1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của các cấp hội phụ nữ trong hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững

134 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài đã hệ thống hóa và phân tích một số vấn đề lý luận cơ bản về sự hình thành và phát triển của Hội LHPN; khái quát vị trí, vai trò của Hội LHPN trong hệ thống chính trị Việt

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

THÂN THỊ THU HÀ

VAI TRÒ CỦA CÁC CẤP HỘI PHỤ NỮ TRONG

HỖ TRỢ PHỤ NỮ NÔNG THÔN PHÁT TRIỂN KINH TẾ,

GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG (Qua nghiên cứu, khảo sát tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

THÂN THỊ THU HÀ

VAI TRÒ CỦA CÁC CẤP HỘI PHỤ NỮ TRONG

HỖ TRỢ PHỤ NỮ NÔNG THÔN PHÁT TRIỂN KINH TẾ,

GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG (Qua nghiên cứu, khảo sát tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang)

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số: 8.31.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VŨ HÀO QUANG

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Chủ tịch Hội đồng

TS Lưu Hồng Minh

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu khoa học của cá nhân dưới sự

hướng dẫn của PGS.TS Vũ Hào Quang Các nhận định nêu ra trong luận văn

là kết quả nghiên cứu nghiêm túc, độc lập của bản thân trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu khoa học đã được công bố và qua khảo sát thực tế tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Các số liệu nêu ra trong luận văn là hoàn toàn chính xác, có nguồn gốc rõ ràng Luận văn đảm bảo tính khách quan, trung thực

và khoa học

Học viên

Thân Thị Thu Hà

Trang 5

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Vũ Hào Quang, người đã trực tiếp chỉ bảo tận tình, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Xã hội học của Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã giúp đỡ, dạy bảo, động viên và trao đổi ý kiến khoa học quý báu trong suốt thời gian học tập để tôi có thể hoàn thành Luận văn này

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, các đồng chí, đồng nghiệp trong cơ quan đã luôn ủng hộ và giúp đỡ để tôi thực hiện tốt Luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Thân Thị Thu Hà

Trang 6

Chữ viết tắt Nghĩa Tiếng Việt

UBND Ủy ban nhân dân

LĐTB & XH Lao động thương binh và xã hội

KT - XH Kinh tế - xã hội

CN - TTCN Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp GPMB Giải phóng mặt bằng

VSMT Vệ sinh môi trường

VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm

KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình

HĐQT Hội đồng quản trị

NHCSXH Ngân hàng chính sách xã hội

XKLĐ Xuât khẩu lao động

KHKT Khoa học kỹ thuật

ANTT An ninh trật tự

THCS Trung học cơ sở

THPT Trung học phổ thông

TBLS Thương binh liệt sỹ

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

Trang 7

Bảng 3.1: Thực trạng hộ nghèo và hộ phụ nữ chủ hộ tại huyện Hiệp Hòa 66Bảng 3.2: Tỷ lệ lao động nữ nông thôn nghèo được đào tạo nghề hàng năm

tại huyện Hiệp Hòa 79Bảng 3.3: Tỷ lệ tham gia các hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế, giảm nghèo

do Hội phụ nữ chủ trì 100Bảng 3.4: Đánh giá hiệu quả các hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế,

giảm nghèo 101Bảng 3.5: Đánh giá hiệu quả các hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế, giảm nghèo mà

hộ phụ nữ nông thôn nghèo được thụ hưởng tại huyện Hiệp Hòa 102Bảng 3.6: Đánh giá hiệu quả tinh thần, thái độ của cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ 102Bảng 3.7: Đánh giá mức độ tin tưởng vào các hoạt động hỗ trợ phát triển kinh

tế, giảm nghèo tại huyện Hiệp Hòa 103

Trang 8

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ tai huyện Hiệp Hòa (%) 67Biểu đồ 3.2: Tình trạng hôn nhân của phụ nữ nghèo tại huyện Hiệp Hòa (%) 68Biểu đồ 3.3: Lực lượng lao động trong các hộ phụ nữ nghèo tại huyện Hiệp Hòa (%) 69Biểu đồ 3.4: Trình độ học vấn trong các hộ phụ nữ nghèo tại huyện Hiệp Hòa (%) 70Biểu đồ 3.5: Nghề nghiệp chính của gia đình phụ nữ nghèo tại huyện

Hiệp Hòa (%) 70Biểu đồ 3.7: Đánh giá về vai trò trong hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế,

giảm nghèo của các tổ chức tại huyện Hiệp Hòa (%) 98Biểu đồ 3.8: Hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế, giảm nghèo do Hội phụ nữ

chủ trì 99

Trang 9

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VÂN ĐỀ CƠ BẢN ĐỂ ĐÁNH GIÁ VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC CẤP HỘI PHỤ NỮ TRONG HỖ TRỢ PHỤ NỮ NÔNG THÔN PHÁT TRIỂN KINH TẾ, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 18

1.1 Một số khái niệm làm việc 18

1.2 Một số lý thuyết sử dụng trong luận văn 29

1.3 Một số đặc điểm về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 35

Chương 2: THỰC TRẠNG NGHÈO VÀ CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO, XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG 47

2.1 Thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo ở huyện Hiệp Hòa 47

2.2 Kết quả thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2017 56

Chương 3: VAI TRÒ CỦA CÁC CẤP HỘI PHỤ NỮ TRONG HỖ TRỢ PHỤ NỮ NÔNG THÔN PHÁT TRIỂN KINH TẾ, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG (2011 - 2017) 64

3.1 Vài nét về tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Hiệp Hòa 64

3.2 Thực trạng phụ nữ nông thôn nghèo tại huyện Hiệp Hòa 66

3.3 Vai trò của các cấp Hội phụ nữ huyện Hiệp Hòa trong hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững 75

3.4 Đánh giá về sự tham gia của các cấp Hội phụ nữ trong hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững tại huyện Hiệp Hòa 97

3.5 Những đề xuất và khuyến nghị về hoạt động mới mà Hội Liên hiện phụ nữ các cấp cần triển khai để hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững 104

KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

PHỤ LỤC 121

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá phụ nữ Việt Nam qua bức thư gửi phụ nữ nhân kỷ niệm ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 và khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 1952 "Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ, trẻ cũng như già,

ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ" Tại bài nói chuyện của Người nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam (20/10/1966): "Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam - Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế

hệ anh hùng của nước ta"

Những tổng kết mang tính lịch sử, đồng thời mang tính dự báo của Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã xuất phát từ quan điểm, nhìn nhận vị trí, vai trò của người phụ nữ như một giá trị Và cũng chỉ từ khi có Đảng Cộng sản do Hồ Chủ tịch lãnh đạo, phụ nữ Việt Nam mới thực sự thoát khỏi hệ tư tưởng phong kiến để lớp lớp phụ

nữ Việt Nam nối gót các bậc tiền nhân để phát huy tiềm năng và phát triển

Trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước hiện nay, với tỷ lệ chiếm hơn 50% dân số và hơn 48% lực lượng lao động xã hội, phụ nữ Việt Nam có mặt trong mọi lĩnh vực, trên mọi địa bàn, chủ động tham gia các hoạt động của đời sống xã hội, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, đạt nhiều thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Người phụ nữ Việt Nam đã phát huy tốt vai trò người vợ, người mẹ, người thầy đầu tiên, là điểm tựa tinh thần vững chắc, gắn kết các thành viên trong gia đình, cùng chăm lo xây dựng gia đình hạnh phúc Tỷ lệ nữ tham gia công tác lãnh đạo, quản lý trong hệ thốg chính trị ngày càng tăng Những nhiệm kỳ Đại hội Đảng gần đây luôn có cán bộ

nữ là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng và nhiều Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Thứ trưởng; tỷ lệ nữ trong Quốc hội chiếm gần 27% Trong lĩnh vực kinh tế, lao động nữ tham gia nhiều ngành nghề mới mà trước

