luận văn về Hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tếự
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được đề tài nghiên cứu này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, chúng tôicòn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ về nhiều mặt từ các thầy giáo, cô giáo trong khoa; củaChính quyền, Hội LHPN và nhân dân xã Xuân Bình
Chúng em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo Ths Nguyễn Đình Khoa đã hướng dẫn,giúp đỡ chúng em Nhờ có sự tận tình chỉ bảo của Thầy, chúng em đã vượt qua mọi khókhăn, trở ngại để hoàn thành đề tài
Chúng em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa TL – GD &CTXH đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn chính quyền địa phương, Hội LHPN và nhân dânxã Xuân Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong quá trình điều tra thu thập thông tinphục vụ cho nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo và đọc giả để
đề tài được hoàn thiện hơn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Đình Cơ
Phan Xuân Nhựt
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 2HLHPN Hội liên hiệp phụ nữ
GD – ĐT Giáo dục – Đào tạo
TC – CĐ – ĐH Trung cấp – Cao đẳng – Đại học
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trang 3Từ xưa đến nay, dù ở vị trí nào người phụ nữ cũng luôn có những vai trò đặc biệtquan trọng Trong gia đình, họ là người mẹ, người vợ đảm đang; ngoài xã hội họ là ngườigiỏi dang, tháo vát Thực tế cho thấy, có không ít những phụ nữ thành đạt trong cuộc sống,trong số đó có một bộ phận không nhỏ những phụ nữ nắm giữ những vị trí quan trọng trongcác lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội… Tuy nhiên, với “thiên chức” làm mẹ,người phụ nữ phải mất khá nhiều thời gian cho việc sinh con và nuôi dạy con Bên cạnh đó,họ còn phải gánh vác các công việc nội trợ của gia đình, chính vì thế thời gian để họ tiếpcận cơ hội phát triển còn hạn chế
Hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam đang đứng trước cơ hội hội nhập vàphát triển nhưng điều đó cũng đặt ra nhiều thách thức Những rủi ro của cơ chế kinh tế thịtrường có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của đại bộ phận nhân dân Trong đó, phụ nữ làbộ phận chịu ảnh hưởng nhiều nhất, đặt biệt là phụ nữ nông thôn Để giúp phụ nữ đối phónhững khó khăn này; Nhà nước đã có một số chính sách nhằm hỗ trợ, khuyến khích phụ nữphát triển kinh tế gia đình, ổn định cuộc sống và tham gia hoạt động xã hội
Thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên thuộc khu vực duyên hải Nam trung bộ có điều kiệnkinh tế – xã hội về cơ bản còn khó khăn Trong 14 xã, phường của thị xã thì Xuân Bình làmột trong những xã có điều kiện kinh tế chậm phát triển, đời sống của người dân trongnhiều năm trở lại đây gặp nhiều khó khăn, đời sống của nhân dân nhìn chung còn thấp Mặtkhác, do điều kiện tự nhiên không được ưu đãi, hàng năm còn chịu nhiều ảnh hưởng củabão lũ, thời tiết bất thường nên hoạt động kinh tế của nhân dân còn gặp nhiều trở ngại Chính vì lẽ đó, nhu cầu được quan tâm, hỗ trợ để phát triển kinh tế gia đình của người dânnói chung và của phụ nữ nói riêng là rất lớn Trong những năm qua, chính quyền xã và trựctiếp là Hội liên hiệp phụ nữ xã đã triển khai thực hiện một số chính sách của Nhà nướcnhằm hỗ trợ, khuyến khích phụ nữ phát triển kinh tế gia đình, ổn định cuộc sống và thamgia hoạt động xã hội Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện một số chính sách hỗ trợ phụ nữvẫn chưa đem lại kết quả như mong muốn
Với tất cả những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả của
một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế” nhằm tìm hiểu về thực
trạng của việc thực hiện chính sách, qua đó chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng
và đề xuất một số khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả của các chính sách này
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi hướng tới việc tìm hiểu thực trạng về hiệu quả của một sốchính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế tại xã Xuân Bình, thị xã SôngCầu, tỉnh Phú Yên; đánh giá, phân tích chỉ ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng; từ đó đềxuất một số khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả của các chính sách này
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về chính sách xã hội và phát triển cộng đồng
- Tìm hiểu thực trạng về hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nôngthôn phát triển kinh tế tại xã Xuân Bình, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên
- Chỉ ra những nguyên nhân của thực trạng trên
- Đề xuất những khuyến nghị góp phần thực hiện các chính sách hiệu quả hơn
3 Đối tượng, phạm vi và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 4Hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế ở xãXuân Bình, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong điều kiện và khả năng nghiên cứu còn hạn chế, chúng tôi tiến hành nghiêncứu về hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế ở 100phụ nữ ( ứng với 100 hộ gia đình) ở 05 thôn của xã Xuân Bình, thị xã Sông Cầu, tỉnh PhúYên
3.3 Khách thể nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên khách thể là 100 phụ nữ (ứng với 100 hộ giađình) của xã Xuân Bình, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên
Cụ thể số lượng như sau:
4 Giả thuyết nghiên cứu
- Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế gia đình là rất quan trọng.Tuy nhiên, nhiều phụ nữ ở nông thôn ở xã Xuân Bình chưa có công ăn việc làm ổn định,đời sống kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn Trong khi đó, hiệu quả của một số chínhsách của Nhà nước nhằm hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế ổn định cuộc sốnggia đình còn thấp
- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng về hiệu quả của một số chính sách hỗ trợcho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế hiện nay Trong đó, vửa có nguyên nhân xuất pháttừ phụ nữ vừa có nguyên nhân xuất phát từ chính quyền địa phương
- Với những nguồn lực của địa phương: sự quan tâm hỗ trợ của Nhà nước và chínhquyền các cấp, nguồn lao động nữ dồi dào, cơ hội việc làm cho lao động nữ từ khu côngnghiệp Đông Bắc Sông Cầu, trong tương lai những chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thônphát triển kinh tế ở xã Xuân Bình sẽ được phát huy và hiệu quả ngày càng cao, kinh tế củaphụ nữ ngày càng phát triển, đời sống của họ ngày càng được cải thiện
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng phương pháp luận Chủ nghĩa duy vậtbiện chứng, phương pháp luận Chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời, chúng tôi còn sử dụngcác phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp trưng cầu ý kiến
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp lân la trò chuyện với người dân
Trang 5- Phương pháp thống kê toán học, đánh giá qua kết quả thực tế điều tra.
