Đại cươngBệnh ghẻ là một trong 4 bệnh ngoài da phổ biến nhất, thuốc nhóm bệnh ngoài da do ký sinh trùng, côn trùng gây nên.. Bệnh ghẻ là một bệnh ngoài da gây ngứa, do ngứa gãi gây nhiễm
Trang 1BỆNH GHẺ
Trang 2I Đại cương
Bệnh ghẻ là một trong 4 bệnh ngoài da phổ biến nhất, thuốc nhóm bệnh ngoài da do ký sinh trùng, côn trùng gây nên.
Bệnh ghẻ là một bệnh ngoài da gây ngứa, do ngứa gãi gây nhiễm khuẩn thứ phát và có thể gặp biến chứng viêm cầu thận Nếu không được chẩn đoán và điều trị đúng đắn, bệnh kéo dài, ngứa gãi gây mất ngủ, suy nhược thần kinh, mặt khác bệnh có thể lây lan trong gia đình, tập thể có khi thành dịch đòi hỏi phải giải quyết Cũng như một số bệnh da khác, bệnh ghẻ không gây chết người nhưng ảnh hưởng tới sức khỏe, lao động, học tập và công tác.
Trang 3II Bệnh học:
1.Tác nhân gây bệnh:
Là ký sinh trùng ghẻ (Sarcoptes scabiei hominis) Bệnh do ghẻ cái gây nên là chủ yếu, ghẻ đực không gây bệnh vì chết sau khi giao hợp Cái ghẻ hình bầu dục, kích thước khoảng 1/4 mm đường kính (mắt thường có thể thấy như một điểm trắng di động), có 8 chân, 2 đôi chân trước
có ống giác, 2 đôi chân sau có lông tơ, đầu có vòi để hút thức ăn
Ghẻ cái ký sinh ở lớp sừng của thượng bì, đào hang
về ban đêm, đẻ trứng về ban ngày, mỗi ngày ghẻ cái đẻ 1-5 trứng, trứng sau 72-96 giờ nở thành ấu trùng, sau 5-6 lần lột xác (trong vòng 20-25 ngày) trở thành cái ghẻ trưởng thành, sau đó bò ra khỏi hang, giao hợp và tiếp tục đào hầm, đẻ trứng mới.
Trang 6Ghẻ sinh sôi nảy nở rất nhanh, trong điều kiện thuận lợi 1 cái ghẻ sau 3 tháng có thể có một dòng họ
150 triệu con
Ban đêm ghẻ cái bò ra khỏi hang tìm ghẻ đực, đây là lúc ngứa nhất, dễ lây truyền nhất, vì ngứa gãi làm vương vãi cái ghẻ ra quần áo, giường chiếu… Bên ngoài cơ thể trong điều kiện thuận lợi cái ghẻ có thể sống lên đến 7 ngày
Trang 82 Con đường lây truyền:
Bệnh lây truyền từ người sang người qua 2 con đường:
- Tiếp xúc trực tiếp da – da khi quan hệ tình dục nên ghẻ ngứa hiện nay cũng được xếp vào nhóm bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD).
- Gián tiếp qua dùng chung giường chiếu, quần áo, mùng mền Bệnh thường gặp ở những người sống trong môi trường chật hẹp như các khu nhà ổ chuột, nhà trẻ, bệnh viện.
Bệnh gặp ở khắp nơi trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển, ở cả hai giới và mọi lứa tuổi Bệnh có thể xuất hiện thành ổ dịch ở các đơn vị tập thể, ở các đơn vị tân bình mới nhập ngũ, vùng dân cư đông đục, nhà ở chật hẹp, thiếu vệ sinh, ở trại giam…
Trang 11- Vị trí đặc biệt: lòng bàn tay, kẽ ngón tay, ngấn cổ tay, cùi tay, bờ trước nách, quanh rốn, mông, 2 chân, đặc biệt nam giới hầu như 100% có thương tổn ở quy đầu, thân dương vật Phụ nữ còn bị ở núm vú, trẻ em còn bị ở gót chân, lòng bàn chân, ghẻ ít khi gây thương tổn ở đầu mặt.
Trang 153.2 Thương tổn thứ phát: thường do ngứa gãi gây
nên gồm:
Vết xước gãi, vết trợt, sẩn cục, sẩn huyết thanh, vảy tiết, mụn nước, mụn mủ, sẹo thâm màu, bạc màu Những thương tổn thứ phát và biến chứng nhiễm khuẩn, viêm da, chàm hóa thường che lấp thương tổn đặc hiệu gây khó khăn cho chẩn đoán
Trang 16Ngứa nhiều nhất là về đêm, lúc đi ngủ do cái ghẻ di chuyển gây kích thích đầu dây thần kinh cảm giác ở da và một phần do độc tố ghẻ cái tiết ra đào hang Ngứa gãi gây nhiễm khuẩn…
Trang 17- Ghẻ biến chứng viêm da, chàm hóa: do chà xát, cào gãi lâu ngày.
- Ghẻ nhiễm khuẩn có biến chứng viêm cầu thận cấp.