Trang 11

đây chỉ dành cho nam giới; trong khoa học, công nghệ phụ nữ tham gia gần 40%

và tỷ lệ các nhà khoa học nữ đạt hơn 6% Đặc biệt, trong giáo dục, đào tạo và y

tế, cán bộ nữ chiếm tỷ lệ lớn, nhiều người có trình độ cao Sự trưởng thành của phong trào phụ nữ, những đóng góp xứng đáng của các cấp hội phụ nữ đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua, đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận, trao tặng nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý Nhiều tập thể, cá nhân nữ được tặng Huân chương Độc lập và Huân chương Lao động các hạng; hàng ngàn chị em được phong tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn quốc, nhà giáo, thầy thuốc ưu tú; nhà giáo, thầy thuốc nhân dân; nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân Nhiều tấm gương thầm lặng làm nhiều việc tốt, việc thiện đã tô đẹp thêm hình ảnh cao quý của phụ

nữ Việt Nam

Trên địa bàn huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang hiện nay, phong trào phụ

nữ tiếp tục có bước phát triển, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển tại địa phương Các cấp Hội phụ nữ tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ và sự nghiệp bình đẳng giới; thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ; là cầu nối giữa Đảng với hội viên, phụ nữ, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh Phong trào thi đua Cả nước chung tay xây dựng Nông thôn mới được các cấp Hội phụ nữ huyện gắn với phong trào thi đua "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc" và hai cuộc vận động "Rèn luyện phẩm chất đạo đức: Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang",

"Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch" gắn với Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và được thực hiện đồng bộ, toàn diện, mang lại lợi ích thiết thực cho bản thân phụ nữ, gia đình và cộng đồng, góp phần xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh Nội dung, phương thức hoạt động của Hội

có đổi mới, có nhiều giải pháp mở rộng tính liên hiệp, thu hút, vận động các tầng lớp phụ nữ, phối hợp với các cấp, các ngành và toàn xã hội góp phần giải quyết

Trang 12

nhiều vấn đề của phụ nữ, gia đình, vì sự tiến bộ của phụ nữ Tổ chức Hội được củng cố và phát triển, đa dạng hóa các hình thức tập hợp, thu hút phụ nữ tham gia tổ chức Hội

Tuy nhiên, trước thực trạng hiện nay là phong trào phụ nữ và hoạt động của một số cơ sở Hội vẫn còn bộc lộ những hạn chế Đó là phong trào phát triển chưa đồng đều giữa các vùng, miền; giữa thành thị với nông thôn; chưa khơi dậy mạnh mẽ tiềm năng, sức sáng tạo của các tầng lớp phụ nữ Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội chưa toàn diện, vẫn còn một bộ phận cán bộ làm việc theo kiểu hành chính, chưa sâu sát cơ sở để nắm bắt tâm

tư, nguyện vọng của hội viên; các hình thức tập hợp phụ nữ chưa đa dạng, chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình Các giải pháp hỗ trợ phụ nữ giảm nghèo, phát triển kinh tế bền vững còn thiếu đồng bộ Công tác giám sát, phản biện

xã hội, tham mưu đề xuất chính sách có lúc, có nơi còn bị xem nhẹ nên chưa phát huy được tác dụng và hiệu quả thực chất Công tác phát hiện, xây dựng

và biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời, chưa tạo được sự lan tỏa trong các tầng lớp phụ nữ Nhận thức, trình độ, năng lực của một bộ phận phụ nữ còn hạn chế Nhiều chị em chưa nhận thức đầy đủ những giá trị truyền thống, phẩm chất tốt đẹp của phụ

nữ Việt Nam, trong khi công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục pháp luật, đạo đức, lối sống của Hội còn chậm đổi mới, nhất là trong bối cảnh tình hình đất nước có nhiều thay đổi và nhu cầu của phụ nữ ngày càng đa dạng Vai trò của các cấp Hội trong việc định hướng và triển khai thực thi các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cho phụ nữ còn chưa rõ nét, hiệu quả nhất là đối với các đối tượng phụ nữ ở nông thôn

Bước vào thời kỳ mới, cùng với phong trào thi đua "Cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới", để phát huy tối đa vai trò, nhiệm vụ của các cấp Hội phụ nữ trong việc đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,

pháp luật của Nhà nước vào trong cuộc sống Tôi đã lựa chọn đề tài "Vai trò

Trang 13

của các cấp Hội phụ nữ trong hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững (Khảo sát tại địa bàn huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang)

làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo Thạc sĩ

2 Tổng quan tài liệu

Trong những năm qua, vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nước ta đã dành được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận văn, luận án đề cập đến vấn đề xóa đói, giảm nghèo, liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận văn có thể kể đến một số công trình sau

2.1 Tổng quan tài liệu nước ngoài

Một số công trình nghiên cứu điển hình ở nước ngoài về các vấn đề nghèo đói liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận văn là:

Hafiz A Pasha & T Palanivel (2004), “Chính sách và tăng trưởng vì người nghèo - Kinh nghiệm châu Á”, cho rằng: Việc theo đuổi tăng trưởng phải đi kèm với nỗ lực đạt được tăng trưởng vì người nghèo thông qua việc tái phân bổ tài sản và thu nhập trong nền kinh tế và điều này có ý nghĩa lớn trong xác định bản chất của chiến lược chống đói nghèo Thực tế đã cho thấy, một số quốc gia có tốc độ giảm nghèo hạn chế trong khi thành tích tăng trưởng kinh tế đầy ấn tượng, còn một số khác lại có tốc độ giảm nghèo cao trong khi tăng trưởng kinh tế là tương đối thấp

Katsushi S Imai, Raghav Gaiha, Ganesh Thapa (2012), “Microfinance and Poverty - A Macro Perspective”, nhận định rằng: Một đất nước với số lượng tổ chức tài chính vi mô nhiều hơn, tổng danh mục cho vay bình quân đầu người cao hơn có xu hướng đạt được việc giảm nghèo đói khả quan hơn Theo các tác giả, tài chính vi mô làm giảm đáng kể tỷ lệ nghèo ở cấp độ vĩ

mô Các nền kinh tế toàn cầu chững lại cũng đã dấy lên lo ngại nghiêm trọng về khả năng miễn dịch của lĩnh vực tài chính vi mô và tiềm năng của nó đối với xoá đói giảm nghèo

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu điển hình ở nước ngoài về các vấn đề nghèo đói gắn với vấn đề giới và vai trò của phụ nữ liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận văn là:

Trang 14

Amy Y.C.Liu (2007), “Sectoral gender wage gap in Vietnam” nghiên cứu các nhân tố tác động bất bình đẳng giới về thu nhập theo khu vực ở Việt Nam dựa trên phương pháp tiếp cận của Appleton (1999) và sử dụng số liệu VLSS năm 1992-1993 và 1997-1998 Nghiên cứu chỉ ra vai trò nhân lực nữ trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay Bên cạnh những tác động tích cực thì người phụ nữ cũng phải đối mặt với những áp lực công việc trong gia đình và xã hội, những bất bình đẳng có tính truyền thống đang tồn tại ở nhiều gia đình, nhiều vùng miền trên phạm vi cả nước

Deborah Chatsis (2011), “Chính sách công và sự trao quyền cho phụ nữ: Bài học từ Canada”, Hội thảo quốc tế: “Nâng cao năng lực cho phụ nữ

và phát triển nguồn nhân lực nữ - cách tiếp cận và bài học từ thế giới” Tác giả phân tích những thành tựu chủ yếu trong việc bảo đảm sự đại diện đầy đủ và bình đẳng của phụ nữ trong các cấp chính quyền ở Canada, nhất là sự đóng góp ngày càng nhiều của phụ nữ vào khu vực nhà nước Theo phân tích của tác giả thì thành tựu này có được là nhờ vào nhiều cách thức, trong

