1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch môn Giới trong lãnh đạo quản lý

16 471 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 146 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công việc nấu nướng, dọn dẹp, chăm sóc trẻ em, người già và người bệnh tại gia đình thường được hiểu là công việc chăm sóc không lương, và đó cũng là vấn đề sống còn đối với cuộc sống của con người và sự vận hành của nền kinh tế thị trường. Phụ nữ trên toàn thế giới thường làm việc nhiều hơn nam giới: Tính trung bình, phụ nữ làm công việc chăm sóc không được trả lương nhiều hơn ít nhất hai lần rưỡi so với nam giới. Điều này ngụ ý rằng phụ nữ, đặc biệt là những nhóm phụ nữ nghèo nhất, phải chịu gấp đôi gánh nặng của cả công việc được trả lương và công việc chăm sóc không được trả lương. Sự mất cân bằng trong phân phối trách nhiệm đối với công việc không lương đã và đang ảnh hưởng sâu sắc tới việc nâng cao vị thế và sự tham gia một cách đầy đủ của phụ nữ vào các hoạt động kinh tế và xã hội. Trong Chương trình nghị sự Phát triển bền vững 2030 (SDGs), các quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc đã cam kết “một thế giới trong đó mọi phụ nữ và trẻ em gái được thừa hưởng một cuộc sống bình đẳng về mọi mặt và tất cả các rào cản về luật pháp, kinh tế và xã hội ảnh hưởng tới sự nâng cao vị thế của họ cần phải được xóa bỏ”, và mục tiêu độc lập nhằm đạt tới bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ bao gồm một chỉ tiêu cụ thể là nhằm thừa nhận giá trị của công việc chăm sóc không lương và việc gia đình. Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 20112020 của Việt Nam bao gồm chỉ tiêu “Rút ngắn khoảng cách về thời gian tham gia công việc gia đình của nữ so với nam xuống 2 lần vào năm 2015 và xuống 1,5 lần vào năm 2020” thuộc Mục tiêu nhằm bảo đảm bình đẳng giới trong đời sống gia đình. Tuy nhiên, việc tới nay vẫn chưa có dữ liệu đầy đủ về sử dụng thời gian mang tính đại diện toàn quốc vẫn đang đặt ra thách thức đối với nhiệm vụ xác định những bất bình đẳng trong gánh nặng công việc gia đình cũng như giám sát tiến bộ thực hiện chỉ tiêu này.Những năm qua, nước ta đã có rất nhiều nỗ lực trong phát triển kinh tế và các mục tiêu xã hội, trong đó phải kể đến việc thực hiện bình đẳng giới và phát triển con người. Bình đẳng giới là tình trạng không có sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế, xã hội và phát triển nguồn lực. Với lý do đó em chọn ntvội dung “Nhìn nhận vấn đề lao động chăm sóc không được trả lương và quá trình thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay” làm nội dung viết bài thu hoạch môn Giới trong lãnh đạo, quản lý.

Trang 1

A MỞ ĐẦU 2

B NỘI DUNG 3

I CÁC KHÁI NIỆM: 3

1 Giới và giới tính: 3

2 Định kiến giới: 4

3 Vai trò giới: 5

4 Nhu cầu giới: 6

5 Phân biệt đối xử theo giới: 7

6 Nhạy cảm giới: 7

7 Trách nhiệm giới: 8

8 Bình đẳng giới: 8

II CƠ SỞ LÝ LUẬN: 10

III TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC CHĂM SÓC KHÔNG ĐƯỢC TRẢ LƯƠNG ĐẾN QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: 10

