Qua hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực của đời sống xã hội: Kinh tế tăng trưởng khá, chính trị ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường, văn hóa xã hội có bước phát triển mới; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, đi vào chiều sâu, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Quan hệ đối ngoại của Đảng không ngừng được mở rộng và tăng cường với các chính đảng ở các nước khác nhau trên thế giới theo hướng đa phương và đa dạng hóa các quan hệ. Công tác đối ngoại của Đảng cùng ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân kết hợp hài hòa đã tạo nên những thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao, góp phần phát triển đất nước trong những năm qua.Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, các thế hệ người Việt Nam đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm đối ngoại quý báu, truyền thống yêu nước, tinh thần quật khởi chống ngoại xâm, ý chí tự cường dân tộc, bảo vệ độc lập chủ quyền đất nước. Sự năng động sáng tạo trong hoạt động đối ngoại, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính trị, quân sự với ngoại giao, vừa đánh vừa đàm, vừa cương vừa nhu, quan tâm đến việc xây dựng quan hệ hữu nghị với các dân tộc, các nước trên thế giới. Đây là nét đặc sắc của truyền thống ngoại giao dân tộc được Đảng và Nhà nước Việt Nam kế thừa, phát triển trong quá trình lãnh đạo cách mạng nói chung và trong xây dựng, triển khai đường lối, chính sách đối ngoại ngày nay nói riêng.Trong hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại và triển khai hoạt động đối ngoại, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định lập trường, quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đây là vấn đề có tính nguyên tắc. Những nội dung cách mạng triệt để về thời đại, về vấn đề dân tộc và quốc tế, về quan hệ quốc tế và tình đoàn kết theo chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong học thuyết MácLênin luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng nghiên cứu, quán triệt và vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam. Là một cán bộ, đảng viên được học tập nghiên cứu môn Quan hệ Quốc tế, em lựa chọn chuyên đề “Đường lối đối ngoại và chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay” để làm bài thu hoạch.
Trang 1B NỘI DUNG 3
I CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI: 3
1 Cơ sở hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới: 3
1.1 Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại: 3
1.2 Tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong nước: 4
1.3 Tình hình thế giới và khu vực: 5
1.4 Truyền thống ngoại giao của dân tộc : 6
2 Quá trình hình thành, phát triển đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới 6
2.1 Giai đoạn từ Đại hội VI đến Đại hội VII của Đảng: 6
2.2 Giai đoạn từ sau Đại hội VII đến nay: 8
II NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY: 9
1 Mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ: 9
2 Phương châm đối ngoại 10
III VIỆT NAM CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP QUỐC TẾ: 11
1 Quan niệm chung của các nước về hội nhập quốc tế: 11
2 Chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay: 12
3 Nội dung chủ động và tích cực hội nhập quốc tế: 13
4 Một số giải pháp chủ yếu để chủ động và tích cực hội nhập quốc tế: 13
IV MỘT SỐ THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI: 15
1 Thành tựu: 15
2 Hạn chế: 15
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 2A MỞ ĐẦU
Qua hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực của đời sống xã hội: Kinh tế tăng trưởng khá, chính trị ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường, văn hóa
-xã hội có bước phát triển mới; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, đi vào chiều sâu, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao Quan hệ đối ngoại của Đảng không ngừng được mở rộng và tăng cường với các chính đảng ở các nước khác nhau trên thế giới theo hướng đa phương và đa dạng hóa các quan hệ Công tác đối ngoại của Đảng cùng ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân kết hợp hài hòa đã tạo nên những thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao, góp phần phát triển đất nước trong những năm qua