đó bao gồm có hiến pháp, luật, các chương trình và chính sách tập trung thúc đẩy sự bình đẳng Bài viết đã nêu ra một số bài học kinh nghiệm từ thực tế của Canada trong các nỗ lực thúc đẩy trao quyền cho phụ nữ như: (1) cần phải có khuôn khổ hiến pháp và luật pháp để đảm bảo các quyền của phụ nữ; (2) các cơ quan chính quyền có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quyền bình đẳng ở nơi làm việc; (3) các biện pháp hỗ trợ phụ nữ thông qua các mạng lưới chính thức và phi chính thức, các tổ chức tư vấn hay các chương trình đào tạo

Shanks, Edwin và Carrie Turk, 2002, "Policy Recommendations from the Poor", tổng hợp các kết quả điều tra, báo cáo khoa học chuẩn bị cho nhóm hành động chống nghèo đói, đưa ra các khuyến nghị, chính sách ban đầu cho việc xây dựng Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (CPRGS) của Việt Nam

Trang 15

2.2 Tổng quan tài liệu trong nước

Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác xóa đói, giảm nghèo nói chung và đề ra các cơ chế, chính sách cũng như tổ chức thực hiện các chính sách giảm nghèo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu trong luận văn, trong đó tiêu biểu là:

Lê Thị Nghệ (1995), "Những giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của hộ nông dân nghèo vùng đồng bằng sông Hồng", luận án Tiến sĩ bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội; đã góp phần đưa ra những giải pháp giảm nghèo mang tính vùng, miền đầu tiên ở nước ta

Vũ Thị Biểu (1996), "Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động để góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam", Luận án tiến sĩ bảo vệ tại Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội; đã đưa ra những đề xuất giảm nghèo thông qua việc nâng cao hiệu quả sử dụng lao động

Lê Xuân Bá (2001), “Nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam”

đã phản ánh tổng quan về nghèo đói trên thế giới; đưa ra các phương pháp đánh giá về nghèo đói hiện nay, nghèo đói ở Việt Nam và nghiên cứu thực tiễn về nghèo đói ở tỉnh Quảng Bình; qua đó đưa ra một số quan điểm, giải pháp chung về xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam

Nguyễn Trung Tăng (2002), "Tín dụng cho người nghèo các quỹ xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay", luận án tiến sĩ bảo vệ tại Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; đã đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn tín dụng cho nông dân nghèo

Nguyễn Thắng, Nguyễn Thị Thu Phương, Trần Ngô Minh Tâm (2011),

“Giảm nghèo ở Việt Nam: thành tựu và thách thức”, Viện Khoa học xã hội Các tác giả đã trình bày về những xu hướng gần đây trong công cuộc giảm nghèo ở Việt Nam và tình hình giảm nghèo trong bối cảnh kinh tế mới trong giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập WTO; đồng thời chỉ ra những thách thức cần giải quyết ở phía trước

Trang 16

PGS.TS Lê Quốc Lý (2012), “Chính sách xóa đói, giảm nghèo: Thực trạng và giải pháp” Tác giả đã đánh giá một cách tổng quan về thực trạng đói nghèo ở Việt Nam; chủ trương, đường lối của Đảng và các chính sách của Nhà nước ta về xóa đói, giảm nghèo; các chương trình xóa đói, giảm nghèo điển hình; đánh giá tổng quát việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010; nêu ra những định hướng, mục tiêu xóa đói, giảm nghèo cùng những cơ chế, giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam thời gian tới

Quang Huy (2014), “Những điều cần biết để xóa đói, giảm nghèo bền vững” Tác giả đã trình bày những chính sách của Đảng, Nhà nước với những nhiệm vụ chủ yếu, cấp bách để xóa đói, giảm nghèo, kỹ năng tổ chức lao động sản xuất, tiếp cận nguồn lực

Nguyễn Thị Vân (2014), “Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh” Trên cơ sở đánh giá tình trạng nghèo ở xã Quế Tân với cách tiếp cận đa chiều, tác giả đã so sánh nghèo đơn chiều với nghèo đa chiều Từ đó, phân tích, phân loại đối tượng và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững ở xã Quế Tân, huyện Quế Võ Tuy nhiên, ở nghiên cứu này, tác giả chỉ nghiên cứu trên phạm vi một xã và chưa đề cập đến nhóm đối tượng hộ nghèo có phụ nữ

Đối với vấn đề nghèo đói gắn với vấn đề giới và vai trò của phụ nữ, nhiều công trình nghiên cứu điển hình ở trong nước đã đề cập, trong đó liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận văn có một số công trình điển hình sau:

Hoàng Bá Thịnh (2001), "Vai trò của người phụ nữ trong công nghiệp hoá nông thôn" đã đề cập tới vai trò của người phụ nữ nông thôn trong lịch sử

và trong thời kỳ đổi mới, qua đó đề xuất một vài giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ và tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ nông thôn phát huy được những tiềm năng để họ có thể đảm nhận tốt vai trò trong

Trang 17

quá trình CNH nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên, trong đề tài này tác giả chưa đề cập đến phát triển nguồn nhân lực nữ nhằm tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam

Nghiên cứu của Đặng Thị Ánh Tuyết (2002), “Vai trò kinh tế của người phụ nữ trong gia đình nông thôn Việt Nam hiện nay” trên Tạp chí Lý luận chính trị, tập trung nhận diện và phân tích vai trò kinh tế của phụ nữ trong gia đình nông thôn qua phân công lao động nam - nữ trong hoạt động kinh tế hộ gia đình, vai trò của phụ nữ trong việc tạo thu nhập và quản lý chi tiêu, vấn đề nâng cao trình độ chuyên môn và hiểu biết xã hội của phụ nữ nông thôn Tác giả chỉ ra những yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến quá trình thực hiện vai trò kinh tế của họ, từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao địa vị người phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới, phát triển nông thôn

Hà Thị Thu Hòa (2008) về “Hoạt động giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo ngoại thành Hà Nội” (nghiên cứu trường hợp hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội) Nghiên cứu thực trạng nghèo đói của các hộ gia đình tại hai xã Xuân Phương và Cổ Nhuế Làm rõ hoạt động của các đoàn thể trong

xã đối với công tác xóa đói giảm nghèo, cụ thể là vay vốn cho phụ nữ nghèo sản xuất kinh doanh; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng chuyên canh, sản xuất hàng hóa; hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho phụ nữ nghèo Nêu bật vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ trong công tác xóa đói giảm nghèo, nâng cao vị thế, vai trò của người phụ nữ Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội trong hoạt động xóa đói giảm nghèo tại Xuân Phương và Cổ Nhuế thời gian tới

Chu Thị Thoa (2002), Bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay Trên cơ sở phân tích những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong gia đình nông thôn Đồng bằng sông Hồng, tác giả đã chỉ ra những thành tựu cũng như hạn chế của việc thực hiện bình đẳng giới

Trang 18

trong gia đình ở địa bàn nghiên cứu trong công cuộc đổi mới; đồng thời, đề xuất phương hướng cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm từng bước xóa bỏ bất bình đẳng giới trong gia đình nông thôn Đồng bằng sông Hồng hiện nay

Đinh Thị Hà (2009); Báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu khoa học cấp

cơ sở về “Sự tham gia của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong đời sống chính trị - xã hội” Đề tài đã hệ thống hóa và phân tích một số vấn đề lý luận

cơ bản về sự hình thành và phát triển của Hội LHPN; khái quát vị trí, vai trò của Hội LHPN trong hệ thống chính trị Việt Nam; phân tích, đánh giá thực trạng tham gia của Hội LHPN trên các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là thực tiễn tham gia hoạt động chính trị: hoạt động của các hội viên trong

bộ máy Đảng và chính quyền các cấp, việc thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội; những khó khăn và thuận lợi khi tham gia hoạt động chính trị - xã hội của Hội LHPN, những mặt mạnh cần phát huy và những hạn chế cần khắc phục Từ đó, tác giả đã nêu ra một số phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả tham gia đời sống chính trị - xã hội của Hội LHPN trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay

Đỗ Thanh Hương (2012), “Tập bài giảng hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế” Tác giả đã giới thiệu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, các nội dung hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong các hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo

Ngoài ra, có một số luận văn, luận án viết về vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ như:

Trần Phan Như Ý (2007), “Vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang triển khai thực hiện chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế từ năm 2001 đến 2006” Đề tài nghiên cứu thực trạng vai trò Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang trong triển khai thực hiện chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Chợ Mới

Trang 19

Nguyễn Thị Thanh Huyền (2009), “Tìm hiểu tình hình hoạt động của Hội phụ nữ huyện trong phát triển kinh tế xã hội nông thôn huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình” Thông qua việc tìm hiểu tình hình hoạt động của Hội phụ nữ huyện trong phát triển kinh tế xã hội nông thôn, từ đó đưa ra những phương hướng và một số giải pháp để Hội phụ nữ phát huy việc thực hiện nhiệm vụ của Hội trong việc phát triển kinh tế xã hội nông thôn của huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình

Vũ Thị Hà (2010), “Phát huy vai trò Hội phụ nữ tỉnh đối với công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình ở tỉnh Hải Dương hiện nay” Luận văn tập trung phân tích nguyên nhân hạn chế của Hội phụ nữ tỉnh Hải Dương trong công tác dân số & kế hoạch hóa gia đình, từ đó đặt ra những giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội phụ nữ tỉnh Hải Dương đối với công tác dân số & kế hoạch hóa gia đình, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đất nước và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Lê Thị Phượng (2017), "Vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ trong hỗ trợ phụ nữ giảm nghèo" (Nghiên cứu tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) Đề tài này nghiên cứu quá trình thực hiện nhiệm vụ “Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế” và các hoạt động hỗ trợ giảm nghèo của Hội LHPN, thông qua đó

đã giúp cho hội viên trở lên tích cực, năng động, từng bước nâng cao vai trò trong gia đình và ngoài xã hội, góp phần đáng kể vào chương trình giảm nghèo của địa phương

Trên cơ sở kế thừa một số kết quả các công trình nghiên cứu trên, vận dụng cơ sở lý luận và căn cứ điều kiện thực tiễn cho thấy luận văn nghiên cứu về hỗ trợ phụ nữ sống ở vùng nông thôn thoát nghèo là rất cần thiết Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ về vai trò của Hội LHPN trong hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang cũng như tại các địa phương khác trên cả nước

Trang 20

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ vai trò của Hội phụ nữ tại địa phương trong việc định hướng, tổ chức và triển khai, thực thi các chính sách xã hội nhằm hỗ trợ phụ nữ tại nông thôn phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững và các nhiệm vụ chính trị của địa phương Từ đó, đưa ra những kết luận, kiến nghị, giải pháp nhằm đánh giá đúng và nâng cao vị trí, vai trò của tổ chức Hội trong hệ thống chính trị - xã hội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Dựa trên mục đích nghiên cứu trên, đề tài tiến hành thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Hội phụ nữ các cấp trong hệ thống chính trị - xã hội trong giai đoạn hiện nay

- Tìm hiểu thực trạng việc triển khai các chính sách xã hội về hỗ trợ giảm nghèo cho phụ nữ nông thôn hiện nay tại địa phương

- Tìm hiểu về vai trò của các cấp Hội trong việc triển khai, thực hiện các chính sách xã hội về phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới cho phụ nữ nông thôn tại địa phương

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến việc triển khai, thực thi các chính sách hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, từ đó đưa ra được những kết luận, kiến nghị, giải pháp nhằm khuyến khích các cấp Hội tăng cường vai trò của mình trong việc định hướng, triển khai các chính sách xã hội cho phụ nữ nông thôn, nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội phụ nữ các cấp; Đại hội Đảng các cấp đã đề ra

3 3 Câu hỏi nghiên cứu:

• Các cấp hội phụ nữ có vai trò như thế nào trong hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững?

Trang 21

• Việc triển khai, thực hiện chính sách giảm nghèo thông qua tổ chức Hội đạt hiệu quả so với các tổ chức chính trị xã hội khác như thế nào?

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Vai trò của các cấp Hội phụ nữ trong hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang hiện nay

- Phạm vi thời gian: Từ năm 2011 đến 2017 (từ khi bắt đầu triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đến nay)

- Những vấn đề nghiên cứu: Do sự hạn chế về điều kiện vật chất và thời gian, Học viên chỉ tập chung vào ba vấn đề chính của vai trò Hội phụ nữ các cấp huyện, xã sau: (1) Hỗ trợ nâng cao kiến thức cho phụ nữ;(2) Hỗ trợ sản xuất; (3) Hỗ trợ vật chất

5 Giả thuyết nghiên cứu

• Các cấp hội phụ nữ có vai trò quan trọng trong hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững

• Hội phụ nữ có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, vận động hội viên phụ

nữ thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

• Việc triển khai, thực hiện các chính sách xã hội thông qua tổ chức Hội phát huy được hiệu quả cao hơn so với các biện pháp triển khai khác

Trang 22

Các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng

và Nhà nước

Hoạt động của Hội Phụ nữ

Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo bền

vững tại địa phương

- Đánh giá về các hoạt động hỗ trợ giúp đỡ

hộ nghèo của các cấp Hội phụ nữ

Trang 23

Ngoài ra đề tài nghiên cứu còn dựa trên các lý thuyết xã hội học: Thuyết hệ thống xã hội của T Parsons; Thuyết cấu trúc - chức năng của R Merton làm cơ sở lý luận để tìm luận cứ khoa học chứng minh cho các giả thuyết nghiên cứu của đề tài luận văn

7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu xã hội học khác nhau để phân tích, cụ thể đề tài sử dụng một số phương pháp sau:

7.2.1 Phân tích tài liệu thứ cấp

- Phân tích các tài liệu có sẵn về vai trò, chức năng của các cấp Hội phụ

nữ trong hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững (Sử dụng các báo cáo hằng năm của Hội phụ nữ, UBND huyện Huyện Hiệp

Hòa) ( Đây là phương pháp chính được sử dụng trong việc thu thập thông tin phục vụ cho vấn đề nghiên cứu của đề tài)

- Phân tích các chương trình, dự án, đề tài liên quan đến công tác xóa đói, giảm nghèo nhằm xây dựng cơ sở lý luận, khung nghiên cứu, góp phần

bổ sung làm rõ những nội dung nghiên cứu của luận văn

- Phân tích các báo cáo của chính quyền huyện/ xã và các cơ quan liên quan tại địa bàn nghiên cứu từ năm 2011 - 2017 để làm rõ các luận điểm của nghiên cứu

7.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Anket (Sử dụng bộ số liệu

nghiên cứu về thực trạng hộ gia đình phụ nữ nông thôn nghèo để làm rõ Vai trò của Hội phụ nữ trong hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế, giảm

nghèo bền vững

- Phương pháp chọn mẫu

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản tại 4 xã: Hoàng Lương, Đức Thắng, Thường Thắng, Đông Lỗ Đây là 4 đơn vị đại diện cho 4 cụm trong huyện, trong đó có cả đơn vị đã về đích nông thôn mới (Hoàng Lương), có đơn vị chuẩn bị về đích (Đông Lỗ, Thường Thắng) và

Trang 24

có đơn vị chưa về đích ( Đức Thắng - có số tiêu chí đạt nông thôn mới mới còn thấp)