6 Ý nghĩa của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp thêm vào hệ thống cơ sở lý luận của khoa họcChính sách xã hội Đồng thời sẽ làm tài liệu góp phần phục vụ cho nhu cầu tham khảo,nghiên cứu của sinh viên ngành Công tác xã hội sau này
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu góp phần giúp cho chúng ta có cái nhìn đầy đủ về thực trạnghiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế ở xã XuânBình Từ đó đề xuất những kiến nghị góp phần giúp cho chính quyền địa phương có nhữngđịnh hướng và những giải pháp thực thi những chính sách này đạt
hiệu quả cao hơn
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Khi nói về phụ nữ, người ta thường nhắc đến cuốn sách “Vai trò của phụ nữ trongphát triển kinh tế” của Ester Boserup (1970) Theo nhà khoa học nữ này thì cho đến những
Trang 6năm 1970, những nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù phụ nữ thường là những người có đónggóp chính vào năng suất chủ yếu của cộng đồng, nhất là trong nông nghiệp, nhưng nhữngđóng góp của họ không được tính đến trong thống kê quốc dân cũng như trong kế hoạchhoá và thực hiện các dự án phát triển Cuốn sách của E Boserup đã được coi là lần đầu tiênđặt lại vấn đề trong cách đánh giá về vai trò của phụ nữ, qua cuốn sách của mình, bà đãchứng minh vai trò kinh tế của phụ nữ thông qua nghiên cứu phụ nữ nông dân vùng TâySahara, châu Phi Một điều mà trước đây, các nhà tạo lập chính sách và trong giới nghiêncứu kể cả những nhà khoa học nữ đã không thấy hết và do vậy không công nhận một cáchđúng đắn vai trò kinh tế rất quan trọng của phụ nữ
Ở Việt Nam, công trình nghiên cứu về phụ nữ đầu tiên xuất bản được phát hànhrộng rãi và dịch ra nhiều thứ tiếng là cuốn “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại” của Lê ThịNhâm Tuyết (1973, 1975) Trong cuốn sách, tác giả đã phân tích những nét cơ bản về cáctruyền thống của phụ nữ Việt Nam trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Đặc biệt về vai tròtruyền thống của phụ nữ Việt Nam trong sản xuất nông nghiệp Cuốn sách đã trình bàynhiều tư liệu có giá trị khoa học, gây tiếng vang trong giới nghiên cứu Sau gần một phần
tư thế kỷ, tác giả cuốn sách “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại” lại cho xuất bản cuốn
“Hình ảnh Phụ nữ Việt Nam trước thềm thế kỷ XXI” Như lời giới thiệu cuốn sách của GS.Vũ Khiêu: Cuốn sách này đã thu thập những ý kiến khác nhau xung quanh những vấn đềlớn của người phụ nữ Việt Nam và đặc biệt là giới thiệu các kết quả thu được qua các cuộcđiều tra khoa học Cuốn sách tập trung vào những đặc trưng của người phụ nữ Việt Namtrong lịch sử, trong lao động nghề nghiệp, trong gia đình, trong quản lý xã hội
Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, có nhiều cuốn sách xuất bản với nộidung đề cập đến vấn đề phụ nữ với phát triển kinh tế hoặc bàn về phụ nữ với phát triểnnông nghiệp, nông thôn Để tiện theo dõi, chúng tôi chia theo một số chủ đề như sau:
Phụ nữ và phân công lao động theo giới:
Phân công lao động theo giới trong gia đình nông dân (Lê Ngọc Văn, 1999); Phâncông lao động trong kinh tế hộ gia đình nông thôn - vấn đề giới trong cơ chế thị trường (VũTuấn Huy, 1997); Phân công lao động nội trợ trong gia đình (Vũ Tuấn Huy và DeborahCarr, 2000)
Phụ nữ với phát triển ngành, nghề:
Tìm hiểu cơ cấu kinh tế và khả năng phát triển ngành nghề của phụ nữ nông thôn(Lê Ngọc Lân, 1997); Vấn đề ngành, nghề của phụ nữ nông thôn với quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn (Lê Thi, 1999); Phụ nữ nghèo nông thôn trong cơchế thị trường (Đỗ Thị Bình và Lê Ngọc Lân, 1996); Vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập,nâng cao địa vị người phụ nữ hiện nay (Lê Thi, 1991); Lao động nữ di cư từ nông thôn rathành phố (Hà Thị Phương Tiến - Hà Ngọc Quang, 2000)
Những công trình trên, tập trung nghiên cứu khá sâu sắc những vấn đề về phụ nữnhưng chưa có công trình nào thực sự tập trung vào nghiên cứu về hiệu quả của nhữngchính sách hỗ trợ cho phụ nữ ở nông thôn phát triển kinh tế
2 Các khái niệm
2.1 Chính sách xã hội
- Khái niệm:
Từ những định nghĩa và phân tích khái niệm về xã hội và chính sách như trên ta cóthể đi đến cách tiếp cận sau về chính sách xã hội “Cái xã hội” dùng trong chính sách xã
Trang 7hội là “cái xã hội” theo nghĩa hẹp Nó đang được nhiều nhà nghiên cứu thống nhất hiểunhư mối quan hệ của con người, của các cộng đồng người thể hiện trên nhiều mặt của đờisống xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng
Đứng trên nhiều góc độ khác nhau, nhiều nhà nghiên cứu có sự nhìn nhận khác nhau
về chính sách xã hội, cụ thể như sau:
+ Chính sách xã hội là công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước để thực hiện vàđiều chỉnh những vấn đề xã hội đang được đặt ra đối với con người (con người ở đây đượcxét theo góc độ con người xã hội, chứ không phải là con người kinh tế, hay con người kỹthuật…) để thỏa mãn hoặc phần nào đáp ứng các nhu cầu cuộc sống chính đáng của conngười, phù hợp với các đối tượng khác nhau, trong những trình độ kinh tế, văn hóa, xã hộicủa các thời kỳ nhất định, nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội…( Phạm TấtDong - Chính sách xã hội)
+ “Hiểu theo ý nghĩa khái quát nhất, chính sách xã hội là hệ thống các quan điểm,
cơ chế, giải pháp và biện pháp mà Đảng cầm quyền và Nhà nước đề ra tổ chức thực hiệntrong thực tiễn đời sống nhằm kiểm soát, điều tiết và giải quyết các vấn đề xã hội đặt ratrước xã hội” (PGS.TS Phạm Hữu Nghị)
+ Chính sách xã hội là loại chính sách được thể chế bằng pháp luật của Nhà Nướcthành một hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp để giải quyếtnhững vấn đề xã hội nhất định, trước hết là những vấn đề xã hội liên quan đến công bằngxã hội và phát triển an sinh xã hội, nhằm góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội.(PGS.TS.Lê Trung Nguyệt)
+ Chính sách xã hội trước hết là một khoa học, chính sách xã hội phải là thành tựucủa những sự nghiên cứu nghiêm túc của khoa học xã hội, trả lời những câu hỏi của cuộcsống, ở dạng hoạt động thực tiễn của đặc thù này Chính sách xã hội cần được xem xét nhưmột lĩnh vực khoa học đặc thù, bám chắc vào sự vận động của thực tiễn, khoa học nghiêncứu về chính sách xã hội cần phải mạnh dạn trả lời những câu hỏi đặt ra từ thực trạng kinhtế xã hội nước ta hiện nay (GS Phạm Như Cương)
Từ định nghĩa về chính sách xã hội nêu trên có thể thấy rằng khái niệm chính sáchxã hội bao gồm những yếu tố cơ bản hợp thành sau đây:
Thứ nhất, chủ thể đặt ra chính sách xã hội: tổ chức chính trị lãnh đạo Ở nước
ta là Đảng Cộng sản, Nhà nước và các tổ chức hoạt động xã hội
Thứ hai, nội dung các chính sách xã hội dựa trên những quan điểm, tư tưởngchỉ đạo và thể chế nào?
Thứ ba, các đối tượng của các chính sách xã hội (chung, riêng, đặc biệt)
Thứ tư, những mục tiêu nhằm đạt tới
Hay nói cách khác là cần trả lời bốn câu hỏi sau:
Ai đặt ra chính sách xã hội?
Đặt chính sách xã hội cho ai?
Nội dung của các chính sách xã hội là gì?
Chính sách xã hội nhằm mục đích gì?
Như vậy, có thể coi chính sách xã hội là sự tổng hợp các phương thức, các biệnpháp của Nhà nước, của các đảng phái và những tổ chức chính trị khác, nhằm thoả mãnnhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, phù hợp với trình độ phát triển của đất nước về
Trang 8kinh tế, văn hoá, xã hội … Chính sách xã hội là sự cụ thể hoá và thể chế hoá bằng pháp luậtnhững chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước.
- Đặc trưng của chính sách xã hội:
Chính sách xã hội bao giờ cũng liên quan trực tiếp đến con người, bao trùm mọi mặtcủa cuộc sống con người, lấy con người và các nhóm người làm đối tượng tác động đểhoàn thiện và phát triển con người, hình thành các chuẩn mực xã hội và giá trị xã hội
Chính sách xã hội mang tính xã hội, nhân văn sâu sắc, bởi mục tiêu cơ bản của nó làhiệu quả xã hội, góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội, bảo đảm cho mọi ngườisống trong nhân ái, bình đẳng và công bằng
Chính sách xã hội của Nhà nước thể hiện trách nhiệm xã hội cao, tạo điều kiện, cơhội như nhau để mọi người phát triển và hòa nhập vào cộng đồng Sự đầu tư của nhà nước,
sự trợ giúp của cộng đồng không phải là sự bao cấp hay cứu tế xã hội theo kiểu ban ơn, mà
là trách nhiệm của toàn xã hội, là sự đầu tư cho phát triển
Hiệu quả của chính sách xã hội là ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống,bảo đảm công bằng xã hội Để thực hiện chính sách xã hội đạt đúng các mục tiêu, đốitượng và hiệu quả phải có những điều kiện đảm bảo ở mức cần thiết để chính sách đi vàocuộc sống Chính sách xã hội phải được kế hoạch hóa bằng các chương trình, dự án có mụctiêu, hình thành các quỹ xã hội, phát triển hệ thống sự nghiệp hoặc dịch vụ xã hội, tăngcường lực lượng cán sự xã hội
Chính sách xã hội còn có đặt trưng quan trọng là tính kế thừa lịch sử Ở Việt Nam,một chính sách xã hội đi vào được lòng người, sát với dân là một chính sách mang bản sắcdân tộc Việt Nam, kế thừa và phát huy được tryền thống đạo đức, nhân văn sâu sắc của dântộc ta Đặc biệt là lòng yêu nước, cần cù chịu khó, tính cộng đồng cao, đùm bọc lẫn nhau,uống nước nhớ nguồn…
- Phân loại chính sách xã hội:
Có thể phân chia chính sách xã hội theo những cách khác nhau, về cơ bản có hai loạinhư sau:
* Hệ thống các chính sách tác động vào các nhóm xã hội đặt thù :
Theo tuổi tác: có chính sách xã hội với người già, trẻ em, thanh niên;
Theo giới tính: có chính sách đối với phụ nữ;
Theo nghề nghiệp: có chính sách đối với thợ mỏ, giáo viên, công nhân, thợ thủ
công…
Theo sắc tộc: có chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài;
Theo tôn giáo: có chính sách đối với đồng bào theo đạo Thiên chúa, Tin lành,
Phật giáo, Cao đài, Hòa hảo…
Theo trình độ học vấn: có chính sách xã hội đối với những người có trình độ học
vấn cao, những tài năng khoa học và những người còn đang ở trình độ học vấnthấp
* Hệ thống chính sách xã hội tác động vào quá trình sản xuất và tái sản xuất:
Đây là những công cụ trực tiếp điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa người với người,giữa các nhóm, các tập đoàn xã hội với nhau, bao gồm:
Chính sách dân số: có tính quốc gia và tính toàn cầu vì mức tăng trưởng dân số,
cơ cấu và phân bố của dân cư có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và mức sống
Trang 9của nhân dân Do vậy, chính sách xã hội phải tác động vào cả ba quá trình này.Ví dụ như chính sách kế hoạch hóa gia đình, chính sách di dân và phát triển vùngkinh tế mới, chính sách định canh - định cư…
Chính sách việc làm: liên quan và quyết định đời sống của tất cả dân cư, là một
trong những yếu tố cơ bản tạo ra ổn định hay bất ổn định của xã hội Thôngthường, nếu tỷ lệ thất nghiệp ở mức 4 - 5% thì được coi là xã hội ổn định; từ 6 -9% có nguy cơ khủng hoảng; nếu trên 10% thì xã hội đang có nhiều cấp báchcần phải giải quyết Ví dụ chính sách cho vay vốn giải quyết việc làm, chínhsách dạy nghề, chính sách đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài…
Chính sách bảo hộ lao động: nhằm đề phòng và giải quyết bớt hậu quả rủi ro do
tai nạn xãy ra, bao gồm các chính sách bảo đảm an toàn như giảm độc hại, giảmtiếng ồn, chống nóng, …và các chính sách đối với người lao động bị mắc cácbệnh nghề nghiệp, bị thương tật hay bị chết
Chính sách tiền lương: nhằm đảm bảo mức thu nhập hợp lý và bảo đảm nguyên
tắc phân phối theo lao động Việc quy định mức lương tối thiểu như thế nào đểvừa có thể tái sản xuất sức lao động, vừa bảo đảm cho người lao động sống bằngnghề nghiệp của mình, đồng thời có sự đãi ngộ thỏa đáng đối với những ngườicó chuyên môn giỏi, tay nghề cao Ngoài ra, cần có chính sách hợp lý để điều tiếtthu nhập, không để mức thu nhập chênh lệch quá lớn nếu chỉ dựa vào cơ maynghề nghiệp hay địa vị xã hội
( Chính sách thuế đối với những người có thu nhập cao).