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, các thế hệ người Việt Nam đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm đối ngoại quý báu, truyền thống yêu nước, tinh thần quật khởi chống ngoại xâm, ý chí tự cường dân tộc, bảo vệ độc lập chủ quyền đất nước Sự năng động sáng tạo trong hoạt động đối ngoại, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính trị, quân sự với ngoại giao, vừa đánh vừa đàm, vừa cương vừa nhu, quan tâm đến việc xây dựng quan hệ hữu nghị với các dân tộc, các nước trên thế giới Đây là nét đặc sắc của truyền thống ngoại giao dân tộc được Đảng và Nhà nước Việt Nam kế thừa, phát triển trong quá trình lãnh đạo cách mạng nói chung và trong xây dựng, triển khai đường lối, chính sách đối ngoại ngày nay nói riêng
Trong hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại và triển khai hoạt động đối ngoại, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định lập trường, quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đây là vấn đề có tính nguyên tắc Những nội dung cách mạng triệt để về thời đại, về vấn đề dân tộc và quốc
tế, về quan hệ quốc tế và tình đoàn kết theo chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong học thuyết Mác-Lênin luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng nghiên cứu, quán triệt và vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam
Là một cán bộ, đảng viên được học tập nghiên cứu môn Quan hệ Quốc tế, em
lựa chọn chuyên đề “Đường lối đối ngoại và chủ trương hội nhập quốc tế của
Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay” để làm bài thu hoạch
Trang 3B NỘI DUNG
I CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI:
1 Cơ sở hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới:
Trong hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại và triển khai hoạt động đối ngoại, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định lập trường, quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đây là vấn đề có tính nguyên tắc Những nội dung cách mạng triệt để về thời đại, về vấn đề dân tộc và quốc
tế, về quan hệ quốc tế và tình đoàn kết theo chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong học thuyết Mác - Lênin luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng nghiên cứu, quán triệt và vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã thông qua đường lối đổi mới toàn diện, trong đó có đổi mới lĩnh vực hoạt động đối ngoại Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta thời kỳ đổi mới được hoạch định trên những cơ
sở chủ yếu sau đây:
1.1 Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại:
Trong quá trình hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn kiên định lập trường, quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đây là cơ sở lý luận và là vấn đề có tính nguyên tắc, vì một số lý do sau:
- Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta Những nội dung có tính khoa học và cách mạng về thời đại, về vấn đề dân tộc và quốc tế, về quan hệ quốc tế và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân tư tưởng cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau, về quyền dân tộc tự quyết trong quan hệ quốc tế trong học thuyết Mác-Lênin luôn được Đảng ta chủ trương nghiên cứu
và vận dụng sáng tạo trong bối cảnh thế giới mới và điều kiện cụ thể của Việt Nam
- Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống các quan điểm về đường lối chiến lược và sách lược đối với các vấn đề quốc tế và quan hệ quốc tế
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện trên các vấn đề lớn, mang tính chiến lược như:
+ Một là, độc lập dân tộc: Đây vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là phương châm hành động của ngoại giao Việt Nam Theo Bác, ngoại giao Việt Nam phải
Trang 4luôn giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, tự mình quyết định đường lối, chủ trương của mình Điều đó cũng có nghĩa, chỉ trên tinh thần độc lập dân tộc, Đảng ta mới nắm được tình hình cụ thể, khả năng, lợi ích của đất nước, từ đó đề
ra chủ trương, chính sách phù hợp để đạt được mục tiêu đã xác định
+ Hai là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại: Theo Hồ Chí Minh, sức mạnh dân tộc bao gồm sức mạnh vật chất, thể hiện ở sức mạnh kinh
tế, chính trị, quân sự, … và sức mạnh tinh thần
+ Ba là, ngoại giao tâm công: Đó là nền ngoại giao đề cao tính chất chính nghĩa, đánh vào lòng người bằng chính nghĩa, bằng lẽ phải, đạo lý và nhân tính;
là nền ngoại giao mang tính nhân văn sâu sắc, phù hợp với khát vọng hòa bình,
tự do, công lý
+ Bốn là, ngoại giao hòa bình, hữu nghị với các dân tộc khác: Đó là nền ngoại giao theo phương châm “thêm bạn, bớt thù”, “làm cho nước mình ít kẻ thù
và nhiều đồng minh hơn hết” và đây cũng thể hiện tính nhân văn của dân tộc Việt Nam
+ Năm là, ngoại giao "dĩ bất biến, ứng vạn biến": Đó là nền ngoại giao kên trì trong nguyên tắc nhưng linh hoạt, mềm mỏng, khéo léo trong sách lược + Sáu là, ngoại giao nắm vững thời cơ, giành thắng lợi từng bước: Đó là nền ngoại giao phải biết nắm vững thời cơ, chủ động tạo lập thời cơ, đồng thời chủ động tấn công giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn
1.2 Tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong nước:
Bước vào thời kỳ đổi mới, đất nước ta đứng trước nhiều khó khăn, thử thách to lớn: Khủng hoảng kinh tế - xã hội Nền kinh tế nhiều năm tăng trưởng
âm và siêu lạm phát, khiến cho đời sống nhân dân hết sức khó khăn Trên lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam bị bao vây, cấm vận về kinh tế, bị cô lập về chính trị Đây là thời kỳ khó khăn nhất của nước ta sau ngày thống nhất đất nước Trong bối cảnh đó, Đại hội VI của Đảng thông qua đường lối đổi mới toàn diện, trong
đó xác định rõ: Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo Với chủ trương đó, Đại hội đã xác định nhiệm vụ có tính cấp bách trước mắt là giải phóng sức sản xuất, tập trung phát triển kinh tế - xã hội để nhanh chóng thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh
tế - xã hội, phá thế bị bao vây, cấm vận, cô lập và mở rộng quan hệ đối ngoại
Trang 5Những Đại hội Đảng tiếp theo xác định nhiệm vụ cơ bản, lâu dài là sớm đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu sớm đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đồng thời kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
Là một bộ phận hợp thành đường lối chung của Đảng Cộng sản Việt Nam, đường lối đối ngoại của Đảng phải góp phần đưa đất nước vượt qua những khó khăn thách thức đang đặt ra nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam Đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới của Đảng ta được hoạch định nhằm tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài, kết hợp một cách có hiệu quả sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phục vụ mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
1.3 Tình hình thế giới và khu vực:
Tình hình thế giới và khu vực từ sau Chiến tranh lạnh đến nay nổi lên một
số đặc điểm và xu thế vận động chủ yếu tác động đến việc hoạch định đường lối đối ngoại của Việt Nam, cụ thể như sau:
- Thứ nhất, sự thay đổi của cục diện thế giới và môi trường an ninh, chính trị quốc tế sau chiến tranh lạnh Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa
tư bản vẫn tiếp tục tồn tại, song không còn là nhân tố duy nhất chi phối quan hệ quốc tế
- Thứ hai, sự phát triển của khoa học - công nghệ và toàn cầu hóa Khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất nòng cốt và trực tiếp của xã hội,
sự phát triển của khoa học công nghệ đã góp phần làm thay đổi vị thế của mỗi quốc gia trong quan hệ quốc tế
- Thứ ba, đấu tranh giai cấp, dân tộc có xu hướng ngày càng tăng; xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo diễn biến phức tạp, nguy cơ khó lường Các cuộc đấu tranh dân tộc vẫn diễn ra gay gắt dưới nhiều hình thức mới; xung đột vũ trang, những bất ổn do mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, tôn giáo… Xảy ra ở nhiều nơi nhất
là tại khu vực các nước đang phát triển
- Thứ tư, sự cạnh tranh gay gắt của các nước lớn Sự cạnh tranh giành ảnh hưởng và lợi ích giữa các nước lớn vẫn tiếp tục gay gắt trong xu thế hợp tác, vừa đấu tranh vừa kiềm chế lẫn nhau
Trang 6- Thứ năm, nhiều vấn đề mang tính toàn cầu nổi lên, tác động lớn đến đời sống quan hệ quốc tế Chưa bao giờ nhân loại phải đối phó với rất nhiều vấn nạn đòi hỏi phải có sự hợp tác đa phương để giải quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Nhân dân thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu cấp bách có liên quan đến vận mệnh loài người Đó là gìn giữ hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng
bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, hạn chế bùng nổ về dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo… Việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi sự hợp tác và tinh thần trách nhiệm cao của tất cả các quốc gia, dân tộc” Những vấn nạn có từ lâu nhưng chưa bao giờ chúng trở thành vấn đề lớn, nghiêm trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của các quốc gia, tương lai của loài người tuỳ thuộc một phần quan trọng vào việc giải quyết vấn đề này Đó là sự nóng lên của trái đất với vấn đề hiệu ứng nhà kính; vấn đề ô nhiễm môi trường với việc xử lý rác thải; vấn đề khủng hoảng sinh thái; vấn đề bệnh tật như lây nhiễm HIV-AIDS-SARS - Dịch Covid-19; Vấn đề đói nghèo Giải quyết những vấn đề này phụ thuộc vào đường lối của mỗi quốc gia và do đó phong trào quần chúng đòi giải quyết các vấn đề toàn cầu là một bộ phận của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới
Thứ sáu, tình hình khu vực Đông Á: Trở thành nơi diễn ra sự tranh giành ảnh hưởng của một số nước lớn, tạo nên sự ganh đua quyết liệt, có thể thấy cấu trúc quyền lực, trật tự được duy trì trong trạng thái cân bằng thấp
1.4 Truyền thống ngoại giao của dân tộc :
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các thế hệ cha ông chúng ta đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm đối ngoại quý báu mà Đảng ta cần quán triệt và vận dụng nó trong điều kiện mới Đó là nền ngoại giao luôn:
- Giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ và chủ quyền quốc gia
- Ngoại giao vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển
- Ngoại giao rộng mở, biết tiếp thu thành tựu văn minh nhân loại để phát triển
- Ngoại giao với tinh thần chủ động, khôn khéo, sáng tạo, linh hoạt
Trang 72 Quá trình hình thành, phát triển đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới
2.1 Giai đoạn từ Đại hội VI đến Đại hội VII của Đảng:
- Đại hội VI của Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đồng thời cũng mở đầu quá trình hình thành chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới Đại hội xác định nhiệm vụ hàng đầu là tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ này, Đảng ta, trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, đã nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đối ngoại thêm bạn, bớt thù; phá thế bị bao vây, cấm vận; mở rộng quan hệ quốc tế, theo đó, phương hướng đối ngoại được xác định là:
+ Phát triển và củng cố quan hệ hợp tác toàn diện với Lào và Campuchia, trên
cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền mỗi nước
+ Đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam
+ Sẵn sàng đàm phán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ Việt Nam -Trung Quốc, tiến tới bình thường hóa quan hệ
+ Mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình
- Nghị quyết 13 của Bộ chính trị khóa VI (5-1988) là bước ngoặt, có tính đột phá về đổi mới tư duy đối ngoại, đánh dấu sự hình thành bước đầu chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa Với nhận thức mới đúng đắn, toàn diện hơn về vấn đề an ninh, bao gồm cả yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong Đảng ta xác định nhiệm vụ đối ngoại chuyển từ chỗ chú trọng nhân tố chính trị - quân sự sang ưu tiên cho nhân tố kinh tế, ưu tiên giữ vững hòa bình, độc lập dân tộc, có cách tiếp cận toàn diện hơn về tình hình thế giới và khu vực Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ này, Đảng ta triển khai chính sách đối ngoại "thêm bạn, bớt thù", nhấn mạnh chủ trương phát triển quan hệ với tất cả các nước có chế độ chính trị khác nhau trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
- Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3-1989) là sự phát triển tiếp theo của đổi mới tư duy đối ngoại Hội nghị đã nhận thức nhiều vấn đề đối ngoại cần phải giải quyết, trong đó một lần nữa tái khẳng định: Đối ngoại phải chuyển từ chính trị - an ninh là chủ yếu sang chính trị - kinh tế là chủ yếu, thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc; đẩy nhanh quá trình cải thiện quan hệ với các nước
Trang 8ASEAN; xác định lộ trình rút quân khỏi Campuchia; tiếp cận lộ trình bình thường hóa quan hệ với Mỹ
- Đại hội VII của Đảng (1991) là bước phát triển mới trong việc hình thành chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới Đại hội xác định nhiệm vụ đối ngoại là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Trên tinh thần đó, Đại hội đề ra chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình Tại Đại hội này, lần đầu tiên Đảng đưa ra phương châm chiến lược trong chính sách đối ngoại "Việt Nam muốn là bạn với các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển", đồng thời khẳng định chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Nhà nước Việt Nam
2.2 Giai đoạn từ sau Đại hội VII đến nay:
- Khẳng định mục tiêu của đối ngoại là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (1992) đã nêu ra 4 phương châm chỉ đạo, xử lý các vấn đề quốc tế: (1) bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; (2) giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa phương hóa,
đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; (3) nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; (4) tham gia hợp tác với các nước trong khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước, chú trọng quan hệ với các nước lớn, các trung tâm kinh
tế lớn Bốn phương châm này được xem là cẩm nang trong xử lý các vấn đề đối ngoại cho mọi cấp, mọi nghành và mọi địa phương