1 Tác động đến giáo dục và đào tạo: 11

2 Tác động đến sự tham gia vào thị trường lao động: 11

3 Tác động đến thu nhập: 11

4 Tác động đến việc tham gia vào đời sống chính trị: 12

5 Tác động đến sức khoẻ: 12

III NHỮNG NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP: 13

1 Định kiến giới: 13

2 Chưa được sự nhìn nhận đúng đắn của xã hội: 13

3 Một số giải pháp để gia tăng cơ hội cho phụ nữ: 13

C KẾT LUẬN 15

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Các công việc nấu nướng, dọn dẹp, chăm sóc trẻ em, người già và người bệnh tại gia đình thường được hiểu là công việc chăm sóc không lương, và đó cũng là vấn đề sống còn đối với cuộc sống của con người và sự vận hành của nền kinh tế thị trường Phụ nữ trên toàn thế giới thường làm việc nhiều hơn nam giới: Tính trung bình, phụ nữ làm công việc chăm sóc không được trả lương nhiều hơn

ít nhất hai lần rưỡi so với nam giới Điều này ngụ ý rằng phụ nữ, đặc biệt là những nhóm phụ nữ nghèo nhất, phải chịu gấp đôi gánh nặng của cả công việc được trả lương và công việc chăm sóc không được trả lương Sự mất cân bằng trong phân phối trách nhiệm đối với công việc không lương đã và đang ảnh hưởng sâu sắc tới việc nâng cao vị thế và sự tham gia một cách đầy đủ của phụ nữ vào các hoạt động kinh tế và xã hội Trong Chương trình nghị sự Phát triển bền vững 2030 (SDGs), các quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc đã cam kết “một thế giới trong đó mọi phụ nữ và trẻ em gái được thừa hưởng một cuộc sống bình đẳng về mọi mặt và tất

cả các rào cản về luật pháp, kinh tế và xã hội ảnh hưởng tới sự nâng cao vị thế của

họ cần phải được xóa bỏ”, và mục tiêu độc lập nhằm đạt tới bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ bao gồm một chỉ tiêu cụ thể là nhằm thừa nhận giá trị của công việc chăm sóc không lương và việc gia đình Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 của Việt Nam bao gồm chỉ tiêu “Rút ngắn khoảng cách

về thời gian tham gia công việc gia đình của nữ so với nam xuống 2 lần vào năm

2015 và xuống 1,5 lần vào năm 2020” thuộc Mục tiêu nhằm bảo đảm bình đẳng giới trong đời sống gia đình Tuy nhiên, việc tới nay vẫn chưa có dữ liệu đầy đủ về

sử dụng thời gian mang tính đại diện toàn quốc vẫn đang đặt ra thách thức đối với nhiệm vụ xác định những bất bình đẳng trong gánh nặng công việc gia đình cũng như giám sát tiến bộ thực hiện chỉ tiêu này

Những năm qua, nước ta đã có rất nhiều nỗ lực trong phát triển kinh tế và các mục tiêu xã hội, trong đó phải kể đến việc thực hiện bình đẳng giới và phát triển con người Bình đẳng giới là tình trạng không có sự phân biệt đối xử trên cơ

sở giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế, xã hội và phát triển nguồn lực

Với lý do đó em chọn ntvội dung “Nhìn nhận vấn đề lao động chăm sóc không được trả lương và quá trình thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay” làm nội dung viết bài thu hoạch môn Giới trong lãnh đạo, quản lý

Trang 3

B NỘI DUNG

I CÁC KHÁI NIỆM:

1 Giới và giới tính:

Giới và giới tính là hai khái niệm có quan hệ mật thiết với nhau Sự phân biệt khái niệm “giới” và “giới tính” được quy định tại Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 như sau:

“1 Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan

hệ xã hội

2 Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”

Như vậy, khái niệm “giới” và “giới tính” giúp phân biệt đặc điểm của nữ giới và nam giới để hiểu rõ thực chất và cơ chế hình thành các đặc điểm đó Sự khác nhau giữa “giới tính” và “giới” được thể hiện cụ thể qua các nội dung sau:

“Giới tính” là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện sinh học, có sẵn từ khi sinh ra, mang tính ổn định cao và bị quy định bởi quy luật sinh học Ví dụ: Chi nam giới mới có tinh trùng, chi phụ nữ mới có trứng (trong độ tuổi sinh đẻ)