Tiêu chí chọn mẫu là hộ gia đình phụ nữ trong diện nghèo Việc chọn mẫu được lựa chọn trên căn cứ danh sách các hộ gia đình do Ủy ban nhân dân

xã cung cấp

Xác định cỡ mẫu: Do sự hạn chế về mặt thời gian, kinh phí thực hiện, nhân lực hiện có, địa bàn nghiên cứu cho nên luận văn dùng phương pháp ước lượng cỡ mẫu, tức là xác định một dung lượng mẫu đủ lớn để có thể khảo sát hiệu quả mang tính đại diện cho địa bàn nghiên cứu Các gia đình có phụ nữ nghèo này phải đang sinh sống tại địa bàn trong thời gian khảo sát

Cách thức chọn mẫu được tiến hành theo các bước như sau:

Bước 1: Do trên địa bàn 4 xã nghiên cứu (huyện Hiệp Hòa) có tổng số

47 thôn, nên số mẫu sẽ được chọn ngẫu nhiên: mỗi xã chọn ra 03 thôn; mỗi thôn chọn ra 10 hộ gia đình Tổng số mẫu khảo sát là 120 hộ gia đình

Ngoài ra có tham khảo thêm số liệu khảo sát 100 hộ gia đình tại 3 thôn về thực trạng xây dựng nông thôn mới tại xã Hoàng Lương, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang qua đợt thực tế của lớp Cao học K22.2 Xã hội học, tháng 9/2017)

Bước 2: Dựa vào danh sách do UBND xã cung cấp, chọn ra các hộ gia

đình đủ tiêu chí theo số lượng đã định dựa trên kết quả bình xét hộ nghèo hàng năm của địa phương

+ Căn cứ vào mức sống của hộ gia đình theo đánh giá của Trưởng thôn và cán bộ phụ nữ

Chọn mẫu qua sự giới thiệu của cán bộ địa phương từ hộ nghèo, hộ tái nghèo và hộ thoát nghèo giai đoạn (2011 - 2017)

- Phương pháp nghiên cứu định tính

Phỏng vấn sâu: nhằm bổ sung những thông tin còn thiếu trong bảng hỏi Anket, để tìm hiểu sâu hơn về đặc trưng của đối tượng nghiên cứu, khai thác các thông tin bổ trợ.Tiến hành phỏng vấn sâu 15 trường hợp Trong đó có:

+ Cấp huyện: Trưởng ban xóa đói giảm nghèo, Trưởng phòng Lao

Trang 25

động - Thương binh và xã hội, Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội

+ Cấp cơ sở: Lãnh đạo UBND, Trưởng thôn, lãnh đạo Hội LHPN xã, Chi hội trưởng, Phụ nữ nghèo làm chủ hộ

Nội dung phỏng vấn sâu nhằm giải thích và mô tả rõ hơn những vấn đề

mà bảng hỏi không thể mang lại, diễn giải cho những con số trong bảng hỏi rõ ràng và dễ hiểu hơn Mặt khác, việc phỏng vấn sâu giúp cho những thông tin mang lại nhiều chiều, người trả lời sẽ cởi mở cung cấp thông tin hơn là trả lời những câu hỏi theo khuôn mẫu có sẵn trong bản câu hỏi

Phương pháp xử lý thông tin:

- Để sử lý dữ liệu định lượng, để tài sử dụng phần mềm SPSS 20.0

8 Điểm mới và ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

8.1 Điểm mới của đề tài:

Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về phụ nữ và vai trò của tổ chức Hội phụ nữ Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu về Vai trò của Hội phụ nữ trong hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững góp phần xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang; phụ nữ nông thôn là lực lượng chiếm tỷ lệ đông đảo và cần được hỗ trợ, định hướng, tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước nhất ở trong tổ chức Hội nói riêng và trong quần chúng nhân dân nói chung Vì vậy, với vị trí, vai trò, nhiệm vụ

đang công tác, tôi muốn nghiên cứu để tìm hiểu sâu hơn, rõ hơn vấn đề "Vai trò của các cấp Hội phụ nữ trong hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững" - một chủ trương, chương trình mục tiêu

quốc gia đúng đắn mà toàn Đảng, toàn dân cả nước ta đang ra sức phấn đấu triển khai, thực hiện

8.2 Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu Vai trò của các cấp Hội phụ nữ trong hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững là một hướng nghiên cứu mới, nhằm đánh giá đúng thực chất vị trí, vai trò và tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của tổ chức Hội nói chung và phụ nữ nông thôn trong chương

Trang 26

trình mục tiêu giảm nghèo, xây dựng Nông thôn mới nói riêng hiện nay Việc áp dụng các quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ và tổ chức Hội phụ nữ; các lý thuyết xã hội học vào nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ cách nhìn nhận, đánh giá đúng vai trò, chức năng của tổ chức Hội và phụ nữ trong hệ thống chính trị - xã hội

8.3 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu Vai trò của Hội phụ nữ trong hỗ trợ phụ nữ Nông thôn phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững sẽ cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý xã hội có được cái nhìn tổng quan về vai trò của tổ chức Hội phụ nữ nói riêng và hệ thống chính trị - xã hội nói chung trong việc định hướng và thực thi các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước đến quần chúng nhân dân

Kết quả nghiên cứu của đề tài, đặc biệt là các giải pháp nâng cao vai trò của Hội phụ nữ trong việc triển khai, thực thi các chính sách xã hội cho phụ

nữ nông thôn hiện nay sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương trong việc tuyên truyền, định hướng, phổ biến các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật cho phụ nữ nói riêng và nhân dân nói chung

9 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 3 chương:

- Chương 1: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

- Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế và giảm nghèo tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang

- Chương 3: Vai trò của các cấp Hội phụ nữ trong hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững (2011 - 2017)

Trang 27

Chương 1:

NHỮNG VÂN ĐỀ CƠ BẢN ĐỂ ĐÁNH GIÁ VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC CẤP HỘI PHỤ NỮ TRONG HỖ TRỢ PHỤ NỮ NÔNG THÔN PHÁT

TRIỂN KINH TẾ, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

1.1 Một số khái niệm làm việc

1.1.1 Khái niệm về Vai trò

Theo từ điển Xã hội học Oxford thì “Vai trò là một khái niệm then chốt trong xã hội học Nó nhấn mạnh những kỳ vọng xã hội gắn với những vị thế hay vị trí nhất định trong xã hội và nó phân tích sự vận hành của những của những kỳ vọng ấy”

Theo Xã hội học đại cương: vai trò là khái niệm nói tới mô hình hành

vi gần như chức năng xã hội Nói tới việc đồng thời thực hiện một hệ thống chuẩn mực kèm theo trong hệ thống các quan hệ xã hội được xác định

Vai trò không phải là một cái gì có sẵn Nó là kết quả của một quá trình tập luyện cá nhân, có ý thức hoặc không có ý thức Nó gắn liền với quá trình xã hội hóa của mỗi cá nhân (Từ điển xã hội học của Nguyễn Khắc Viện, Hà Nội – 1994)

Theo định nghĩa này khái niệm vai trò được dùng như một trong những yếu tố căn bản để lý giải các quan hệ xã hội (giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và tập thể, giữa cá nhân với xã hội…) cũng như để hiểu sự phát sinh và phát triển của nhân cách Có thể coi vai trò như tập hợp những ứng xử của mỗi cá nhân mà người khác chờ đợi ở nó; vai trò gắn với một loạt khái niệm khác như qui chế, chức năng, nghĩa vụ, quyền… Vai trò xã hội không chỉ liên quan tới những hành vi được xã hội quan sát, xem xét các cá nhân có thực hiện hay không mà trong thực tế, xã hội quan niệm những hành vi đó phải được thực hiện Chúng ta sẽ gọi những ý thức về cái mà mỗi người phải làm, hành vi nào là “đúng đắn” hay “thích hợp” là chuẩn mực và giá trị Những đòi hỏi quan trọng nhất đối với vai trò xã hội không chỉ là cái thực sự xảy ra, về

Trang 28

cái mà một người sẽ làm ngoài thói quen mà là những chuẩn mực gồm những điều mà một người ở một địa vị cụ thể buộc phải làm

Mỗi vai trò xã hội là một tập hợp các quyền, nghĩa vụ, kỳ vọng, định mức và hành vi mà một cá nhân hay tổ chức phải đối mặt và thực hiện đầy đủ Trong luận văn này, vai trò được hiểu là một tổ chức được Đảng và Nhà nước trao quyền, được quy định bằng Hiến pháp, có tư cách pháp nhân để thực hiện các chức năng, các kỳ vọng mà xã hội mong đợi, hướng tới

1.1.2 Khái niệm về Hội Liên hiệp Phụ nữ/ Hội Phụ nữ

Phụ nữ Việt Nam vốn sinh ra trong một đất nước với nền văn minh nông nghiệp, dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước và thủ công nghiệp nên phụ nữ Việt Nam đã trở thành lực lượng lao động chính Bên cạnh đó, nước ta trong nhiều thời kỳ bị kẻ thù xâm lược, khiến đời sống nhân dân nghèo khổ Từ thực tế đó mà người phụ nữ Việt Nam có bản sắc phong cách riêng: họ là những chiến sĩ chống ngoại xâm kiên cường dũng cảm; là người lao động cần

cù, sáng tạo, thông minh; là người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn, phát triển bản sắc và tinh hoa văn hoá dân tộc; là những người mẹ dịu hiền, đảm đang, trung hậu đã sản sinh ra những thế hệ anh hùng của dân tộc anh hùng

Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã ghi: “Nam nữ bình quyền” Đảng sớm nhận rõ, phụ nữ

là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ Đảng đặt ra: Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ

nữ tham gia cách mạng

Chính vì vậy mà ngày 20/10/1930, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chính thức được thành lập Sự kiện lịch sử này thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng đối với vai trò của phụ nữ trong cách mạng, đối với tổ chức phụ nữ, đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ

Trang 29

Hội LHPN Việt Nam là một trong những bộ phận quan trọng của Hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội đã cùng với các đoàn thể chính trị - xã hội khác có trách nhiệm đại diện cho quyền bình đẳng dân chủ của quần chúng tham gia vào quản lý Nhà nước Đồng thời Hội có trách nhiệm chuẩn bị các kế hoạch, làm công tác tham mưu cho Đảng về công tác vận động phụ nữ như Quyết định số 41 của Ban Bí thư TW Đảng ngày 5/4/1984

Theo Điều lệ Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2012 - 2017: “Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (Hội) là tổ chức chính trị - xã hội, tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ Việt Nam Hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế và Liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN (Hiệp Hội các nước Đông Nam Á) Hội tham gia tích cực trong các hoạt động vì hoà bình, đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới

Kể từ ngày thành lập đến nay, trải qua biết bao thăng trầm, biến đổi của lịch sử dân tộc, phong trào phụ nữ Việt Nam không ngừng trưởng thành và lớn mạnh cùng với chặng đường phát triển của đất nước, đã có những đóng góp vô cùng quan trọng Bước vào giai đoạn hội nhập, trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phụ nữ Việt Nam không ngừng phát huy vai trò của mình, trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội Đảng ta đã xác định: Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp; theo đó “Mục tiêu giải phóng phụ nữ hiện nay là thiết thực cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của chị em, nâng cao vị trí xã hội của phụ nữ, thực hiện tốt nam - nữ bình đẳng ”; “ Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của Cách mạng

Trang 30

Việt Nam trong thời kỳ mới”, phấn đấu “Đến năm 2020, xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Hiện nay, sau gần 90 năm cùng với sự phát triển của đất nước, của nhân dân, và dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội LHPN Việt Nam đã trưởng thành và không ngừng phát triển Hội đã trở thành một tổ chức chính trị xã hội vững mạnh với hệ thống tổ chức gồm 4 cấp từ trung ương đến cơ sở, với lực lượng đông đảo gần 17 triệu hội viên (tính đến tháng 12/2016), đội ngũ cán bộ Hội nhiệt tình, năng động, đã lãnh đạo phong trào phụ nữ từng bước phát triển, lớn mạnh Phụ nữ ngày càng có cơ hội thực hiện quyền bình đẳng của mình thông qua việc ban hành các quyết định, xây dựng và thực thi pháp luật, chính sách, đáp ứng nhu cầu và lợi ích giới; được cử đại diện xứng đáng trong các cơ quan dân cử, cơ quan quản lý nhà nước và các đoàn thể chính trị

- xã hội

Chức năng của Hội là:

Thứ nhất, đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước

Thứ hai, đoàn kết, vận động, phụ nữ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vận động xã hội thực hiện bình đẳng giới

Hiện nay, các cấp Hội đang thực hiện 05 nhiệm vụ:

Một là, Tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng,

phẩm chất đạo đức, lối sống; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Hai là, Vận động các tầng lớp phụ nữ chủ động, tích cực thực hiện

đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; vận động, hỗ trợ phụ nữ nâng cao năng lực, trình độ, xây dựng gia đình hạnh phúc; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ

Trang 31

Ba là, Tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám

sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, gia đình và trẻ em

Bốn là, Xây dựng, phát triển tổ chức Hội vững mạnh

Năm là, Đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân

tiến bộ trong khu vực và thế giới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình

Về tư cách pháp nhân: Trung ương Hội; Hội Liên hiệp Phụ nữ các

tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Hội Liên hiệp Phụ nữ các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Hội Liên hiệp Phụ nữ các xã, phường, thị trấn đều có tư cách pháp nhân độc lập, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp

và pháp luật

Như vậy, Hội LHPN huyện là cơ quan trong hệ thống tổ chức của Hội LHPN Việt Nam, quản lý trực tiếp hoạt động Hội LHPN các xã/phường/thị trấn Hội chịu trách nhiệm trước Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Huyện ủy - HĐND - UBND huyện về lãnh, chỉ đạo tổ chức thực hiện, giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, của Hội cấp trên về phong trào phụ nữ và hoạt động công tác Hội trong toàn huyện

1.1.3 Khái niệm về phụ nữ và phụ nữ nông thôn

1.1.3.1 Khái niệm về phụ nữ

Phụ nữ là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi có thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường

Phụ nữ, phân biệt với đàn ông/nam giới, là một trong hai giới tính truyền thống, cơ bản và đặc trưng của loài người

Nhìn theo khía cạnh sinh học, nữ giới chỉ những người thuộc giống cái, với bộ nhiễm sắc thể giới tính XX

Trang 32

Trong giới hạn nghiên cứu của luận văn này, phụ nữ được hiểu là đại diện cho một giới , "phụ nữ" là một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là đã trưởng thành về mặt xã hội

1.1.3.2 Phụ nữ nông thôn

Là lực lượng lao động nữ sinh sống tại khu vực nông thôn và làm việc trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Ở nông thôn, tỷ lệ nữ làm trong lĩnh vực nông nghiệp là 63,4%, so với 57,5% nam giới và phụ nữ là lực lượng lao động quan trọng, chủ chốt trong sản xuất nông nghiệp Phụ nữ nông thôn Việt Nam không chỉ góp phần quan trọng mang lại thu nhập cho gia đình mà còn góp phần sản xuất ra phần lớn nông phẩm cho toàn xã hội Tuy nhiên do ít có điều kiện tiếp cận các thông tin, kiến thức về chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng cộng với đặc thù công việc nhà nông nặng nhọc, chế độ dinh dưỡng thiếu hụt

đã ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe chị em cũng như việc chăm sóc sức khỏe của gia đình họ

Thứ hai là chất lượng việc làm của lao động nữ nông thôn còn thấp, tính ổn định, bền vững trong việc làm và tiếp cận tới các dịch vụ an sinh xã hội không cao Việc đào tạo nghề cho lao động nữ nông thôn tuy đã được chú trọng nhưng các loại hình đào tạo thường ngắn hạn và tập trung vào các kỹ năng “truyền thống” của phụ nữ, đầu ra sau học nghề gặp nhiều khó khăn Lao động nữ lớn tuổi càng khó khăn trong chuyển đổi việc làm Tình trạng bạo lực với phụ nữ và trẻ em gái vẫn diễn ra…

Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận các nguồn lực sản xuất như đất đai, công nghệ và dịch vụ tài chính của phụ nữ nông thôn còn rất hạn chế Phụ nữ nông thôn cũng chịu ảnh hưởng nặng nề từ biến đổi khí hậu…

1.1.4 Khái niệm về nghèo và giảm nghèo

1.1.4.1 Nghèo

Trên thế giới:

Mặc dù trên thế giới hiện nay có nhiều quan điểm về nghèo đói được các thiết chế kinh tế quốc tế, tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ đưa ra

Trang 33

Mỗi quan niệm đều dựa trên những nguyên tắc và cách tiếp cận riêng về nghèo đói

Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra quan điểm: Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất Nghèo không chỉ gồm các chỉ

số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực

Theo Liên Hợp Quốc: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn”

Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh tế): “Để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn”

Theo Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Bangkok, Thái Lan tháng 9/1993, "Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương" Đây có thể được coi là một định nghĩa chung nhất về nghèo, có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện những nét chính, phổ biến về nghèo

Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối

Trang 34

Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về ăn, mặc, ở, giáo dục, y tế ) Những nhu cầu này cũng có sự thay đổi, khác biệt theo từng quốc gia và được mở rộng dần trong quá trình phát triển

Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định Khái niệm nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư với mức sống trung bình của địa phương trong một thời kỳ nhất định Vì vậy, việc xóa dần nghèo tuyệt đối là có thể làm, nhưng còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội và vấn đề ở đây là rút ngắn khoảng cách giàu- nghèo, hạn chế sự phân biệt giàu - nghèo trong xã hội

Mặc dù có rất nhiều các quan điểm khác nhau, nhưng hầu hết các tài liệu, các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đều thống nhất với định nghĩa chung do Ủy ban KT - XH châu Á và Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (ESCAP) đưa ra tại hội nghị Băng kok - Thái Lan vào năm 1993, trong đó có Việt Nam

Ở Việt Nam

Căn cứ trên thực tế về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và hiện trạng đời sống trung bình phổ biến của dân cư hiện nay, có thể đánh giá đói nghèo theo 4 chỉ tiêu chính: thu nhập; nhà ở và tiện nghi sinh hoạt; tư liệu sản xuất và vốn liếng để dành Tuy nhiên, ở nước ta, do nền văn hóa và bản sắc dân tộc Việt Nam, quan niệm về đói nghèo không chỉ đơn thuần đề cập đến vấn đề thu nhập vật chất mà còn liên quan đến khía cạnh bản sắc văn hóa, đạo đức, nhân văn Trong các tiêu chí như thu nhập, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, chi tiêu gia đình thì tiêu chí thu nhập về kinh tế đáng chú ý hơn cả Ở nước ta chỉ tiêu đánh giá hộ giàu, nghèo, đói, có thể dựa trên chỉ tiêu chính là thu nhập bình quân nhân khẩu một tháng (hoặc năm) được đo lường bằng chỉ tiêu giá trị quy đổi hoặc hiện vật quy đổi Ngoài ra, còn căn cứ vào chỉ tiêu

Trang 35

phụ là dinh dưỡng bữa ăn, mặc, nhà ở và các điều kiện học tập, chữa bệnh, đi lại Trong điều kiện giá cả không ổn định như ở nước ta hiện nay cần phải sử dụng hình thức hiện vật, phổ biến là quy ra gạo để xác định nghèo đói

Qua nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu và đi đến thống nhất ở các Bộ, ngành, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã đưa ra khái niệm nghèo đói ở Việt Nam như sau:

Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức

sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống

Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn

một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện

Nghèo ở Việt Nam được chia làm 3 cấp độ: người nghèo, hộ nghèo và vùng nghèo Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo giai đoạn

1998 - 2000 đã căn cứ vào các cấp độ trên để đưa ra các khái niệm và có các tiêu chí xác định cho từng giai đoạn cụ thể Cho đến nay, nước ta đã có 8 lần điều chỉnh chuẩn nghèo

Hiện nay, đang áp dụng quy định chuẩn nghèo đa chiều (theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ) áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020, quy định:

+ Đối với khu vực nông thôn: Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/ tháng từ đủ 700.000đ trở xuống Hoặc có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên 700.000đ đến 1.000.000đ và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (gồm y tế, giáo dục, nhà

ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, thông tin ) trở lên

+ Đối với khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/ tháng từ đủ 900.000đ trở xuống Hoặc có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên 900.000đ đến 1.300.000đ và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ cơ bản trở lên

Trang 36

Như vậy, trong những năm qua, nghèo đói tại Việt Nam được đo lường chủ yếu thông qua thu nhập Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy ra bằng tiền Người nghèo hay hộ nghèo là những đối tượng có mức thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo

1.1.4.2 Giảm nghèo

Giảm nghèo là một phạm trù mang tính lịch sử bởi nghèo vẫn còn tồn tại khi nền kinh tế thị trường vẫn còn chi phối và thể hiện sự khác biệt về năng lực, thể chất, địa vị xã hội giữa các cá nhân Do đó, chỉ có thể từng bước giảm nghèo

Theo quan niệm của Mác - Ăng ghen và Lê Nin: Nếu hiểu nghèo là tình trạng đình đốn của phương thức sản xuất đã bị lạc hậu song vẫn còn tồn tại thì giảm nghèo chính là quá trình chuyển đổi sang phương thức sản xuất mới, tiến bộ hơn

Nếu hiểu nghèo là do tình trạng phân phối thặng dư trong xã hội một cách bất công đối với người lao động, do chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa thì giảm nghèo chính là quá trình xóa bỏ chế độ sở hữu và chế độ phân phối này

Ở nước ta hiện nay, nghèo không phải do sự bóc lột của giai cấp tư bản đối với người lao động như trước đây mà do nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi và hội nhập kinh tế quốc tế, đang tồn tại và đan xen nhiều trình độ sản xuất khác nhau Trình độ sản xuất cũ, lạc hậu vẫn lưu giữ trong nền kinh tế trong khi trình độ sản xuất mới, tiên tiến chưa đóng vai trò chủ đạo dẫn đến có sự phân biệt, khoảng cách giàu nghèo khác nhau trong các tầng lớp dân cư

Ở góc độ xã nghèo, huyện nghèo, vùng nghèo: giảm nghèo chính là quá trình từng bước thực hiện chuyển đổi trình độ sản xuất cũ lạc hậu còn tồn tại sang trình độ sản xuất mới, cao hơn, tốt hơn

Ở góc độ người nghèo: giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều lựa chọn hơn giúp họ từng bước thoát

Trang 37

ra khỏi tình trạng nghèo đói

Quá trình chuyển đổi của nền kinh tế, của phương thức sản xuất có thể coi là một cuộc cách mạng trong kinh tế diễn ra hết sức khó khăn và lâu dài

Do đó bên cạnh quá trình chuyển đổi phải có chính sách xã hội có tính chất hỗ trợ giúp người nghèo vươn lên vượt qua nghèo một cách thuận lợi nhất Chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta thực hiện sâu rộng ngay từ thời kỳ kế hoạch hóa tập trung và tiếp tục thực hiện sau khi đổi mới cho đến nay như: Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006 - 2010, Chương trình 135, Nghị quyết 30a của Chính phủ… đã nâng cao đáng kế đời sống nhân dân nói chung và người nghèo nói riêng

Để đánh giá mức độ trong giảm nghèo trong giai đoạn 2016 - 2020 theo tiêu chí nghèo đa chiều không thể chỉ đánh giá dựa trên số lượng người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo giảm xuống mà phải căn cứ trên nhiều tiêu chí khác nhau