Chính sách phúc lợi xã hội: là phần bổ sung quan trọng nhằm nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của người dân, đảm bảo công bằng và bình đẳng xã hội Cácchính sách này tạo ra những điều kiện chung, thuận lợi cho việc nghĩ nghơi, vuichơi, giải trí bằng hoạt động văn hóa, thể thao của các tầng lớp nhân dân ( cáckhu công viên, các tổ hợp văn hóa thể thao, nhà trẻ, mẫu giáo, các nhà andưỡng…)
Chính sách bảo hiểm xã hội: nhằm đảm bảo sự công bằng thu nhập cho người
lao động và gia đình họ trong các trường hợp người lao động bị đau ốm, thai sản,hết tuổi lao động, bị chết hoặc bị tai nạn lao động, bị bệnh nghề nghiệp, mất việclàm, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác Ví dụ bảo hiểm lao động, bảo hiểm nghềnghiệp; bảo hiểm kinh doanh; bảo hiểm y tế; bảo hiểm tài sản và phương tiện…
Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công: là truyền thống và đạo lý “
uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam
Chính sách cứu trợ xã hội: hướng vào việc trợ giúp những người gặp phải rủi
ro, bất hạnh, thiệt thòi trong cuộc sống, đặc biệt là người già cô đơn, trẻ mồ côi,người khuyết tật, người bị bệnh tâm thần, người gặp phải thiên tai bất trắc Mụcđích của chính sách này là giúp họ khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, giữđược mức sinh hoạt tối thiểu cần thiết để vượt qua những khó khăn
Chính sách giáo dục: Giáo dục là ngành đặc biệt cung cấp nguồn nhân lực cho
sự phát triển kinh tế xã hội, nhất là trong giai đoạn cách mạng khoa học côngnghệ hiện nay Vì vậy, chính sách xã hội không thể không ưu tiên cho giáo dục.Chính sách đầu tư phát triển giáo dục (xây dựng trường sở, phòng nghiên cứu,thí nghiệm…); chính sách tiền lương cho giáo viên, cấp học bổng cho sinh viên,
Trang 10học sinh tài năng, trợ giúp học sinh nghèo vượt khó, chính sách giáo dục miềnnúi,…
2.2 Phát triển cộng đồng
- Định nghĩa:
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển cộng đồng ( PTCĐ )
Theo quan điểm của Liên hợp quốc năm 1956: “Những tiến trình qua đó nỗ lực củadân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội,văn hóa của các cộng đồng và giúp các cộng đồng này hội nhập vào đời sống quốc gia gọi
là PTCĐ ”
Còn theo Murray và Ross đã đưa ra định nghĩa PTCĐ như sau:“Tổ chức cộng đồng(TCCĐ) là một tiến trình qua đó một cộng đồng nhận rõ nhu cầu, mục tiêu của mình, sắpxếp các nhu cầu và mục tiêu này, phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng, tìm đến tàinguyên (bên trong hoặc bên ngoài) để giải quyết nhu cầu hay mục tiêu ấy.Thông qua đó sẽ phát huy thái độ và kỹ năng hợp tác với nhau trong cộng đồng ”
Một định nghĩa gần đây phản ánh xu hướng mới nhất của PTCĐ là :
“ Phát triển cộng đồng là một tiến trình giải quyết vấn đề qua đó cộng đồng đượctăng sức mạnh bởi các kiến thức và kỹ năng phát hiện nhu cầu và vấn đề, ưu tiên hóachúng, huy động tài nguyên để giải quyết chúng PTCĐ không phải là một cứu cánh mà làmột kỹ thuật, nó nhằm vào tăng sức mạnh cho các CĐ để tự quyết định về sự phát triển củamình và sự định hình của tương lai mình Mục đích cuối cùng của PTCĐ là sự tham giachủ động với tư cách tập thể của người dân vào sự phát triển ”
Qua các khái niệm ta có thể thấy rằng về cơ bản mục đích của PTCĐ là :
- Củng cố các thiết chế tạo điều kiện cho chuyển biến xã hội và sự tăng trưởng
- Bảo đảm sự tham gia tối đa của người dân vào tiến trình của sự phát triển
- Đẩy mạnh công bằng xã hội bằng cách tạo điều kiện cho các nhóm thiệt thòi nhấtđược nêu lên nguyện vọng của mình và tham gia vào các hoạt động phát triển
- Tiến trình phát triển cộng đồng:
Mục tiêu cuối cùng của PTCĐ là giúp cho cộng đồng đi từ thực trạng yếu kém đểphát triển, đóng góp vào sự phát triển của xã hội Để đạt được mục tiêu đó PTCĐ phải cómột tiến trình với từng bước đi cụ thể
Sơ đồ thể hiện Tiến trình PTCĐ :
CĐ yếu
kém CĐ thức tỉnh năng lực CĐ tăng
Chương trình hành động chung có
Phát huy tiềm năng
Hình thành các nhóm liên kết
Tăng cường động lực
Trang 11+ Bước 1: Thức tỉnh cộng đồng
Trước tiên cộng đồng cần được giúp đỡ để tự tìm hiểu và phân tích nhằm biết rõnhững vấn đề của cộng đồng, những nguyên nhân và hậu quả do các vấn đề gây ra Bêncạnh đó người dân cũng tự nhận ra những tài nguyên, tiềm năng, khó khăn, thuận lợi từcộng đồng để có cơ sở giải quyết vấn đề Điều quan trọng là cộng đồng cần nhận ra sự hợptác của chính mình là yếu tố quyết định trong việc thay đổi tình trạng yếu kém hiện tại
+ Bước 2: Tăng năng lực cộng đồng
Cộng đồng nhận ra những gì mình có mà chưa sử dụng như đất đai, cơ sở vật chất,nhân tài, kinh nghiệm, … và những nguồn hỗ trợ từ bên ngoài như kiến thức kỹ thuật,chuyên môn, nguồn vốn vay, … Để sử dụng và quản lý những nguồn lực này cộng đồngcần được hỗ trợ tăng khả năng, kiến thức để cùng hành động bằng các hình thức học tập,huấn luyện…
+ Bước 3 : Cộng đồng tự lực
Mục đích cuối cùng của PTCĐ là thông qua các tác động từ bên ngoài, với nội lựcđược phát huy và tăng cường, cộng đồng sẽ trở thành cộng đồng tự lực Cộng đồng tự lựckhông có nghĩa là mọi khó khăn, khủng hoảng không còn nữa mà mỗi lần gặp khó khăncộng đồng có thể tự huy động tài nguyên bên trong và bên ngoài để giải quyết vấn đề Quamỗi lần như vậy cộng đồng sẽ tăng trưởng, tự lực hơn
Trong thực tiễn PTCĐ, tiến trình này không phải lúc nào cũng cứng nhắc trong cách
áp dụng, mà điều quan trọng là tác viên PTCĐ phải thực sự vì cộng đồng, vì sự phát triển,linh hoạt nhưng cũng phải đảm bảo được các nguyên tắc cơ bản, các bước đi cơ bản củaquá trình đó
- Nguyên tắc trong phát triển cộng đồng:
Trong PTCĐ cần đảm bảo 10 nguyên tắc cơ bản sau:
Bắt đầu từ nhu cầu, tài nguyên và khả năng của người dân
Tin tưởng vào dân, vào khả năng thay đổi và phát triển của họ
Đáp ứng nhu cầu và mối quan tâm bức xúc hiện tại của họ
Khuyến khích người dân cùng thảo luận, lấy quyết định chung, hành độngchung để họ đồng hóa mình với những chương trình hành động đó
Bắt đầu từ những hành động nhỏ để dẫn đến những thành công nhỏ
Vận động thành lập nhóm nhỏ để thực hiện dự án, không chỉ để giải quyếtđược một vấn đề cụ thể, mà còn để củng cố, làm vững mạng tổ chức tựnguyện của người dân
Khi tổ chức cần cung cấp nhiều cơ hội để người dân tương trợ lẫn nhau vàphát sinh các hoạt động chung, qua đó các thành viên vừa đạt được cảm xúc
Trang 12tự hoàn thành nhiệm vụ vừa góp phần cải thiện an sinh cho nhóm, cả hai điềunày đều quan trọng như nhau.