Khác với giới tính, giới không mang tính bẩm sinh mà được hình thành trong quá trình sống, học tập của con người từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành Nói cách khác, giới được thể hiện thông qua các hành vi hình thành trong quá trình

xã hội hóa' (từ sự tiếp nhận các khuôn mẫu hành vi, ứng xử qua quá trình dạy dỗ, giáo dục trong gia đình, nhà trường, cộng đồng và xã hội) Nội hàm của khái niệm

“giới” đề cập đến vị trí, vai trò của nam và nữ mà xã hội mong muốn, kỳ vọng ở

nữ giới và nam giới liên quan đến các đặc điểm và năng lực nhằm xác định thế nào

là một người nam giới hay một phụ nữ (hoặc trẻ em trai, trẻ em gái) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định Ví dụ: phụ nữ làm nội trợ, thêu thùa, chăm sóc con cái, nam giới xây dựng nhà cửa, làm kinh tế, chính trị Những hành vi này không phải là hành vi hay kỹ năng bẩm sinh mà do họ được xã hội, gia đình, cộng đồng dạy dỗ để làm việc đó, vì xã hội cho rằng như vậy là phù hợp với phụ nữ hoặc nam giới

Như vậy, việc sinh con của phụ nữ do yếu tố sinh học quy định và đó là đặc điểm giới tính Việc phụ nữ làm nội trợ trong gia đình nhiều hơn nam giới là do quan niệm và sự phân công lao động trong xã hội tạo ra, chứ không phải là tự nhiên, và đó là đặc điểm giới Nếu như các đặc điểm giới tính mang tính đồng nhất (ở mọi nơi trên thế giới đều giống nhau) và không thể thay đổi thì các đặc điểm giới lại rất đa dạng, phong phú và có thể thay đổi ở từng quốc gia, dân tộc dưới sự tác động của các yếu tố xã hội Ví dụ: ở một xã hội này, phụ nữ có đặc điểm là phụ

Trang 4

thuộc vào nam giới về mặt kinh tế và chỉ là người thực hiện các quyết định do nam giới đưa ra (trong công việc gia đình thì nam giới làm chủ gia đình, quyết định mọi việc lớn của gia đình; trong công việc của đất nước, của xã hội thì nam giới thường

là người đứng đầu, người lãnh đạo), nhưng ở một xã hội khác, phụ nữ là người tham gia quyết định bình đẳng cùng với nam giới các vấn đề của gia đình và cuộc sống xã hội; hoặc ở nơi này, phần lớn phụ nữ đảm nhiệm việc làm ruộng, trồng trọt nhưng ở nơi khác phần lớn nam giới lại đảm nhiệm những công việc đó Do vậy, muốn thay đổi tình trạng bình đẳng giới cần phải thay đổi các vấn đề liên quan đến đặc điểm giới (ví dụ: thay đổi quan niệm về vị trí, vai trò của nữ giới và nam giới),

mà không phải là thay đổi các đặc điểm giới tính (ví dụ: việc mang thai và sinh con là đặc điểm giới tính của phụ nữ nhưng cảm xúc vui, buồn do sinh con gái hay sinh con trai là do yếu tố giới gây ra)

2 Định kiến giới:

Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 nêu rõ: “Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ” Nói cách khác, đây là những suy nghĩ phổ biến của cộng đồng xã hội về khả năng và công việc của nữ giới và nam giới, tức là những gì nữ giới và nam giới có thể làm, cần làm và nên làm Ví dụ: quan niệm xã hội phổ biến là phụ

nữ thường nhẫn nại hơn, nam giới thường có khả năng lãnh đạo tốt hơn; phụ nữ cần tập trung chăm sóc con cái, trong khi nam giới cần tập trung kiếm tiền nuôi sống gia đình

