Chính vì lẽ đó, nhu cầu được quan tâm, hỗ trợ để pháttriển kinh tế gia đình của người dân nói chung và của phụ nữ nói riêng là rất lớn.Trong những năm qua, chính quyền xã và trực tiếp l
Trang 1Lời nói đầu
Trong lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ bao giờ cũng là một bộphận quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong xã hội Bằnglao động sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phongphú cuộc sống con người Phụ nữ luôn thể hiện vai trò không thể thiếu của mìnhtrong các lĩnh vực đời sống xã hội Trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ làmột lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người Không chỉ táisản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duytrì và phát triển xã hội Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sángtạo nền văn hoá nhân loại Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nàocũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ Song song vớinhững hoạt động góp phần sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần, phụ nữcòn tích cực tham gia đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, vì sự tiến bộcủa nhân loại Đó là vai trò của người phụ nữ nói chung trên toàn thế giới và ngaytại Việt Nam vai trò của người phụ nữ cũng rất quan trọng Phụ nữ và trẻ em gáiViệt Nam tham gia tích cực vào việc giảm nghèo và phát triển gia đình, cộng đồng
và đất nước Từ xưa đến nay, dù ở vị trí nào người phụ nữ cũng luôn có những vaitrò đặc biệt quan trọng Trong gia đình, họ là người mẹ, người vợ đảm đang; ngoài
xã hội họ là người giỏi dang, tháo vát Thực tế cho thấy, có không ít những phụ nữthành đạt trong cuộc sống, trong số đó có một bộ phận không nhỏ những phụ nữnắm giữ những vị trí quan trọng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xãhội… Tuy nhiên, với “thiên chức” làm mẹ, người phụ nữ phải mất khá nhiều thờigian cho việc sinh con và nuôi dạy con Bên cạnh đó, họ còn phải gánh vác cáccông việc nội trợ của gia đình, chính vì thế thời gian để họ tiếp cận cơ hội pháttriển còn hạn chế Hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam đang đứng trước cơ
Trang 2hội hội nhập và phát triển nhưng điều đó cũng đặt ra nhiều thách thức Những rủi
ro của cơ chế kinh tế thị trường có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của đại bộ phậnnhân dân Trong đó, phụ nữ là bộ phận chịu ảnh hưởng nhiều nhất, đặt biệt là phụ
nữ nông thôn Để giúp phụ nữ đối phó những khó khăn này; Nhà nước đã có một
số chính sách nhằm hỗ trợ, khuyến khích phụ nữ phát triển kinh tế gia đình, ổnđịnh cuộc sống và tham gia hoạt động xã hội
Huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam thuộc khu vực duyên hải Nam trung bộ
có điều kiện kinh tế – xã hội về cơ bản còn khó khăn Trong 14 xã, thì Duy Phước
là một trong những xã có điều kiện kinh tế chậm phát triển, đời sống của người dântrong nhiều năm trở lại đây gặp nhiều khó khăn, đời sống của nhân dân nhìn chungcòn thấp Mặt khác, do điều kiện tự nhiên không được ưu đãi, hàng năm còn chịunhiều ảnh hưởng của bão lũ, thời tiết bất thường nên hoạt động kinh tế của nhândân còn gặp nhiều trở ngại Chính vì lẽ đó, nhu cầu được quan tâm, hỗ trợ để pháttriển kinh tế gia đình của người dân nói chung và của phụ nữ nói riêng là rất lớn.Trong những năm qua, chính quyền xã và trực tiếp là Hội liên hiệp phụ nữ xã đãtriển khai thực hiện một số chính sách của Nhà nước nhằm hỗ trợ, khuyến khíchphụ nữ phát triển kinh tế gia đình, ổn định cuộc sống và tham gia hoạt động xã hội.Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện một số chính sách hỗ trợ phụ nữ vẫn chưa đemlại kết quả như mong muốn
Với tất cả những lý do trên, tôi tiến hành tìm hiểu đề tài: “Hiệu quả của một
số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế ở xã Duy Phước”
nhằm tìm hiểu về thực trạng của việc thực hiện chính sách, qua đó chỉ ra một số
nguyên nhân dẫn đến thực trạng và đề xuất một số khuyến nghị góp phần nâng caohiệu quả của các chính sách này
Trang 3A.CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Khi nói về phụ nữ, người ta thường nhắc đến cuốn sách “Vai trò của phụ nữtrong phát triển kinh tế” của Ester Boserup (1970) Theo nhà khoa học nữ này thìcho đến những năm 1970, những nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù phụ nữ thường lànhững người có đóng góp chính vào năng suất chủ yếu của cộng đồng, nhất làtrong nông nghiệp, nhưng những đóng góp của họ không được tính đến trongthống kê quốc dân cũng như trong kế hoạch hoá và thực hiện các dự án phát triển.Cuốn sách của E Boserup đã được coi là lần đầu tiên đặt lại vấn đề trong cáchđánh giá về vai trò của phụ nữ, qua cuốn sách của mình, bà đã chứng minh vai tròkinh tế của phụ nữ thông qua nghiên cứu phụ nữ nông dân vùng Tây Sahara, châuPhi Một điều mà trước đây, các nhà tạo lập chính sách và trong giới nghiên cứu kể
cả những nhà khoa học nữ đã không thấy hết và do vậy không công nhận một cáchđúng đắn vai trò kinh tế rất quan trọng của phụ nữ
Ở Việt Nam, công trình nghiên cứu về phụ nữ đầu tiên xuất bản được pháthành rộng rãi và dịch ra nhiều thứ tiếng là cuốn “Phụ nữ Việt Nam qua các thờiđại” của Lê Thị Nhâm Tuyết (1973, 1975) Trong cuốn sách, tác giả đã phân tíchnhững nét cơ bản về các truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong mọi lĩnh vực đờisống xã hội Đặc biệt về vai trò truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong sản xuấtnông nghiệp Cuốn sách đã trình bày nhiều tư liệu có giá trị khoa học, gây tiếngvang trong giới nghiên cứu Sau gần một phần tư thế kỷ, tác giả cuốn sách “Phụ nữViệt Nam qua các thời đại” lại cho xuất bản cuốn “Hình ảnh Phụ nữ Việt Namtrước thềm thế kỷ XXI” Như lời giới thiệu cuốn sách của GS Vũ Khiêu: Cuốnsách này đã thu thập những ý kiến khác nhau xung quanh những vấn đề lớn củangười phụ nữ Việt Nam và đặc biệt là giới thiệu các kết quả thu được qua các cuộcđiều tra khoa học Cuốn sách tập trung vào những đặc trưng của người phụ nữ ViệtNam trong lịch sử, trong lao động nghề nghiệp, trong gia đình, trong quản lý xãhội
Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, có nhiều cuốn sách xuất bản vớinội dung đề cập đến vấn đề phụ nữ với phát triển kinh tế hoặc bàn về phụ nữ vớiphát triển nông nghiệp, nông thôn Để tiện theo dõi, chúng tôi chia theo một số chủ
đề như sau: Phụ nữ và phân công lao động theo giới: Phân công lao động theo giới
Trang 4trong gia đình nông dân (Lê Ngọc Văn, 1999); Phân công lao động trong kinh tế hộgia đình nông thôn - vấn đề giới trong cơ chế thị trường (Vũ Tuấn Huy, 1997);Phân công lao động nội trợ trong gia đình (Vũ Tuấn Huy và Deborah Carr, 2000).Phụ nữ với phát triển ngành, nghề: Tìm hiểu cơ cấu kinh tế và khả năng phát triểnngành nghề của phụ nữ nông thôn (Lê Ngọc Lân, 1997); Vấn đề ngành, nghề củaphụ nữ nông thôn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nôngthôn (Lê Thi, 1999); Phụ nữ nghèo nông thôn trong cơ chế thị trường (Đỗ Thị Bình
và Lê Ngọc Lân, 1996); Vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao địa vị ngườiphụ nữ hiện nay (Lê Thi, 1991); Lao động nữ di cư từ nông thôn ra thành phố (HàThị Phương Tiến - Hà Ngọc Quang, 2000) Trang 6 Những công trình trên, tậptrung nghiên cứu khá sâu sắc những vấn đề về phụ nữ nhưng chưa có công trìnhnào thực sự tập trung vào nghiên cứu về hiệu quả của những chính sách hỗ trợ chophụ nữ ở nông thôn phát triển kinh tế
