1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LÝ LUẬN KẾT HỢP CÁC MẶT đối LẬP VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆC GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN NẢY SINH

30 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý Luận Kết Hợp Các Mặt Đối Lập Và Vận Dụng Vào Việc Giải Quyết Mâu Thuẫn Nảy Sinh
Tác giả Lê Nhật Quyên
Người hướng dẫn TS. Trần Nguyên Ký
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết Học Mác-Lênin
Thể loại Đề Tài Kiểm Tra
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 311,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, giải quyết mâu thuẫn chính là giải quyếtvấn đề động lực của sự phát triển, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc của sự vận động và phát triển, làm cho cái

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỀ TÀI KIỂM TRA MÔN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

LÝ LUẬN KẾT HỢP CÁC MẶT ĐỐI LẬP VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆC GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN NẢY SINH

GV: TS.Trần Nguyên Ký SVTH : Lê Nhật Quyên

Lớp: DH46MRC02 MSSV: 31201025783

Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 4 năm 2021

Trang 3

Em xin chân thành cảm ơn thầy Trần Nguyên Ký và cuốn sách: “SỰ KẾT

HỢP CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA

XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY” Đây là nguồn tài liệu tham khảo vô cùng quý giá, là tiền đề để em hoàn thành được bài tập và có cái nhìn rõ nét hơn về sự thống nhất của các mặt đối lập nói riêng và về môn Triết học nói chung Đây là cuốn sách có giá trị sâu sắc, nhân văn về mọi mặt và chứa đựng trong đó những ý nghĩa thực tiễn lớn lao Và nó có được như vậy là nhờ sự tài giỏi và tâm huyết của tác giả Trần Nguyên Ký

Cuối lời, em xin kính chúc thầy luôn nhiều sức khỏe, hạnh phúc, thành côngtrong cuộc sống và sự nghiệp giảng dạy

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

Mâu thuẫn là điều tất yếu trong đời sống của chúng ta Ta có thể bắt gặpnhững mâu thuẫn trong mọi khía cạnh của cuộc sống: tự nhiên, xã hội và tư duycon người Trong lĩnh vực kinh tế, mâu thuẫn được thể hiện như giữa cung và cầu,thu nhập và chi tiêu hoặc là trong cuộc sống hằng ngày như giữa yêu và ghét, vui

và buồn…Mâu thuẫn mãi trường tồn theo thời gian tồn tại của sự vật

Qua nghiên cứu lý luận về mâu thuẫn biện chứng trong triết học cho thấy:Muốn phát hiện bản chất của mọi sự vận động và phát triển thì cần phải phân tíchđược mâu thuẫn vốn có của sự vật Từ đó, giải quyết mâu thuẫn chính là giải quyếtvấn đề động lực của sự phát triển, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập

là nguồn gốc của sự vận động và phát triển, làm cho cái cũ mất đi và cái mới ra đờithay thế Điều đó đã được V.I.Lenin khẳng định rằng: “Sự phát triển là một cuộcđấu tranh giữa các mặt đối lập” Chính vì vậy, việc nắm được sự kết hợp giữa cácmặt đối lập để vận dụng vào cuộc sống đời thường, giải quyết các mâu thuẫn nảysinh rất quan trọng

Quy luật mâu thuẫn là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật

và là “hạt nhân” của phép biện chứng duy vật vì nó vạch ra nguồn gốc động lực của

sự vận động phát triển của thế giới khách quan và nó là chìa khóa, là cơ sở giúpchúng ta nắm vững tính chất của tất cả các quy luật và phạm trù phép biện chứngduy vật

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

I Nội dung về sự kết hợp các mặt đối lập

1 Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập

a Định nghĩa về mặt đối lập

- Theo từ điển Bách Khoa triết học cho rằng: “Đối lập là một trong hai nhân tố

“đang đấu tranh với nhau” của một hệ thống nhất cụ thể, chúng là những mặt củamột mâu thuẫn”

- Giáo trình Triết học Mác Lênin viết: “ Khi nói tới những nhân tố cấu thànhmâu thuẫn biện chứng, “mặt đối lập” là phạm trù dùng để chỉ những mặt có nhữngđặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi tráingược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy Chínhnhững mặt như vậy nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại với nhau tạo thành mâuthuẫn biện chứng.”

b “Mặt đối lập” là những gì?

Trong lịch sử triết học đã có nhiều nhà triết học đề cập tới mâu thuẫn của các

sự vật, của thế giới như:

- Thuyết Âm dương - Ngũ hành của Trung Hoa đã đề cập tới các mâu thuẫn

Âm Dương, mâu thuẫn giữa các yếu tố bản nguyên Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ

- Nhà triết học Hy Lạp cổ đại là Hêraclit cũng nhấn mạnh mâu thuẫn của các hiện tượng, quá trình khách quan

- Nhà triết học cổ Đức là Ikant cũng đề cập tới Antinômi (ông đã nêu ra 4 loại Antimoni)

- Hêghen cũng đã đề cập tới mâu thuẫn của tư duy

Trang 6

Về cơ bản các quan niệm đều đã mô tả mâu thuẫn khách quan nhưng chưa làm

rõ được sự chuyển hóa biện chứng của các mặt đối lập, do vậy khái niệm mâuthuẫn còn nặng về hình thức mà chưa đi sâu vào nội dung biện chứng của các mặtđối lập

Đến triết học Mác-Lênin quan niệm về mâu thuẫn mới thể hiện rõ nội dungbiện chứng.“Mặt đối lập” khi thì được xác định như là những thuộc tính, khuynhhướng vận động trái ngược nhau( ví dụ: lương thiện và độc ác, bóc lột và bị bóclột); khi thì được xem như là những mặt trong đó có những thuộc tính, nhữngkhuynh hướng đối lập( ví dụ: mặt phải và mặt trái trong kinh tế thị trường); có khicòn được xem như là những yếu tố, bộ phận nằm trong một sự vật, hiện tượng haytrong các sự vật, hiện tượng khác nhau( giai cấp vô sản và giai cấp tư sản); thậmchí có khi bản thân các sự vật, hiện tượng, hệ thống cũng được xem là những mặtđối lập (ví dụ hệ thống xã hội chủ nghĩa và hệ thống tư bản chủ nghĩa)

Trong nhiều trường hợp, các mặt đối lập là những thuộc tính vừa bài trừ lẫnnhau, vừa gắn bó tồn tại, xâm nhập lẫn nhau trong một sự vật Chẳng hạn, hai thuộctính giá trị và giá trị sử dụng tồn tại trong một hàng hóa; cái đúng và cái sai, cái tốt

và cái xấu, cái thiện và cái ác,v.v… có thể tồn tại và đấu tranh với nhau trong cùngmột con người Trong trường hợp này, mặt đối lập chỉ có thể hiểu là những thuộctính, khuynh hướng đối lập, chứ không phải là những bộ phận hay sự vật đối lập.Ngoài ra, những yếu tố, bộ phận, sự vật, quá trình, hệ thống,v.v đều có thểđược xem là những mặt đối lập.Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa thì bản chất của sự đốilập bao giờ cũng được quy định bởi những thuộc tính và khuynh hướng đối lập Hai thuộc tính chỉ được xem là hai mặt đối lập khi chúng có sự tác động ngượcchiều nhau: bài trừ, gạt bỏ, chống đối lẫn nhau; điều đó có nghĩa là chúng được xéttrong quan hệ tác động lẫn nhau

Trang 7

Khi xem xét mặt đối lập là những bộ phận, những sự vật, những hệ thống, cómột số điều cần lưu ý:

+ Một là, tất cả những đối lập dù đó là đối lập giữa những bộ phận giữa những sự

vật hay giữa những hệ thống v.v đều xuất phát từ sự đối lập giữa những thuộctính nhất định Bản chất của một mâu thuẫn được quy định bởi sự đối lập củanhững thuộc tính tất nhiên, cơ bản ở các mặt hợp thành mâu thuẫn ấy Ví dụ, sự đốilập giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản là sự đối lập giữa các thuộc tính: chiếmhữu tư liệu sản xuất và không có tư liệu sản xuất, làm chủ và làm thuế, bóc lột và bịbóc lột, áp bức và bị áp bức, thống trị và bị thống trị Sự đối lập giữa hai hệ thống

xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trước đây là sự đối lập giữa các thuộc tính: xãhội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa,v.v… Tất nhiên những thuộc tính này sở dĩ đốilập nhau vì chúng gắn liền với những khuynh hướng vận động trái ngược nhau, bàitrừ nhau, chống đối nhau

+ Hai là, không phải toàn bộ, mà chỉ có một số thuộc tính trong các bộ phận, sự

vật, hệ thống đó đối lập với nhau Ví dụ, khi nói tới mâu thuẫn giữa hai giai cấphay hai nhà nước không có nghĩa là tất cả những gì trong hai giai cấp hay hai nhànước đó đều đối lập với nhau

+ Ba là, sự đối lập giữa hai bộ phận, hai sự vật, hai hệ thống có thể là sự đối lập

giữa các thuộc tính cơ bản, cũng có thể là sự đối lập giữa các thuộc tính không cơbản Chẳng hạn, người ta căn cứ vào sự đối lập giữa lợi ích cơ bản hay không cơbản của các giai cấp, các lực lượng xã hội để xác định mâu thuẫn đối kháng

+ Bốn là, đối lập giữa hai bộ phận, hai sự vật, hai hệ thống có thể là sự đối lập

giữa các thuộc tính tất nhiên, cũng có thể là sự đối lập giữa một số dấu hiệu khôngtất nhiên Nhiều khi một mâu thuẫn nhất định có thể vừa có khía cạnh tất yếu, vừa

có khía cạnh không tất yếu

2 Sự thống nhất giữa các mặt đối lập

Trang 8

Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm mặt đối lập là sự khái quát nhữngthuộc tính, những khuynh hướng ngược chiều nhau tồn tại trong cùng một sự vậthiện tượng, tạo nên sự vật hiện tượng đó Trong cùng một thời điểm ở mỗi sự vậthiện tượng cá thể cùng tồn tại nhiều mặt đối lập Chỉ có những mặt đối lập là tồn tạithống nhất trong cùng một sự vật như một chỉnh thể, nhưng có khuynh hướng pháttriển ngược chiều nhau, bài trừ, phủ định và chuyển hóa lẫn nhau gọi là hai mặt đốilập mâu thuẫn “thống nhất” Hai mặt đối lập được hiểu với ý nghĩa không phảichung đứng cạnh nhau mà nương tựa vào nhau, tạo ra sự phù hợp cân bằng nhưliên hệ phụ thuộc, quy định và ràng buộc lẫn nhau Mặt đối lập này lấy mặt đối lậpkia làm tiền đề cho sự tồn tại của mình và ngược lại Nếu thiếu một trong hai mặtđối lập chính tạo thành sự vật thì nhất định không có sự tồn tại của sự vật Bởi vậy

sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện không thể thiếu được cho sự tồn tạicủa bất kỳ sự vật nào

- Thứ nhất, đó phải là một khái niệm chung nhất được khái quát từ các mặt

phù hợp khác nhau phản ánh được bản chất của sự phù hợp của lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất

- Thứ hai, đó phải là một khái niệm “động” phản ánh được trạng thái biến đổi

thường xuyên của sự vận động, phát triển trong quan hệ sản xuất và lực lượng sảnxuất

- Thứ ba, đó phải là một khái niệm có ý nghĩa thực tiễn Ngoài ý nghĩa nhận

thức, khái niệm về sự phù hợp của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất được coi

là thỏa đáng phải có tác dụng định hướng, chỉ dẫn cho việc xây dựng quan hệ sảnxuất, sao cho những quan hệ sản xuất có khả năng phù hợp cao nhất với lực lượngsản xuất

Tuy nhiên, khái niệm thống nhất này chỉ mang tính tương đối, bản thân nộidung khái niệm cũng đã nói lên tính chất tương đối của nó; Thống nhất của cái đốilập, trong thống nhất đã bao hàm và chứa đựng trong nó sự đối lập

Trang 9

Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời sự đấutranh chuyển hóa giữa chúng Tính thống nhất của các mặt đối lập là các mặt đốilập khẳng định nhau, nương tựa vào nhau, thâm nhập lẫn nhau, tồn tại không táchrời nhau (mặt đối lập này lấy mặt đối lập kia làm điều kiện, tiền đề cho sự tồn tạicủa mình); là các mặt đối lập đồng nhất nhau, tức trong chúng chứa những yếu tốgiống nhau và cho phép chúng đồng tồn tại trong sự vật; là các mặt đối lập tác độngngang nhau, tức sự thay đổi trong mặt đối lập này tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổitrong mặt đối lập kia và ngược lại.