Quy trình : “Hành động - Suy ngẫm rút kinh nghiệm - Hành động mới” cần
áp dụng để tiến đến những chương trình hành động chung lớn hơn, trình độquản lý cao hơn
Nếu điều hành có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn theo nhóm là dịp để tổ chứcnhóm trưởng thành
Thiết lập mối liên kết với các tổ chức khác để có thêm hỗ trợ và hợp tác vớinhau
2.3 Một số khái niệm liên quan
- Khái niệm phát triển kinh tế nông thôn:
Phát triển kinh tế nông thôn là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững vềkinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cưnông thôn Quá trình này, trước hết chính là sự nổ lực người dân nông thôn với sự hỗ trợcủa nhà nước và các tổ chức xã hội khác
- Khái niệm phát triển kinh tế hộ gia đình: Phát triển kinh tế hộ gia đình là việc hộ gia đình áp dụng các kỹ thuật tiến bộ và học tập mô hình sản xuất giỏi hợp với khả năng
lao động và điều kiện đất đai hiện có của gia đình để sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập,cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, vươn lên thoát nghèo góp phần xây dựng quê hươngđất nước giàu đẹp
3 Lý thuyết ứng dụng (Thuyết vai trò)
Thuyết vai trò được ra đời với sự đóng góp lớn của khoa học xã hội học và tâm líhọc ( Trean, 1971; Davis, 1986) Thuyết vai trò được đánh giá là phương pháp tiếp cậnhiệu quả đối với việc hiểu biết về con người và xã hội, vì vậy, người ta đề cập tới nhiềukhái niệm liên quan Đó là những khái niệm:
Mơ hồ trong vai trò: là hoàn cảnh một cá nhân gặp phải khó khăn khi quyết định vaitrò nào nên làm
Xung đột vai trò: xảy ra khi một cá nhân đối phó với sự căng thẳng vì cá nhân đóchưa đủ khả năng để thực hiện hoặc đáp ứng các đòi hỏi của vai trò đó
Sợ hãi vai trò: nói đến những khó khăn có thể nhận thấy trong việc hoàn thành bổnphận của vai trò, khi mà sự căng thẳng được cảm nhận giữa hai vai trò cạnh tranh nhau, sựcăng thẳng trong sợ hãi vai trò thường chỉ xuất hiện từ một vai trò
Thuyết này cho rằng vì mỗi cá nhân thường chiếm giữ các vị trí nào đó trong xã hội
và tương ứng với các vị trí đó là các vai trò Vai trò bao gồm một chuỗi các chuẩn mực như
là một bản kế hoạch để chỉ đạo hành vi Những vai trò chỉ ra cụ thể cách thức nhằm đạtđược mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời cũng chỉ ra những nội dung hoạt độngcần thiết đòi hỏi phải có trong một bối cảnh hoặc tình huống có sẵn Thuyết cũng cho rằng,một phần các hành vi xã hội hàng ngày quan sát được chỉ đơn giản là các việc mà conngười phải thực hiện trong vai trò của họ
Ngoài ra, thuyết cũng khẳng định, hành vi con người chịu sự chỉ đạo của nhữngmong muốn của cá nhân họ hoặc từ mong muốn của những người khác Những mongmuốn cho mỗi vai trò thì khác nhau nhưng phù hợp với vai trò mà cá nhân thực hiện hoặctrình diễn trong cuộc sống hàng ngày của họ Đồng thời, thuyết còn đề cập, với cùng mộthành vi, có thể chấp nhận ở vai trò này nhưng lại không được chấp nhận ở vai trò kia
Trang 13Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng thuyết này nhằm chỉ ra rằngmỗi phụ nữ trong nhóm đều có các vị trí khác nhau với các vai trò tương ứng Nếu đánh giáđúng khả năng và tạo điều kiện phù hợp để họ phát huy hết khả năng với đúng vai trò củahọ thì kết quả công việc của họ mang lại rất cao
4 Vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế nông thôn ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 76,5% dân số sống ở nông thôn Vì vậy,trong quá trình phát triển đất nước thì phát triển nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụrất quan trọng Để có thể thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, bên cạnh các chủ trương, chínhsách xã hội phù hợp, cần có những nguồn lực hỗ trợ cho quá trình thực hiện công nghiệphoá nông nghiệp, nông thôn như tài chính, kỹ thuật - công nghệ Đặc biệt phải kể đến mộtnguồn lực quan trọng, đó là nguồn nhân lực, chủ thể của quá trình công nghiệp hoá nôngnghiệp, nông thôn Nói đến chủ thể của quá trình này, không thể không nhấn mạnh đếnnguồn nhân lực nữ ở nông thôn
Phụ nữ nông thôn có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp,nông thôn trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đất nước Là một lực lượng chủ yếutrong nông nghiệp và chiếm đông đảo trong nguồn nhân lực của đất nước, nhưng phụ nữnông thôn còn gặp nhiều khó khăn so với nam giới nông thôn và phụ nữ đô thị Theo sốliệu từ Tổng điều tra dân số năm 2009, phụ nữ chiếm 50,5% số người hoạt động trong lĩnhvực nông nghiệp (năm 1989 tỷ lệ này là 60%) Trong tổng lực lượng lao động nữ, có 68%
là hoạt động trong nông nghiệp, tỷ lệ này đối với nam giới là 58% Vai trò của phụ nữtrong sản xuất nông nghiệp càng trở nên quan trọng hơn trong quá trình chuyển đổi kinh tế,với sự tham gia của lao động nữ vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng trongkhi lao động nam giảm dần Thời kỳ 1993 - 1998, số nam giới tham gia hoạt động nôngnghiệp mỗi năm giảm 0,9% Trong giai đoạn hiện nay, 92% số người mới gia nhập lĩnhvực nông nghiệp là phụ nữ, vì nam giới chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp Hiệntượng thay đổi này dẫn đến xu hướng là nữ giới tham gia nhiều hơn trong hoạt động nôngnghiệp Họ đóng góp công sức trong việc thực hiện các hoạt động kinh tế tạo ra thu nhậpcủa gia đình, ổn định cuộc sống và góp phần vào sự phát triển của xã hội
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA PHỤ NỮ XÃ XUÂN BÌNH
1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Xuân Bình là xã nằm ở phía Bắc của thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên Phía Bắc giápxã Xuân Lộc và đầm Cù Mông, Phía Nam giáp xã Xuân Cảnh, Phía Tây giáp xã XuânPhương và thị xã Sông Cầu, Phía Đông giáp xã Xuân Hoà, xã Xuân Cảnh và Đầm CùMông Tổng diện tích tự nhiên là 5105 ha, trong đó: đất sản xuất nông nghiệp: 3.222,47 ha,đất sản xuất làm muối: 135,9 ha, đất phi nông nghiệp: 389,53 ha, đất chưa sử dụng: 1353,4
ha Có tuyến Quốc lộ 1A chạy dọc qua với chiều dài khoảng 6km và một đường liên xã đãđược nâng cấp trải mặt nhựa nên tương đối thuận lợi cho việc đi lại cho bà con nhân dân,ngoài ra mạng lưới giao thông dần được nâng cấp với khoảng 6km bêtông giao thông nôngthôn đã được xây dựng với chương trình nhà nước và nhân dân cùng làm, đây cũng là điềukiện thuận lợi để phục vụ nhu cầu đi lại và lưu thông hàng hoá giữa các xã và huyện
Địa hình xã Xuân Bình tương đối phức tạp, phía Tây Nam là núi Độ dốc trung bìnhkhoảng 4o và thấp dần từ Tây sang Đông với kiểu địa hình tương đối bằng phẳng, phía
Trang 14Đông là đầm Cù Mông Độ cao trung bình 50m; có khí hậu nhiệt đới gió mùa, hai mùa rõrệt trong năm, mùa khô từ tháng 01 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, lượngmưa thường tập trung vào mùa mưa (chiếm khoảng 76% tổng lượng mưa trong năm).
Toàn xã được chia thành 5 thôn với 2112 hộ dân và 9187 nhân khẩu, trong đó nam
là 4128 nhân khẩu, nữ là 5059 nhân khẩu UBND xã nằm ở thôn Bình Thạnh Tổng số laođộng trên địa bàn có 4133 lao động (LĐ), trong đó nam có 2216 LĐ; nữ có 1917LĐ Trongđó có hơn 2/3 sống bằng nghề nông nghiệp, 1/3 còn lại hoạt động trong lĩnh vực côngnghiệp – dịch vụ và một số lĩnh vực khác
Công tác giáo dục – đào tạo nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực luôn đượcchú trọng, việc phổ cập giáo dục đúng độ tuổi được quan tâm, trường lớp được đầu tư tu bổkhang trang và đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học của nhà trường Côngtác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được đảm bảo, nhất là công tác phòng bệnh, phòngdịch được thực hiện tốt
Công tác tuyên truyền thông tin, văn hóa, thể thao được đầu tư đúng mức Đời sốngtinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo được tôntrọng và giám sát chặt chẽ
An ninh, chính trị của xã cơ bản được ổn định, các ban ngành đoàn thể hoạt độngtương đối vững vàng, tệ nạn xã hội bị đẩy lùi, công tác quốc phòng luôn được giữ vững
Kết cấu hạ tầng và các công trình phúc lợi trong xã từng bước được chỉnh trang, xâydựng mới đáp ứng nhu cầu của nhân dân Toàn xã có 1 trường Trung học phổ thông đangxây dựng, 1 trường Trung học cơ sở, 3 trường Tiểu học, một số cơ sở giáo dục mẫu giáo vàmầm non; có một trạm y tế và phòng khám khu vực phía bắc thị xã Sông Cầu, đường giaothông từng bước được bêtông hóa, …
2 Một số kết quả kinh tế – xã hội xã Xuân Bình đạt được trong thời gian qua
2.1 Về lĩnh vực kinh tế
* Sản xuất nông – lâm - ngư nghiệp:
- Nông nghiệp:
Năm 2006, hồ chứa nước Xuân Bình hoàn thành đưa vào sử dụng diện tích lúa tăngvụ 3 chiếm khoảng 70 ha, do đó đã nâng sản lượng lúa bình quân lên 30 - 45 tạ/ha Hiệnnay đã được nhân rộng giống lúa mới, có năng suất cao để sản xuất Mặc khác một số diệntích năng suất thấp chuyển sang trồng cây ăn quả và các loại cây khác; vận động nhân dânchuyển 1,5 ha sang trồng rau các loại đã đem lại hiệu quả tăng gấp 2 lần so với sản xuấtlúa Bên cạnh đó, việc tiến hành sản xuất xen canh trên một số diện tích lúa 1 vụ trồng cácloại: đậu xanh, đậu phộng, mè…đem lại hiệu quả cho người nông dân góp phần tăng thunhập
Trong 5 năm, đã trồng được 75,22 ha đào (điều) cao sản với 65 hộ tham gia, bêncạnh đó vận động nhân dân chăm sóc vườn đào cao sản có tại địa phương Đồng thời chămsóc và bảo vệ phòng trừ dich bệnh bọ cánh cứng diện tích dừa hiện có, đến nay đã giảm,dừa đang dần hồi phục và phát triển cho quả đạt 50% tổng lượng quả hàng năm
- Lâm nghiệp:
Đến năm 2010, toàn xã có 1001 hộ tham gia trồng rừng phát triển nhất là khu vựcphía tây của xã với diện tích trồng rừng là 2200ha
- Chăn nuôi:
Trang 15Hiện nay, đàn heo toàn xã có 4000 con, 100% heo hướng nạc, đàn bò có 1400 con,
bò lai sind có 250 con chiếm tỷ lệ 19,26%, đàn gia cầm trên địa bàn xã phát triển ổn địnhkhông có dịch cúm xảy ra
- Sản xuất muối:
Thời tiết diển biến thất thường, trong 05 năm sản xuất hiệu quả chưa cao Được nhànước đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng làm các cống thoát lũ nhờ đó những năm sau cáctuyến đê bao không bị xói lỡ, chi phí đầu tư đầu vụ giảm rất nhiều, tiết kiệm cho Hợp tácxã muối và nhân dân sản xuất muối khoảng 100 - 120 triệu đồng trên năm, năng suất sảnlượng muối cũng tăng lên Tổng sản lượng hàng năm 15.000 tấn/ 17.000 tấn, đạt 88,5%hàng năm, giá muối bình quân tương đối cao do vậy đời sống diêm dân có bước cải thiện
và nâng lên
- Nuôi trồng thủy hải sản:
Tổng diện tích ao nuôi tôm sú tại địa phương là 41ha Năm 2009, thả nuôi 32,67/ 41
ha tổng sản lượng 20 tấn Giá tôm sú không cao nên lợi nhuận từ nuôi tôm không hiệu quả,nhân dân đang tận dụng các diện tích ao hồ có nguồn nước sâu nuôi một số loài thủy sảnkhác như: cá mú, cá dìa, ghẹ…để hiệu quả kinh tế cao hơn Vận động nhân dân nuôi tômxen canh trên một số diện tích sản xuất muối khi mãn vụ
* Tiểu thủ công nghiệp - thương mại - dịch vụ:
Năm 2008, được sự hỗ trợ của vốn làng nghề cấp tỉnh, đầu tư xây dựng sân phơi,kho phục vụ cho sản xuất thảm cước xơ dừa lúc đầu hoạt động có hướng phát triển, về sausản phẩm sản xuất tại địa phương không đảm bảo chất lượng cạnh tranh với thị trường bênngoài nên hiện nay đang tạm dừng sản xuất Thực hiện chỉ đạo của cấp trên năm 2008 tiếnhành bàn giao hệ thống lưới điện tại địa phương cho ngành điện quản lý và đang chỉ đạogiải thể hợp tác xã điện theo quy định
Bên cạnh đó nhiều thành phần kinh tế khác bỏ vốn ra mở nhiều trại mộc dân dụng
để sản xuất đồ gỗ, đến nay toàn xã có 4 cơ sở sản xuất đồ gỗ dân dụng, đặc biệt là doanhnghiệp sản xuất gỗ Long Biên sản xuất ổn định tạo việc làm cho trên 100 lao động tại địaphương có việc làm ổn định
Hoạt động thương mại - dịch vụ 5 năm qua có phát triển nhưng không đáng kể, đaphần hộ kinh doanh cố định tập trung tại chợ Xuân Lộc Đến nay toàn xã có khoảng 130 hộkinh doanh cố định và một số cơ sở tập thể, cá thể hoạt động dịch vụ phục vụ riêng vật tưnông nghiệp, thuốc trừ sâu, phân bón, sản xuất nông cụ…từng bước đang phát triển
2.2 Về văn hóa- xã hội
- Công tác giáo dục:
Quy mô giáo dục ngày càng tăng và có bước đầu tư, hiện tại trên địa bàn toàn xã có
1 trường THCS, 03 trường Tiểu học, 1 trường Mẫu giáo và một trường Mầm non tư thục,
cơ sở vật chất của các trường cơ bản đảm bảo cho việc dạy và học Chất lượng đội ngũ cánbộ công chức, giáo viên được nâng cao
Cuộc vận động “ hai không” trong ngành giáo dục có sự chuyển biến tích cực Cơ sởvật chất phục vụ cho ngành giáo dục của xã ngày càng được mở rộng Trong 5 năm bằngnhiều nguồn vốn đã xây dựng mới 13 phòng học Trong đó trung học cơ sở 4 phòng, Tiểuhọc 6 phòng, Mẫu giáo 3 phòng, hàng năm vận động học sinh vào lớp 1 đạt 100%, tỷ lệhọc sinh tăng hàng năm và tỷ lệ khá giỏi đạt cao, cụ thể:
Trang 16+ Tỷ lệ học sinh khá giỏi THCS năm 2005 - 2006 đạt 45,7%, cuối năm 2008 - 2009đạt 43,98%.
+ Tỷ lệ học sinh khá giỏi ở Tiểu học năm 2005 2006 đạt 37,2 %, cuối năm 2007
-2008 đạt 49,6%
Xã giữ vững chuẩn quốc gia về Phổ cập giáo dục (PCGD) tiểu học đúng độ tuổi vàPCGD trung học cơ sở
- Công tác y tế - dân số - Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ):
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được quan tâm, nhất là công tác phòngbệnh, phòng dịch, do đó trong 5 năm không xảy ra dịch bệnh trên địa bàn xã Song songvới công tác phòng bệnh ngành y tế xã phối hợp với các ban ngành thường xuyên vận độngnhân dân thực hiện các chương trình y tế quốc gia Bình quân tỷ lệ trẻ em được tiêm phòng
7 loại vắc xin đạt 95% chỉ tiêu hàng năm Trạm y tế được tách ra khỏi phòng khám khu vựcXuân Bình được sự quan tâm của thị xã và phòng y tế đã hoán đổi cơ sở nơi làm việc vớiHợp tác xã nông nghiệp đã phát huy và tạo điều kiện cho nhân dân khám chữa bệnh kịpthời, do đó chất lượng khám và chữa bệnh ngày càng được nâng lên Khám chữa bệnh bằngĐông - Tây y kết hợp của Hội đồng y khoa bước đầu có hiệu quả
Công tác dân số - KHHGD có nhiều chuyển biến tích cực, số cặp vợ chồng trong độtuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, hiện tại đạt trên 85% Do đó trong 5năm tỷ lệ phát triển dân số của xã giảm dần và còn 1% năm 2010, tỷ lệ sinh con thứ 3 từ20% giảm xuống còn 14,2%, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 19,4 % Triển khai tốt công tác
và thực hiện các chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) - KHHGĐ, các hoạtđộng y tế quốc gia, các phong trào bảo vệ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho bà mẹ và trẻ emđược chú trọng
- Công tác văn hóa - tuyên truyền thông tin, thể dục thể thao:
Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ởkhu dân cư” Đến nay toàn xã đã có 5/5 thôn là thôn văn hóa và xã đã được công nhận là xãvăn hóa năm 2008 Số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa ngày càng tăng bình quân hộ giađình đạt gia đình văn hóa hàng năm trên 85% so với số hộ toàn xã Cụ thể cuối năm 2009có 1704 hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa tăng 87,2%
Nhờ làm tốt công tác vận động tuyên truyền trong nhân dân thực hiện phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” Các biểu hiện mê tín dị đoan và các thủtục lạc hậu trong nhân dân được giảm dần Đời sống văn hóa từng bước hình thành, đi vàocuộc sống của nhân dân nhất là vấn đề ma chay, cưới hỏi…
Bên cạnh việc xây dựng đời sống văn hóa, các hoạt động thể dục thể thao dần dầnphát triển Hàng năm vào diệp kỷ niệm các ngày lễ lớn, Đảng ủy chỉ đạo Ủy ban xã tổ chứccác giải bóng chuyền cấp xã, các thôn đều có các đội tham gia Đồng thời xã cử các đoànvăn nghệ, TDTT, vận động viên tham gia giải do thị xã tổ chức như: giải bóng chuyền cấpthị xã, lễ hội sông nước Tam Giang, và các hoạt động thể dục thể thao khác do thị xã tổchức…Trong 5 năm xã đạt được nhiều giải thưởng của thị xã
Đài truyền thanh của xã được đầu tư, nghiệm thu và đưa vào sử dụng tạo điều kiệnthuận lợi cho việc tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật nhà nướctại địa phương
- Giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa:
Trang 17Công tác giải quyết việc làm, giúp nhau làm kinh tế gia đình thực hiện công tác xóađói giảm nghèo có tiến bộ Tuy là một xã thuần nông lao động nhàn rỗi trong nông nghiệpcòn rất nhiều, xã chủ động vận động nhân dân khôi phục các ngành nghề truyền thống như:làm bún, bánh hỏi, bánh tráng…Đặc biệt gần đây khu công nghiệp Đông bắc Sông Cầuphát triển nhân có phần tăng thêm Công tác đào tạo nghề như: thú y, mộc, nề…150 laođộng góp phần tích cực trong việc ổn định đời sống trong từng gia đình.
Bên cạnh đó hàng năm xã xây dựng các dự án cho vay vốn phát triển chăn nuôi giacầm gia súc nhất là đàn heo và đàn bò để tăng thu nhập cho nhân dân
Hàng năm được sự hỗ trợ của ngân hàng chính sách thị xã các đoàn thể của xã đãthành lập các dự án cho vay vốn hỗ trợ việc làm và các kênh khác và giải quyết được 1500lao động trong 5 năm
Song song công tác giúp nhau làm kinh tế để cải thiện đời sống nhân trong toàn xã.Xã còn quan tâm chú trọng phong trào đền ơn đáp nghĩa Tạo mọi điều kiện thuận lợi đểgiúp đỡ các gia đình chính sách, hộ gia đình neo đơn không nơi nương tựa, hộ nghèo phấnđấu vươn lên ngang mức sống trung bình trong toàn xã
Trong 5 năm chỉ đạo các ban ngành đoàn thể của xã phối hợp với Uỷ ban vận độngxây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa 40,922/50 triệu đồng đạt 81,8%, xây dựng và sữa chữa nhàtình nghĩa gồm 9/5 đạt tỷ lệ 180% Mặc khác kết hợp các nguồn vốn cấp trên đã hỗ trợ vốncho các đối tượng hộ nghèo có nhà tạm bợ dột nát trong 5 năm đã xây dựng 80 nhà tìnhthương Ngoài ra xã vận động nhân dân quên góp làm công tác nhân đạo và khắc phục bãolụt…
2.3 Về quốc phòng - an ninh
Công tác QP - AN có nhiều chuyển biến tích cực các phong trào quần chúng thamgia bảo vệ an ninh tổ quốc (ANTQ), phong trào phòng chống tội phạm, phòng chống matúy và các tệ nạ xã hội khác từng bước được hình thành và phát triển sâu rộng trong quầnchúng nhân dân, đã gắn kết phong trào nhân dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khudân cư Nhờ vậy những mâu thuẫn nhỏ trong nhân dân đã được giải quyết ngay tại cơ sở,tạo sự đoàn kết, tình làng nghĩa xóm giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau xây dựng và phát triểnkinh tế gia đình Trong 5 năm xã đã được UBND Tỉnh, Công an tỉnh và UBND thị xã tặngbằng khen và giấy khen phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc
Công tác quốc phòng thường xuyên được cũng cố Hằng năm Đảng ủy đã triển khainhiệm vụ công tác quốc phòng trong năm, UBND xã đã tổ chức triển khai thực hiện cóhiệu quả Nghị quyết
Các phương án tác chiến trị an, phương án phòng chống cháy nổ, phòng chống bãolụt, giảm nhẹ thiên tai thường xuyên được cũng cố và bổ sung Năm 2008 diễn tập theo kếhoạch CT 02 được Bộ chỉ huy quân sự thị xã đánh giá xếp loại khá
Giao quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu thị xã giao
2.4 Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nhiệm kỳ 5 năm (2011 – 2015)
* Mục tiêu tổng quát:
Tập trung khai thác tiềm năng và lợi thế tại địa phương , phát huy nội lưc hiện có vàtranh thủ các nguồn lực hỗ trợ bên ngoài để đầu tư phát triển kinh tế, đưa Xuân Bình pháttriển bền vững.Trước mắt những năm đầu tiên phát triển nông nghiệp làm nền tảng chonhững năm tiếp theo, đẩy mạnh phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ theo hướngCNH- HĐH nông nghiệp nông thôn Đẩy mạnh các hoạt động xã hội hóa về giáo dục, y tế,
Trang 18văn hóa- xã hôi, từng bước giải quyết có hiệu quả, nâng cao dân trí, chăm sóc sức khỏe,giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo cho nhân dân và giải quyết các vấn đề bức xúcđang đặt ra giữ vững ổn định và trật tự ổn định xã hội, tăng cường công tác quốc phòng.Tiếp tục cuộc vận động chỉnh đốn Đảng và “ Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ ChíMinh”, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, tăng cường hiệu lực quản lý điềuhành của UBND xã, đỏi mới phương thức hoạt động của Mặt trận và cac đoàn thể nhằmđáp ứng nhu cầu nhiệm vụ đặt ra trong thời kỳ mới.
* Các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2015:
- Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2015 là 11 triệu đồng
- Sản lượng muối đạt bình quân hàng năm là 17.000 tấn
- Sản lượng tôm thịt hàng năm là 30 tấn
- Thu ngân sách tăng bình quân hàng năm 10% đến 15%; đến năm 2015 đạt 750triệu đồng
- Xây dựng đường bê tông dài 4,5 km
- Tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2015 còn 5,63 %
- Huy động quỹ “ Đền ơn đáp nghĩa” 50 triệu đồng, quỹ “ Ngày vì người nghèo” 60triệu đồng
- Tỷ lệ phát triển dân số giữ ở mức 1%,
Hàng năm huy động 100% trẻ em đúng độ tuổi đến trường bậc tiểu học, 98% 100% lên lớp bậc tiểu học, 95% - 98% xét tốt nghiệp Trung học cơ sở Giữ vững tiêu chuẩnquốc gia về phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và tiến tới phổ cập GDTHCS
Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi cuối năm 2015 còn 13,4 %
- Tỷ lệ sinh con thứ 3 cuối năm 2015 còn 8,2%
- Hàng năm xây dựng 5/5 thôn văn hóa, gia đình văn hóa đạt 80 – 85%, xã đạt xãvăn hóa, cơ quan văn hóa
- Phấn đấu 100% cơ quan, đoàn thể trong sạch vững mạnh toàn diện
3 Diện mạo lao động nữ nông thôn ở xã Xuân Bình
3.1 Độ tuổi
So với một số xã lân cận trong huyện thì xã Xuân Bình là một trong những xã có tỷlệ phụ nữ trong độ tuổi lao động khá cao
Bảng 1: Tỷ lệ các độ tuổi Biểu đồ thể hiện độ tuổi phụ nữ xã Xuân Bình
Độ tuổi Tỷ lệ (%)
3.2 Trình độ học vấn
Từ 18 - 30 Từ 31 - 45 Từ 46 - 55 Trên 55
Trang 19Trong những năm gần đây, chính quyền địa phương xã Xuân Bình rất quan tâm đếnvấn đề giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho địa phương Tuynhiên, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau dẫn đến trình độ học vấn củangười dân nói chung và của phụ nữ nói riêng chưa tiến bộ như mong muốn.
Bảng 2: Trình độ học vấn
t Trình độ học vấn Tỷ lệ (%)
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, bên cạnh những nguyên nhân về kinhtế thì các quan niệm, sự nhìn nhận chưa đúng về khả năng và vai trò của phụ nữ đối với sựphát triển xã hội là một trong những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề này Đây sẽ làmột trong những trở ngại lớn để phụ nữ tiếp cận các chính sách của Nhà nước
3.3 Cơ cấu nghề nghiệp của lao động nữ
Trong những năm trở lại đây, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước thì
cơ cấu nghề nghiệp của xã Xuân Bình nói chung đã có nhiều sự thay đổi rõ rệt Đặc biệt là
cơ cấu nghề nghiệp dành riêng cho lao động nữ Nếu như trước đây, lao động nữ chủ yếutập trung vào những ngành nghề như nông nghiệp, những nghề thủ công truyền thống …thì giờ đây, phụ nữ đã tham gia vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có dịch vụ, côngnghiệp, hành chính nhà nước Kết quả điều tra cho thấy:
Bảng 3: Cơ cấu nghề nghiệp lao động nữ
Trang 20Biểu đồ thể hiện cơ cấu nghề nghiệp của lao động nữ
4 Thực trạng việc làm của phụ nữ xã Xuân Bình
4.1 Vấn đề thu nhập
Thu nhập là nhân tố cơ bản có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của conngười Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm chu đáo của chính quyền địa phương cáccấp mà đời sống của người dân xã Xuân Bình đã có nhiều chuyển biến tích cực về mọi mặt.Tuy nhiên, so với mặt bằng chung của toàn thị xã thì mức thu nhập của người dân xã XuânBình nói chung còn ở mức thấp, trong đó đặc biệt phải kể đến thu nhập của phụ nữ
Bảng 4: Thu nhập bình quân Mức thu nhập bình quân Tỷ lệ (%)
Từ 5 trăm đến dưới 1 triệu đồng 29Từ 1 triệu đến dưới 2 triệu đồng 28
Thực tế, qua kết quả điều tra bằng bảng hỏi kết hợp với các cuộc phỏng vấn sâu chothấy rằng: đa số phụ nữ có thu nhập dưới 1 triệu đồng (chiếm tới 62%), trong đó có đến33% phụ nữ có thu nhập dưới 5 trăm ngàn đồng Con số đó tập trung chủ yếu vào nhữngphụ nữ làm nông, làm mướn lưu động, một bộ phận phụ nữ chưa có việc làm chỉ ở nhà lonội trợ và những phụ nữ có con nhỏ Số phụ nữ có mức thu nhập từ 1 triệu đến dưới 2 triệuđồng chiếm 28%, đó là những phụ nữ làm công nhân và buôn bán nhỏ Những phụ nữ cóthu nhập từ 2 triệu đồng trở lên chiếm một tỷ lệ tương đối khiêm tốn 10%, chủ yếu ở nhữngphụ nữ là cán bộ – công chức, một số ít làm công nhân và những phụ nữ có sự kết hợpnhiều công việc trong quá trình phát triển kinh tế (ví dụ như vừa làm ruộng vừa buôn bán,vừa buôn bán vừa chăn nuôi…)
Với mức thu nhập như trên, rõ ràng nó chưa thể đáp ứng một cách đầy đủ cho đờisống của chị em phụ nữ ở xã Xuân Bình hiện nay Kết quả thu thập còn cho thấy: có 51%phụ nữ cho rằng với mức thu nhập này thì việc trang trãi cuộc sống còn thiếu và rất thiếuthốn, trong đó rất thiếu thốn chiếm 15% Số người trả lời có mức sống vừa đủ và dư dả
Công nhân
Thủ
công truyền thống
Buôn bán
Cán bộ
- công chức
Nghề
khác
Nghề
nghiệp
Trang 21chiếm tỷ lệ 49% (trong đó có 2% là dư dả) Tuy nhiên, qua ý kiến của đa số các phụ nữ,chúng tôi nhận ra rằng mức sống của họ có được như thế chủ yếu phụ thuộc vào thu nhậpcủa chồng, con Ví dụ như khi được hỏi về thu nhập và mức sống có phụ nữ cho biết:
“Mình có con nhỏ, đâu có thời gian làm gì ra tiền Cũng nhờ ảnh (chồng) đi làm thợ vôi,tiền công cũng được trên dưới 2 triệu nên đắp qua lại, chi tiêu cũng vừa đủ” Hay: “ Cô ởnhà mở quán cũng gọi là buôn bán cho vui, một ngày bán cũng được vài ba chai nước chứkhông lời lãi gì nhiều, phần lớn là thằng con trai nó chu cấp, nhờ đó mà cuộc sống cũngkhông thiếu thốn gì! ” Cũng qua đó, chúng ta thấy, đời sống của phụ nữ nông thôn còn phụthuộc nhiều, họ không có nhiều điều kiện để phát triển, để vươn lên khẳng định mình
4.2 Thời gian lao động chính của phụ nữ
Trải qua các giai đoạn lịch sử, dù ở chế độ xã hội nào phụ nữ cũng luôn có nhữngđóng góp nhất định cho sự phát triển chung của toàn xã hội Trong thực tế, ở hầu hết nhữngcông việc mà phụ nữ đang đảm nhận tốn khá nhiều thời gian và công sức Tuy nhiên, xãhội vẫn chưa nhìn nhận và trả công xứng đáng cho họ Đây cũng chính là nguyên nhân cảntrở sự phát triển của phụ nữ nói chung và đặc biệt là phụ nữ nông thôn nói riêng Là một xãthuần nông với 77,7% lao động nông nghiệp nên phụ nữ xã Xuân Bình cũng có những đặcđiểm tương tự Bên cạnh đó, do điều kiện kinh tế – xã hội của xã Xuân Bình còn khó khănnên đòi hỏi người phụ nữ phải đầu tư nhiều thời gian và công sức cho công việc của mình
Qua kết quả điều tra cho thấy: có đến 50% phụ nữ trả lời có thời gian làm việc trongngày từ 8 tiếng trở lên (trong đó có 22% phụ nữ gần như làm việc suốt ngày), tỷ lệ phụ nữlàm việc từ 6 – 8 tiếng mỗi ngày chiếm 25% và có 25% phụ nữ có thời gian làm việc trongngày dưới 6 tiếng
Bảng 5: Thời gian làm việc của phụ nữ
Khoảng thời gian làm việc trong ngày Tỷ lệ (%)
Tuy nhiên, những con số trên chỉ phản ánh đúng một phần nào đó bởi xét về tínhchất công việc của phụ nữ nông thôn và qua lân la chuyện trò với họ, chúng tôi nhận thấyrằng chỉ những phụ nữ có nghề nghiệp là cán bộ công chức hay những người làm côngnhân là có mức thời gian làm việc ổn định, cụ thể Đa số phụ nữ làm các nghề khác khá mơhồ khi được hỏi họ về vấn đề này Đa số họ đều nói: “mình làm nông biết đâu mà tính, cóngày nầy ngày kia; bữa làm 2 – 3 tiếng, bữa làm cả ngày, ngày mùa lên làm đầu tắt mặt tối,hết mùa có ai kêu làm gì thì làm, không thì làm việc nhà, lo nội trợ, công việc loay hoaysuốt” Hay những người buôn bán tại nhà, thời gian làm việc của họ không thể tính được,họ nói: “còn khách còn bán, hết khách thì thôi, hay mưa gió thì nghỉ bán….”
Mặt khác, với tính chất mùa vụ, hàng năm những phụ nữ làm muối chỉ làm từ cuốitháng Giêng (AL) đến tháng 6,7,8 tùy theo mùa nắng kéo dài hay ngắn Hết mùa làm muối,những ai có ruộng thì trồng lúa, trồng rau màu còn phần lớn thì nhàn rỗi Hay những phụ
Trang 22nữ làm mướn không phải ngày nào cũng có việc, có tháng nhiều người gọi thuê nhưng cótháng ở nhà suốt …
Như vậy, qua số liệu điều tra, tuy chúng ta thấy thời gian làm việc của phụ nữ ở đâykhá nhiều (từ 8 tiếng trở lên chiếm 50%) nhưng đặt trong mối tương quan với mức thunhập của họ thì chưa tương xứng (có đến 62% phụ nữ thu nhập dưới 1 triệu đồng trêntháng) Từ đó chúng ta thấy rằng, lao động nữ nông thôn còn rẽ, hiệu quả kinh tế từ nhữngcông việc họ làm mang lại còn thấp Điều đó đòi hỏi chính quyền địa phương cần có nhữngquan tâm thích hợp tạo điều kiện giúp phụ nữ nâng cao được hiệu quả kinh tế từ công việccủa mình
4.3 Những khó khăn gặp phải trong quá trình phát triển kinh tế
Trong quá trình phát triển kinh tế gia đình, ngoài những thuận lợi cơ bản như đượcchính quyền quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ, sự hỗ trợ nhiều mặt từ các ban ngành đoàn thểđịa phương … phụ nữ ở xã Xuân Bình cũng gặp phải không ít những khó khăn, trở ngại.Những khó khăn, trở ngại đó là: giá cả vật chất tăng cao, thiếu vốn, khó khăn do thiên tai –thời tiết, thiếu kiến thức kỹ thuật, thiếu đất canh tác, thiếu người làm và một số khó khănkhác Kết quả điều tra cho thấy:
Bảng 6: Những khó khăn chủ yếu của phụ nữ nông thôn Những khó khăn gặp phải Tỷ lệ (%)
Thiếu kiến thức - kỹ thuật 30Khó khăn do thiên tai – thời tiết 51
- Khó khăn do giá cả vật chất tăng cao: Cùng với sự biến động của thị trường hiện
nay, việc giá cả vật chất tăng cao ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của phụ nữ, 75% phụ nữcho rằng việc giá cả vật chất tăng cao không những gây khó khăn trong việc chi tiêu chosinh hoạt của gia đình mà còn là trở ngại nhiều cho hoạt động sản xuất
- Khó khăn do thiếu vốn đầu tư sản xuất: Sau hơn 20 năm đổi mới, sản xuất nông
nghiệp của nước ta phát triển khá mạnh với sự phát triển của kinh tế hộ gia đình, kinh tếtrang trại Tuy nhiên đến nay, vẫn còn nhiều hộ nông dân túng thiếu, đói nghèo đặc biệt lànhững hộ mà phụ nữ làm chủ hộ Kết quả điều tra cho thấy có 70% phụ nữ gặp khó khăn
về nguồn vốn cho phát triển kinh tế gia đình
- Khó khăn do thiên tai - thời tiết: có 51% phụ nữ cho rằng hoạt động kinh tế cũng
như đời sống của họ có nhiều khó khăn do thiên tai – thời tiết Tuy đã được tham gia cáclớp tập huấn về khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu nhưng với phụ nữ sự ảnh hưởng củathiên tai thời tiết là một trở ngại rất lớn
- Khó khăn do thiếu đất canh tác: dân số tăng nhanh, quá trình chuyển đổi mục đích
sử dụng (đất nông nghiệp thành đất nhà ở) làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị
Trang 23thu hẹp, dẫn đến việc phụ nữ thiếu đất hoặc không có đất canh tác, thiếu việc làm Con số33% phụ nữ trả lời mình thiếu đất canh tác đã phần nào phản ánh được thực trạng trên.
- Khó khăn do thiếu kiến thức – kỹ thuật : Đi liền với nhu cầu về vốn để sản xuất,
phụ nữ nông thôn còn có nhu cầu không nhỏ về tiếp thu các kiến thức kỹ thuật Phần lớnphụ nữ nông thôn, nhất là phụ nữ nghèo có trình độ văn hóa thấp, ít được học hành, đào tạo
về kỹ năng nghề nghiệp; ít được tiếp cận với các thông tin, kiến thức khoa học – kỹ thuậtchăn nuôi, trồng trọt, bảo quản chế biến nông sản … Do vậy họ rất lúng túng, thụ độngtrong sản xuất, trong phương thức làm giàu, xóa nghèo Theo kết quả điều tra có 30% phụnữ có nhu cầu này
- Khó khăn do thiếu người làm: tỷ lệ này chiếm khoảng 20%, nguyên nhân chủ yếu
do phụ nữ lao động kéo dài trong điều kiện làm việc thiếu vệ sinh, chế độ dinh dưỡng thiếuhụt trầm trọng làm cho sức khỏe bị suy kiệt, điều đó đòi hỏi cần có người hỗ trợ họ trongcông việc của mình
Ngoài ra, có 10% phụ nữ còn gặp phải một số khó khăn khác như : khó khăn do
sức khỏe yếu, công việc bấp bênh…
Biểu đồ thể hiện những khó khăn của phụ nữ trong phát triển kinh tế
4.4 Những nguồn lực để phát triển kinh tế
Để kinh tế – xã hội của xã Xuân Bình phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữcó nhiều cơ hội vươn lên phải cần đến nhiều nguồn lực khác nhau Bên cạnh những nguồnlực sẵn có của địa phương thì yếu tố ngoại lực cũng là một phần rất quan trọng mà chínhquyền cần quan tâm, huy động trong thời gian sắp tới Xuất phát từ thực trạng của địaphương, chúng ta có thể chỉ ra một số nguồn lực sau:
* Nguồn nội lực của CĐ :
- Xã Xuân Bình có lực lượng lao động của tương đối đông, với 4133 lao động, trongđó có 1917 LĐ nữ, người lao động có tính cần cù, chịu thương, chịu khó luôn muốn phấnđấu vươn lên thoát cảnh nghèo khó lam lũ, nếu được tạo điều kiện để họ phát triển họ sẽ
thuật
Thiên tai
Giá cả
tăng cao
Thiếu người làm
Thiếu đất canh tác
Khác
Khó khăn
Trang 24tiếp nhận và thay đổi nhanh chóng Đây được xem là nguồn lực cơ bản rất quan trọng củađịa phương
- Vị trí địa lý xã Xuân Bình vừa có đầm Cù Mông tiếp giáp biển, vừa có các đồngbằng nhỏ nằm trong các thung lũng, lại vừa có diện tích đồi núi rộng lớn ở phía Tây Nam.Chính đặc điểm này là một nguồn lực tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương phát triển đadạng ngành nghề, tạo công ăn việc làm cho người lao động nói chung và lao động nữ nóiriêng
khu vực phía bắc thị xã Sông Cầu Khai thác tốt nguồn lực này địa phương sẽ chủ độngđược nước tưới tiêu tăng vụ, tăng năng xuất đồng thời tận dụng nguồn nước này để pháttriển diện tích ao nuôi thủy sản nước ngọt
- Xã Xuân Bình có tuyến Quốc lộ 1A chạy ngang qua (khoảng 6 km), có tuyếnđường giao thông liên xã (Xuân Bình – Xuân Lộc – Xuân Hải) vừa được đầu tư nâng cấp,trong tương lai sẽ trở thành con đường huyết mạch thông thương của khu vực cánh Bắc thịxã Sông Cầu Đó là điều kiện để địa phương đầu tư phát triển các ngành nghề thuộc lĩnhvực dịch vụ, mở ra cơ hội việc làm cho không ít phụ nữ
- Cánh đồng muối Tuyết Diêm nổi tiếng từ xưa đến nay với những hạt muối có vịmặn mà khác với vị mặn chát của những vùng sản xuất khác Tuy nhiên, với lối canh táctruyền thống, phụ thuộc vào thời tiết nhiều và chất lượng hạt muối làm ra chưa ổn định nêngiá trị kinh tế mang lại còn thấp Hiện nay, người diêm dân đang được hỗ trợ bạt trải ruộng,máy bơm để sản xuất muối sạch, nếu khai thác tốt vấn đề này bà con diêm dân sẽ có nguồnthu nhập khá hơn
Sự tham gia của phụ nữ vào quá trình sản xuất
Trang 25*Nguồn ngoại lực :
Một số nguồn lực từ bên ngoài đã và đang tiếp tục được địa phương quan tâmthu hút như là:
- Đảng và Nhà nước ngày càng quan tâm đến đời sống của người dân về mọi
mặt, đặc biệt có những chính sách ưu đãi dành cho phụ nữ như: cho vay vốn, giải quyếtviệc làm, đào tạo bồi dưỡng kiến thức kỹ thuật, giáo dục, y tế…
- Xã Xuân Bình là một trong 3 xã thuộc khu vực cánh Bắc của thị xã Sông Cầu, cóvị trí chiến lược trong phát triển kinh tế của toàn thị xã nên luôn nhận được sự quan tâm chỉđạo, lãnh đạo sâu sát và tạo điều kiện thuận lợi của chính quyền các cấp
- Kể từ khi được bước vào hoạt động, khu công nghiệp Đông Bắc Sông Cầu đã mở
ra rất nhiều cơ hội việc làm cho các xã lân cận, trong đó có xã Xuân Bình Với các ngànhnghề sản xuất chủ yếu hiện nay như: làm đồ gỗ dân dụng và xuất khẩu, nguyên liệu giấy,phân bón, … tạo thuận lợi để người dân cũng như phụ nữ lựa chọn cho mình một công việcthích hợp, tạo thu nhập, ổn định cuộc sống
Trên đây là những nguồn nội lực và ngoại lực của của địa phương trong kế hoạchgiải quyết những khó khăn của nhân dân nói chung và của phụ nữ xã Xuân Bình nói riêng.Chúng ta cần xem xét và làm cơ sở xây dựng biện pháp giải quyết những khó khăn, trởngại của họ
Một góc cánh đồng muối Tuyết Diêm Hợp tác xã Muối Tuyết Diêm
Một số Công ty tại Khu CN Đông Bắc Sông Cầu