- Thu nhập thực tế của người nghèo, hộ nghèo được cải thiện, vượt qua được chuẩn nghèo, hạn chế tối đa tình trạng tái nghèo về thu nhập nếu gặp rủi

ro hoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo

- Được tạo cơ hội và có khả năng tiếp cận đầy đủ với các nguồn lực sản xuất được xã hội tạo ra, các dịch vụ hỗ trợ người nghèo và được quyền tham gia và có tiếng nói của mình đối với các hoạt động lập kế hoạch phát triển kinh tế, giảm nghèo cho bản thân và địa phương

- Được trang bị một số điều kiện "tối thiểu" để có khả năng tránh được tình trạng tái nghèo khi gặp phải những rủi ro khách quan như thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh… hoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo

- Được đảm bảo tiếp cận bình đẳng về giáo dục dạy nghề và chăm sóc sức khoẻ để về lâu dài, người nghèo, người mới thoát nghèo và con em họ có được kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, tay nghề nhằm tạo ra thu nhập ổn định trong cuộc sống

Trang 38

1.1.4.3 Giảm nghèo bền vững

Từ nhiều năm qua, giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trên cả bình diện quốc gia và từng địa phương Trong đó, bên cạnh việc xóa bỏ dạng nghèo cùng cực, thì giảm nghèo bền vững là yêu cầu có tính then chốt

Khái niệm nghèo về thu nhập chỉ là một phần của khái niệm nghèo và cái nghèo còn phải nhìn nhận đa chiều hơn, cụ thể là phải tính tới các chiều khác như giáo dục, y tế, nước sạch, vệ sinh và nhà ở… Bởi lẽ, nếu chỉ dựa vào thu nhập thì có một số đối tượng thu nhập vượt qua cả mức nghèo, nhưng họ lại chưa đủ lực để bảo đảm cho con cái đi học, đủ tiền khám, chữa bệnh khi ốm đau, hay các nhu cầu khác như tiếp cận thông tin, dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh

Do đó, xóa nghèo không chỉ đơn thuần là việc tăng thu nhập cho các hộ nghèo mà còn phải tăng mức độ thụ hưởng trong các dịch vụ xã hội khác thì

mới đúng là thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững Giảm nghèo bền vững

là phải làm sao để hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo không rơi xuống dưới ngưỡng nghèo đói

Cho đến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về giảm nghèo bền vững hay giảm nghèo theo hướng bền vững là gì Tuy nhiên vấn đề giảm nghèo luôn được đề cập đến khi nói đến phát triển bền vững và giảm nghèo bền vững là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững Ngược lại, phát triển kinh tế bền vững là cơ sở, điều kiện để giảm nghèo bền vững

1.2 Một số lý thuyết sử dụng trong luận văn

Những vấn đề về lý luận, phương pháp luận nghiên cứu khoa học về vài trò của Hội phụ nữ là hết sức đa dạng và phức tạp Dưới góc nhìn xã hội học, tôi áp hai lý thuyết là lý thuyết cấu trúc – chức năng và lý thuyết hệ

Trang 39

thống xã hội để phân tích vai trò của các cấp Hội phụ nữ trong hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, góp phần xây dựng nông thôn mới

Các ý tưởng của thuyết này được khởi xướng từ A Comte và được Spencer phát triển, rồi những người khác kế thừa và xây dựng thành chủ nghĩa cấu trúc – chức năng August comte cho rằng xã hội như cơ thể sống có cấu trúc bởi ba bộ phận rất quan trọng đó là các thành phần, chuỗi liên kết mô và các cơ quan Cơ thể sinh học tồn tại trên cơ sở của các quy luật của quá trình sinh thái học, nghĩa là “biến đổi, cạnh tranh và chọn lọc” [Cơ thể xã hội tồn tại và phát triển theo quy luật tiến hóa xã hội, nghĩa là “được thúc đẩy bởi chiến tranh”, xã hội không phải là cơ thể sinh học mà là hệ thống siêu sinh học có nghĩa là sự tổ chức của các cơ thể sống A Comte cho rằng xã hội cũng như một cơ thể sống, được cấu trúc bởi gia đình với tư cách là tế bào sống của cơ thể, sau đó là các giai cấp, giai tầng với tư cách là chuỗi liên kết các tế bào thành các mô thích hợp của cơ thể sống Cuối cùng là các thành phố hoặc các cộng đồng dân cư với tư cách là các bộ phận hay cơ quan của cơ thể sống (Xã hội) Xã hội được tổ chức của một trật tự xã hội xác định Trong khi đó H Spencer coi xã hội nhự một hệ thống siêu hữu cơ tồn tại dựa trên 3 nhu cầu cơ bản hay điều kiện tiên quyết chức năng:

1 Nhu cầu an toàn và lưu thông các nguồn lực

2 Nhu cầu sản xuất những vật chất thực tế cấp thiết

3 Nhu cầu điều tiết, kiểm soát và điều hành các hoạt động có tính hệ thống Spencer cho rằng, xã hội cần được phân tích như một siêu hệ thống, nó không đơn thuần như cơ thể sinh học mặc dù giữa chúng có sự tương đồng Nhiệm vụ của phân tích xã hội học là phát hiện 3 loại nhu cầu tất yếu của xã hội đang tồn tại như thế nào để tìm ra phương sách “chữa trị” hoặc đáp ứng Bên cạnh đó, thuyết hệ thống xã hội của T Parsons cho rằng, xã hội có cấu

1 Vũ Hào Quang, 2017, Các lý thuyết xã hội hoc, Nxb Đại học Quốc gia, trang 141-145

Trang 40

trúc hệ thống bao gồm các thành tố cơ bản thực hiện các chức năng thiết yếu của nó là: thích ứng (A- Adaptation); đạt đích (G- goal attainment); liên kết, tích hợp các bộ phận với nhau (I- intergration); duy trì khuôn mẫu hay mô hình văn hóa (L- latency [ pattern maintenance]) Các bộ phận chức năng của

hệ thống (tiểu hệ thống hay hệ thống con) vừa thực hiện chức năng của riêng mình vừa phối hợp với các bộ phận khác (tiểu hệ thống khác) của hệ thống chung (hệ thống mẹ) thực hiện chức năng chung của toàn hệ thống (hệ thống mẹ) nhờ đó tính cân bằng hệ thống (mẹ) được đảm bảo

Áp dụng lý thuyết cấu trúc chức năng để giải thích cho đề tài này, chúng tôi xem Hội phụ nữ huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang là hệ thống mẹ bao gồm 26 Hội phụ nữ cấp xã (tiểu hệ thống/ hệ thống con) Hội phụ nữ cấp xã đều phải thực hiện chức năng cụ thể tại xã mình đồng thời thực hiện chức năng chung của Hội phụ nữ huyện Hiệp Hòa, nhờ đó mà Hội phụ nữ huyện Hiệp Hòa thực hiện được nhiệm vụ cấp trên giao cho Nói cách khác cụ thể hơn, Hội phụ nữ các cấp huyện Hiệp Hòa điều tiết các quan hệ chức năng chung, hội phụ nữ các xã thực hiện các chức năng đặc thù thông qua các vai trò cụ thể của họ trong hỗ trợ phát triển kinh tế cho các hộ phụ nữ nghèo nhằm góp phần giảm nghèo bền vững tại địa phương tiến tới việc xây dựng nông thôn mới

Mạng lưới xã hội được hiểu như là mối liên hệ giữa các cá nhân, các nhóm xã hội khác nhau trong một thực thể xã hội nhất định, dù đó là chính thống hay phi chính thống, thường xuyên hay bất thường Các mạng lưới xã hội "chuyên chở" các mối quan hệ qua lại về kinh tế, xã hội và văn hóa giữa các cá nhân hay nhóm xã hội, bảo đảm tính liên thông, cân bằng, ổn định, gắn kết của một thực thể xã hội Mạng lưới xã hội này thường liên quan tới tính xã hội, gắn kết xã hội và vốn xã hội

2 Sđ d trang 136-140

Ngày đăng: 24/11/2021, 13:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w