3.Sự đấu tranh giữa các măt đối lập

Đấu tranh giữa các mặt đối lập dù tồn tại trong sự thống nhất, song các mặtđối lập luôn đấu tranh với nhau, tức chúng luôn tác động qua lại theo xu hướng phủđịnh, bài trừ hay loại bỏ lẫn nhau Hình thức và mức độ đấu tranh của các mặt đốilập rất đa dạng trong đó thủ tiêu lẫn nhau là một hình thức đấu tranh đặc biệt củacác mặt đối lập

4.Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật- Nguyên tắc phân tích mâu thuẫn (phân đôi cái thống nhất)

Trong hoạt động nhận thức, để hiểu đúng sự vật, thấy được nguồn gốc vậnđộng, phát triển (tức mâu thuẫn) của nó:

- Phân đôi sự vật thành các cặp mặt đối lập, khảo sát sự thống nhất và đấu tranhcủa các mặt đối lập để phát hiện ra các mâu thuẫn biện chứng đang chi phối sự vậtđó

- Phân loại và xác định đúng vai trò, giai đoạn tồn tại của từng mâu thuẫn biệnchứng( đặc biệt là mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn bên trong,…)đang chi phối vận động, phát triển của bản thân sự vật

Trang 10

- Phân tích kết cấu và điều kiện tồn tại của sự vật để xác định đúng quy mô vàphương thức giải quyết của từ mâu thuẫn biện chứng, dự đoán cái mới ra đời sẽ vậnđộng dưới sự tác động của những mâu thuẫn biện chứng nào.

Trong hoạt động thực tiễn, để đạt được hiệu quả phải:

- Hiểu rõ nguồn gốc, động lực thúc đẩy sự vận động, phát triển của bản thân sựvật là những mâu thuẫn biện chứng; xác định đúng những mâu thuẫn biện chứngđang chi phối sự vật để từ đó xây dựng các đối sách thích hợp

-Tìm hiểu và sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp( mà trướchết là những công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để can thiệp đúng lúc, đúngchỗ ,đúng mức độ và tiến trình vận động, phát triển của bản thân sự vật để chèo lái

nó theo đúng quy luật và hợp lợi ích của chúng ta:

+ Muốn sự vật thay đổi nhanh phải đẩy mạnh sự tác động( đấu tranh) của các mặtđối lập và tạo điều kiện thuận lợi để chúng nhanh chóng chuyển hóa lẫn nhau, đểmâu thuẫn biện chứng sớm được giải quyết; ngược lại, muốn duy trì sự ổn định của

sự vật phải dung hòa sự xung đột của các mặt đối lập trong phạm vi cho phép;+ Khi điều kiện đã hội đủ và mâu thuẫn biện chứng đã chín muồi, phải cương quyếtgiải quyết nó, mà không nên chần chừ, do dự hay thỏa hiệp, tức phải giải quyếtmâu thuẫn đúng lúc, đúng chỗ và đúng mức độ…

5.Kết hợp biện chứng giữa các mặt đối lập

- Theo tư tưởng của Mác- Lênin về sự kết hợp giữa các mặt đối lập của sự vậtđược tác giả Trần Nguyên Ký phân tích rất sâu sắc trong cuốn: “Sự kết hợp các mătđối lập trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay” như sau:mâu thuẫn của sự vật, biểu hiện ở cuộc đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đốilập, là nguồn gốc, động lực của sự phát triển sự vật đó Trong tư tưởng biện chứngcủa C.Mác, Ph Ăngghen, V.I.Lênin về mâu thuẫn, khi quan niệm nguồn gốc củamọi sự vạn động, phát triển của sự vật khách quan đều bắt nguồn từ mâu thuẫn bên

Trang 11

trong, các ông luôn chú trọng giải quyết những vấn đề liên quan đến mâu thuẫn, đó

là vấn đề thống nhất, vấn đề đấu tranh và các vấn đề kết hợp các mặt đối lập Trong

đó vấn đề kết hợp các mặt đối lập được các ông xem xét với tính cách là một biểuhiện hoạt động của chủ thể con người trong việc giải quyết một số mâu thuẫn xãhội cụ thể nhất định, trên cơ sở nhận thức sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặtđối lập trong mâu thuẫn này

- Khi đề cập tới vấn đề thống nhất giữa các mặt đối lập trong một mâu thuẫnbiện chứng cần tiếp cận từ ba cấp độ:

+ Thứ nhất, xem xét sự thống nhất giữa các mặt đối lập từ góc độ bản thể luận,

tức sự thống nhất khách quan vốn có của chúng Ở góc độ này, mâu thuẫn của sựvật được biểu hiện ra với tư cách của một hệ thống nhất hoàn chỉnh Đương nhiên,

đó không phải là sự thống nhất có tính tuyệt đối, mà trái lại, là một sự thống nhấttương đối, thống nhất trong sự khác biệt, kể cả sự đối lập

+ Thứ hai, xem xét sự thống nhất giữa các mặt đối lập từ góc độ nhận thức luận.

Ở góc độ này, sự thống nhất giữa các mặt đối lập được xem xét như đối tượng nhậnthức của con người Nhiệm vụ của chủ thể ở đây là phải phát hiện, vạch ra nhữngmặt đối lập đang tồn tại, ẩn nấu bên dưới cái vỏ thống nhất hoàn chỉnh Điều này rõràng là một công việc không đơn giản, không chỉ tùy thuộc vào nhân tố chủ quanvào chủ thể mà còn phụ thuộc vào chính bản thân mâu thuẫn Bởi vì, mâu thuẫnkhông tự bộc lộ ra mà nó tồn tại bên trong cái “vỏ bọc” thống nhất với những hìnhthức cụ thể của nó

+ Thứ ba, xem xét sự thống nhất giữa các mặt đối lập từ góc độ thực tiễn Ở góc

độ này, trên cơ sở nhận thức sự thống nhất( và đương nhiên bao hàm cả sự đấutranh) giữa các mặt đối lập giữa một mâu thuẫn nhất định, chủ thể có thể thực hiệnviệc kết hợp các mặt đối lập từ đó tạo điều kiện giải quyết mâu thuẫn được tốt Dĩnhiên,vì đây là biểu hiện hoạt động của chủ thể cho nên việc kết hợp các mặt lúcnào cũng xuất phát từ nhu cầu lợi ích của chủ thể Có thể khẳng định sự kết hợp cácmặt đối lập phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan, tính tất

Trang 12

yếu khách quan với nhân tố chủ quan Một mặt, con người với tư cách chủ thể tiếnhành hoạt động kết hợp các mặt đối lập nhằm giải quyết một mâu thuẫn xã hội cụthể theo hướng có lợi cho bản thân, đáp ứng được nhu cầu, lợi ích của bản thân;song mặt khác, không phải là hoạt động chủ quan tùy tiện, mà phải trên cơ sở nhậnthức đúng và tuân theo những yêu cầu khách quan, cũng như những điều kiệnkhách quan của việc giải quyết mâu thuẫn đó.

- Việc kết hợp các mặt đối lập trong lĩnh vực xã hội không phải là hành độngđược tiến hành với bất kì yếu tố, mặt đối lập nào, trong bất kỳ điều kiện nào Càngkhông nên hiểu việc kết hợp này là một hoạt động mang tính chủ quan thuần túy,thậm chí là tùy tiện vô nguyên tắc của chủ thể hành động Việc kết hợp các mặt đốilập ở đây, với tư cách là một hoạt động tích cực của hoạt động chủ quan, phải đượcdựa trên cơ sở khách quan cụ thể, đó là những đòi hỏi tất yếu của việc kết hợp và ở

cả những điều kiện khách quan cho phép để tiến hành việc kết hợp này Đồng thờiviệc kết hợp các mặt đối lập trong đời sống xã hội cũng phải thể hiện được tínhđịnh hướng rõ ràng Cụ thể là việc kết hợp này phải làm sao cho quá trình vừathống nhất, vừa đấu tranh giữa các mặt đối lập trong một chỉnh thể mâu thuẫn xãhội cụ thể, mặt đối mặt đại diện cho sự tiến bộ sẽ dần dần chiến thắng được mặt đốilập đại diện cho sự lạc hậu Có như vậy, việc giải quyết mâu thuẫn xã hội mới đemlại động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, phù hợp với quy luật khách quan của

xã hội

- Sở dĩ như vậy là vì trong thực tế xã hội, không giống như ở dưới tự nhiên,những mâu thuẫn xã hội thường được biểu hiện thông qua thái độ, nguyện vọng củacác lực lượng xã hội Các mặt đối lập trong chỉnh thể mâu thuẫn xã hội thường biểuhiện qua là một mặt đại diện cho cái cũ, là lực cản sự phát triển xã hội, còn mặt kiađại diện cho cái mới, cái thúc đẩy xã hội phát triển Trong sự phát triển xã hội, cáimới và cái cũ không tách rời nhau mà gắn bó với nhau, đan xen nhau, vừa thốngnhất, vừa đấu tranh với nhau Vai trò của cái mới đối với sự phát triển xã hội chỉđược phát huy trên cơ sở phủ định biện chứng, biết kế thừa cái cũ Bởi vì, bản thân

Trang 13

cái cũ, dù là nhân tố, về căn bản, kìm hãm sự phát triển, song không vì thế màkhông còn chứa đựng những yếu tố có thể góp phần vào sự phát triển xã hội Do

đó, việc kết hợp các mặt đối lập- giữa cái cũ và cái mới- với tính cách là một hoạtđộng tích cực chủ quan nhằm giải quyết mâu thuẫn xã hội hội khách quan khôngthể không tiến hành và hơn nữa, không thể tiến hành một cách tùy tiện, vô nguyêntắc, không thu tuân theo quy luật khách quan

- Có thể nói, lý luận Mác Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa điều kiệnkhách quan và nhân tố chủ quan hoàn toàn xa lạ với quan điểm tả khuynh, nóngvội, chủ quan, duy ý chí cũng như sự bảo thủ, trì trệ, thụ động trong hoạt động thựctiễn Ở đây, hoạt động con người là nguồn gốc của sự phát triển Bởi sự sang tạotrong lao động, phát huy tinh thần học hỏi, đổi mới đã dẫn đến sự phát triển

II Sự vận dụng của Lê-nin về chính sách kinh tế mới (NEP)

1.Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã khai sinh ra chế độ xã hội chủ nghĩa đầu tiên và mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) V.I.Lê-nin đã nhận định về ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga 1917: “Chúng ta có quyền tự hào và quả thật chúng ta tự hào là đã có cái hân hạnh được bắt đầu việc xây dựng nhà nước Xô-viết và do đó, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới…”.

Sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước Nga giai đoạn này diễn ra trong bối cảnhhết sức đặc biệt Về bối cảnh chính trị, chính quyền Xô-viết trong những tháng nămđầu tiên, giữa vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, phải liên tục đương đầu với những

vụ nổi loạn, can thiệp của “thù trong, giặc ngoài” Thêm vào đó, với những kinhnghiệm chính trị, cầm quyền còn ít ỏi, giai cấp công nhân và hệ thống chính trị Xô-viết gặp rất nhiều khó khăn trong tổ chức và xây dựng chế độ mới Chỉ trong mộtthời gian ngắn, V.I.Lê-nin đã nhận ra sự khác biệt căn bản là “giành chính quyền đãkhó nhưng xây dựng chính quyền còn khó hơn nhiều”

Trang 14

Về bối cảnh kinh tế, nước Nga Xô-viết bắt tay vào xây dựng CNXH từ nhữngtiền đề kinh tế thấp kém: Chủ nghĩa tư bản (CNTB) ở Nga mới phát triển ở giaiđoạn đầu, trình độ sản xuất phổ biến của đất nước là tiểu nông, nhiều tàn tích củachế độ phong kiến nông nô, chế độ chuyên chế chưa được xóa bỏ; nền kinh tế kiệtquệ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất; chế độ mới lại bị CNTB bao vây kinh tế, cấmvận… Thêm vào đó, năng lực tổ chức quản lý còn yếu kém của chính quyền Xô-viết, “bệnh ấu trĩ tả khuynh” trong cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới cũngkhiến cho bối cảnh kinh tế của nước Nga Xô-viết những năm đầu tiên gặp nhiềukhó khăn.

Bối cảnh nước Nga khi bắt tay vào xây dựng CNXH có nhiều nét đặc thù so với

lý luận chung của chủ nghĩa Mác về xây dựng CNXH C.Mác quan niệm rằng,những tiền đề vật chất do CNTB phát triển ở trình độ cao làm chín muồi nguyênnhân kinh tế cơ bản của các cuộc cách mạng XHCN; tình thế để cách mạng thắnglợi là nó phải nổ ra đồng loạt cùng lúc ở nhiều nước, chí ít là những nước tư bảnphát triển cao như Anh, Mỹ, Pháp, Đức… Nhìn chung, bối cảnh và đặc điểm kinh

tế xã hội của Nga đương thời cần rất nhiều đến sự sáng tạo khi vận dụng lý luậncủa C.Mác về cách mạng XHCN V.I Lê-nin chính là con người mà lịch sử cầnđến và đã tạo ra trong sự nghiệp xây dựng CNXH hiện thực đầu tiên của nhân loại

2 Xây dựng CNXH hiện thực là một công trình kỳ vĩ liên quan đến rất nhiều lĩnh vực, cả về nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn Ở đây, chỉ tập trung vào hai điểm cơ bản nhất mà V.I Lê-nin đã có nhiều đóng góp, phát triển lý luận Đó là quan niệm về CNXH (mô hình CNXH) và biện pháp để xây dựng CNXH (con đường đi lên CNXH) từ thực tiễn nước Nga.

Thứ nhất, từ mô hình “Chính sách cộng sản thời chiến” đến mô hình “Chính

sách kinh tế mới” Những năm đầu của Cách mạng Tháng Mười, trong tình cảnhnội chiến chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ chính quyền Xô-viết là mục tiêu hàng

Trang 15

đầu Chính sách “cộng sản thời chiến” đã được áp dụng để đáp ứng những yêu cầucấp bách ấy Chính sách “cộng sản thời chiến” (1918-1921) thực chất là một biệnpháp tình thế, thích ứng với trạng thái ngặt nghèo của nhà nước Xô-viết non trẻ Đểhuy động các nguồn lực cho những nhu cầu cấp thiết, các biện pháp mệnh lệnhhành chính thiên về việc sử dụng quyền lực nhà nước đã được ban bố và thực hiện.Mục đích là để trưng thu, tịch thu lương thực, thực phẩm và các tư liệu sản xuấtnhằm phục vụ cho nhu cầu quốc phòng và dân sinh.

Mặt khác, trong ý tưởng của V.I Lê-nin, cũng đã khởi phát tư duy rằng có thểngay lập tức thực hiện những hình thức cộng sản chủ nghĩa vào giai đoạn đầu củaCách mạng Tháng Mười Người muốn ngay tức khắc xóa bỏ thị trường, phân phốitheo sản phẩm, trao đổi bằng hiện vật giữa thành thị và nông thôn và biến toàn bộ

xã hội thành một guồng máy kế hoạch hóa duy nhất Về xây dựng dân chủ, V.I nin cũng đã có ý tưởng phát triển dân chủ rộng rãi, trực tiếp và ở trình độ cao, làmcho quần chúng vừa trở thành là người lập pháp vừa là người hành pháp

Lê-Mặt hợp lý và hạn chế của mô hình đó đã bộc lộ trong một thời gian ngắn.Nhiều nguồn lực cho nhu cầu quốc phòng và dân sinh cấp thiết đã được huy động,qua đó giúp củng cố và phát triển sức mạnh của chính quyền Xô-viết Song mặtkhác, nhiều hạn chế, bất cập cũng đã bộc lộ: phương pháp mệnh lệnh hành chính, ýchí chủ quan muốn xây dựng ngay CNXH đã không được thực tế chấp nhận Việcchưa quan tâm đến lợi ích chính đáng của cả “một biển người tiểu nông đang mongđợi lợi ích thường nhật sau cách mạng” đã làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội bứcxúc Cái hợp lý ban đầu và chỉ đúng trong một thời điểm nay đã trở thành khuyếtđiểm khi nó bị kéo dài quá mức V.I Lê-nin nhận định: “chúng ta đã phạm mộtsai lầm đã quyết định chuyển ngay sang việc sản xuất và phân phối cộng sản chủnghĩa cách làm như vậy là sai”

Ngày đăng: 23/11/2021, 20:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w