- Đại hội VIII của Đảng (1996) tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới Trên cơ sở thế và lực mới của đất nước, Đại hội lần đầu tiên nêu nhiệm vụ hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo hướng xây dựng nền kinh tế mở, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Đây là điểm khởi đầu quan trọng cho một chủ trương đối ngoại lớn và xuyên suốt của Đảng là hội nhập kinh tế quốc tế (và đến nay là hội nhập quốc tê) Đại hội này cũng đồng thời tuyên bố: Việt Nam sẵn sàng là bạn với các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển
- Đại hội IX của Đảng (2001) bổ sung, làm rõ thêm chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Tại
Trang 9Đại hội này, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu qua hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường Phát triển quan điểm mở rộng quan hệ đối ngoại của Đại hội VII và VIII, Đại hội IX nêu rõ: "Việt Nam sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển"
- Đại hội X (2006) của Đảng tiếp tục bổ sung đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới và tuyên bố: "Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực", "Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định và bền vững" Đại hội cũng bổ sung quan điểm hội nhập quốc tế với chủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
- Đại hội XI của Đảng (2011) đường lối đối ngoại tiếp tục bổ sung, hoàn thiện Tại Đại hội này, lần đầu tiên Đảng xác định mục tiêu hàng đầu của đối ngoại là "vì lợi ích quốc gia - dân tộc" Như vậy, lợi ích quốc gia - dân tộc là tiêu chí hàng đầu để xác định hợp tác và đấu tranh, xác định "đối tác và đối tượng" Cũng tại Đại hội này, trên cơ sở thế và lực mới của Việt Nam trên trường quốc tế, Đảng đưa ra chủ trương:
"Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế " Như vậy, Đảng đã chuyển nội dung trọng tâm của đối ngoại từ hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tế sang hội nhập quốc tế một cách toàn diện
- Đại hội XII của Đảng (2016), trên cơ sở kế thừa những nội dung đối ngoại của các Đại hội trước đó, đã nhấn mạnh mục tiêu hàng đầu của đối ngoại
là phải "bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc", xác định nhiệm vụ đối ngoại là phải "nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, kiên quyết, kiền trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc"
II NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY:
1 Mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ:
- Mục tiêu: Bảo đảm lợi ích tối cao quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các
nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi; góp phần vào
sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới
Trang 10- Nguyên tắc: Có hai loại nguyên tắc trong hoạt động đối ngoại: nguyên
tắc cơ bản, xuyên suốt, bao trùm và các nguyên tắc cụ thể
- Nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt, bao trùm trong đường lối đối ngoại của
Đảng và Nhà nước ta là hòa bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội; đồng thời, phải sáng tạo, năng động, linh hoạt trong xử lý các tình huống, phù hợp
với hoàn cảnh cụ thể, với vị trí của Việt Nam cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với đặc điểm của từng đối tác Trong xử lý tình
huống, cần “ba tránh”: Tránh bị cô lập, tránh xung đột và tránh bị đối đầu.
- Các nguyên tắc cụ thể:
+ Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
+ Không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế + Giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình + Tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi
- Nhiệm vụ đối ngoại:
Thứ nhất, nhiệm vụ đối ngoại trước hết phải bảo vệ được lợi ích tối cao
quốc gia - dân tộc, tạo lập được môi trường hòa bình để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo
vệ Tổ quốc bao gồm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa Hoạt động đối ngoại góp phần giữ vững môi trường hòa bình, bao gồm: Hòa Bình, ổn định trên tất cả lĩnh vực ở trong nước, môi trường hòa bình ở khu vực, trước hết là khu vực Đông Nam Á, tiếp đến là khu vực đông á, và rộng hơn là khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Thứ hai, các hoạt động hướng ngoại được triển khai, góp phần nâng cao vị
thế của nước ta trên trường quốc tế Đây Cũng là tiền đề quan trọng để trên cơ
sở đó, chúng ta có thể huy động được nguồn lực bên ngoài cùng với nguồn lực bên trong phù hộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Thứ ba, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc là tối cao, Việt Nam không từ bỏ chủ
nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, mà trái lại, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định nhiệm vụ của đối ngoại là góp phần vào cuộc đấu tranh vì mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội