang, buồn buồn, chầm chậm…
Lớp từ láy có phạm vi thu hẹp nghĩa so với yếu tố gốc: bối rối, thấp thoáng, v-ơng vấn, phất phơ, héo hon, khăng khít, hồng hào, choáng váng…
Trang 25- Căn cứ vào tính chất mô phỏng hay không mô phỏng (biểu tr-ng), có thể chia ra hai nhóm:
Lớp từ t-ợng thanh: là những từ mô phỏng âm thanh trong tự nhiên gần giống hoặc có sự cách điệu Ta bắt gặp Hàn Mặc Tử sử dụng các từ: lao xao, lanh lảnh, rào rào,xôn xao, ra ra, ha hả, hổn hển, sột soạt, the thé…
ánh nắng lao xao trên đọt tre
Tiếng ca lanh lảnh trong v-ờn me
Tiếng ca im bặt Rồi thấp thoáng Vạt áo màu nâu hiện tr-ớc hè
(Quả d-a)
Lớp từ t-ợng hình: là những từ mô phỏng hình giáng sự vật Hàn Mặc
Tử đã sử dụng lớp từ này với tần số khá cao: phất phơ, thấp thoáng, lấm tấm,
là đà, nhấp nhánh…
Gió lùa ánh sáng vô trong bãi
Trăng ngậm đầy sông chảy láng lai Buồm trắng phất phơ nh- cuống lá
Lòng tôi bát ngát rộng bằng hai
(Cô liêu) Những từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử th-ờng bộc lộ hai cảm xúc chủ yếu: buồn và vui Tuy nhiên, những từ láy thể hiện cảm xúc buồn vẫn chiếm
-u thế: hờ hững, dãi dầu, khắc khoải, bơ vơ, thơ thẩn, não nề, thấp thỏm, s-ợng sùng, nghẹn ngào, héo hon, xác xơ, tàn tạ, rền rĩ, nức nở, thờ ơ, bối rối, băn khoăn, bải hoải, la đà, buồn buồn, s-ờng s-ợng, rầu rầu, bời bời
Những từ láy này góp phần thể hiện bức tranh tâm trạng của chính tác giả, một tâm trạng u uất vì khát khao không đ-ợc đáp lại nh- mong muốn, vì những cơn đau thể xác hành hạ
áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng
Hồn đã cấu, đã cào nhai ngấu nghiến
Trang 26Thịt da tôi s-ợng sần và tê điếng Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên
(Hồn là ai)
Nhớ thôi lòng những sầu bi
Lệ rơi vào r-ợu hàng mi lờ đờ
Ta là khách bơ vơ phàm tục Nhớ cầm trăng cung bậc tiêu tao
(Say chết đêm nay) Hàn Mặc Tử là ng-ời luôn khát khao h-ớng đến sự thanh cao, h-ớng
đến những cái vô biên và tuyệt đích bằng một niềm khát sống mãnh liệt Khát
vọng sống đó cũng đ-ợc nhà thơ thể hiện qua những câu thơ sử dụng nhiều từ láy
Anh ngâm nga để mở rộng cửa lòng Cho trăng xuân tràn trề say chới với Cho nắng h-ờng vấn v-ơng muôn ngàn sợi
Cho em buồn, trời đất ứa s-ơng khuya
(Tr-ờng t-ơng t-)
Trăng nằm sóng soải trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá gây tình không muốn động
Trang 27b Cách sử dụng:
Trong thơ Hàn Mạc Tử ta bắt gặp khá nhiều từ tình thái: à, thay, ô kìa,
ô hay, ôi, hởi… các từ tình thái bộc lộ những cảm xúc khác nhau của tác giả:
Đó là cảm giác đau đớn:
Ôi ngông cuồng! Ôi rồ dại, rồ dại
Ta đi thuyền trên mặt n-ớc lòng ta
Ôi ngông cuồng! Ôi rồ dại, rồ dại
Ta cắm thuyền chính giữa vũng hồn ta!
(Biển hồn ta) Hay cảm xúc vui s-ớng:
Ôi say s-a trên hết các tục hình
Ôi thú lạ, những phút giây thanh thoát
Lay bay lờ hát, ô buồn lạ
E buồn trong mộng có đêm nay
(Buồn ở đây)
- Cuối câu:
Tr-ờng Xuyên ơi! Tr-ờng Xuyên ơi!
Viết chẳng nên câu, nói nghẹn lời
(Nhớ Tr-ờng Xuyên)
Trang 28Ôi trời ơi! Là Phan Thiết! Phan Thiết
Tóm lái từ láy và từ tình thái là hai bộ phận tạo nên sự dào dạt về cảm xúc trong thơ Hàn Mặc Tử Cảm xúc trong thơ Hàn Mặc Tử là một sự thể hiện niềm khát khao cuộc sống của nhà thơ, cũng là một yếu tố làm nên đặc tr-ng thơ Hàn Mặc Tử
2.3 Đặc điểm sử dụng các kiểu câu
2.3.1 Đặc điểm sử dụng kiểu câu theo cấu trúc
2.3.1.1 Cấu trúc câu bình th-ờng
a Câu đơn
Kiểu câu Câu đầy đủ chủ ngữ và vị ngữ Câu đặc biệt
a1 Câu đơn đầy đủ chủ ngữ và vị ngữ
Qua bảng thống kê chúng tôi thấy câu đơn đầy đủ thành phần đ-ợc Hàn Mặc Tử sử dụng có 1024/1138 chiếm tỉ lệ 94% Điều đó cho thấy về cơ bản câu thơ Hàn Mặc Tử có cấu trúc bình th-ờng
Ví dụ: Trăng nằm sóng soãi trên càn liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
( Bẽn lẽn)
a2 Câu đơn đặc biệt
Có 63/1138 chiếm 6% Tuy không đủ thành phần nh-ng đặt trong mối quan hệ với những câu khác thì ý của những câu thơ này vẫn đ-ợc thể hiện rõ Phần lớn câu đặc biệt trong thơ Hàn Mặc Tử là câu vắng chủ ngữ
Đ-a má hồng hào cho nắng nhuộm Tình thay! Một vẻ ngọt và ngon
(Nắng t-ơi)
Tr-a hè năm ấy mua cam ngọt Nh-ng thấy cam xanh lại cáo từ
(Trái mùa)
Trang 29Tuy không t- lự nh-ng hồi hộp
Và biết làm thinh với ngọn đồi
(Nói chuyện với gái quê) Nh- vậy, Hàn Mặc Tử không có ý coi trọng đối t-ợng là chủ thể hành
động mà chủ yếu tập trung vào phản ánh hành động, trạng thái Vì thế cho nên những câu thơ của Hàn Mặc Tử có đặc điểm là luôn dồi dào sự sống với những biến thái rất tinh vi
b Câu ghép
Câu ghép th-ờng xuất hiện khá nhiều trong thơ Hàn Mặc Tử, gồm nhiều kết cấu chủ vị kết hợp theo quan hệ liệt kê (ghép chuỗi) Đó th-ờng là những câu thơ Hàn Mặc Tử dùng để miêu tả thiên nhiên và những biến thái tinh tế của thiên nhiên
Hoa c-ời, nguyệt rọi, cửa lồng g-ơng Lạ cảnh buồn thêm nỗi vấn v-ơng
(Cửa sổ đêm khuya)
H-ơng sầu, khói lạnh nằm ngơ ngác, Vách chán đêm suông đứng giải dầu
(Chùa hoang) Đối với Hàn Mặc Tử, thiên nhiên là một thế giới rộng lớn và có sự sống riêng, để phản ánh đ-ợc thế giới muôn hình muôn vẻ đó của thiên nhiên Hàn Mặc Tử đã dùng nhiều câu ghép chuỗi vì câu nó có khả năng truyền tải nhiều thông tin hơn so với câu đơn Đặc biệt ông thành công trong việc sử dụng các kiểu câu theo qui tắc kết hợp "lạ hóa" Đây chính là phần chúng tôốđi sâu phân tích
Trang 30a Câu sử dụng từ ngữ mới lạ
Câu sử dụng từ ngữ mới lạ có 234/1138 chiếm 20,6% Đây là những câu thơ thể hiện rõ thế giới tâm hồn cũng nh- sự cảm nhận tinh tế thế giới xung quanh của tác giả Những câu thơ này góp phần làm nên thế giới thơ riêng biệt của Hàn Mặc Tử
Phan Cự Đệ đã từng khẳng định Hàn Mặc Tử là một nhà cách tân ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử không chỉ mang đến cho chúng ta có những câu thơ có cách diễn đạt tinh tế nh-: Hơi nắng dịu dàng đầy nũng nịu/ Sau rào khẽ liếm cặp môi t-ơi (Nắng t-ơi), mà trong các câu thơ của mình Hàn Mặc Tử còn sử
dụng rất nhiều những từ ngữ mới lạ Các từ đó có thể do Hàn Mặc Tử sử dụng
sáng tạo trong câu thơ não cân trong bài Rớm máu, nã nớt trong bài Ngoài vũ trụ, thanh tao đến tớt trong bài Vầng trăng, bông trăng, bông thơ”trong bài
Ước ao, tơ trăng trong bài Say trăng, đó cũng có thể là những từ ngữ trong Kinh Thánh, Kinh Phật: rừng thiền, Song Lộc triều Nguyên, tông đồ, ph-ớc lộ
đ-ờng tu, ph-ợng trì, Ave Maria, Huyền vi, Miên tr-ờng… Các từ ngữ trong
kinh thánh và kinh phật này đ-ợc Hàn Mặc Tử sử dụng đầy linh hoạt, đầy biến hoá theo tinh thần của t- t-ởng và ngôn ngữ Việt Nam
Để thể hiện quan niệm về việc làm thơ Hàn Mặc Tử viết:
Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút
Mỗi hồn thơ đều dính não cân ta
Trang 31Từ não cân cũng nh- hai câu thơ trên đã thể hiện khá đầy đủ quan niệm
về việc làm thơ của Hàn Mặc Tử Đã có lần Hàn Mặc Tử đ-a ra quan niệm
t-ơng tự: Tôi làm thơ
Nghĩa là tôi yếu đuối quá! Tôi bị cám dỗ, tôi phản bội tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật Và cũng có nghĩa là tôi đã mất trí, tôi phát điên Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú Có ai ngăn cản đ-ợc tiếng lòng tôi
Trong tiếng Việt khi nói đến từ bông (danh từ chỉ loại) thì ta th-ờng chỉ
nghĩ đến bông hoa, nói đến trăng thì ta th-ờng dùng: ánh trăng, vầng trăng, mặt trăng; nói đến thơ thì: bài thơ, câu thơ, vần thơ, ý thơ Hàn Mặc Tử là một nhà thơ rất yêu thiên nhiên, rất yêu thơ cho nên thi sĩ không nói theo cách
thông th-ờng mà nói theo cách cảm nhận của mình: bông trăng nở, bông thơ
trắng ngạt ngào, bởi vì trăng và thơ cũng chính là một phần cuộc sống của nhà
thơ
Cách cảm nhận vẻ đẹp của ánh trăng của Hàn Mặc Tử cũng hết sức đặc biệt Với Hàn Mặc Tử, trăng không phải chỉ cho nhân gian mỗi một thứ là
ánh sáng vô hình khó nắm bắt mà Hàn Mặc Tử có thể “nghe”, “ngửi” v¯ thậm
chí l¯ “lượm” c° những gì thuộc về vầng trăng Trong b¯i Chơi giữa mùa trăng, Hàn Mặc Tử viết:
Trang 32Trăng là ánh sáng? Nhất là trăng giữa mùa thu, ánh sáng càng thêm kỳ
ảo, thơm thơm và nếu ng-ời thơ lắng nghe một cách ung dung sẽ nhận thấy có nhiều miếng nhạc say gió xé rách lả tả
Cách cảm nhận độc đáo đó đ-ợc thể hiện bởi những từ ngữ cũng hết sức mới lạ, độc đáo với từ “tơ trăng”:
Ta hẵng đ-a tay choàng trăng đã
sức linh hoạt, biến hóa và mang màu sắc mới Các từ ngữ: Song lộc triều nguyên, thinh sắc, thanh khí, ph-ợng trì, Đào ly, Đâu suất, Bào ảnh h- vô, cung thiềm, ba ngàn thế giới,… cùng với không gian tôn giáo chính là cơ sở để
Hàn Mặc Tử thể hiện khát vọng siêu thăng của mình Thi sĩ không chỉ say
đắm trần gian mà còn muốn cảm nhận mọi sự lạ, thi sĩ muốn bay ra ngoài vũ trụ, muốn bay bổng quá không gian, muốn v-ợt hẳn th-ợng tầng Hàn Mặc Tử
đ-a vào thơ mình những: thất tinh, thiên đàng, h- vô, h-ơng kì dị, hào quang, cõi siêu hình… để xây dựng cho mình một thế giới không có đau khổ, thế giới
của ánh sáng, của hạnh phúc Vì thế có ng-ời gọi Hàn Mặc Tử là nhà thơ siêu thoát
Trang 33Vì muôn kinh dồn dập cõi thơm tho
Thêm nghĩa lí sáng tr-ng hơn thất bảo
Ta chấp hai tay lạy quỳ hoan hảo
Ngửa trông cao, cầu nguyện trắng không gian
Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân
Nở một l-ợt giàu sang hơn th-ợng đế
Hàn Mặc Tử là một ng-ời sùng đạo, kính Chúa, thi sĩ thể hiện tình cảm của mình bằng những câu thơ với ngôn từ của một con chiên ngoan đạo:
Đây rồi! Đây rồi! Chuỗi ngọc vàng kinh
Thơ cầu nguyện là thơ quân tử ý
Tr-ợng phu lời và tông đồ triết lý
Là nguồn trăng yêu mến Nữ Đồng Trinh
Lời thơ của Hàn Mặc Tử có khi là lời cầu nguyện chân thành của một con chiên tr-ớc đức mẹ:
Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn ph-ớc
Cho tình tôi nguyên vẹn tựa trăng rằm
Trang 34các từ ngữ đó Những biến đổi của Hàn Mặc Tử làm cho tiếng Việt thêm phong phú về màu sắc Hàn Mặc Tử dùng những từ ngữ của tôn giáo để thể hiện nỗi đau trong tâm hồn mình, vì Hàn Mặc Tử là một nhà thơ, cho nên thi
sĩ quan tâm tr-ớc hết đến việc thể hiện cảm xúc của mình
Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh!
Run nh- run thần tử thấy long nhan
Run nh- run hơi thở chạm tơ vàng
Nh-ng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến
Lạy Bà là Đấng tinh truyền thánh vẹn
Giàu nhân đức, giàu muôn hộc từ bi
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơn lâm luỵ vừa trải qua d-ới thế
Nh- vậy những từ ngữ có nguồn gốc tôn giáo vừa phản ánh thế giới tâm hồn của một con chiên – Hàn Mặc Tử vừa góp phần làm phong phú màu sắc tiếng Việt Đây chính là một sự đóng góp độc đáo của Hàn Mặc Tử
Câu thơ có kết hợp lạ về ngữ nghĩa chiếm 20,6% số l-ợng các câu thơ của H¯n Mặc Tử Đây chính l¯ yếu tố cơ b°n l¯m nên sự “dị biệt” của một hồn thơ Sự dị biệt khiến một con ng-ời uyên bác say mê và có sự cảm nhận nghệ
thuật tinh tế nh- Hoài Thanh phải thốt lên rằng: Ngót một tháng trời, tôi đã
đọc thơ Hàn Mặc Tử Tôi đã theo Hàn Mặc Tử từ lối thơ Đ-ờng đến vỡ kịch Quần Tiên Hội và tôi đã mệt lã Hoài Thanh còn viết: Trời đất (trong thơ) thực của riêng Hàn Mặc Tử ta không hiểu đ-ợc và chắc cũng không bao giờ hiểu đ-ợc Nhìn chung câu thơ có kết hợp "lạ" th-ờng theo hai h-ớng biểu
hiện
a1 Những câu thơ có kết hợp lạ về ngữ nghĩa phản ánh một thế giới kỳ lạ trong thế giới riêng của mình Hàn Mặc Tử có thể giao l-u với mây, gió, trăng, sao, với chúa trời, với Thánh Nữ Đồng Trinh Thế giới đó là thế giới của máu,
Trang 35của hồn, của ma quỷ Đó cũng là thế giới của vũ trụ bao la, thế giới của tôn giáo, thế giới của âm ti địa ngục, thế giới của mộng ảo
Đọc thơ Hàn Mặc Tử, nhất là tập Đau th-ơng, ta thấy có rất nhiều câu thơ có kết hợp hết sức khác lạ Khi viết tập thơ này, Hàn Mặc Tử đã mắc bệnh nan y, những cơn đau thể xác đã tác động đến tâm trạng của chủ thể trữ tình, phá vỡ cái nguyên vẹn của cái tôi, tạo nên sự phân ly giữa hồn và xác, có khi
đó là sự đấu tranh giằng xé giữa hồn và xác Sự phân ly giữa hồn và xác thể
hiện ở những câu thơ: Hồn theo tôi nh- muốn cợt tôi chơi; Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng; tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm; ta muốn níu hồn ai
đ-ơng biểu hiện; Ta cắm thuyền chính giữa vũng hồn ta
Có thể nói, hiếm có nhà thơ nào mà trong thơ mình lại đề cập đến linh hồn nhiều đến vậy Đây chính là điều mới mẽ ta thấy ở thơ Hàn Mặc Tử Đáng lạ hơn đó là cách mà Hàn Mặc Tử đối diện với linh hồn
Linh hồn có khi là một cá thể tách biệt đầy cá tính và đầy chủ động trong mối quan hệ với chủ thể Có khi đó là sự nô đùa, giễu cợt của hồn:
Hồn là ai là ai tôi chẳng biết Hồn theo tôi nh- muốn cợt tôi chơi
(Hồn là ai)
Có khi “hồn” l¯ một ân nhân đi ban phát ân huệ:
Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng
(Hồn là ai) Cũng có khi “hồn” l¯ một kẻ t¯n bạo, tham lam:
áo tôi là một thứ ngợp hơi vàng Hồn đã cấu, đã cào, nhau ngấu nghiến!