Trong lịch sử, mỗi xã hội đã có sự phân biệt về vai trò xã hội của nam giới

và nữ giới Những khác biệt trong quan niệm về vai trò giới này phản ánh những thành kiến, còn được gọi là những định kiến xã hội, do các thành viên trong xã hội tạo ra Định kiến giới còn được gọi là chủ nghĩa giới tính (sexism) và dựa trên khuôn mẫu giới (gender stereotype - một sự phản đối quá mức của người khác, thường dẫn đến những thành kiến tiêu cực) về nữ giới và nam giới Các khuôn mẫu về nam giới có xu hướng mang lại lợi thế cho nam giới nhiều hơn so với khuôn mẫu về phụ nữ Ví dụ: quan niệm cho rằng “nam giới làm lãnh đạo tốt hơn phụ nữ” tạo thuận lợi cho nam giới trong quá trình bầu cử Các khuôn mẫu có tác động tiêu cực đối với phụ nữ trong xã hội thường được thừa nhận bởi cả nam giới

và nữ giới, vừa do cộng đồng xã hội thiếu sự tôn trọng và tin tưởng đối với phụ nữ, vừa do phụ nữ thiếu sự tự tôn và tự tin đối với bản thân mình Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, các khuôn mẫu giới cũng có tác động tiêu cực đối với nam giới Quan niệm

“nam giới là trụ cột trong gia đình” hay khuôn mẫu nam tính mạnh mẽ, người bảo

vệ, che chở) tạo ra những áp lực cho nam giới trong vai trò kiếm tiền, nuôi sống gia đình Như vậy, có thể nói các định kiến giới, khuôn mẫu giới có tác động tiêu cực đến sự phát triển của cả nữ, nam và xã hội nói chung

Trang 5

Những thay đổi trong định kiến giới theo thời gian đã được chứng minh ở một số khu vực trên thế giới Đến đầu thế kỷ XXI, sự khác biệt về vai trò xã hội của nam giới và nữ giới ở một số xã hội như Hoa Kỳ và châu Âu đã thu hẹp lại Các cơ hội giáo dục và việc làm gia tăng cùng với sự gia tăng việc tham gia các hoạt động chính trị, xã hội của phụ nữ đã làm cho tình trạng bình đẳng giới được cải thiện ở nhiều xã hội Tuy nhiên, trong các xã hội khác - ví dụ như ở một số nước Trung Đông - định kiến giới vẫn tồn tại dai dẳng Định kiến giới ở những xã hội này thường đặt vai trò phụ nữ vào những bất lợi đáng kể về quyền con người

và quyền công dân, ví dụ như quyền bầu cử, ứng cử chính trị, quyền giao thiệp xã hội, quyền được bảo vệ về mặt pháp lý

3 Vai trò giới:

Vai trò giới là tập hợp những hoạt động và hành vi ứng xử mà nam giới và

nữ giới học được và thể hiện trong thực tế, dựa trên mong đợi từ phía xã hội đối với họ Các vai trò giới là đa dạng (tùy thuộc vào vị trí và bối cảnh), thay đổi theo thời gian (tương ứng với sự thay đổi của các điều kiện và hoàn cảnh) và thay đổi theo sự thay đổi của quan niệm xã hội (tương ứng với việc chấp nhận hoặc không chấp nhận một hành vi ứng xử vai trò nào đó)

Trong cuộc sống, nam và nữ đều tham gia vào mọi hoạt động của đời sống

xã hội Tuy nhiên, mức độ tham gia của nam và nữ trong các loại công việc là khác nhau, do những quan niệm, chuẩn mực xã hội khác nhau quy định Việc nữ giới và nam giới thực hiện những công việc khác nhau như vậy được gọi là sự đảm nhận các vai trò giới

Về bản chất, vai trò giới được quyết định bởi các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội Do vậy, nữ giới và nam giới được mong đợi làm những công việc khác nhau

và có vị trí khác nhau ngay trong cùng một công việc Việc thực hiện những vai này khiến hai giới phụ thuộc lẫn nhau Tuy nhiên, sự phụ thuộc đó cũng có thể thay đổi, do thực tế việc “đóng vai” của nam và nữ luôn thay đổi (vai trò giới thay đổi nhanh hơn định kiến giới) Ở các xã hội hiện đại, những công việc phụ nữ đang đảm nhiệm trong thực tế là rất đa dạng, bao gồm cả những việc được cho là “của nam giới một cách truyền thống” (ví dụ phụ nữ làm phi công, thợ cơ khí ) Ngược lại, có không ít nam giới đang đảm nhiệm những công việc được cho là “của nữ giới một cách truyền thống” (ví dụ nam giới làm đầu bếp, thợ cắt may, nhà chăm sóc con cái ) Vai trò giới thường được xem xét ở ba lĩnh vực: sản xuất, tái sản xuất, cộng đồng

Vai trò sản xuất là các hoạt động làm ra sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ để tiêu dùng và trao đổi thương mại Đây là những hoạt động tạo ra thu nhập và được trả công Cả nữ giới và nam giới đều có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất

Trang 6

nhưng do định kiến trong xã hội nên mức độ tham gia của họ không như nhau và giá trị công việc mà họ tạo ra cũng không được nhìn nhận như nhau

Vai trò tái sản xuất là các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ giúp tái sản xuất dân số và sức lao động, bao gồm việc sinh con, các công việc chăm sóc gia đình, nuôi dạy và chăm sóc tre em, nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ, chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình Những hoạt động này là thiết yếu đối với cuộc sống con người nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của dân số và lực lượng lao động và các hoạt động này cũng tiêu tốn nhiều thời gian Tuy nhiên, vì các hoạt động này diễn ra trong phạm vi gia đình, không tạo ra thu nhập nên ít khi được coi là “công việc thực sự”, không được tính trong giá trị kinh tế của gia đình

Ở hầu hết các xã hội, phụ nữ và trẻ em gái thường đóng vai trò và chịu trách nhiệm chính trong các công việc tái sản xuất này, mặc dù về bản chất, đây là công việc của xã hội trước khi là công việc của người phụ nữ

Vai trò cộng đồng bao gồm những hoạt động nhằm đảm bảo cung cấp và bảo

vệ các nguồn lực đáp ứng nhu cầu chung của cộng đồng như vệ sinh môi trường, nước sạch, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục Công việc cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển văn hóa tinh thần của cộng đồng, nhưng hầu hết là những hoạt động tình nguyện và không được trả thù lao (chẳng hạn như các công việc của làng, bản, khối phố, họ hàng, tham gia chính quyền, lãnh đạo xã hội ) nhằm đáp ứng các nhu cầu hoạt động chung của cộng đồng xã hội Các hoạt động

cụ thể thực hiện vai trò cộng đồng có thể bao gồm: việc xây dựng đường làng, ngõ xóm, giữ gìn trật tự vệ sinh hoặc trao đổi thông tin, tổ chức họp hành, lễ hội, tham gia các đoàn thể Tuy nhiên, cũng có những hoạt động thực hiện vai trò cộng đồng được trả thù lao, chẳng hạn như hoạt động lãnh đạo cộng đồng Việc thực hiện những hoạt động này thường được trả thù lao và mang lại cơ hội nâng cao quyền lực, địa vị xã hội cho các cá nhân tham gia

Trong thực tế, cả nam và nữ đều có khả năng tham gia vào ba loại vai trò trên Tuy nhiên, ở nhiều xã hội, bên cạnh việc tham gia cùng với nam giới tương đối nhiều vào các hoạt động sản xuất, phụ nữ hầu như là người đảm nhiệm chính trong vai trò tái sản xuất Do vậy, gánh nặng công việc gia đình của phụ nữ (vai trò tái sản xuất) đã cản trở họ tham gia một cách tích cực và thường xuyên vào các hoạt động cộng đồng Kết quả là nam giới có nhiều thời gian và cơ hội hơn trong đảm nhận vai trò cộng đồng, vì vậy nam giới thường có quyền lực, địa vị xã hội cao hơn so với phụ nữ

4 Nhu cầu giới:

Nhu cầu giới là nhu cầu mà mỗi giới có nguyện vọng, yêu cầu được đáp ứng

để thực hiện tốt vai trò của mình Nhu cầu của nam khác nhu cầu của nữ và do nhiều yếu tố khác nhau hình thành Nhu cầu nảy sinh từ đời sống hàng ngày

Trang 7

thường góp phần củng cố phân công lao động theo giới Có hai loại nhu cầu giới, gồm:

Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu có liên quan thiện điều kiện sống hiện tại nhưng vẫn duy trì mối quan hệ lệ thuộc của phụ nữ vào nam giới (lệ thuộc

về kinh tế, việc ra quyết định )

Nhu cầu giới chiến lược (còn gọi là lợi ích giới) là những nhu cầu giúp phụ

nữ thoát khỏi vị trí lệ thuộc, yếu kém, làm thay đổi mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ

5 Phân biệt đối xử theo giới:

Điều 1 Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW) năm 1997 nêu rõ: Phân biệt đối xử với phụ nữ có nghĩa là bất

kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính làm ảnh hưởng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việc phụ nữ được công nhận, thụ hưởng, hay thực hiện các quyền con người và những tự do cơ bản trong līnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và các lĩnh vực khác trên cơ sở bình đẳng nam nữ, bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 của Việt Nam ghi rõ: Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

Như vậy, phân biệt đối xử theo giới là hành vi ứng xử khác nhau đối với nam hoặc nữ, thường bắt nguồn từ định kiến giới Phân biệt đối xử theo giới xảy ra

ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra bất bình đẳng giới Có hai hình thức phân biệt đối xử theo giới là phân biệt đối xử trực tiếp và phân biệt đối xử gián tiếp Ví dụ, việc yêu cầu ứng viên nữ tham gia tuyển dụng lao động phải có bằng đại học loại khá trở lên (trong khi không đặt ra yêu cầu như vậy đối với ứng viên nam), thể hiện sự phân biệt đối xử giới trực tiếp Việc thực hiện các hoạt động tập huấn về kỹ năng phát triển kinh tế gia đình mà chỉ mời các chủ hộ gia đình tham dự (trong khi có rất ít chủ hộ gia đình là phụ nữ),

là sự phân biệt đối xử giới gián tiếp

6 Nhạy cảm giới:

Nhạy cảm giới là sự nhận thức đầy đủ và đúng đắn về nhu cầu, vai trò và trách nhiệm khác nhau của nam giới và nữ giới, hiểu được rằng những khác biệt này có thể dẫn đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, mức độ tham gia, thụ hưởng các nguồn lực và thành quả phát triển

Trang 8

Như vậy, nhạy cảm giới hướng đến mục tiêu nhận thức được và tính đến các yếu tố văn hóa, xã hội liên quan đến việc loại trừ và phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính trong tất cả các lĩnh vực đa dạng của cuộc sống Nó tập trung chủ yếu vào những bất lợi mang tính cấu trúc trong vị trí và vai trò của phụ nữ

Nhận biết được khoảng cách giới về khả năng tiếp cận, kiểm soát nguồn lực

và mức độ tham gia, hưởng lợi trong quá trình phát triển của nam và nữ có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động hướng tới bình đẳng giới, thúc đẩy sự phát triển xã hội nói chung Ví dụ, các chương trình, dự án phát triển cộng đồng cần phải có tính nhạy cảm giới để đảm bảo rằng, các hoạt động can thiệp thực sự mang lại hiệu quả tích cực đối với cả nam và nữ

Sự nhạy cảm giới cũng thể hiện ở việc phát hiện được các nguyên nhân mang tính giới của những thất bại trong thực tế Chẳng hạn, những người thực hiện

dự án hỗ trợ cộng đồng nâng cao năng suất và chất lượng nuôi trồng thủy sản cần hiểu lý do tại sao các hoạt động can thiệp của dự án không đ em lại kết quả như mong đợi Lý do đó có thể xuất phát từ thực tế là, phụ nữ ít có cơhội tiếp nhận thông tin hướng dẫn về cách nuôi trồng và chăm sóc thủy sản nói chung và hoạt động truyền thông của dự án nói riêng, do nam giới thường là người tham gia các cuộc họp, tập huấn tại cộng đồng, trong khi phụ nữ mới là người đảm nhiệm trực tiếp các công việc liên quan đến nuôi trồng và chăm sóc thủy sản

7 Trách nhiệm giới:

Trách nhiệm giới là việc nhận thức được các vấn đề giới, khác biệt giới và nguyên nhân của những khác biệt, từ đó đưa ra biện pháp tích cực nhằm giải quyết

và khắc phục bất bình đẳng trên cơ sở giới' Trách nhiệm giới chú trọng đến những biện pháp hoặc hành động thường xuyên, tích cực và nhất quán trong công việc để loại trừ nguyên nhân bất bình đẳng giới, nhằm đạt được bình đẳng giới Ví dụ: Khi những người thực hiện dự án hỗ trợ cộng đồng nâng cao năng suất và chất lượng nuôi trồng thủy sản có nhạy cảm giới, nhận biết được nguyên nhân mang tính giới dẫn đến kết quả không như mong đợi trong các hoạt động dự án, họ thực hiện việc điều chỉnh đối tượng được mời tham dự các cuộc họp và tập huấn do dự án tổ chức, nhằm đảm bảo phụ nữ được tiếp cận đầy đủ các thông tin liên quan Như vậy, có thể nói rằng, họ đã có trách nhiệm giới trong quá trình triển khai tổ chức thực hiện các công việc của dự án

8 Bình đẳng giới:

Bình đẳng giới là tình trạng không có sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính (về quyền, trách nhiệm và cơ hội) Nhờ vậy, nữ giới và nam giới được tôn

Trang 9

trọng ngang nhau, được tiếp cận các nguồn lực như nhau, được thụ hưởng thành quả như nhau, có cơ hội và điều kiện như nhau để nhận biết được các quyền con người của mình và khả năng đóng góp của bản thân vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội của đất nước

Có ba kiểu quan niệm về bình đẳng giới là bình đẳng giới kiểu hình thức, bình đẳng giới kiểu bảo vệ và bình đẳng giới kiểu thực chất

Bình đẳng giới kiểu hình thức xuất phát từ quan niệm coi nam và nữ là giống như nhau, không để ý đến sự khác biệt về sinh học cũng như sự khác biệt do

xã hội quy định Quan niệm bình đẳng giới kiểu hình thức cho rằng, phụ nữ có thể tiếp cận các cơ hội giống như cách tiếp cận của nam giới nên thường chọn cách đối

xử với nam và nữ giống hệt nhau Do vậy, xét về bản chất, kiểu quan niệm này tạo thêm gánh nặng cho phụ nữ, buộc họ phải thể hiện mình theo cách của nam giới

Bình đẳng giới kiểu bảo vệ nhận diện được sự khác biệt giữa nam và nữ, nhưng cho rằng cần tập trung xem xét các điểm yếu của phụ nữ để tạo ra những sự đối xử khác biệt Quan niệm này dẫn đến việc cố gắng tạo ra những “vỏ bọc bảo

vệ phụ nữ, chẳng hạn như các chính sách, quy định, biện pháp dành riêng cho

nữ, giới hạn phụ nữ tham gia một số lĩnh vực hoạt động được coi là không phù hợp đối với phụ nữ (ví dụ chính sách của Việt Nam quy định tuổi nghỉ hưu của phụ nữ sớm hơn nam giới 5 năm) Các biện pháp tiếp cận bình đẳng giới kiểu bảo vệ có thể phát huy tác dụng bảo vệ phụ nữ” trong một số bối cảnh không gian và thời gian đặc thù nào đó Tuy nhiên, việc thực hiện bình đẳng giới theo quan niệm này thực ra là cản trở quyền tự do lựa chọn của phụ nữ Phụ nữ có thể bị tước đi hàng loạt cơ hội phát triển khiến tình trạng bất bình đẳng giới ngày càng trở nên trầm trọng Nhìn chung, quan niệm này củng cố khuôn mẫu định kiến giới và không dẫn đến biến đổi xã hội theo hướng bình đẳng hơn