- Thể đặc biệt: Ghẻ Nauy (Norwrgian Scabies):
+ Còn gọi là ghẻ vảy, ghẻ tăng sừng là một thể đặc biệt, có thể gặp
ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, như dùng thuốc ức chế miễn dịch, nhiễm HIV/AIDS
+ Thương tổn cơ bản là các lớp vảy da, vảy tiết chồng lên nhau khu trú ở rìa ngón tay, ngón chân, cổ tay, xương cùng, da đầu, có khi lan toàn thân Cái ghẻ tìm thấy rất nhiều ở trong lớp vảy nhỏ
và khả năng lây nhiễm cao.
Trang 215 Chẩn đoán
Để bác sĩ và điều dưỡng đưa ra được chẩn đoán xác định, thì chúng ta cần đưa ra được chẩn đoán định hướng nhằm loại bỏ các trường hợp không liên quan.Chẩn đoán định hướng cho bệnh ghẻ:
- Ngứa nhiều về đêm
- Trong gia đình, tập thể có nhiều người cùng bị ngứa
- Vị trí thương tổn: xuất hiện chủ yếu ở vùng da non
Trang 225.1 Chẩn đoán xác định
Tìm thấy cái ghẻ trong thương tổn: dùng thìa nạo (Curette) nạo mụn nước ở đầu luống ghẻ hoặc nạo luống ghẻ, cho lên lam kính, nhỏ 1 giọt KOH 10%, soi kính hiển vi thấy trứng hoặc cái ghẻ
Trang 235.2 Chẩn đoán phân biệt
- Tổ đỉa: mụn nước sâu, tập trung thành cụm, không có đường
hang ghẻ, thương tổn chỉ ở lòng bàn tay, đầu ngón, mặt dưới ngón, rìa ngón bàn tay chân.
- Sẩn ngứa: rất ngứa, sẩn huyết thanh rải rác
- Viêm da dị ứng: do cây cỏ, lá ngứa, do nước suối, do hóa
chất… Chẩn đoán dựa vào dấu không có mụn nước ở lòng bàn tay, kẽ tay, qui đầu… Không có tính chất dịch tễ lây lan người này sang người khác.
- Hắc lào: nấm nông ở da, các mụn nước tập trung hình vòng
cung, xét nghiệm có thấy nấm
- Giang mai: vết trợt nông, ở hậu môn sinh dục.
- Chí rận: ngứa ở lưng, sau gáy, thương tổn cào gãi nhiều hơn
- Rận mu: chỉ có ở vùng mu
Trang 316 Tiến triển và biến chứng
Trang 34Tiêu chuẩn điều trị lại:
- Ngứa trên 2 tuần dù không có thương tổn mới về mặt lâm sàng.
- Nổi sang thương mới.
- Điều trị không đúng phương pháp.
7.2 Phác đồ điều trị
7.2.1 Ghẻ đơn giản: có thể bôi một trong các thuốc sau
- Dung dịch DEP (Diethyl phthalate)
- Mỡ lưu huỳnh 10% cho trẻ em, 30% cho người lớn.
- Lindan 1% (Cream và dung dịch), dầu Benzyl benzoate 25%.
- Eurax (Crotamiton), Ascabs (Permethrin 5%).
- Kết hợp tắm xà phòng Sastid, Betsomol.
Trang 35Tên thuốc Cách dùng
Benzoate de benzyle (Ascabiol) -Thoa buổi tối, sau khi tắm, từ da đầu đến chân (trừ mặt)
+>2 tuổi: giữ thuốc 24 giờ +<2 tuổi và phụ nữ mang thai: giữ thuốc 12 giờ +Trẻ bú mẹ: hòa loãng 50% và giữ thuốc 12 giờ -Lập lại sau 15 ngày
Pyrethrinoides
(Spregal dạng phun sương)
- Xịt trước khi đi ngủ, giữ thuốc trong 12 giờ
Trang 367.2.2 Ghẻ viêm da, bội nhiễm, chàm hóa:
- Điều trị viêm da, bội nhiễm, chàm hóa trước sau khi
đó mới bôi các thuốc ghẻ
- Thường kết hợp các thuốc uống toàn thân như: Kháng sinh, kháng Histamin, vitamin B1, C
- Thuốc bôi chống bội nhiễm, viêm da: Oxy kẽm, mỡ kháng sinh, dung dịch Milian, tím Methyl 1% nếu có bội nhiễm
Trang 37Ivermectin liều 200µg/kg cân nặng, liều duy nhất Chỉ định trong những trường hợp ghẻ kháng trị với các thuốc điều trị cổ điển, ghẻ Na
Uy, ghẻ ở người nhiễm HIV Chống chỉ định cho trẻ dưới 5 tuổi, phụ nữ có thai.
Trang 388 Dự phòng bệnh ghẻ:
8.1 Cách phòng bệnh:
Cần vệ sinh cá nhân hằng ngày với xà phòng nhất
là ở kẽ tay và các nếp Khi có người ở gia đình hay cơ quan bị ngứa, nhất là ban đêm phải kiểm tra vị trí chọn lọc của ghẻ Tránh tiếp xúc với người bị ghẻ (bắt tay, dùng
đồ chung, giặt, phơi chung đồ) Nếu mình bị ghẻ, cần tránh tiếp xúc với người xung quanh, dùng đồ đạc riêng, ngủ riêng và đi khám ngay để được điều trị sớm tránh biến chứng và tránh lây cho cộng đồng Nếu có biến chứng cần phải chữa chuyên khoa Hết biến chứng mới điều trị ghẻ như trên
Trang 39- Điều trị cả người xung quanh có ngứa.