II Các khái niệm liên quan:
1 An sinh xã hội
Trên cơ sở những khái niệm của các tổ chức quốc tế, của chuyên gia Việt Namtrong các tài liệu hội thảo; Kinh nghiệm thực tiễn của các nước trong quá trình pháttriển hệ thống an sinh xã hội, kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam có thể đúc kếtđưa ra một khái niệm hoàn chỉnh, phù hợp hơn về an sinh xã hội, nó bao gồm đượccái phổ biến của thế giới và cái đặc thù của Việt Nam, như sau: An sinh xã hội làmột hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước và cộng đồngnhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc vềkinh tế – xã hội làm cho họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thaisản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyênnhân khách quan khác rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ, bần cùng hoá và cung cấpdịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách vềBảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và trợ giúp đặc b
2 Chính sách xã hội:
Từ những định nghĩa và phân tích khái niệm về xã hội và chính sách nhưtrên ta có thể đi đến cách tiếp cận sau về chính sách xã hội “Cái xã hội” dùngtrong chính sách xã hội là “cái xã hội” theo nghĩa hẹp Nó đang được nhiều nhà
Trang 5nghiên cứu thống nhất hiểu như mối quan hệ của con người, của các cộng đồngngười thể hiện trên nhiều mặt của đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hóa, tưtưởng
Đứng trên nhiều góc độ khác nhau, nhiều nhà nghiên cứu có sự nhìn nhậnkhác nhau về chính sách xã hội, cụ thể như sau:
+ Chính sách xã hội là công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước để thựchiện và điều chỉnh những vấn đề xã hội đang được đặt ra đối với con người (conngười ở đây được xét theo góc độ con người xã hội, chứ không phải là con ngườikinh tế, hay con người kỹ thuật…) để thỏa mãn hoặc phần nào đáp ứng các nhu cầucuộc sống chính đáng của con người, phù hợp với các đối tượng khác nhau, trongnhững trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội của các thời kỳ nhất định, nhằm bảo đảm sựổn định và phát triển của xã hội…( Phạm Tất Dong - Chính sách xã hội)
+ “Hiểu theo ý nghĩa khái quát nhất, chính sách xã hội là hệ thống các quanđiểm, cơ chế, giải pháp và biện pháp mà Đảng cầm quyền và Nhà nước đề ra tổchức thực hiện trong thực tiễn đời sống nhằm kiểm soát, điều tiết và giải quyết cácvấn đề xã hội đặt ra trước xã hội” (PGS.TS Phạm Hữu Nghị)
+ Chính sách xã hội là loại chính sách được thể chế bằng pháp luật của NhàNước thành một hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp đểgiải quyết những vấn đề xã hội nhất định, trước hết là những vấn đề xã hội liênquan đến công bằng xã hội và phát triển an sinh xã hội, nhằm góp phần ổn định,phát triển và tiến bộ xã hội (PGS.TS.Lê Trung Nguyệt)
+ Chính sách xã hội trước hết là một khoa học, chính sách xã hội phải làthành tựu của những sự nghiên cứu nghiêm túc của khoa học xã hội, trả lời nhữngcâu hỏi của cuộc sống, ở dạng hoạt động thực tiễn của đặc thù này Chính sách xãhội cần được xem xét như một lĩnh vực khoa học đặc thù, bám chắc vào sự vận
Trang 6động của thực tiễn, khoa học nghiên cứu về chính sách xã hội cần phải mạnh dạntrả lời những câu hỏi đặt ra từ thực trạng kinh tế xã hội nước ta hiện nay (GS.Phạm Như Cương).
Từ định nghĩa về chính sách xã hội nêu trên có thể thấy rằng khái niệmchính sách xã hội bao gồm những yếu tố cơ bản hợp thành sau đây:
• Thứ nhất, chủ thể đặt ra chính sách xã hội: tổ chức chính trị lãnh đạo Ởnước ta là Đảng Cộng sản, Nhà nước và các tổ chức hoạt động xã hội
• Thứ hai, nội dung các chính sách xã hội dựa trên những quan điểm, tư tưởngchỉ đạo và thể chế nào?
• Thứ ba, các đối tượng của các chính sách xã hội (chung, riêng, đặc biệt)
• Thứ tư, những mục tiêu nhằm đạt tới
Như vậy, có thể coi chính sách xã hội là sự tổng hợp các phương thức, cácbiện pháp của Nhà nước, của các đảng phái và những tổ chức chính trị khác, nhằmthoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, phù hợp với trình độ pháttriển của đất nước về kinh tế, văn hoá, xã hội … Chính sách xã hội là sự cụ thể hoá
và thể chế hoá bằng pháp luật những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
Hiệu quả của chính sách xã hội là ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm công bằng xã hội Để thực hiện chính sách xã hội đạt đúng các mục tiêu, đối tượng và hiệu quả phải có những điều kiện đảm bảo ở mức cần thiết để chính sách đi vào cuộc sống Chính sách xã hội phải được kế hoạch hóa bằng các chương trình, dự án có mục tiêu, hình thành các quỹ xã hội, phát triển hệ thống sự nghiệp hoặc dịch vụ xã hội, tăng cường lực lượng cán sự xã hội Chính sách xã hội còn có đặt trưng quan trọng là tính kế thừa lịch sử
Ở Việt Nam, một chính sách xã hội đi vào được lòng người, sát với dân là một chính sách mang bản sắc dân tộc Việt Nam, kế thừa và phát huy được tryền thống đạo đức, nhân văn sâu sắc của dân tộc ta Đặc biệt là lòng yêu nước, cần cù chịu khó, tính cộng đồng cao, đùm bọc lẫn nhau, uống nước nhớ nguồn…
Trang 7- Phân loại chính sách xã hội:
Có thể phân chia chính sách xã hội theo những cách khác nhau, về cơ bản có hai loại như sau:
* Hệ thống các chính sách tác động vào các nhóm xã hội đặt thù:
• Theo tuổi tác: có chính sách xã hội với người già, trẻ em, thanh niên;
• Theo giới tính: có chính sách đối với phụ nữ;
• Theo nghề nghiệp: có chính sách đối với thợ mỏ, giáo viên, công nhân, thợ thủ công…
• Theo sắc tộc: có chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
• Theo tôn giáo: có chính sách đối với đồng bào theo đạo Thiên chúa, Tin lành, Phật giáo, Cao đài, Hòa hảo…
• Theo trình độ học vấn: có chính sách xã hội đối với những người có trình độ học vấn cao, những tài năng khoa học và những người còn đang ở trình độ học vấn thấp
* Hệ thống chính sách xã hội tác động vào quá trình sản xuất và tái sản xuất:
Đây là những công cụ trực tiếp điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa người với người, giữa các nhóm, các tập đoàn xã hội với nhau, bao gồm:
• Chính sách dân số: có tính quốc gia và tính toàn cầu vì mức tăng trưởng dân số,
cơ cấu và phân bố của dân cư có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và mức sống củanhân dân Do vậy, chính sách xã hội phải tác động vào cả ba quá trình này Ví dụ như chính sách kế hoạch hóa gia đình, chính sách di dân và phát triển vùng kinh tế mới, chính sách định canh - định cư…
• Chính sách việc làm: liên quan và quyết định đời sống của tất cả dân cư, là một trong những yếu tố cơ bản tạo ra ổn định hay bất ổn định của xã hội Thông
thường, nếu tỷ lệ thất nghiệp ở mức 4 - 5% thì được coi là xã hội ổn định; từ 6 - 9% có nguy cơ khủng hoảng; nếu trên 10% thì xã hội đang có nhiều cấp bách cần
Trang 8phải giải quyết Ví dụ chính sách cho vay vốn giải quyết việc làm, chính sách dạy nghề, chính sách đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài…
• Chính sách bảo hộ lao động: nhằm đề phòng và giải quyết bớt hậu quả rủi ro do tai nạn xãy ra, bao gồm các chính sách bảo đảm an toàn như giảm độc hại, giảm tiếng ồn, chống nóng, …và các chính sách đối với người lao động bị mắc các bệnh nghề nghiệp, bị thương tật hay bị chết
• Chính sách tiền lương: nhằm đảm bảo mức thu nhập hợp lý và bảo đảm nguyên tắc phân phối theo lao động Việc quy định mức lương tối thiểu như thế nào để vừa
có thể tái sản xuất sức lao động, vừa bảo đảm cho người lao động sống bằng nghề nghiệp của mình, đồng thời có sự đãi ngộ thỏa đáng đối với những người có
chuyên môn giỏi, tay nghề cao Ngoài ra, cần có chính sách hợp lý để điều tiết thu nhập, không để mức thu nhập chênh lệch quá lớn nếu chỉ dựa vào cơ may nghề nghiệp hay địa vị xã hội ( Chính sách thuế đối với những người có thu nhập cao)
• Chính sách phúc lợi xã hội: là phần bổ sung quan trọng nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, đảm bảo công bằng và bình đẳng xã hội Các chính sách này tạo ra những điều kiện chung, thuận lợi cho việc nghĩ nghơi, vui chơi, giải trí bằng hoạt động văn hóa, thể thao của các tầng lớp nhân dân ( các khu công viên, các tổ hợp văn hóa thể thao, nhà trẻ, mẫu giáo, các nhà an dưỡng…)
• Chính sách bảo hiểm xã hội: nhằm đảm bảo sự công bằng thu nhập cho người laođộng và gia đình họ trong các trường hợp người lao động bị đau ốm, thai sản, hết tuổi lao động, bị chết hoặc bị tai nạn lao động, bị bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác Ví dụ bảo hiểm lao động, bảo hiểm nghề
nghiệp; bảo hiểm kinh doanh; bảo hiểm y tế; bảo hiểm tài sản và phương tiện…
• Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công: là truyền thống và đạo lý “ uốngnước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam
• Chính sách cứu trợ xã hội: hướng vào việc trợ giúp những người gặp phải rủi ro, bất hạnh, thiệt thòi trong cuộc sống, đặc biệt là người già cô đơn, trẻ mồ côi, ngườikhuyết tật, người bị bệnh tâm thần, người gặp phải thiên tai bất trắc Mục đích của chính sách này là giúp họ khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, giữ được mức sinhhoạt tối thiểu cần thiết để vượt qua những khó khăn
Trang 9• Chính sách giáo dục: Giáo dục là ngành đặc biệt cung cấp nguồn nhân lực cho sựphát triển kinh tế xã hội, nhất là trong giai đoạn cách mạng khoa học công nghệ hiện nay Vì vậy, chính sách xã hội không thể không ưu tiên cho giáo dục Chính sách đầu tư phát triển giáo dục (xây dựng trường sở, phòng nghiên cứu, thí
nghiệm…); chính sách tiền lương cho giáo viên, cấp học bổng cho sinh viên, học sinh tài năng, trợ giúp học sinh nghèo vượt khó, chính sách giáo dục miền núi,…
3 Một số chính sách hỗ trợ phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế:
Hiện nay, quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đang được tiến hànhtrên cả nước không những trong lĩnh vực công nghiệp mà cả trong lĩnh vực nôngnghiệp, từ thành thị đến nông thôn Nhằm thực hiện đồng bộ quá trình này, Đảng
và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho nông dân nói chung cũng nhưcho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế nói riêng.Trong phạm vi bài luận này, tôitìm hiểu một số chính sách có tác động lớn nhất đến phụ nữ nông thôn trong pháttriển kinh tế
3.1 Chính sách vay vốn
Theo NHNN Việt Nam - Thời gian qua, cùng với việc tăng cường đầu tư tíndụng cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, cơ hội và mức độ tiếp cận tín dụngngân hàng của phụ nữ nông thôn cũng được tăng lên đáng kể, góp phần tích cựcvào công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển nông nghiệp, nông thôn
Tính đến 30/6/2010, dư nợ cho vay hộ gia đình và cá nhân ở nông thôn củaNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ước đạt khoảng 200.000 tỷ đồng,tăng khoảng 16.528 tỷ đồng so với thời điểm 31/12/2009 Dư nợ cho vay hộ nghèotại Ngân hàng chính sách xã hội đến 30/6/2010 đã đạt 33.568 tỷ đồng, tăng 1.166
tỷ đồng so với thời điểm 31/12/2009
Trang 10Bên cạnh đó, thông qua việc ký nghị quyết liên tịch với tổ chức Hội, Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng CSXH đã thành lập các tổvay vốn tại địa phương để cung cấp vốn tín dụng cho chị em phụ nữ nông thônphát triển kinh tế gia đình Tính đến 30/6/2010, Ngân hàng Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn cho vay 255.020 khách hàng là phụ nữ với tổng dư nợ 3.903, 679
tỷ đồng Dư nợ cho vay ủy thác qua Hội Liên hiệp phụ nữ của Ngân hàng chínhsách xã hội đến 30/6/2010, là 34.355 tỷ đồng (tăng 4.402 tỷ đồng so với31/12/2009) Tỷ trọng dư nợ ủy thác cho vay qua Hội Liên hiệp phụ nữ trên tổng
dư nợ cho vay là 41,22%
3.2 Chính sách dạy nghề, hỗ trợ giải quyết việc làm
Chính sách dạy nghề được thể hiện rõ tại Nghị định số 139/2006/NĐ - CPngày 20/11/2006 do Chính phủ ban hành, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hànhmột số điều của Luật Giáo dục và Bộ luật Lao động về mục tiêu, chương trình dạynghề; tổ chức, hoạt động dạy nghề; doanh nghiệp với hoạt động dạy nghề; tuyểnsinh và hợp đồng học nghề; thi, kiểm tra và thẩm quyền cấp bằng, chứng chỉ nghề;chính sách đối với dạy nghề; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về dạynghề
Trong đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010-2015" (số295/QĐ-TTg, ngày 26/2/2010) Theo đó, lao động nữ sẽ được hỗ trợ chi phí họcnghề ngắn hạn với mức tối đa 3 triệu đồng/người/khóa và được vay vốn để tự tạoviệc làm nhằm tăng tỷ lệ lao động nữ được đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm có thunhập ổn định, giúp xóa đói, giảm nghèo và nâng cao vị thế cho phụ nữ, đặc biệtphụ nữ khu vực nông thôn Đề án đặt ra mục tiêu đến năm 2015, trên 70% lao động
nữ được tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách củaNhà nước về dạy nghề và việc làm; tỷ lệ lao động nữ trong tổng số chỉ tiêu tuyển
Trang 11sinh học nghề đạt 40%, trong đó tăng nhanh tỷ lệ lao động nữ được đào tạo trungcấp nghề, cao đẳng nghề; tỷ lệ lao động nữ có việc làm sau khi học nghề tối thiểuđạt 70%.
Các cơ sở dạy nghề, giới thiệu việc làm thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ ViệtNam và các cấp Hội phụ nữ thực hiện tư vấn học nghề, giới thiệu việc làm và tạoviệc làm cho khoảng 100.000 phụ nữ hàng năm, trong đó khoảng 50.000 lao động
nữ được đào tạo nghề
Đối tượng được hỗ trợ học nghề, tạo việc làm là lao động nữ trong độ tuổilao động, ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện hưởng chính sách
ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150%thu nhập của hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người trong diện thuhồi đất canh tác, phụ nữ bị mất việc làm trong các doanh nghiệp
Lao động nữ thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, người có công vớicách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đấtcanh tác, lao động nữ bị mất việc làm trong các doanh nghiệp được hỗ trợ chi phíhọc nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa
3 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian họcnghề thực tế) Ngoài hỗ trợ chi phí học, các đối tượng này còn được hỗ trợ tiền ănvới mức 15.000đ/ngày thực học/người, hỗ trợ tiền đi lại theo giá vé giao thôngcông cộng với mức tối đa không quá 200.000đ/người/khóa học đối với người họcnghề xa nơi cư trú từ 15 km trở lên
Trường hợp lao động nữ thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thunhập của hộ nghèo thì được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn với mức tối đa 2,5triệu đồng/người/khóa học; đối với lao động nữ khác thì mức hỗ trợ là 2 triệuđồng/người/khóa học
Trang 12Ngoài ra, lao động nữ học nghề được vay vốn để học theo quy định hiệnhành về tín dụng đối với học sinh, sinh viên Lao động nữ làm việc ổn định tại chỗ(nơi cư trú) sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoảnvay học nghề.
Ngoài hỗ trợ học nghề, Đề án nêu rõ, lao động nữ sau khi học nghề được vayvốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm
để tự tạo việc làm Đồng thời, sau khi học nghề tham gia sản xuất kinh doanh, tựtạo việc làm, lao động nữ còn được ưu tiên hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại,giới thiệu sản phẩm
Mỗi lao động nữ chỉ được hỗ trợ học nghề 1 lần theo chính sách của Đề ánnày Những người đã được hỗ trợ học nghề theo các chính sách khác của Nhà nướcthì không được tiếp tục hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề án Riêng nhữngngười đã được hỗ trợ học nghề nhưng bị mất việc làm do nguyên nhân khách quanthì UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xem xét, quyết định tiếp tụchỗ trợ học nghề để chuyển đổi việc làm theo chính sách của Đề án này nhưng tối
đa không quá 3 lần
3.3 Chính sách hỗ trợ trong đào tạo, bồi dưỡng, tiếp cận thông tin, ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thật, công nghệ mới
Trong nghị quyết số 11 - NQ/TW, ngày 27 tháng 4 năm 2007, của Bộ Chínhtrị, Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,xác định rõ Ðảng, Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thựchiện mục tiêu bình đẳng giới Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương của Ðảng về côngtác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong Nghị quyết Ðại hộiÐảng, các nghị quyết và chỉ thị của Trung ương Ðảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư vềcông tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ Nhà nước đã
Trang 13ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúcđẩy bình đẳng giới.
Nghị quyết thể hiện rõ, do trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp cònthấp, phụ nữ bị hạn chế hơn nam giới về cơ hội có việc làm và thu nhập Trongnhiều doanh nghiệp, trong các khu công nghiệp tập trung, việc làm của lao động nữthiếu ổn định, điều kiện lao động, điều kiện sống không được bảo đảm; chính sáchtiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động chưa được thực hiện đầy đủ Số phụ
nữ nông thôn thiếu việc làm, di cư tự phát ra thành phố ngày càng tăng Ở miềnnúi, vùng sâu, vùng xa, tỷ lệ phụ nữ mù chữ, nghèo còn cao, còn bị ràng buộc bởiphong tục, tập quán lạc hậu Phụ nữ cao tuổi, phụ nữ đơn thân, phụ nữ tàn tật cóhoàn cảnh khó khăn chưa được quan tâm đúng mức
Cơ chế thị trường và quá trình công nghiệp hóa một mặt có tác động tíchcực, nhưng mặt khác đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội liên quan trựctiếp tới phụ nữ Phụ nữ gặp nhiều khó khăn, thách thức khi thực hiện vai trò ngườimẹ, người thầy đầu tiên của con người trong điều kiện xã hội và gia đình Việt Nam
có nhiều thay đổi Phẩm chất đạo đức và một số giá trị truyền thống tốt đẹp cóphần bị mai một, lối sống thực dụng có xu hướng phát triển trong một bộ phận phụ
nữ
Trước những thách thức đó, Đảng và Nhà nước ta không ngừng quan tâmsâu sát, ban hành một số chính sách đặc thù nhằm tạo điều kiện cho sự phát triểncủa phụ nữ Cụ thể là:
+ Chính sách hỗ trợ phụ nữ trong đào tạo, bồi dưỡng, tiếp cận thông tin, ứngdụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới; chính sách khuyến khích đào tạonghề cho lao động nữ đáp ứng yêu cầu thị trường lao động và phát huy được thế
Trang 14mạnh của phụ nữ Có các giải pháp cụ thể để tăng nhanh tỷ lệ phụ nữ được đào tạotrung cấp nghề, cao đẳng nghề, đại học, sau đại học.
+ Chính sách khuyến khích, hỗ trợ phụ nữ phát triển doanh nghiệp nhỏ vàvừa Chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nữ dôi dư khi cổphần hóa các doanh nghiệp nhà nước, phụ nữ nông thôn không còn đất canh tác,phụ nữ nghèo, phụ nữ tàn tật Chính sách về nhà ở, chăm lo đời sống văn hóa, tinhthần cho lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp tập trung
3.4 Chính sách khuyến nông - lâm - ngư
Nhằm hỗ trợ, khuyến khích người dân có được lợi nhuận từ những lĩnh vựcnông – lâm – ngư nghiệp để phát triển kinh tế ổn định cuộc sống Đảng, Nhà nước
ta ban hành nhiều chính sách thiết thực tạo điều kiện cho người dân nói chung cũngnhư cho người phụ nữ nói riêng có cơ hội tiếp cận và khai thác triệt để những tiềmnăng thế mạnh ở ba lĩnh vực này, vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng.Gần đây nhất, xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,Chính phủ mới ban hành Nghị định số 02/2010/ NĐ – CP ngày 18/ 01/ 2010; Nghịđịnh quy định rõ phạm vi điều chỉnh là : Ngành nghề sản xuất, chế biến, bảo quản,tiêu thụ trong nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, ngư nghiệp, thủy nông, cơđiện nông nghiệp, ngành nghề nông thôn; dịch vụ nông nghiệp nông thôn bao gồmgiống, bảo vệ thực vật, thú y, vật tư nông nghiệp, thiết bị, máy cơ khí, công cụnông nghiệp, thủy nông, nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn;…
Về đối tượng áp dụng là người sản xuất, bao gồm: nông dân sản xuất nhỏ,nông dân sản xuất hàng hóa, nông dân thuộc diện hộ nghèo; chủ trang trại, xã viêntổ hợp tác và hợp tác xã; công nhân nông, lâm trường; doanh nghiệp vừa và nhỏ
Mục tiêu của khuyến nông nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh củangười sản xuất để tăng thu nhập, thoát đói nghèo, làm giàu thông qua các hoạt
Trang 15động đào tạo nông dân về kiến thức, kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ đểhỗ trợ nông dân sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, thích ứng các điều kiện sinhthái, khí hậu và thị trường Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theohướng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệsinh thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; thúc đẩy tiến trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, bảođảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường Huyđộng nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia khuyếnnông.
III Vai trò phụ nữ lao động trong phát triển kinh tế nông thôn:
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 76,5% dân số sống ở nông thôn Vìvậy, trong quá trình phát triển đất nước thì phát triển nông nghiệp, nông thôn làmột nhiệm vụ rất quan trọng Để có thể thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, bên cạnhcác chủ trương, chính sách xã hội phù hợp, cần có những nguồn lực hỗ trợ cho quátrình thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn như tài chính, kỹ thuật -công nghệ Đặc biệt phải kể đến một nguồn lực quan trọng, đó là nguồn nhân lực,chủ thể của quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn Nói đến chủ thểcủa quá trình này, không thể không nhấn mạnh đến nguồn nhân lực nữ ở nôngthôn
Phụ nữ nông thôn có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nôngnghiệp, nông thôn trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đất nước Là một lựclượng chủ yếu trong nông nghiệp và chiếm đông đảo trong nguồn nhân lực của đấtnước, nhưng phụ nữ nông thôn còn gặp nhiều khó khăn so với nam giới nông thôn
và phụ nữ đô thị Theo số liệu từ Tổng điều tra dân số năm 2009, phụ nữ chiếm50,5% số người hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp (năm 1989 tỷ lệ này là
Trang 1660%) Trong tổng lực lượng lao động nữ, có 68% là hoạt động trong nông nghiệp,
tỷ lệ này đối với nam giới là 58% Vai trò của phụ nữ trong sản xuất nông nghiệpcàng trở nên quan trọng hơn trong quá trình chuyển đổi kinh tế, với sự tham giacủa lao động nữ vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng trong khi laođộng nam giảm dần Thời kỳ 1993 - 1998, số nam giới tham gia hoạt động nôngnghiệp mỗi năm giảm 0,9% Trong giai đoạn hiện nay, 92% số người mới gia nhậplĩnh vực nông nghiệp là phụ nữ, vì nam giới chuyển sang các hoạt động phi nôngnghiệp Hiện tượng thay đổi này dẫn đến xu hướng là nữ giới tham gia nhiều hơntrong hoạt động nông nghiệp Họ đóng góp công sức trong việc thực hiện các hoạtđộng kinh tế tạo ra thu nhập của gia đình, ổn định cuộc sống và góp phần vào sựphát triển của xã hội