Bình đẳng giới kiểu thực chất nhận rõ sự khác biệt giữa nam và nữ về sinh học và sự khác biệt xã hội do lịch sử để lại Do vậy, quan niệm này chú ý đến bình đẳng trong pháp luật và bình đẳng trong thực tế, tập trung điều chỉnh các môi trường có ảnh hưởng tiêu cực đối với cả nam giới và phụ nữ, đồng thời chú ý tạo

sự bình đẳng cho cả nam và nữ về cơ hội, tiếp cận cơ hội và hưởng thụ cơ hội

Khi áp dụng quan niệm bình đẳng giới kiểu thực chất, kết quả mang lại sẽ là rất lớn, chẳng hạn: Con gái và con trai được ưa thích như nhau, phụ nữ và nam giới cùng tôn trọng nhau, cùng chia sẻ, cùng bàn bạc và cùng ra quyết định mọi công việc trong gia đình và xã hội; phụ nữ và nam giới cùng được học tập, bồi dưỡng về văn hóa, khoa học, kỹ thuật để nâng cao năng lực của mình; phụ nữ tham gia bình đẳng với nam giới vào công việc lãnh đạo, quản lý, phụ nữ được hưởng thụ đầy đủ các lợi ích xã hội như nam giới (thu nhập, sở hữu tài sản, quyền lợi chính trị, phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí ), vv

Trang 10

II CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Sự mất cân bằng trong công việc chăm sóc và việc nhà không được trả lương đã và đang ảnh hưởng sâu sắc tới việc nâng cao vị thế và sự tham gia một cách đầy đủ của phụ nữ vào các hoạt động kinh tế và xã hội Đây là những công việc được thực hiện trong gia đình bởi các thành viên của gia đình để duy trì cuộc sống mà không được trả lương, mà trong đó vai trò của người phụ nữ, người vợ rất quan trọng

Theo Cơ quan Liên hợp Quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women), các công việc nấu nướng, dọn dẹp, chăm sóc trẻ em, người già và người bệnh tại gia đình thường được hiểu là công việc chăm sóc không lương Ở Việt Nam, thuật ngữ “công việc chăm sóc không lương” không được sử dụng trong các tài liệu chính thức Thay vào đó là cụm từ “việc nhà” hay “công việc gia đình” được sử dụng rộng rãi trong các văn bản như Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đẳng giới, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 Với việc sử dụng thuật ngữ này, việc nhà được hiểu là “việc vặt” ít có giá trị

Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định, chia sẻ việc nhà là trách nhiệm của

cả phụ nữ và nam giới; vợ và chồng sử dụng thời gian cho phép để chăm sóc người ốm/trẻ em theo quy định của pháp luật Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định “việc giải quyết quan hệ tài sản phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con cái; công việc nội trợ và các công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi là lao động có thu nhập” Tuy nhiên, trên thực tế, công việc chăm sóc không lương vẫn được coi là công việc của phụ nữ, khiến họ tiêu tốn nhiều thời gian và sức lực Những công việc này tiêu tốn thời gian, thường xuyên lặp lại và đôi khi là những lao động nặng nhọc, khiến nhiều phụ nữ phải hy sinh nhiều quyền lợi khác của mình Điều đáng nói là công việc chăm sóc không lương lại không được các thành viên gia đình, cộng đồng và ngay cả chính bản thân người phụ nữ ghi nhận hay đề cao

III TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC CHĂM SÓC KHÔNG ĐƯỢC TRẢ LƯƠNG ĐẾN QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:

Theo các báo cáo nghiên cứu và thống kê quốc gia cho thấy, tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động của Việt Nam thuộc hàng cao trên thế giới Tuy nhiên, đáng chú ý là có sự khác biệt giới rõ rệt trong thị trường lao động Phụ nữ tham gia chủ yếu vào công việc có lương thấp, chất lượng việc làm kém và được trả lương ít hơn cho cùng một công việc có giá trị tương đương so với công việc mà nam giới thực hiện

Những tác động này trờ nên lớn hơn đối với phụ nữ nghèo - những người không có khả năng tiếp cận với các dịch vụ tư nhân và công nghệ để làm giảm nhẹ

Ngày đăng: 20/11/2021, 23:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w