(Hồn là ai) Cũng có khi chủ thể làm chủ đ-ợc linh hồn, để cùng th-ởng thức những
vẻ đẹp của tạo vật:
Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm
Trang 36Cho trăng ngập trăng dồn tới ngực
(Hồn là ai) Hồn có khi là sứ giả mang thông điệp tình cảm của tác giả gửi đến với xung quanh:
Ta khạc hồn ra ngoài cửa miệng Cho bay lên hí hửng với ngàn khơi
Ta muốn níu hồn ai đ-ơng biểu hiện Trong lòng và đang tắm máu sông ta
Sự xuất hiện của linh hồn trong các câu thơ trên đã làm cho các câu thơ trở nên mới lạ với ng-ời đọc, và còn khác lạ hơn là những cách diễn đạt, cách
kết hợp của tác giả: hồn theo tôi, hồn vội mớm cho tôi, hồn đã cấu đã cào, dìm hồn, khạc hồn, thả hồn, níu hồn, chụp cả hồn
Với chúng ta thì linh hồn là một đối t-ợng vô hình ảnh và không bao giờ tách biệt khỏi thể xác Còn với Hàn Mặc Tử thì sự thoát xác của linh hồn là th-ờng xuyên và linh hồn cũng trở nên có hình có khối, có đời sống riêng của
nó
Trong thơ Hàn Mặc Tử không chỉ có linh hồn mà ta còn thấy trong thế giới của ma quỷ, yêu tinh, thế giới đầy máu, đầy lệ Đó là lý do mà Hoài
Trang 37Thanh cho rằng Hàn Mặc Tử là ng-ời cai trị tr-ờng thơ loạn của các nhà thơ Bình Định
Không biết đ-ợc lúc sinh thời Hàn Mặc Tử bị ám ảnh gì về ma quỷ, yêu tinh mà trong thơ của mình thi sĩ lại đề cập một cách mạnh dạn đến vậy Những câu thơ viết về ma, yêu tinh không nhiều so với số l-ợng sáng tác của tác giả Viết về ma, yêu tinh thì th-ờng tác giả muốn biểu hiện sự cô đơn, lạnh lẽo, sự u ám, bí ẩn trong chính tâm hồn của mình:
Trời Hàn Giang đêm nay không sóng Lòng cô liêu, đồng vọng ma chi?
(Say chết đêm nay)
Hãy van lơn ở d-ới chân Bàn Thành Cho yêu ma muôn năm vùng trở dậy
(Tr-ờng t-ơng t-)
Có khi để khẳng định tài năng thơ ca của mình, Hàn Mặc Tử cũng sử
dụng hình ảnh ma, thi sĩ viết:
Ngọn bút thần khai ph-ớc lộc nhà Sáng nh- g-ơm báu lạnh nh- ma
Với câu thơ trên, Hàn Mặc Tử không chỉ khẳng định tài năng của mình
mà còn thể hiện phong cách thơ của mình một cách gián tiếp qua các cụm từ
ph-ớc lộ đ-ờng tu, lạnh nh- ma
Nhiều khi linh hồn nhà thơ siêu thoát ra Ngoài vũ trụ – thế giới mà nhà
thơ vẫn luôn khao khát v-ơn đến và nhà thơ thấy rằng đó là một thế giới đầy
ánh sáng, nhà thơ liền đ-a ra một so sánh:
Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền
Không u ám nh- cõi lòng ma quỷ
(Ngoài vũ trụ)
Các kết hợp so sánh lạnh nh- ma, không u ám nh- cõi lòng ma quỷ
Chúng ta rất hiếm khi tìm thấy trong thơ của các nhà thơ khác, chúng ta cũng hiếm khi đọc đ-ợc những câu thơ có sức ám ảnh lạ lùng nh-:
Trang 38Suối gì trong trắng vẫn đồng trinh Bóng ai theo dõi bóng mình
Và ai gánh máu đi trên tuyết
Mảnh áo da cừu ngắm nở nang
(Cuối thu)
Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Và khối lòng tôi cứng tơ si
(Những giọt lệ)
Bởi vì mê mẩn vì khoan khoái
Anh cắm lời thơ để máu trào
(L-u luyến)
Ta muốn níu hồn ai đ-ơng biểu hiện
Trong lòng và đang tắm máu sông ta
Các kiểu kết hợp máu ta tuôn ra làm biển, gánh máu, mặt nhật tan thành máu, cắn lời thơ để máu trào, tắm máu sông ta vừa phản ánh một thế giới
tâm hồn khác lạ, vừa thể hiện một kiểu t- duy mới lạ không giống bất cứ ai của Hàn Mặc Tử: Hàn Mặc Tử cho rằng, thơ cũng có đời sống riêng, thơ không chỉ phản ánh đời sống tình cảm của ng-ời làm thơ, mà khi tình cảm đó
lên đến tột độ thì lời thơ cũng trở thành một sinh thể sống động: Anh cắn lời thơ để máu trào